Đảo châu báu - Chương 23 - 24

Chương 23

Tàu đổ nghiêng, các cột buồm cũng đều ngã nghiêng trên mặt nước. Tôi vẫn đang ở chót vót trên trục buồm ngang, trông xuống thấy rõ mặt nước ở phía dưới con tàu. Lúc nãy, lão Han đứng thấp hơn nên đã ngã vào cái quãng giữa bao lơn tàu và tôi. Lão nhô lên mặt nước một lần nữa, người sủi đầy máu và bọt biển, rồi chìm nghỉm. Lúc sau, khi mặt nước đã yên tĩnh, tôi thấy lão nằm còng queo dưới bóng chiếc tàu nghiêng. Vài ba con cá lội tung tăng quanh mình lão. Đôi khi mặt nước chao động, tưởng như lão cựa quậy chực đứng lên. Thật ra lão đã chết hẳn, vừa bị đạn, vừa bị sặc nước. Trong lúc này, máu vẫn chảy ròng ròng trên lưng và trên ngực tôi. Con dao nhọn cắm vào thịt tôi rát bỏng như một miếng sắt nung đỏ. Tuy vậy nỗi đau đớn về thể xác không làm cho tôi kinh sợ bằng việc nếu phải rơi xuống mặt biển xanh lè ở cạnh cái xác lão Han ghê tởm! Ý nghĩ ấy làm tôi phải nhắm nghiền mắt lại. Nhưng sau đấy, tôi định thần lại, tim bớt đập và trở lại bình tĩnh như thường. ý nghĩ đầu tiên của tôi là phải rút con dao ra. Chỉ nghĩ đến thế, tôi cũng đã rùng mình. Nhưng chính nhờ cái rùng mình ấy mà tôi được thoát nạn. Con dao thật ra chỉ dính vào tôi ở lớp da ngoài. Vì thế, tôi mới chỉ rùng mình, con dao đã bật ra khỏi người. Tuy máu có túa ra nhiều hơn, nhưng lưỡi dao chỉ còn găm mảnh áo của tôi vào cột buồm mà thôi! Tôi rứt mạnh ra và tụt xuống boong tàu... Đến nơi, tôi buộc lại vết thương. Tôi đưa mắt nhìn quanh. Bây giờ cả chiếc tàu đã về tay tôi. Tôi không muốn ở trên tàu với cái xác anh hành khách ăn vạ này nữa.

Tôi nghĩ đến việc ném nốt tên mũ đỏ xuống biển. Xác hắn lăn ra tận bao lơn, nằm sóng soài ở đó. Nhờ thế mà lôi nó đi thì cũng dễ. Xác chết bây giờ đối với tôi quen rồi, cũng chẳng đáng sợ gì! Tôi kéo nó lên như kéo một bao cám, rồi lấy sức đẩy nó xuống biển. Hắn đâm sầm, rơi tõm xuống, cái mũ đỏ bật ra ngoài nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Một lát sau, mặt nước trở lại yên tĩnh, tôi thấy xác hắn và xác lão Han nằm cạnh nhau. Hắn tuy trẻ tuổi nhưng đầu đã hói. Hắn nằm đó, cái đầu hói gối lên đầu gối kẻ đã giết hắn, một đàn cá lượn nhanh thoăn thoắt quanh mình hai tên giặc biển. Lúc này, nước thủy triều đã xuống. Mặt trời sắp lặn. Bóng thông ngả dài trên mặt bến và in cả lên sàn tàu. Gió chiều đã nổi. Tuy đã có ngọn núi hai đỉnh che gió, nhưng gió vẫn còn lồng vào trong các cánh buồm và làm dây buồm kêu cót két. Nhận thấy rõ nguy cơ, tôi vội tháo các cánh buồm đầu mũi, kéo tuột xuống boong tàu. Nhưng còn cánh buồm to thì khó lòng mà tháo ra được! Khi tàu nghiêng, đầu cột buồm đã ngả ra xa và một phần nhỏ cánh buồm đã bị nhúng nước. Như thế lại càng nguy hiểm. Nhưng buồm đương căng, nên tôi không dám động đến. Sau cùng tôi dùng dao cắt các dây néo... Đầu cột buồm ngả xuống, cánh buồm phập phồng trên mặt nước. Tôi cố kéo nhưng không chuyển. Mà sức tôi cũng chỉ đến đấy là cùng. Thôi cũng đành phó thác nó ở đấy rồi có ra sao thì ra. Lúc này, bóng đêm đã trùm cả vũng biển. Trời đã bắt đầu lạnh. Nước thủy triều xuống nhanh. Chiếc tàu mỗi lúc một nằm rạp xuống bờ biển. Tôi bò lên đằng trước tàu rồi dòm xuống. Hình như chỗ này nước cạn. Tôi tụt dần xuống. Nước chỉ ngập đến lưng, mặt cát dưới chân tôi rắn chắc và gợn sóng. Tôi vui mừng lội một mạch lên bờ. Ngay lúc ấy, mặt trời đã tắt. Gió thổi đìu hiu trong bóng tối, lướt qua những chòm cây thông nghiêng ngả trập trùng. Thế là sau khi một mình ra đi, tôi đã lại trở về, mà không phải về tay không. Chiếc tàu nằm đó, không còn một tên giặc nào ở trên, chỉ còn đợi chở chúng tôi ra biển. Bây giờ tôi chỉ mong chóng về đến lô-cốt để khoe công trạng của tôi cho mọi người biết. Có thể bị quở trách về việc bỏ trốn đi, nhưng tôi đã đoạt lại được chiếc tàu trên tay giặc. Kể ra cũng có thể lấy công chuộc tội. Nghĩ vậy, tôi càng nôn nóng muốn về ngay để gặp mặt mọi người. Tôi nhớ lại rằng con sông con chảy xuống vũng biển tàu đỗ trước đây bắt nguồn từ trái núi hai ngọn, tôi vội chạy ngay về hướng ấy để lội qua sông ở nơi đầu nguồn cho được cạn. Rừng không rậm lắm, tôi đi men theo ven đồi; lúc sau tôi lội qua con sông nước ngập đến bắp chân. Thế là tôi đã đến gần chỗ gặp Ben-gun khi trước. Tôi đi cẩn thận hơn, dò từng bước. Bây giờ đêm đã tối mò. Ra khỏi chỗ đất trũng ở giữa hai ngọn núi, tôi thấy một tia sáng chiếu rọi lên trời. Tôi đoán Ben-gun đương thổi cơm tối trên một bếp củi lửa đỏ rực.

Nhưng bụng tôi rất lấy làm lạ về sự bất cẩn của hắn. ánh sáng bừng lên như thế, lẽ nào bọn Xin-ve đóng ở bên kia lại không trông thấy được? Bóng đêm mỗi lúc mỗi dày đặc. Đường càng khó đi. Cảnh vật chung quanh bị nhòa trong bóng tối. Chỉ còn vài ngôi sao thưa thớt lấp lánh trên cao. Thốt nhiên, ánh sáng tràn đến quanh mình. Ngẩng lên, tôi thấy một vùng ánh sáng xanh lả lướt trên đỉnh gò Vọng Viễn, và lát sau, mặt trăng tròn vành vạnh đã nhô lên sau các thân cây. Hướng theo bóng trăng, tôi vội vã đi nốt quãng đường còn lại, khi đi, khi chạy. Gần đến nơi, tôi đi thật cẩn thận, vì biết đâu một người trong bọn tôi lại chẳng lầm cho tôi một phát súng đến đi đời! Mặt trăng lên cao dần. ánh trăng chiếu lốm đốm qua cây lá. Ngay trước mặt tôi, thấp thoáng có ánh lửa hồng trong lùm cây. Ngọn lửa có lúc đỏ rực, có lúc tối sầm lại, hình như lửa của một đống tro tàn chưa tắt hẳn. Đi đến chỗ trống, tôi nhìn kỹ. Đằng góc phía tây, ánh trăng chiếu sáng rực rỡ. Cả khu lô-cốt còn chìm trong bóng tối. Một vài vệt ánh trăng chiếu ngang qua lô-cốt. Phía bên kia lô-cốt, một đống than hồng hiu hắt. Chung quanh im lặng như tờ. Chỉ nghe tiếng gió thổi trong lá cây. Tôi đứng lại, vừa ngạc nhiên vừa lo sợ. Xưa nay không bao giờ chúng tôi đốt lửa to. Lệnh ông thuyền trưởng là phải hết sức tiết kiệm củi. Tôi hồ nghi là có tai biến gì đã xảy ra trong lúc tôi đi vắng. Tôi đi vòng về mé đông, và dò theo chỗ tối, tôi leo qua bờ rào. Muốn cho chắc dạ, tôi bò nhẹ nhàng đến góc lô-cốt. Nhưng tôi yên tâm ngay. Tôi khoan khoái lắng nghe tiếng ngáy đều đều của những người đồng đội đương ngủ yên lành. Giá vào lúc khác mà nghe thế, tôi đã phàn nàn về sự canh phòng không cẩn mật, nhưng lúc này tôi nghe tiếng ngáy đều đều ấy như nghe một điệu đàn du dương. Nhưng dù sao, canh gác như vậy thì cũng quá cẩu thả. Nếu bọn giặc đến thì không một người sống sót! Tôi tự nhủ:

“Hạng thuyền trưởng vừa bị thương nằm xuống là đã ra thế rồi!" Tôi lấy làm hối là đã để các bạn lại trong cơn ngặt nghèo ít người canh gác. Tôi bò vào cửa. Trong nhà tối như mực, chẳng trông rõ vật gì. Tôi quờ quạng hai tay đằng trước, mò vào. Tôi định bụng bò vào ngủ chỗ mọi khi, để sáng mai dậy, thấy mặt tôi, mọi người phải một mẻ ngạc nhiên. Tôi vấp phải cái chân của một người đang ngủ; người ấy trở mình càu nhàu mấy tiếng trong cơn mê rồi lại ngủ. Thốt nhiên, một tiếng nói the thé vang lên trong xó tối:

- Đồng ăn tám, đồng ăn tám, đồng ăn tám, đồng ăn tám!

Tiếng ấy cứ kêu mãi, đều đều như tiếng cối xay. Thôi, đúng con vẹt của Xin-ve đây rồi! Nó canh gác còn giỏi hơn người. Thấy tôi mò vào, nó đã kêu liến thoắng lên để báo động. Tôi còn đương bối rối chưa kịp định thần lại, thì mọi người trong nhà đã thức choàng dậy, đứng phắt lên. Tiếp theo là tiếng Xin-ve quát lớn:

- Ai? Ai?

Tôi vội chạy bổ ra ngoài, chẳng may va phải một người khác. Tôi lùi lại đằng sau thì lại rơi vào tay một kẻ khác, tên này đã ôm chặt lấy tôi. Khi đã bắt được tôi rồi, Xin-ve gọi to:

- Đích! Đem đuốc lại đây.

Một người chạy vụt ra ngoài, rồi đem ngay một bó đuốc sáng rực vào.

Chương 24

Ánh đuốc sáng rực chiếu rõ căn nhà, làm tôi thoáng nhìn qua đã hoảng vía. Bọn giặc đã đánh chiếm được khu lô-cốt và cả lương thực. Thùng rượu, bánh, mỡ, thịt muối đều còn nguyên chỗ cũ. Điều làm tôi lo sợ nhất là không thấy tăm hơi một người nào bị bắt. Lúc bấy giờ tôi yên trí là tất cả bọn tôi đã bị giết rồi. Tôi hối hận vô cùng. Lương tâm tôi cắn rứt vì đã bỏ đồn, không ở lại để cùng anh em đồng sinh đồng tử. Trong lô-cốt, có tất cả sáu tên giặc; chắc chúng chỉ còn sống vẻn vẹn có thế. Năm đứa đứng sừng sững giữa nhà, có lẽ chúng đương say vùi, nhưng đột nhiên bị đánh thức nên trông mặt thằng nào cũng đỏ ngầu, xì xị. Còn một thằng thì nằm chống cùi. Thằng này mặt mũi nhợt nhạt như người chết, cái băng buộc trên đầu hắn còn mới tinh. Tôi chắc tên này là tên giặc bị thương chạy tuột vào rừng giữa hôm đánh nhau. Con vẹt đang đứng rỉa lông trên vai gã Xin-ve. Gã trông nhợt nhạt và nghiêm nghị hơn mọi lần. Gã vẫn mặc bộ quần áo dạ như hôm đến đồn thương lượng. Bộ quần áo bây giờ đã bẩn và bị gai móc rách nhiều chỗ. Gã nói:

- Kìa cậu Dim! Thật là trời run rủi! Tình cờ cậu đến thăm chúng tôi! Thật quý hóa!

Nói thế rồi gã ngồi trên thùng rượu, cho thuốc lá vào tẩu xong, gã nói:

- Đích! Đưa mượn bó đuốc!

Khi đã châm thuốc xong, gã lại nói:

- Thôi được rồi! Cắm bó đuốc vào đống củi kia, rồi đi ngủ đi! Ông Dim đây là chỗ thân tình. Ông cũng chẳng bắt lỗi bắt phạt gì các anh đâu mà sợ.

Rồi gã quay lại bảo tôi, vừa nói vừa lấy tay ấn thuốc trong tẩu:

- Còn cậu Dim! Cậu đến đây làm tôi vừa lo vừa mừng. Từ lúc gặp cậu lần đầu, tôi vẫn biết cậu là người láu lỉnh. Nhưng đến việc này thì tôi không ngờ được...

Tôi đứng im không đáp một câu nào. Chúng nó để tôi đứng tựa vào vách. Tôi nhìn thẳng vào gã Xin-ve, bề ngoài rất bạo dạn, nhưng trong ruột rối như tơ vò. Xin-ve ngồi yên lặng, thở ra vài làn khói thuốc, rồi nói tiếp:

- Cậu Dim, cậu đã đến đây, tôi xin nói thật cho cậu nghe. Tôi vẫn thú cậu ở chỗ cậu là một người dũng cảm giống in như tôi thời tôi còn niên thiếu. Tôi vẫn hằng ao ước được cậu nhập bọn với chúng tôi, đồng cam cộng khổ. Vậy đây là dịp tốt. Ông thuyền trưởng của cậu tuy là một tay thạo nghề nhưng quá nghiêm khắc. Còn ông bác sĩ thì cũng đã xỉ vả cậu hết lời. Ông ta bảo cậu là một thằng tồi, một thằng tệ bạc. Nói tóm lại, họ chán cậu rồi! Nếu cậu không lập riêng một phe.

- Mà người đâu mà lập.

- Thì chi bằng cậu cứ nhập bọn quách với thằng Xin-ve này!

Tôi tự nhủ:

“Tốt lắm! Như vậy là cả bọn tôi còn sống..." Tuy tôi có tin một phần nào ở lời Xin-ve về việc bác sĩ oán giận tôi khi tôi bỏ trốn, nhưng tôi không lo, mà lại rất vững bụng. Xin-ve lại bảo:

- Không nói thì cậu cũng biết, cậu đương ở trong tay bọn tôi. Nhưng tôi thích làm cho cậu vỡ lẽ phải trái hơn là dọa nạt. Nếu cậu thuận thì ở, mà không thích ở thì đi, cậu cứ cho biết! Trong khi nói một cách mỉa mai như thế, gã đã lộ ngầm cái ý dọa giết tôi. Tôi hỏi gã, giọng run run:

- Tôi có phải trả lời ngay không?

Gã bảo:

- Hãy khoan, hãy nghĩ cho kỹ đã... Không ai thúc giục cậu đâu!

Dần dần tôi đâm ra bạo, tôi hỏi lại:

- Dù muốn theo ai đi nữa, thì các ông cũng phải cho tôi biết sự thực: Tại sao các ông lại ở đây, và bọn tôi bây giờ ở đâu?

Một tên giặc buột mồm định nói xen vào, nhưng Xin-ve đã quát im. Rồi gã dịu giọng nói:

- Sáng hôm qua, bác sĩ Ly cầm một lá cờ trắng đến chỗ chúng tôi và nói:

“Thuyền trưởng Xin-ve, ông đã bị họ phản. Tàu đã mất rồi!". Chắc bọn chúng tôi mải mê rượu chè nên mới sơ ý. Đến khi nhìn lại thì ôi thôi, chiếc tàu đã biến đi đâu mất! Thật là xấu hổ và nhục nhã. Bác sĩ bảo:

“Thôi, chúng ta thương lượng với nhau đi!" Thế là chúng tôi thương lượng. Các ông ấy chịu nhường lại cho chúng tôi tất cả, cả đồn, cả củi, cả thức ăn. Còn các ông ấy, các ông ấy kéo đi đâu thì có trời biết!

Gã ngồi bình tĩnh hút thuốc lá rồi lại tiếp:

- Để cho cậu yên tâm, tôi cho cậu biết là cậu không dính dáng gì vào việc này cả.

Khi tôi hỏi:

“Bên ông còn lại mấy người?"

Bác sĩ đáp:

“Còn bốn, một bị thương. Còn thằng bé con thì tôi không biết nó ở đâu. Thôi ở đâu thì ở, mặc xác nó!" Đấy, bác sĩ đã nói với tôi như vậy đấy!

- Thế là hết?

- Phải, thế là hết!

- Bây giờ tôi phải chọn... chứ gì?

- Cậu cứ chọn, không sợ gì nữa!

Tôi bỗng đứng thẳng người lên, nói một mạch:

- Tôi không phải là thằng ngốc mà không hiểu được bọn ông định làm gì tôi! Nhưng gì thì gì, tôi cóc cần! Tôi phải nói với các ông một vài điều. Trước hết là bọn các ông đương lâm vào thế nguy: tàu mất, của mất, người mất. Các ông hoàn toàn thất bại. Vậy ông có muốn biết ai gây ra những việc ấy không? Tôi, chính tôi. Chính tôi đã ngồi nấp trong thùng lê, đã nghe các ông bàn bạc và đã báo ngay cho bọn tôi. Chính tôi đã cắt dây buộc tàu. Chính tôi đã giết chết hai thằng giữ tàu, và cũng chính tôi đã lái tàu giấu vào một nơi kín mà bọn ông không một ai có thể biết được! Chính tôi là người ở tay trên các ông, từ đầu đến cuối. Tôi coi các ông bất quá như ruồi muỗi mà thôi. Bây giờ, giết hay để là tùy ông! Nhưng có một điều tôi muốn cho ông biết, là nếu ông không giết tôi thì tôi sẽ quên tất cả việc đã qua. Khi ấy ra tòa, tôi sẽ hết sức cứu ông. Giết đi một cách vô ích hay để lại để sau này làm chứng cho khỏi bị treo cổ, cái ấy là tùy ở ông!

Tôi dừng lại, vì tôi nói đã muốn hụt hơi. Tôi lấy làm lạ về việc trong bọn chúng không có một đứa nào nhúc nhích. Chúng đứng nhìn tôi như một đàn cừu. Khi ấy, tôi lại nói:

- Ông Xin-ve! Tôi coi ông là người khá nhất ở đây. Nếu tôi có việc gì, tôi nhờ ông nói hộ lại với bác sĩ Ly những việc tôi đã làm...

Xin-ve đáp lại, giọng gã rất lạ, không hiểu ý gã muốn mỉa mai tôi hay gã cảm phục trước thái độ can đảm của tôi:

- Tôi sẽ nhớ lời cậu dặn.

Ngay khi ấy, tên thủy thủ già tên là Mo-gan mà tôi đã gặp một lần trước đây ở trong hàng cơm của Xin-ve tại bến Brít-tôn vội kêu to:

- Chính hắn! Chính hắn đã nhận ra thằng Hắc Cẩu...

Một giọng khác kêu to:

- Lại cũng chính hắn đánh cắp cái bản đồ của thằng Bin! Quanh đi quẩn lại, chúng ta đều bị thằng nhãi con này đánh lừa!

- Đây... để tôi cho hắn nếm cái của này!

Mo-gan vừa nói vừa càu nhàu chửi. Hắn nhảy xổ lại, rút soạt dao ra, nhanh nhẹn như một thanh niên hai mươi tuổi. Xin-ve quát to:

- Hãy khoan đã! Anh làm gì ở đây, Mo-gan? Bộ anh tưởng anh là thủ lĩnh ở đây hả! Anh cứ thử trái lệnh tôi, anh sẽ biết tay tôi. Ba mươi năm trời nay, kẻ nào đã trêu vào tay này thảy đều nát thây và đều làm mồi cho cá biển. Không thằng nào bướng với tôi mà toàn mạng được đâu! Mo-gan, anh có thể tin lời tôi nói...

Mo-gan chùn lại, nhưng những tên khác vẫn xì xào. Một tên nói:

- Mo-gan làm đúng đấy!

Một tên khác nói thêm vào:

-Tôi đã để người ta bắt nạt nhiều rồi! Thà tôi chịu chết treo cổ còn hơn để cho họ bắt nạt tôi lần nữa.

Xin-ve ngồi ngả người trên thùng rượu, tay cầm tẩu thuốc lá. Hắn gầm rít lên:

- Nào, còn ai muốn nói cái gì nữa nào? Nói gì, cứ nói cho hết đi! Các anh câm hả? Kẻ nào muốn gây chuyện với tôi, sẽ được biết ngay... Tôi đã sống từng này tuổi đầu rồi mà còn để cho một thằng say quèn làm nhục tôi à? Nào, tôi đợi đấy! Kẻ nào dám vác dao đến thì tôi tuy què quặt, nhưng cũng quyết moi gan hắn ra xem thử to hay nhỏ!

Không một tên nào dám hó hé. Xin-ve lại ngậm tẩu thuốc vào mồm rồi nói:

- Các anh chỉ là đồ tồi! Khi nói đến chuyện đánh nhau, các anh chỉ biết rụt cổ lại! Các anh đã bầu tôi làm thuyền trưởng, vì xét ra tôi hơn hẳn các anh, các anh phải tuân lệnh tôi chứ! Tôi bảo cho các anh biết, tôi rất mến thằng bé này. Thật là một đứa bé có một không hai. Nó còn hơn cả bất kỳ một kẻ hèn nhát nào trong bọn các anh: Kẻ nào động đến nó, coi chừng!

Mọi người đều im thin thít. Tôi vẫn đứng tựa vào tường, lòng hồi hộp nhưng cũng lóe lên một tia hy vọng. Xin-ve tựa lưng vào tường, hai tay khoanh trước ngực, miệng ngậm tẩu thuốc, thái độ bình tĩnh một cách lạ lùng. Mắt hắn vẫn không rời bọn thủ hạ bướng bỉnh của hắn. Bọn kia lùi dần về đằng góc lô-cốt, tiếng bàn bạc rì rầm. Thỉnh thoảng có thằng ngóc đầu lên nhìn Xin-ve. ánh đuốc soi hồng nét mặt gân guốc của chúng. Xin-ve nhổ toẹt một bãi nước bọt ra xa rồi nói:

- Có điều gì nói thì cứ nói đi! Không nói thì ngồi im!

Một tên đáp lại:

- Xin lỗi ông, tôi xin nói. Ông đã phá luật. Bọn tôi đương bất bình đây. Bọn chúng tôi không muốn để ai bắt nạt. Chúng tôi có quyền của chúng tôi. Theo luật, chúng tôi có quyền bàn bạc với nhau. Xin lỗi ông, tôi vẫn nhận ông là thuyền trưởng của chúng tôi trong lúc này. Chúng tôi xin phép ra ngoài kia để họp một tí...

Nói xong, hắn lễ phép giơ tay lên chào rồi bước ra. Những đứa khác đều làm theo hắn. Cuối cùng, bọn chúng ra hết, bỏ lại Xin-ve với ngọn đuốc bập bùng. Xin-ve bỏ tẩu thuốc lá xuống, hạ giọng, nói chỉ vừa đủ tôi nghe:

- Này cậu Dim! Cậu thấy không? Suýt nữa chúng thịt cậu đấy! Nhưng tệ hơn nữa là chúng sẽ tra tấn hành hạ cậu... Giờ đây chúng lại sắp hất cẳng tôi đấy! Nhưng cậu nhớ cho, tôi sẽ không bỏ cậu. Thú thật khi cậu chưa nói, tôi chưa định cứu cậu đâu! Nhưng nghe cậu nói rồi, tôi tự nghĩ:

“Cậu Dim là người tin được! Bây giờ hãy cứu lấy Dim, sau này Dim sẽ cứu lại ta. Dim là chỗ dựa cuối cùng của ta mà ta cũng là chỗ dựa của Dim. Hãy cứu lấy người làm chứng cho ta, sau này nó sẽ cứu ta thoát chết".

Bắt đầu hiểu ra câu chuyện, tôi hỏi:

- Thế ông nghĩ thế nào?

- Tôi nghĩ, tôi đã thất bại hẳn rồi, tôi đã nản lắm rồi! Còn cái bọn kia cũng không có gì đáng ngại...

Tôi sẽ hết sức cứu cậu ra khỏi nanh vuốt của bọn chúng. Nhưng tôi cứu cậu, cậu phải cứu lại tôi. Cậu đừng để cho thằng Xin-ve này phải bị treo cổ. Nghe hắn nói, tôi rất bối rối. Làm thế nào mà cứu được một tên giặc già đầy tội ác như vậy khỏi chết được! Tôi đáp:

- Giúp được gì cho ông, tôi sẽ giúp...

- Đó là lời hứa danh dự của một người đứng đắn.

Nói xong, hắn tập tễnh đi châm thuốc hút, rồi trở lại nói:

- Tôi nói thật với cậu. Bây giờ tôi đứng về phe ông Chi. Những việc cậu làm, tôi không cần hỏi. Nhưng tôi tin ở cậu. Tôi tin ở sự nhận xét của tôi. Tôi biết người biết của. Chao ôi! Cậu còn trẻ lắm! Cậu và tôi, một già một trẻ, chúng ta còn làm được nhiều việc to tát! Hắn lấy ít rượu trong thùng ra uống. Rồi hắn nói:

- À cậu Dim, tiện đây tôi muốn hỏi cậu, tại sao bác sĩ Ly lại giao cho tôi bức bản đồ chỉ chỗ giấu kho vàng?

Thấy tôi ngạc nhiên, hắn nói lảng:

- Chắc có điều gì bí ẩn ở bên trong.

Nhưng không biết điều lành hay điều dữ! Nói xong hắn lại tợp một ngụm rượu. Rồi hắn lắc lư cái đầu tóc vàng bệch như đón đợi một điều gì không lành.