Chương 2. Từ giã

Chương 2. Từ giã

Ta cùng Thiết Trâm nhanh chân trở về nhà trọ. Sắc trời lúc này cũng chuyển dần sang màu tối, có điều nhà trọ vẫn chưa được thắp đèn.
Chưa thắp đèn nghĩa là vẫn còn sớm, ta tự dối lòng như thế rồi cùng Thiết Trâm cẩn thận đóng cửa.
Lúc ta định quay người thì đã nghe giọng Thiết Trâm hét lên. Ta kinh hãi xoay đầu, cô Tịnh Văn và Mẫu hậu thì ra đã chờ sẵn bên trong.
“Con có biết tại sao phong hiệu của con lại là “Huyền Trân” hay không?”
Mẫu hậu ngồi trong bóng tối nhìn ta. Ánh sáng chỉ soi rọi được nửa thân dưới của người, khiến cho ta không thể nhìn được thần sắc của Mẫu hậu.
“Phụ hoàng xem con là viên ngọc huyền diệu trong tay, cho nên mới ban cho con cái phong hiệu này ạ!”
Hình như Mẫu hậu gật gù trong bóng tối: “Thật ra ngoài phong hiệu, tên của con vốn đã có sẵn chữ “Lam”. Ngọc lam là loại ngọc quý giá và vinh diệu, chỉ có bậc vương giả mới có thể sở hữu. Không những thế, ngọc lam còn tượng trưng cho sự chân thật. Nếu đã là như thế, mau nói cho Mẫu hậu biết, khi nãy con đã đi đâu và gặp những ai?”
“Con…”
Giữa lúc ta còn ấp úng, cô Tịnh Văn đã lạnh lùng nói: “Nếu công chúa đã khó mở lời, thì phải nhờ cái miệng nhỏ bé của Thiết Trâm rồi!”
Ta biết Thiết Trâm rất sợ cô Tịnh Văn, bản thân ta cũng vậy. Bà ấy đã theo hầu Mẫu hậu từ nhỏ, sự nghiêm khắc của bà ta có khi còn hơn cả Mẫu hậu.
Nhìn gương mặt sợ hãi của Thiết Trâm, ta đành phải kể lại đầu đuôi câu chuyện, chỉ lấp liếm những chuyện liên quan đến Bổ Đích.
Mẫu hậu nhìn con thỏ trong tay ta, sau đó lặng lẽ nói: “Con có biết chỗ này nguy hiểm như thế nào không? Đây là biên giới giữa Đại Việt và Chiêm Thành, nếu lần sau con còn lẻn ra ngoài như thế, xem chừng kẻ bị thương không phải chỉ đơn thuần là mấy con vật này, mà có khi lại chính là con. Gần đây ta đối với con xem bộ đã quá dễ dãi, bắt đầu từ ngày mai, con chỉ được đi lại trong phạm vi nhà trọ này. Nếu cãi lệnh…”
Mẫu hậu nói đến đó thì cười lạnh: “Ta nghĩ có lẽ con không có lá gan để cãi lệnh đâu nhỉ? Bởi vì Tịnh Văn sẽ là người giám sát chủ tớ hai người bọn con!”
Mẫu hậu nói đến đó thì cô Tịnh Văn đã lễ phép “dạ” một tiếng. Nói xong hai người bọn họ rời đi, để lại một làn gió khô khốc bao trùm căn phòng.
Cánh hoa sứ trong tay ta khẽ lay, đối với ta mà nói, đoá hoa này thật tự tại biết bao! Giá như cái tên của ta không phải là Nhã Lam, không phải một loại ngọc dẫu quý giá nhưng lại bị giam giữ trong hộp gấm thì hay biết mấy. Có lẽ ta sẽ được như đoá hoa này, hoàn toàn tự tại!
Sáng hôm sau, giống như lời Mẫu hậu nói, việc đi lại của ta hoàn toàn nằm trong phạm vi kiểm soát của cô Tịnh Văn. Ta cũng đành tuân lệnh mà dạo chơi trong khuôn viên nhà trọ.
 
Cũng may nhà trọ này không hề nhỏ. Ở đằng sau của nó có một khu vườn rất rộng. Khu vườn đó dẫn đến một ngọn đồi, ta và Thiết Trâm nhanh chân leo lên đó.
Cô Tịnh Văn không đi theo chúng ta, chỉ ngồi xuống bên chiếc bàn dưới chân đồi uống trà.
Rốt cuộc cũng có một nơi có thể cắt đuôi bà ta. Ta thấy thế thì liền lấy chiếc sáo bên hông đưa lên miệng. Chiếc sáo này cũng giống như chiếc sáo hôm qua ta đã tặng Bổ Đích. Có điều màu của nó đậm hơn. Thanh âm cũng sắc sảo hơn nhiều!
Ta đưa mắt nhìn khung cảnh bên kia ngọn đồi. Ở đó là khoảng rừng mênh mông, kéo dài tưởng chừng như vô tận. Có một dải lụa bạc vắt ngang khu rừng, dường như là dòng suối hôm qua, nơi mà ta đã gặp Bổ Đích. Nghĩ đến đó mà ta lại thổi bài “Bèo dạt”.
Nhẹ nhàng có, bay bổng có, bài dân ca ở kinh thành này đúng thật là rất đặc biệt. Nghe nói đó là khúc tương tư của thiếu nữ dành tặng cho người tình phương xa. Có điều ta thổi bài này, không phải là đang có tâm trạng đó, chỉ là vì bài này đơn giản dễ thổi mà thôi!
Thanh âm của chiếc sáo băng qua từng tán cây, dường như đám chim muông cũng cảm nhận được thứ âm thanh bay bổng này. Chúng ríu rít hót vang, cùng ta hoà chung một điệu hát.
Chợt nghe xa xa trong tiếng chim muông, dường như có tiếng sáo vọng lại.
Ta nhận ra tiếng sáo đó đến từ đâu. Âm thanh vang xa đến thế, chỉ có thể phát ra từ loại sáo thượng hạng ở kinh thành. Hôm qua ta đã tặng cây sáo đó cho Bổ Đích, xem bộ tiếng sáo này là của Bổ Đích rồi!
“Công chúa! Nắng đã lên cao rồi, chúng ta mau trở về thôi!” – Cô Tịnh Văn ở dưới nói vọng lên, thanh âm của bà ta nghiêm khắc đến độ át cả tiếng sáo.
Ta cùng Thiết Trâm từ trên đồi chạy xuống như hai con rùa con, bên tai vẫn còn nghe tiếng sáo của Bổ Đích, trong lòng có chút vui vẻ.
Mấy ngày sau, vết thương của con thỏ cũng đã lành. Nhưng nhìn nó có vẻ buồn bã lắm. Ta nghĩ có lẽ nó còn có cha mẹ, anh chị ở khu rừng kia. Xem bộ phải thả nó trở lại khu rừng trước đó.
Thiết Trâm không dám cùng ta trốn ra ngoài. Ta với em ấy tranh cãi hồi lâu, rốt cuộc Thiết Trâm chống nạnh hỏi: “Công chúa nằng nặc muốn quay lại khu rừng đó, ngoài việc tạo cơ hội cho con thỏ đoàn tụ với bầy đàn, có phải còn muốn trốn đi chơi thêm không?”
Ta nghe đến đó mà giật mình, không biết tự lúc nào mục đích của ta đã không còn đơn thuần như lời Thiết Trâm nói. Nhìn đoá sứ trong khăn lụa đã bắt đầu héo úa, thật ra có lẽ ta muốn gặp lại Bổ Đích…
Thiết Trâm biết ta thích đoá hoa này, liền nắm lấy tay ta: “Đóa hoa đã bắt đầu héo úa, nếu công chúa muốn giữ nó được lâu hơn, cần phải làm nó trở thành hoa khô!”
Ta đương nhiên tán thành, Thiết Trâm theo đó nắm tay ta chạy đi. Lúc chạy qua phòng của Phụ hoàng, ta chợt nghe được cuộc trò chuyện bên trong.
Thì ra Phụ hoàng đã quyết định ngày mai sẽ lên đường rời khỏi đây, nếu ta không kịp đến con suối đó trong ngày hôm nay, xem bộ sẽ chẳng còn cơ hội gặp lại Bổ Đích…
 
Thiết Trâm cùng ta trở về phòng, em ấy lấy đoá hoa đặt trong quyển “Nữ tắc diễn âm”, sau đó đem đến cửa sổ phơi nắng. Đôi mày của ta khẽ chau, loài hoa tự tại như thế, lại bị Thiết Trâm đè bẹp trong quyển sách khuôn phép kia.
Sao Thiết Trâm không lấy một quyển sách nào khác nhỉ? Ta đưa mắt nhìn đám sách còn lại trong phòng. Bất giác ta thở dài, thật ra đám sách còn lại cũng chỉ toàn quy củ, lễ nghi. Chúng vốn dĩ không có gì khác biệt so với cuốn sách trong tay Thiết Trâm.
Nghĩ đến đó mà có chút chán nản, ta nhớ lại những cuốn sách mà bản thân đã từng đọc lén. Mấy cuốn sách đó của Hoàng huynh Quốc Chẩn quả thật là thú vị biết bao!
Trong đầu ta chợt nhớ đến chuyện Hoài Văn Vương bóp nát quả cam, thật sự muốn giống như ông ấy, trở thành một Trần Quốc Toản khí phách ngời ngời, không sợ bất cứ một quy tắc cứng nhắc nào.
Ta xoay đầu, chợt thấy Thiết Trâm đã chuyển sang việc khác tự bao giờ. Em ấy đang ủi đồ cho ta. Cát trên chiếc bàn ủi tuy nóng, nhưng ta thấy Thiết Trâm vô cùng vui vẻ, thi thoảng em ấy còn xoa xoa mấy đường thêu trên áo, vẻ mặt thích thú lắm!
Ta biết Thiết Trâm rất thích những bộ quần áo này. Ta quý em ấy, cho nên mấy lần muốn tặng Thiết Trâm vài bộ. Nhưng mà Thiết Trâm luôn từ chối, bởi lẽ em ấy chỉ là thị tỳ, vốn dĩ không thể mặc được những bộ quần áo này.
Vậy nên ta chỉ có thể lén lút tặng cho Thiết Trâm mấy chiếc khăn thêu. Em ấy quý chúng lắm, còn để dành tiền mua một chiếc rương lớn cất vào. Nhưng mà chẳng mấy khi thấy Thiết Trâm đem chúng ra dùng, em ấy chỉ dám ngắm nhìn đám khăn thêu này thôi. Chung quy cũng là vì quy củ cứng nhắc, bất giác ta ước gì trên đời không có thứ quy củ, lễ nghi này.
Nghĩ đến đó mà ta đến cạnh Thiết Trâm, đẩy em ấy ngồi xuống ghế, còn ta thì bắt tay vào việc ủi đồ: “Em ngồi nghỉ chút đi, đâu phải ta không biết ủi đồ?”
Thiết Trâm chau mày mà nhẹ giọng: “Chuyện này không nên đâu công chúa. Nếu cô Tịnh Văn bắt gặp công chúa làm chuyện này, bà ấy sẽ mắng em!”
Ta lắc đầu mà nhìn em ấy mỉm cười: “Mấy lần trước đâu có ai phát hiện đâu, lần này cũng thế!”
Ta đem cái áo đã ủi xong đến trước mặt Thiết Trâm, mùi áo vừa mới được ủi rất dễ chịu.
“Có muốn mặc thử nó không?”
“Em không dám thưa công chúa…”
Ta mỉm cười rồi nói nhỏ: “Không ai biết đâu…”
Ẩn trong bộ quần áo được thêu kỹ lưỡng này, Thiết Trâm so với một vị đài cát nào đó cũng chẳng hề kém cạnh. Nếu sinh ra trong một gia đình khá giả, có lẽ Thiết Trâm sẽ thường xuyên được mặc những bộ quần áo này. Nhưng mà tốt nhất thì đừng là con cháu hoàng tộc, nếu không thì Thiết Trâm cũng sẽ giống như ta, bị quy củ, lễ nghi trói buộc!
Ta bảo Thiết Trâm xoay một vòng rồi dựa theo điệu bộ của em ấy mà hành lễ: “Kính chào công chúa!”
Thiết Trâm gấp gáp xua tay: “Công chúa đừng làm thế!”
Ta mỉm cười rồi bước đến chỗ em ấy đang đứng, lặng lẽ khẽ nói: “Ta có chuyện này muốn nhờ em!”
***
Không ngờ không có Thiết Trâm đi bên cạnh, đường đi lại trở nên khó khăn đến thế. Ta ôm con thỏ ngồi xuống hòn đá cạnh suối, chỉ thấy nước ở đây chảy xiết vô cùng. Lấy tay áo thấm mồ hôi, bất chợt ta nhận ra tay áo của Thiết Trâm đã đứt mấy đường chỉ. Hơn nữa bộ quần áo này đã phai màu. Lát nữa khi về quán trọ, ta sẽ cho tiền em ấy mua một bộ đồ mới.
Thật ra ta đang mặc quần áo của Thiết Trâm. Em ấy bây giờ có lẽ đang nằm trên giường đắp kín chăn. Khi nãy bọn ta giả dạng nhau, cố giấu đi gương mặt rồi dùng tiếng nói đánh lừa cô Tịnh Văn.
Mẫu hậu chỉ cấm không cho ta rời khỏi quán trọ, nhưng không đề cập gì đến Thiết Trâm, cho nên cô Tịnh Văn không có ý kiến gì về việc Thiết Trâm rời khỏi quán trọ.
Lúc ta lướt ra ngoài quán trọ, cô Tịnh Văn hãy còn đứng xa, có lẽ bà ta vẫn đinh ninh ta là Thiết Trâm.
Tuy đã “đào tẩu” thành công, nhưng để tránh “đêm dài lắm mộng”, ta phải nhanh chân đến khu rừng đó thả con thỏ này.
Bước một bước thật vội, ai ngờ rêu xanh trên đá làm ta trượt chân. Chiếc giày đang mang cũng rơi xuống suối. Mượn giày người khác mà còn làm rơi, ta luống cuống ôm con thỏ đuổi theo chiếc giày.
Nhưng mà chân của ta đau quá, mắt cá chân thì ra đã rớm máu rồi. Nhưng mà mặc kệ, ta không thể yếu đuối như vậy. Nghĩ đến đó mà ta đứng lên đuổi theo chiếc giày. Chỉ thấy xa xa đằng trước là vực thác, nếu ta không bắt được chiếc giày, e là nó sẽ rơi xuống thác nước!
Chân ta đau quá, cho nên không thể chạy nhanh hơn nữa. Ta với tay về trước cố bắt lấy chiếc giày. Nhưng mà xui xẻo thật! Chỉ một chút nữa thôi là ta đã có thể bắt được nó, nhưng rốt cuộc vẫn không được.
Ta thẫn thờ nhìn chiếc giày trôi giữa dòng nước, bất lực nhìn nó sắp tan xác dưới vực sâu. Trong lòng ta thầm xin lỗi nó, nhưng bất chợt có một thân ảnh bay vụt ra bắt lấy chiếc giày. Ánh sáng ở đó che lấp người đó, trước mắt ta chỉ còn một cái bóng đen. Ta vui mừng mà cắn răng chạy đến chỗ đó, nhanh miệng nói một câu: “Cảm ơn anh! Cảm ơn anh nhiều lắm!”
Người ở đó dường như sửng người hồi lâu, sau đó mới khẽ cười: “Cô gọi ta là gì?”
Ta ngẩng mặt lên nhìn anh ta, chợt nhận thấy gương mặt ở đó có chút thân quen, nhưng mà cũng có đôi nét xa lạ. Chỉ nghe anh ta nói tiếp: “Không gặp nhau vài hôm, nhưng mà hình như cô quên ta rồi!”
Ta vẫn chưa tin vào mắt mình mà liền nghi hoặc nói: “Anh là Bổ Đích?”
Bổ Đích gật đầu “ừm” một tiếng. Sau đó dường như sực nhớ ra chuyện gì, Bổ Đích liền gật gù mà có vẻ thích thú nói: “Có lẽ do ta vừa cạo râu, cho nên cô không nhận ra ta.”
Đúng vậy, lần trước khi ta gặp Bổ Đích, râu của hắn rất dày. Ta còn tưởng Bổ Đích lớn tuổi lắm. Ai ngờ lần này gặp lại, Bổ Đích trông trẻ hơn hẳn, nếu không nói là anh tuấn hơn nhiều.
Ta không giấu nổi sự buồn cười, nhưng bước tới một bước lại cảm thấy chân đau. Ta đưa mắt nhìn xuống, bàn chân đã lộ ra trước mặt Bổ Đích tự bao giờ.
Lộ chân trần trước mặt đàn ông đã xấu hổ vô cùng, huống hồ bàn chân của ta còn rớm máu và dính đầy bùn đất, trông thật là gớm ghiếc!
Ta gượng gạo nhảy chân sáo về phía bìa suối, đang định đưa chân xuống rửa, nhưng mà Bổ Đích ngăn lại: “Nguy hiểm lắm!”
Nói xong Bổ Đích bước tới giúp ta xuống bìa suối rửa chân. Thế nước trước mắt đang cuồn cuộn, cho nên ta cũng cắn răng mà để cho Bổ Đích rửa chân cho mình.
Mắc cỡ quá! Nhưng cũng may Bổ Đích là người Chiêm, có lẽ anh ấy không biết sự ngượng ngập bây giờ của ta.
Chỉ thấy đôi mày rậm của Bổ Đích khẽ chau, có lẽ anh ta đang tập trung cực độ, dòng nước từ tay anh rửa lên vết thương của ta thật nhẹ.
Ta theo phản xạ mà run chân, mặc dù vết thương cũng không rát lắm. Chỉ thấy Bổ Đích đưa mặt lại gần chân ta, dùng miệng thổi vào vết thương, dịu dàng mà ân cần. Bất giác mặt ta đỏ bừng mà thu chân lại, đôi môi ngượng ngập nói: “Ta không sao… chút vết thương nhỏ này có là gì?”
Bổ Đích nghe đến đó thì nhoẻn miệng cười, anh ta nhìn con thỏ trên tay ta mà thắc mắc: “Cô đem con thỏ đi thả à? Nhưng tại sao lại cất công đến tận đây?”
Ta gật đầu nói: “Con thỏ này vốn dĩ đã sinh ra và lớn lên ở đây. Sông có nguồn, cây có cội, ta phải thả nó về chính khu rừng này. Nếu không, chắc chắn nó sẽ nhớ người thân lắm! Người thân của nó cũng sẽ nhung nhớ nó!”
Bổ Đích phì cười rồi nghĩ ngợi thêm, sau đó anh ta rốt cuộc cũng tán thành: “Nếu vậy để ta giúp cô đem con thỏ này về nơi mà trước đó nó bị thương!”
Bổ Đích nói đến đó thì liếc nhìn đôi giày đã ướt của ta, sau đó khẽ nói: “Đi giày ướt sẽ không thoải mái. Huống hồ gì chân cô đang bị thương, mà đường đi trong rừng toàn gai nhọn. Nếu cô không ngại, có thể để ta cõng!”
Ta đương nhiên là ngại, có điều lời Bổ Đích nói không sai. Giữa lúc ta còn suy nghĩ thì Bổ Đích đã khom lưng xuống rồi vỗ tay lên đó: “Đừng ngại, nhìn cô nhỏ bé như thế, ta không có mệt đâu!”
Thì ra Bổ Đích cũng chỉ nghĩ ta ngại vì sợ hắn mệt. Có điều ta đâu phải ngại chuyện đó... nhưng mà nghĩ lại những lời Bổ Đích nói, cuối cùng ta cũng đành âm thầm gật đầu.
Khi nãy Bổ Đích còn dõng dạc nói không mệt, nhưng mà lúc anh ấy cõng ta đem con thỏ đến khu rừng kia, trên trán đã lấm tấm mồ hôi. Ta phì cười rồi lấy tay áo lau mồ hôi cho anh ấy, sau đó tò mò hỏi: “Có mệt không?”
Bổ Đích hạ người xuống để ta và con thỏ gần mặt đất hơn, sau đó khẽ cười: “Không! Mau thả con thỏ đi!”
Ta cười khúc khích: “Anh nói không, nhưng lại hối thúc ta thả con thỏ, có lẽ là đã mệt thật rồi! Có điều mấy ngày qua ta đã nuôi con thỏ này, trong lòng cũng có chút lưu luyến!”
Sướt mướt đến đó cũng đã đủ, rốt cuộc ta cũng thả con thỏ về rừng. Con thỏ giống như cũng luyến tiếc ta, chạy được một quãng rồi quay lại đứng lên nhìn. Điệu bộ đó thật làm cho ta cảm động. Ta vẫy tay nói vọng đến đó: “Mau trở về đoàn tụ với gia đình của ngươi đi. Lần sau cẩn thận hơn nhé! Đừng để bị chó sói đuổi!”
Con thỏ nghe xong thì rời đi, thoáng chốc ẩn sâu vào trong rừng xanh, để lại một bầu không khí tiếc nuối. Chỉ nghe Bổ Đích khẽ cười: “Cô biết nói tiếng thỏ à? Ta thấy con thỏ đó rất nghe lời cô!”
Ta không nhịn nỗi mà phì cười, bất chợt trống bụng của ta vang lên. Xấu hổ thật! Khi nãy chỉ lo gấp gáp trốn đi, thật ra ta vẫn chưa ăn gì.
Bổ Đích nghe tiếng bụng đói của ta thì đứng lên cõng ta đi tiếp, khoé miệng của anh ấy đắc ý nói: “Xem bộ cô có lộc ăn rồi. Hôm nay lều tranh của ta có một món ngon!”
Ban đầu khi nghe Bổ Đích nói thế, ta còn tưởng món ngon ấy là sơn hào hải vị. Ai ngờ món ngon mà Bổ Đích nói là thịt của một loài vật ta sợ nhất.
“Cô không thử à? Ngon lắm đấy!”
Ta gượng cười lắc đầu: “Thật ra ta vẫn còn muốn sống...”
Bổ Đích nhai ngấu nghiến một miếng thịt trong miệng, sau đó phì cười, văng cả thịt vụn ra ngoài: “Xin lỗi, là do cô làm ta buồn cười quá! Yên tâm đi! Con rắn này không có độc!”
Ta nhìn con rắn bị nướng ở đó thật đáng sợ, có điều mùi thịt cũng khá là thơm.
“Thật sao?”
Bổ Đích nghe xong thì đưa thẳng một miếng lên trước mặt ta, xé thịt khỏi xương rồi “A” một tiếng, ý bảo ta há miệng ra. Ta miễn cưỡng cho nó vào miệng, nhắm mắt mà tuỳ tiện nhai. Ai ngờ mùi vị của thịt rắn thật sự không tồi! Ta vô thức khen lên “Ngon thật!”
Bổ Đích ngạo mạn cười: “Ở Chiêm Thành, người già hay trẻ nhỏ đều biết ăn thịt rắn. Hơn nữa nó còn được xem là món cực phẩm.”
Món thịt rắn quá ngon, cho nên ta không ngại mà với tay đến trước lấy thêm một miếng. Sau đó ta lặng lẽ nói tiếp: “Xem ra người Chiêm ai cũng gan dạ nhỉ? Đúng rồi, lần trước ta có gặp một bức tượng của Chiêm Thành, khắc hoạ lại cảnh một con chim thần đang giết rắn!”
Bổ Đích nheo mắt cười: “Người Chiêm chúng ta tôn thờ một loại chim thần đó là Garuda, người Đại Việt gọi là Ca Lâu La. Ca Lâu La là chim thần có đầu người, với ba mắt và mỏ đại bàng, vô cùng dũng mãnh và thiện chiến. Có điều Ca Lâu La lại là kẻ thù không đội trời chung của rắn thần Naga, tức là Na Già. Vậy nên nếu Ca Lâu La bắt gặp được rắn ở đâu, sẽ luôn tìm cách giết chết! Trong các ngôi chùa của người Chiêm chúng ta, đều có tượng chim thần Ca Lâu La!”
Ta tròn mắt thích thú hỏi tiếp: “Tại sao chim thần Ca Lâu La lại có thù với rắn thần Na Già?”
Bổ Đích đưa mắt nhìn xa xăm rồi nói tiếp: “Chim thần Ca Lâu La và rắn thần Na Già vốn là anh em cùng cha khác mẹ. Trong một lần cá cược với mẹ của rắn thần Na Già, mẹ của chim thần Ca Lâu La đã bị thua. Kết quả mẹ của chim thần Ca Lâu La bị phạt phải làm nô lệ. Tuy nhiên, đằng sau trò cá cược này là một âm mưu. Khi chim thần Ca Lâu La biết được sự thật, chim thần đã chiến đấu với rắn thần Na Già để cứu mẹ mình. Từ đó cả hai có mối thâm thù không đội trời chung!”
Thì ra đằng sau một bức tượng chim thần diệt rắn còn có một truyền thuyết ly kỳ như thế. Ta cảm thấy thích thú với văn hoá của người Chiêm, cho nên hỏi Bổ Đích thêm một vài chuyện. Bổ Đích kể lại một cách hào hùng, còn giới thiệu cho ta những thắng cảnh ở Chiêm Thành, khiến cho ta thực sự tò mò.
Thấy Bổ Đích mải mê kể chuyện như thế, ta cũng tỏ ra uyên bác mà tiếp lời: “Nghe nói Chế Mân là một vị vua anh minh và vô cùng thương dân. Không những thế, ông ta còn có tài thao lược. Nhiều năm về trước, khi quân Nguyên kéo xuống tấn công Đại Việt lần thứ hai, bọn chúng đã cử Toa Đô kéo một cánh quân tấn công Chiêm Thành bằng đường biển. Lúc đó Chế Mân đã anh dũng chủ trương phản công chứ quyết không đầu hàng, mặc cho trước đó quân Nguyên đã gửi tối hậu thư cho Chiêm Thành. Có điều quân Nguyên quá mạnh, cho nên quân Chiêm ban đầu không đánh lại. Sau đó Chế Mân dùng kế nghi binh, đợi cho quân địch suy yếu rồi cùng với viện binh của Đại Việt phản công, đánh đến mức Toa Đô phải chạy lên phía Bắc cố thủ!”
Bổ Đích nghe đến đó thì khẽ cười, sau đó liền hỏi: “Xem bộ cô rất thích ông ta?”
Ta nghe đến đó thì đứng lên nói: “Không chỉ có ta, tất cả người dân Đại Việt đều như thế. Nếu ngày đó Chế Mân không chống trả quân Nguyên, e là bọn chúng sẽ dùng Chiêm Thành làm bàn đạp tấn công Đại Việt. Lúc đó nam bắc của Đại Việt đều có địch, e là tình thế sẽ vô cùng nguy kịch!”
Bổ Đích thấy ta đứng lên, còn dùng điệu bộ như thế để nói chuyện thì buồn cười lắm. Sau đó anh ấy liền nói: “Nhưng mà ông ta dù có oai phong đến đâu, thì cũng có một số chuyện không thể tự làm theo ý mình. Nếu được nhiều người tung hô mà gò bó như thế, ta chẳng thà là một Bổ Đích tiêu diêu tự tại.”
Ta nghe đến đó thì im lặng hồi lâu, trong lòng có đôi nét trầm tư. Sau đó ta lặng lẽ ngồi xuống: “Đúng vậy! Khi người ta sinh ra trong gia đình quyền quý, có lẽ đã mang trong người một chiếc xiềng xích vô hình. Sợ là đến khi nhắm mắt mới có thể gỡ bỏ nó!”
Có tiếng củi cháy vụn, ở đó ánh lên mấy đốm than hồng. Bổ Đích cũng vì câu đó của ta mà suy tư. Chiếc giày ướt của ta được treo gần đống lửa, lúc này có lẽ đã khô tự bao giờ. Thì ra trên cao trời cũng đã sập tối...
“Sau hôm nay, chúng ta có lẽ sẽ không còn gặp nhau, bởi vì ngày mai ta sẽ lên đường đi đến một nơi khác. Được quen biết anh ta vui lắm. Nếu có duyên, ta rất mong sẽ có ngày gặp lại anh.”
Bổ Đích khẽ thở dài một hơi thật nhẹ, sau đó anh ấy nhìn ta gật đầu mà mỉm cười: “Lên đường bình an!”
Sau đó ta được Bổ Đích cõng về. Đường đi trong rừng quanh co, nhưng Bổ Đích đi rất nhanh, trong lòng ta thầm mong anh ấy đừng đi nhanh đến thế.
Ta bảo Bổ Đích để ta ở một chỗ gần nhà trọ vì không muốn bị người khác phát hiện. Sau đó ta vẫy chào anh ấy, chỉ thấy bóng dáng Bổ Đích dần khuất xa, đột nhiên ta cảm thấy có chút trống rỗng.