Chương 22. Mượn Gió Bẻ Măng

Nắng chiều đầu hạ phủ lên mái ngói vàng ươm của Vạn Thọ Cung. Khăn tay của Nguyên Ninh cũng được đem đến dâng cho Thái hậu. Thái hậu đang đứng trong khuôn viên, ngắm nhìn mấy đoá súng trong chậu gốm Bát Tràng. Mấy chiếc chậu này vốn dĩ được trồng tịnh đế ngọc liên, là do Nguyên Phi sai người sắp xếp. Tịnh đế ngọc liên tuy là loài hoa quý, nhưng hai hoa của nó nở trên một đài, đây là chuyện mà Thái hậu không thích!
 
Tịnh Văn cô cô theo đó đổi thành hoa súng, bởi lẽ hoa súng cũng thanh tao gần giống hoa sen. Chỉ nghe Thái hậu tấm tắc khen: “Loài súng này tuy không có mùi hương, nhưng mà lá không hề vượt mặt đài hoa, chỉ có thể nổi trên mặt nước.”
 
Thái hậu nói đến đó thì chép miệng: “Trái lại hoa sen sắc hương vẹn toàn, nhưng mà lá của nó lại không biết nhún nhường. Có thể thấy sắc hương vẹn toàn cũng có chỗ không tốt!”
 
Có một giọng nam tử ấm áp cất lên, giữa trời hạ mát mẻ làm người ta tưởng như tiết xuân chợt thoáng trở về: “Nghe giọng Mẫu hậu có chút ưu phiền. Rốt cuộc là ai cả gan làm tâm trạng của người không tốt?”
 
Thái hậu nghe thấy câu đó, đương lúc đang cho cá ăn nên đành đáp vội: “Mẫu hậu chỉ nói vu vơ vậy thôi. Chẳng phải con đang cùng Phụ hoàng chơi mã cầu sao? Khi không lại về sớm như vậy hả Quốc Chẩn?”
 
Tịnh Văn cô cô hít vào một hơi kinh sợ mà nhỏ giọng nói: “Dạ thưa, người ở đó là Quan gia.”
 
Thái hậu nhận ra mình đã lỡ lời, sắc mặt có chút ngượng ngập mà nhanh chóng quay đầu lại: “Là Quan gia đấy à?”
 
Nam tử khí chất ngời ngời ở đó thì ra chính là Quan gia. Chỉ thấy gương mặt của chàng tuấn anh, tiêu sái. Khi chàng mỉm cười, giống như lấy trọn mùa xuân vào trong ánh mắt!
 
“Trong lòng mẫu hậu chỉ có Hoàng đệ thôi sao? Mẫu hậu gọi thân mật Hoàng đệ bằng tên, vậy mà lại gọi con là Quan gia? Bản thân con có chút không phục!”
 
Thái hậu phì cười: “Quan gia là Hoàng đế của Đại Việt, Mẫu hậu không gọi con là Quan gia, thế thì gọi bằng gì?”
 
Quan gia liền nhanh miệng đáp: “Thì gọi là Nhật Suỷ như ngày trước thưa Mẫu hậu!”
 
Thái hậu nghe đến đó thì xua tay: “Không được, như thế không hợp phép tắc!”
 
Nhật Suỷ nghe đến đó cũng đành mỉm cười: “Cũng không thể trách Mẫu hậu. Kể từ lúc Quốc Chẩn lên mười bốn tuổi, giọng nói của em ấy đã bắt đầu giống con. Đến bây giờ thì đã giống đến mức Mẫu hậu chẳng còn phân biệt được!”
 
Thái hậu nghe xong câu đó, liền liếc nhìn Quan gia dò xét: “Giữa hai người bọn con chỉ có giọng nói là giống nhau. Hoàng đệ của con ăn mặc lôi thôi, đâu có được phong thái đế vương của con!”
 
Nhật Suỷ có chút ngập ngừng: “Hoàng đệ lúc nhỏ phải nương nhờ cửa Phật, không giống như con sớm hôm được hai vị Mẫu hậu chăm sóc. Chuyện này cũng là nỗi canh cánh trong lòng con, vậy nên bây giờ con chỉ biết bù đắp lại cho em ấy!”
 
Thái hậu nghe đến đó, trong lòng có chút ấm áp. Bà lặng lẽ tiến đến cầm tay Quan gia, sau đó cất bước tản bộ: “Chuyện cũ đừng nhắc đến nữa! Giờ này sao con lại có hứng đến cung của Mẫu hậu? Không phải lúc này con và Quốc Chẩn đang cùng Phụ hoàng chơi mã cầu sao?”
 
Nhật Suỷ liền đáp: “Bản thân con không giỏi mã cầu, vậy nên khi nãy đã xin phép Phụ hoàng được lui xuống trước. Giữa lúc đó Thiên Kiện tâu rằng sắp tới là Tết Đoan Dương, con biết Phụ hoàng và Mẫu hậu yêu thích ca vũ, cho nên muốn hỏi ý kiến của người!”
 
Thái hậu mỉm cười: “Quan gia đúng là có hiếu! Có điều Thượng yến viện bây giờ đang được Nguyên Phi cai quản. Đáng lý Nguyên Phi phải cùng phân ưu với Quan gia mới phải!”
 
Nhật Suỷ lặng lẽ nói: “Thật ra Nguyên Phi vốn đã lo liệu trước, có điều Thượng yến viện trước giờ vẫn do Thục Phi cai quản. Nguyên Phi cẩn thận, muốn nhờ con hỏi qua ý kiến Mẫu hậu!”
 
Đôi mày của Thái hậu khẽ chau: “Thì ra là thế! Chỉ là Mẫu hậu đã giao trọng trách này cho Nguyên Phi, tức là bản thân đã hoàn toàn tin tưởng.”
 
Nhật Suỷ lễ phép “dạ” một tiếng, sau đó chợt nghe mùi trầm thoảng qua, lại thấy Thái hậu đang vân vê chuỗi Phật châu trên cổ, liền thuận miệng nói một câu: “Mẫu hậu trước nay thích trầm hương. Lát nữa con sẽ sai Thiên Kiện đem thêm một ít trầm hương đến cung của người.”
 
Thái hậu gật gù, liền thuận nước nói: “Vạn Thọ Cung vừa được tân trang, Mẫu hậu nhìn cảnh không quen cho nên vẫn hay trằn trọc. Cũng may bên cạnh có mùi trầm trên chuỗi Phật châu này, giúp Mẫu hậu cảm thấy thư thái hơn.”
 
Nhật Suỷ liền cúi đầu nói: “Nguyên Phi chỉ muốn sửa sang Vạn Thọ Cung, không tính đến chuyện Mẫu hậu cảm thấy không quen mắt. Cúi xin Mẫu hậu hãy bỏ qua cho nàng ấy!”
 
Thái hậu gật đầu: “Mẫu hậu không trách Nguyên Phi. Chỉ là chuỗi Phật châu này vốn dĩ được làm từ của hồi môn của Thánh Tư, đủ thấy tấm lòng của đứa cháu gái này chân thành đến mức nào!”
 
Nhật Suỷ nghe đến đó thì chút suy tư, lại thấy chiếc khăn đeo bên hông của Thái hậu tự dưng rơi xuống. Nhật Suỷ nhanh tay bắt lại kịp, chỉ thấy trên đó là một cặp thơ: “Nga nga lưỡng nga nga. Ngưỡng diện hướng thiên nha.”
 
Thái hậu đưa tay nhận lại chiếc khăn, mỉm cười nói: “Chiếc khăn này cũng do Thánh Tư thêu cho Mẫu hậu. Con bé này cũng thật là, từ nhỏ nó đã yêu thích thơ văn. Nữ nhân thì chỉ cần học nữ công gia chánh là được!”
 
Nhật Suỷ có chút vui vẻ: “Tài nghệ thêu thùa của Thánh Tư quả là tinh tế! Hơn nữa, am hiểu thơ ca thì cũng không phải là chuyện xấu thưa Mẫu hậu!”
 
Đuôi mắt Thái hậu có nét cười: “Mẫu hậu quên mất, cái phong hiệu Thánh Tư này là do Nguyên Ninh am hiểu thi thư mới có được!”
 
Nhật Suỷ cười ấm áp: “Từ lúc Thánh Tư nhập cung cho đến giờ, con vẫn hay bận rộn mà chưa có thời gian gặp mặt nàng ấy.”
 
Thái hậu liền nói: “Ngày tháng còn dài, bây giờ Thánh Tư đã là phi tử của Quan gia, không sợ không có ngày bản thân được diện kiến thánh giá. Với thân phận của Thánh Tư, lúc này chưa gặp được Quan gia cũng không phải chuyện xấu!”
 
Thái hậu nói đến đó, chỉ thấy Nhật Suỷ có chút suy tư. Trong lòng bà chợt nghĩ đến chuyện khác. Bỗng thấy trên cao có cánh nhạn lướt qua, sắc trời cũng đã chập tối. Thái hậu hướng về phía Nhật Suỷ mà nhẹ giọng: “Không còn sớm nữa, Quan gia có định vào trong dùng cơm với Mẫu hậu hay không?”
 
Nhật Suỷ dường như sực nhớ chuyện gì, liền mỉm cười ngoan ngoãn nói: “Được ạ! Chỉ là lúc nãy con đã nói đến cung của Nguyên Phi dùng bữa, thôi thì hãy để Thiên Kiện báo lại cho nàng ta một tiếng!”
 
Thái hậu nghe đến đó thì xua tay: “Nếu con đã hẹn với Nguyên Phi từ trước thì cứ đi đi! Mẫu hậu không biết Quan gia sẽ đến, trong cung cũng chỉ toàn những món đạm bạc.”
 
Nhật Suỷ nghe thế liền cúi chào Thái hậu: “Thế thì con xin cáo lui, Mẫu hậu dùng bữa ngon miệng!”
 
Tịnh Văn cô cô chờ cho Quan gia khuất dạng sau cánh cổng Vạn Thọ Cung, liền tiến đến dìu tay Thái hậu. Chỉ thấy gương mặt Thái hậu bình thản tự nhiên, như mặt hồ mùa thu yên ắng, tĩnh lặng: “Hình như đã lâu rồi Mai Phu Nhân chưa đến Vạn Thọ Cung.”
 
***
 
Tối đó, Như Lộ tự tay ôm chiếc đàn bầu bằng gỗ ngô đồng, theo sự chỉ dẫn của Tịnh Văn cô cô bước vào trong phòng của Thái hậu.
 
“Hạ thiếp xin cúi chào Thái hậu điện hạ.”
 
Thái hậu bỏ quyển sách trên tay xuống mà mà mỉm cười xua tay: “Đứng dậy đi!”
 
Như Lộ thấy Thái hậu cẩn thận đánh dấu trang sách vừa đọc, liền cong môi nói: “Không biết Thái hậu điện hạ đang đọc sách gì ạ?”
 
Thái hậu lộ ra một tia cười: “Chiều nay Quan gia có ghé qua Vạn Thọ Cung, bổn cung thấy Quan gia có vẻ thích bài thơ này, nhân lúc rảnh rỗi thì mở ra đọc. Con có muốn nghe thử bài thơ này không?”
 
Như Lộ đương nhiên đồng ý. Thái hậu mỉm cười rồi khe khẽ ngâm:
 
“Nga nga lưỡng nga nga
Ngưỡng diện hướng thiên nha
Bạch mao phô lục thuỷ
Hồng trạo bãi thanh ba”
 
*Đây là bài Vịnh Nga, có nghĩa là:
 
“Vịt vịt, vịt một đôi
Ngẩng mặt nhìn trời xa
Lông trắng khoe nước biếc
Chèo đỏ rẽ sóng xanh”
 
Như Lộ chưa giỏi thi thư, không hiểu ý nghĩa bên trong bài thơ trên là gì, liền ngượng ngùng nói: “Hạ thiếp chữ nghĩa không nhiều, chỉ mong Thái hậu điện hạ chỉ bảo!”
 
Thái hậu lặng lẽ gấp quyển sách trên tay lại, liếc nhìn Như Lộ mà điềm đạm nói: “Đây là bốn câu thơ đối đáp của sứ giả người Tống và thiền sư nước ta thời Lê. Bài thơ này dựa trên bài Vịnh Nga của Lạc Tân Vương. Hai câu đầu do sứ giả Nguyễn Giác (*tức Lý Giác) ngâm, hai câu sau là do thiền sư Pháp Thuận nước ta đối đáp. Triều Tống sai họ Nguyễn sang sứ, thực chất là để thăm dò tình hình suy thịnh của Đại Việt. Đại Hành Hoàng đế (tức Lê Hoàn) biết sứ giả họ Nguyễn giỏi thơ ca, cho nên khi hắn đến chùa Sách Giang, đã cho Pháp Thuận thiền sư giả làm người lái đò đón tiếp. Sứ giả họ Nguyễn trên sông bắt gặp hai con vịt trời, liền ngâm hai câu thơ dựa vào bài Vịnh Nga. Hắn ta không ngờ người lái đò đằng sau lại có thể đối đáp hai câu tiếp theo, đương nhiên vì thế mà kinh ngạc trước sự hiểu biết của con dân Đại Việt. Họ Nguyễn lúc về nước còn để lại bài thơ tặng cho Pháp Thuận thiền sư, trong đó có câu “Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu”, nghĩa là “Ngoài trời còn có trời xa chiếu”, với ý tôn trọng non sông Đại Việt!”
 
Như Lộ thoáng chốc ngộ ra, liền bái phục nói: “Thái hậu điện hạ uyên bác tinh thâm, hạ thiếp không sao bì kịp!”
 
Thái hậu tiến về phía Như Lộ mỉm cười: “Bổn cung yêu quý con, vốn dĩ muốn mượn bài thơ này giúp con đấy!”
 
Như Lộ như chiếc thuyền lạc lõng giữa mây mù, có chút ngô nghê hỏi: “Thánh ý của điện hạ đó là…”
 
Thái hậu mỉm cười: “Nguyễn Giác không nghĩ người lái đò am tường thi ca, nhưng người lái đò lại khiến hắn ta phải kinh ngạc. Hắn đương nhiên ngoài kính phục còn có chút mến mộ. Như con đã nói, trước giờ con không giỏi thi văn, nếu bây giờ có thể đối đáp được một chút thi thư trước mặt Quan gia, thì chẳng phải là chuyện thú vị hay sao?”
 
Như Lộ lúc này mới ngợi ra, đôi mắt liền có nét vui mừng, nhưng sau đó thì nhanh chóng bị dập tắt: “Nhưng mà hạ thiếp ngu dốt, bản thân trước nay không giỏi thi thư thưa điện hạ!”
 
Nói đoạn nàng ta nâng niu chiếc đàn bầu trong tay mình: “Hạ thiếp chỉ có một chút tài mọn này để hầu hạ Quan gia và Thái hậu điện hạ!”
 
Thái hậu xua tay: “Thi thư không cần biết nhiều, chỉ cần biết một ít mà chọn đúng thời điểm phô bày là được! Trong số những lần đánh đàn cho Quan gia, con thường đàn khúc gì?”
 
Như Lộ ngoan ngoãn đáp: “Quan gia thường nghe “Trang Chu mộng hồ điệp”, “Tây hồ chiết liễu”, còn có…”
 
Thái hậu nghe đến đó thì cướp lời: “Có khúc “Đạp thanh ca” chứ?”
 
Như Lộ lắc đầu: “Dạ chưa!”
 
Thái hậu liền mỉm cười nói tiếp: “Quan gia nếu đã thích bài đối đáp Vịnh Nga, thì con cứ về Hương Liên Viện tìm hiểu trước đã. Khi đã am tường bài thơ này, trong “Đạp thanh ca” có đoạn “Tiểu kiều du tiểu kiều, song nga khán song nga*”, khéo có thể ngâm bài Vịnh Nga vào!” (*Thiếu nữ dạo chơi trên cầu nhỏ, đôi mày nhìn ngắm cặp vịt bơi).
 
Như Lộ lộ ra nét vui mừng trên mắt, liền gấp gáp quỳ xuống cảm tạ: “Hạ thiếp xin cảm ơn điện hạ đã chỉ bảo!”
 
Thái hậu cười sang sảng nói: “Bổn cung đang muốn có cháu để bồng! Con nhất định không được phụ tấm long này của bổn cung. Ở đây có chiếc khăn tay thêu bài Vịnh Nga, bổn cung thưởng cho con!”
 
Như Lộ ngước mắt nhìn lên, nhận lấy chiếc khăn trong tay Thái hậu. Sau đó Thái hậu điềm đạm nói: “Được rồi, hôm nay gọi con đến đây cũng chỉ có ngần ấy câu muốn nói. Bây giờ con lui về đi!”
 
Như Lộ đứng dậy, kính cẩn hành lễ rồi lui xuống. Thái hậu gật đầu dõi theo bóng dáng khả ái của Như Lộ, bên khoé môi nở một nụ cười.
 
Trưa hôm sau trời bỗng nhiên xám xịt, trên cao mưa bắt đầu rơi, không lớn mà đều đều trút xuống dai dẳng. Nhật Suỷ đang ở điện Thiên Khánh đọc sách, nhìn thấy cảnh mưa mà trong lòng sinh ra chút cô quạnh.
 
Thiên Kiện trông thấy nét mặt Nhật Suỷ như thế, liền biết ý tiến lên một bước nói: “Hay là hãy gọi nhạc kỹ đến đàn vài khúc vui tươi thưa bệ hạ?”
 
Nhật Suỷ gật đầu, sau đó lặng lẽ khẽ nói: “Nhân tiện chuẩn bị xe ngựa đón Mai Phu Nhân đến đây!”
 
Như Lộ theo đó mà ngồi trong xe ngựa, băng qua màn mưa đến điện Thiên Khánh. Khi nàng bước vào, đã thấy Nhật Suỷ nằm trên ghế dài ở tây điện. Đôi mắt của chàng nhắm nghiền, đắm chìm vào trong tiếng đàn của mấy nhạc kỹ ở đó.
 
Như Lộ gật đầu để chào mấy nàng nhạc kỹ, chung quy trước đây nàng cũng giống như bọn họ. Mấy nàng nhạc kỹ cũng mỉm cười cúi đầu chào Như Lộ, đôi bên đều tôn trọng lẫn nhau.
 
Như Lộ lặng lẽ đưa tay đánh nhẹ dây đàn, tham gia vào bài “Thất tịch dạ vũ” ở đó. Nhật Suỷ nghe tiếng đàn bầu, liền mở mắt ra nhìn về phía nàng. Như Lộ theo đó mà định đứng lên hành lễ, chợt thấy Nhật Suỷ phất tay, ý bảo nàng tiếp tục đánh đàn.
 
Khi bài “Thất tịch dạ vũ” vừa dứt thì cơn mưa cũng tạnh hẳn, Nhật Suỷ thấy thế liền nhẹ giọng nói với mấy nàng nhạc kỹ ở đó: “Các ngươi lui xuống hết đi!”
 
Mấy nàng nhạc kỹ liền hiểu ý mà lui xuống, để lại một mình Như Lộ. Nàng nhìn khung cảnh tươi xanh ngoài cửa sổ, liền cong môi nói: “Mưa tạnh làm cảnh trời xanh như tiết xuân, có mùi cỏ phảng phất làm thiếp nhớ đến bài “Đạp thanh ca”, hay là bệ hạ hãy cho thiếp đánh thêm bài này!”
 
Nhật Suỷ mỉm cười gật đầu. Chỉ thấy Như Lộ ngoan ngoãn đánh vào dây đàn một âm. Chỉ nghe âm thanh du dương mà không kém phần yên ả, làm người ta tưởng tiết xuân như đang trở lại. Vừa khéo có hương mưa len lõi qua cửa sổ, khiến lòng người nhớ đến mùi sương của ngày thanh minh.
 
“Liên câu đạp thanh thảo - Xuân yến phi lạc hoa
Tiểu kiều du tiểu kiều - Song nga khán song nga.”
 
Gót sen đạp lên cỏ - Én bay rụng nhành hoa
Thiếu nữ trên cầu nhỏ - Đôi mày ngắm vịt bơi.
 
“Nga nga lưỡng nga nga - Ngưỡng diện hướng thiên nha
Bạch mao phô lục thuỷ - Hồng trạo bãi thanh ba.”
 
Vịt vịt, vịt một đôi – Ngẩng mặt nhìn trời xa
Lông trắng khoe nước trong – Thuyền hồng rẽ sóng xanh.
 
Nhật Suỷ liền có chút thích thú xen lẫn ngạc nhiên: “Bài “Đạp thanh ca” đâu có đoạn này?”
 
Như Lộ vẫn không thôi gảy đàn, khoé miệng mỉm cười mà uyển chuyển nói: “Hôm qua thiếp đến Vạn Thọ Cung, học được bài “Vịnh Nga” ở chỗ Thái hậu. Thiếp phối bài thơ này vào “Đạp thanh ca”, bệ hạ nghe có thích không?”
 
Nhật Suỷ có chút vui vẻ, liền chìa tay ý bảo Như Lộ tiến lại gần. Như Lộ nắm lấy tay Quan gia rồi ngồi cạnh chàng, chỉ nghe Quan gia vui vẻ nói: “Dạo gần đây nàng rất hay học hỏi thi thư, rốt cuộc đã tiến bộ rất nhiều!”
 
Như Lộ mỉm cười một cách đáng yêu: “Hạ thiếp ở cạnh bệ hạ, đương nhiên là học được những cái hay của người!”
 
Nhật Suỷ chợt nhận ra chiếc khăn tay trong tay Như Lộ, liền nhẹ giọng hỏi: “Chiếc khăn này hình như là của Mẫu hậu thì phải!”
 
Như Lộ gật đầu đáp: “Thái hậu thấy thiếp thích đoạn thơ này, cho nên đã thưởng cho thiếp!”
 
Nàng nói xong câu đó, chợt thấy Quan gia mải mê nhìn chiếc khăn của mình, liền nhẹ giọng hỏi: “Bệ hạ thích chiếc khăn này lắm à?”
 
Nhật Suỷ cười hiền hoà rồi lặng lẽ nói: “Tặng cho trẫm được không?”
 
Như Lộ có chút ngạc nhiên, nhưng cũng đành ngoan ngoãn gật đầu. Chỉ thấy cuối đuôi mắt Nhật Suỷ là nét cười, chàng đưa chiếc khăn lên trước mặt mà lẩm bẩm: “Nga nga lưỡng nga nga…”
 
***
 
Nguyên Ninh đang đứng bên cửa, dõi mắt nhìn Tố Liên quét dọn mấy cánh hoa rơi sau cơn mưa, chợt thấy ngoài cổng có vài bóng người. Nhìn kỹ thì đó là Thiên Kiện và một vài tiểu công công khác. Thiên Kiện nhanh chân bước đến trước mặt Nguyên Ninh, sau đó khẩn trương hành lễ: “Nô tài xin cúi chào Thánh Tư Phu Nhân!”
 
Nguyên Ninh nhẹ giọng: “Đứng dậy đi!”
 
Lại nghe Thiên Kiện đáp: “Nô tài theo lệnh Quan gia, đem đến Nhã Cúc Việt một ít quà.”
 
Mấy tiểu công công nghe đến đó thì đưa quà cho Tố Liên và Thuỷ Linh. Ở đó ngoài lụa là, gấm vóc, còn có mấy hộp trang sức và phấn son.
 
Thiên Kiện cười sang sảng mà tiếp lời: “Ngoài mấy món này, Quan gia còn dặn nô tài phải đưa tận tay Thánh Tư Phu Nhân chiếc hộp này!”
 
Nguyên Ninh đưa tay nhận lấy hộp quà, chỉ thấy đôi tay của Thiên Kiện nửa như đưa đến nửa như không, vừa lúc đó thì đã nghe Thuỷ Linh khẽ nói: “Thiên Kiện công công lặn lội từ điện Thiên Khánh đến đây, chắc hẳn là đã vất vả rồi ạ!”
 
Nguyên Ninh hiểu ý mà liền đáp: “Thuỷ Linh, em vào phòng lấy ra một bao đỏ cho Thiên Kiện công công!”
 
Chỉ nghe Thuỷ Linh “dạ” một tiếng. Lúc đó Thiên Kiện mới cười nói: “Đây là chức trách của nô tài thôi ạ! Quan gia còn nói kể từ lúc Phu Nhân nhập cung đến nay, Quan gia chưa có dịp gặp mặt người. Nếu có thời gian, Quan gia sẽ đến Nhã Cúc Viện!”
 
Tố Liên đứng bên cạnh nghe thế thì không khỏi vui mừng. Chỉ thấy Nguyên Ninh lặng lẽ đáp: “Ta biết rồi!”
 
Giữa lúc đó thì Thuỷ Linh cũng đã bước ra, nhét bao đỏ vào tay Thiên Kiện. Thiên Kiện thấy thế thì cũng mỉm cười hành lễ: “Nô tài xin cảm ơn Thánh Tư Phu Nhân. Ở điện Thiên Khánh còn nhiều chuyện phải lo, nô tài xin cáo lui trước!”
 
Tố Liên đợi Thiên Kiện rời khỏi Nhã Cúc Viện, liền nắm tay Nguyên Ninh kéo vào phòng: “Không biết bên trong là gì mà Quan gia bắt Thiên Kiện công công phải trao tận tay chủ nhân nhỉ?”
 
Nguyên Ninh liếc mắt nhìn nàng ấy rồi từ từ mở hộp quà. Bên trong thì ra là một chiếc ngọc bội hình uyên ương, nằm trên một bài thơ được viết bằng mực đỏ:
 
“Lưỡng nga hợp ảnh bỉ kiên phù
Giang thượng song nhân ngự nhất chu
Vạn lý thiên duyên tri kỉ kết
Uyên ương hí thuỷ thưởng thanh thu.”
 
Tố Liên liền ngượng ngập nói: “Bài thơ này có nghĩa là gì ạ?”
 
Chỉ nghe Nguyên Ninh khẽ đọc:
 
“Đôi vịt kề vai chung một ảnh
Hai người trên sông ngự một thuyền
Duyên trời vạn dặm thành tri kỉ
Uyên ương đùa nước thưởng trời thu.”
 
Tố Liên nghe xong thì vui mừng nói: “Uyên ương là hình ảnh hai người yêu nhau, Quan gia tặng cho chủ nhân chiếc ngọc bội cùng bài thơ này, có lẽ là rất thích người!”
 
Nguyên Ninh chợt nhớ đến lời của Thái hậu tại Thượng nghi viện về hình ảnh uyên ương, liền đưa mắt nhìn xa xăm mà lặng lẽ nói: “Trước khi xuất giá trở thành Thái tử phi, chị của ta đã ướm thử giày uyên ương từ trong cung đưa đến. Lúc đó chị nắm lấy tay ta, nói rằng Đông cung Thái tử vô cùng yêu thương chị. Nhưng mà có lẽ chỉ có Đông cung Thái tử mới yêu chị thôi, sau này khi người trở thành Quan gia, tình cảm đó đã không còn như trước… Cây mía ngọt gốc nhạt ngọn, huống hồ uyên ương cũng không phải hình ảnh tốt đẹp gì. Nghe nói khi con mái đẻ trứng, con trống sẽ rời tổ bỏ đi. Đến khi trứng nở cả rồi, con trống mới quay trở về. Thử hỏi lúc quan trọng nhất không kề bên, khi khó khăn qua đi mới xuất hiện, thì còn có nghĩa lý gì cơ chứ?”
 
Tố Liên nghe thanh âm của Nguyên Ninh có bảy phần ưu phiền, liền lo lắng hỏi: “Chủ nhân không sao chứ?”
 
Nguyên Ninh lắc đầu: “Ta không sao… chỉ là không muốn bản thân quá đặt trọng mấy món quà này, sợ rằng bản thân quá vọng tưởng!”
 
Thuỷ Linh có chút ưu tư mà lặng lẽ chau mày, sau đó chợt tươi cười nói: “Thật ra không giống như chủ nhân nghĩ đâu. Xin người hãy theo nô tỳ!”
 
Thuỷ Linh theo đó mà nắm tay Nguyên Ninh chạy đi. Tố Liên cũng gấp gáp chạy theo sau. Phút chốc cả ba đã đến một chiếc hồ rộng lớn trong vườn ngự uyển. Ở đó chính là Lạc Thanh Trì.