Đảo châu báu - Chương 16 - 17 - 18

Chương 16

Nhìn ra, tôi thấy quả có hai người đứng sau phía hàng rào. Một người đương phất miếng vải trắng, còn một người chính là Xin-ve, đứng im như phỗng. Trời còn sớm lắm. Hôm ấy lại là cái hôm lạnh nhất từ lúc tôi bước chân lên đảo. Rét buốt thấu xương. Trời trong suốt, không gợn một tí mây. ánh nắng chiếu hồng trên các ngọn cây. Tuy vậy, chỗ Xin-ve đứng với tên đồng đảng vẫn còn trong bóng tối. Lớp sương ở đầm bốc lên ban đêm còn chưa tan, vẫn là là trên mặt đất và che lấp chân hai tên giặc đến đầu gối. Cứ xem khí lạnh và sương mù này cũng biết đây là nơi rừng thiêng nước độc. Ông thuyền trưởng bảo:

- Tất cả cứ ở lại trông. Để xem chúng giở trò gì.

Rồi ông gọi hai tên giặc:

- Ai đi đó? Đứng lại, không tôi bắn!

Xin-ve nói to:

- Tôi đến thương lượng đây...

Ông thuyền trưởng nép mình cẩn thận vào cửa, hạ lệnh:

- Tổ bác sĩ Ly đứng vào vị trí. Bác sĩ phía bắc, cậu Dim phía đông, còn Grây phía tây. Tổ canh nạp đạn chuẩn bị. Nhanh lên và chú ý!

Xong ông quay lại bọn giặc:

- Các anh đến đây thương lượng điều gì?

Lần này, tên cùng đi với Xin-ve lên tiếng:

- Thuyền trưởng Xin-ve muốn đến thương thuyết.

- Thuyền trưởng Xin-ve hả? Đây không biết người ấy...

Chúng tôi nghe thuyền trưởng nói thêm:

- Thuyền trưởng, thật lạ lùng! Ai thăng chức cho mà nhanh thế?

Xin-ve đáp:

- Thưa ông, chúng tôi đó! Anh em đã bầu tôi làm thuyền trưởng sau khi ông đào ngũ. (Hắn nhấn mạnh chữ đào ngũ). Tất cả bọn tôi sẵn sàng phục tùng các ông nếu chúng ta đi đến một thỏa thuận. Ông thuyền trưởng, trước hết xin ông nhận lời là sẽ để cho tôi ra khỏi đồn này được bình yên vô sự sau khi nói chuyện...

Ông thuyền trưởng nói:

- Này anh kia! Tôi chẳng muốn thương lượng với anh chút nào! Nhưng nếu anh muốn nói gì, cứ đến mà nói, có thế thôi. Còn nuốt lời hứa thì chỉ có bọn anh mới có thủ đoạn đê hèn ấy! Xin-ve reo to, hớn hở:

- Thế là đủ rồi! Một lời ông nói ra là đủ. Tôi tin ông là người đứng đắn.

Chúng tôi thấy tên cầm cờ trắng cố giữ Xin-ve lại. Nhưng Xin-ve có vẻ chế giễu hắn. Xin-ve đến bên rào ném chiếc nạng vào trong trước rồi nhanh nhẹn leo qua. Lúc này, thú thật, mải nhìn quá nên tôi bỏ việc canh phòng. Tôi mò lại đứng sau lưng ông thuyền trưởng. Ông ngồi trên bực cửa, tay chống cằm, mắt nhìn chăm chú vào dòng suối, miệng huýt sáo khe khẽ. Xin-ve trèo lên đồi một cách khó nhọc. Đồi dốc, cây cối nằm ngổn ngang, đất cát mềm lún, hắn chống nạng đi cứ lảo đảo. Nhưng hắn cố mãi rồi cũng đến được. Hắn ăn mặc rất chỉnh tề: áo lam dài khuy đồng, mũ đẹp có đính lon. Hắn nhã nhặn chào thuyền trưởng. Thuyền trưởng ngẩng lên:

- Ngồi xuống đây!

Hắn ra ý kêu ca:

- Ai lại để tôi ngồi đây? Sáng sớm thế này mà ngồi trên đất cát thì lạnh chết!

Thuyền trưởng đáp:

- Anh nói nghe mới chướng tai! Nếu anh lương thiện thì anh đã ngồi chễm chệ trong chỗ làm bếp của anh rồi, có đâu phải ngồi đây. Còn nếu anh lại muốn làm thuyền trưởng, làm một tên cướp thì có ngày người ta treo cổ anh.

- Thôi được, được!

Xin-ve trả lời và ngồi bệt xuống.

- Các ông ở chỗ này vừa tiện vừa đẹp. Kìa cậu Dim! Kìa bác sĩ, xin có lời kính chào ngài. Các ông được sum họp đông đủ nơi đây như một gia đình có hạnh phúc.

Thuyền trưởng ngắt lời:

- Nói gì cứ nói mau đi, mất thì giờ vô ích.

Xin-ve đáp:

- Ông nói phải. Vậy ông hãy nghe tôi nói. Đêm qua các ông giỏi đấy. Bọn ông đã dùng gậy đập chết một người trong chúng tôi.

Bọn tôi nhiều người hoang mang; ngay cả tôi cũng phải rung động, điều ấy tôi không chối. Có lẽ vì thế mà tôi đến đây thương lượng với ông cũng nên. Nhưng ông nên nhớ, việc ấy chỉ làm được một lần. Chúng tôi sẽ biết canh phòng, chúng tôi sẽ biết đề phòng rượu "rum". Ông thuyền trưởng thản nhiên hỏi:

- Thế là sao? Đối với thuyền trưởng, những điều trên hoàn toàn là bí ẩn. Nhưng về phần tôi, tôi đã hiểu. Tôi sực nhớ đến những lời sau cùng của Ben-gun là hắn sẽ tìm cách giết bọn thủ hạ của Xin-ve để giúp chúng tôi. Chắc hắn có mò đến chỗ bọn giặc ngủ say?

Nghĩ đến đây, tôi thấy trong bụng nở nang vì như thế bọn giặc chỉ còn mười bốn đứa. Xin-ve nói:

- Tôi xin nói thẳng. Bọn tôi muốn lấy kho của. Còn các ông chắc cũng muốn tính mạng vẹn toàn. Các ông có cái bản đồ phải không? Thôi tôi biết rồi, giấu cũng vô ích thôi! Bọn tôi muốn có cái bản đồ ấy.

Ông thuyền trưởng quát:

- Đừng đùa. Bọn anh muốn làm gì thì làm. Rồi tôi sẽ treo cổ bọn anh lên!

Tôi thấy Xin-ve hình như nhụt đi. Còn ông thuyền trưởng thì lặng lẽ cho thuốc vào tẩu. Chốc sau Xin-ve bảo:

- Ông hút thuốc, ông cho phép tôi cùng hút một thể cho vui.

Nói thế rồi hắn châm lửa hút thuốc. Hai người cứ thế ngồi đối mặt nhau, lặng lẽ hút thuốc. Cảnh tượng ấy trông thật ngộ nghĩnh. Xin-ve lại nói:

- Thôi, ông biết điều nên giao cái bản đồ ấy cho tôi. Các ông đừng động đến bọn tôi, rồi tôi sẽ cho ông một trong hai điều kiện này. Một là, các ông cùng đi lấy của rồi xuống tàu với chúng tôi, chúng tôi sẽ đưa về tử tế. Hai là, nếu không có nghi ngại gì thì chúng ta sẽ chia lương thực ra, các ông cứ ở lại đây. Tôi hứa nếu gặp chiếc tàu nào, tôi sẽ bảo lại đây đón các ông. Như vậy chắc các ông bằng lòng chứ? (Đến đây hắn dằn giọng) Tôi mong rằng tôi nói điều này không phải chỉ riêng với ông mà với tất cả mọi người có mặt ở đây. Bọn ông nên cân nhắc kỹ.

Thuyền trưởng đứng lên, xoa tàn thuốc lá dính tay rồi hỏi:

- Nói hết chưa?

Xin-ve đáp:

- Hết rồi! Nếu các ông không nhận lời thì các ông chỉ nhận được những phát súng.

Ông thuyền trưởng nói:

- Được lắm! Bây giờ đến lượt tôi nói cho anh nghe. Nếu bọn anh biết điều đến đây từng người một bỏ khí giới quy hàng, khi về tôi đảm bảo với các anh, các anh chỉ bị phạt tù. Nhược bằng các anh còn ngoan cố, tôi thề sẽ làm cho các anh bị treo cổ tất. Các anh đừng hòng tìm của cải. Các anh đừng hòng cho tàu chạy được. Không có mặt nào trong bọn anh cầm lái nổi! Các anh đã bị hãm rồi. Tôi chỉ cần nói với anh từng ấy là đủ, mà đây là lần cuối cùng. Bận sau còn trông thấy mặt anh, tôi sẽ cho anh một phát súng vào xương sống. Thôi đứng dậy cút đi!

Xin-ve giận đến xanh sạm cả mặt. Hắn rống lên:

- Lại đây cho tôi vịn để đứng dậy đi về.

Chẳng ai nhúc nhích. Hắn lẩm bẩm chửi rủa rồi cố lết ra cổng, đánh đu vào cái cột, đứng lên. Hắn tức tối nhổ toẹt một bãi nước bọt vào dòng suối rồi đe dọa:

- Trước lúc một giờ, tôi sẽ làm cỏ cả cái lều này. Cười đi! Cứ cười đi! Trước lúc một giờ, các anh sẽ xuống chơi dưới âm phủ.

Hắn rủa một câu rất độc rồi chống nạng đi ra, cút thẳng.

Chương 17

Khi Xin-ve đi khuất, thuyền trưởng mới quay vào trong nhà. Ông thấy chỉ có Grây là còn đứng canh tại chỗ. Lần này là lần đầu, chúng tôi thấy ông nổi giận lôi đình. Ông hét lớn:

- Mọi người đứng vào vị trí!

Khi ai nấy đã chạy về vị trí, ông mới nghiêm khắc lên tiếng:

- Grây, tôi sẽ ghi công anh vào sổ, anh thật là một người thủy thủ chân chính, biết làm trọn nhiệm vụ. Ông Chi! ông làm tôi đến ngạc nhiên. Bác sĩ Ly! Tôi cứ ngỡ ông trước cũng là quân nhân... Nếu thế này, ông ở nhà còn hơn!

Mọi người vội vã tuân lệnh, im lặng nạp đạn, nhưng mặt mũi người nào cũng bẽn lẽn đỏ gay. Ông thuyền trưởng đứng nhìn một lúc rồi nói:

- Các anh! Tôi đã nói khích cố ý để làm cho thằng Xin-ve nổi tức. Thế là ta đã dử hắn đến đây, ta có thì giờ bố trí trước để đối phó. Chúng ta ít hơn bọn chúng, nhưng chúng ta ở trong lô-cốt, được lợi thế hơn. Nếu mọi người có kỷ luật, biết tuân lệnh, tôi dám chắc chúng ta sẽ nện cho chúng một trận thất điên bát đảo.

Nói xong, ông đi xem xét xung quanh, quan sát lại vị trí và kiểm tra từng người. Hai sườn lô-cốt, ở phía đông và phía tây chỉ có hai lỗ châu mai; phía nam là phía cổng có hai lỗ và phía bắc có năm lỗ. Chúng tôi bảy người nhưng có đến hai mươi khẩu súng. Chúng tôi xếp củi lại thành bốn đống, làm thành bốn cái bàn, mỗi cái ở ngay giữa mỗi phía. Trên mỗi bàn có để sẵn thuốc đạn và bốn khẩu súng trường, nếu cần, những người chiến đấu có thể với tay lấy được. ở giữa lô-cốt để một dãy dao găm. Ông thuyền trưởng bảo:

- Tắt lửa đi! Trời cũng chả rét nữa. Đừng để khói xông vào mắt. Còn Dim, cậu chưa ăn sáng, đi lấy khẩu phần đi rồi đứng tại vị trí mà ăn.

Trong khi mọi người răm rắp tuân lệnh, ông sắp đặt lại một lần nữa:

- Bác sĩ Ly hãy ra giữ cửa! Phải nhìn cho kỹ, đừng thò mình ra ngoài. Phải đứng trong mà bắn qua cổng... Hun-tơ ra đứng phía đông. Do-sơ đứng phía tây. Đó... đứng đó được rồi! Ông Chi, ông bắn giỏi thì ra trấn góc bắc với Grây. Ở góc ấy có đến năm lỗ châu mai và là nơi hiểm yếu nhất. Nếu bọn chúng chiếm được góc ấy, chĩa súng qua bắn vào thì hỏng bét... Còn tôi với cậu Dim bắn tồi, thì chúng ta đứng nạp đạn cho họ và họ cần việc gì thì giúp...

Quả nhiên như lời thuyền trưởng, chúng tôi thấy hết rét. Mặt trời nhô lên khỏi rặng cây, chiếu sáng chói chang trên bãi đất trống và làm tan đám sương mù trong nháy mắt. Chẳng mấy chốc, đất cát khô bỏng, nhựa trong các thân cây trong lô-cốt chảy ra nham nháp. Mọi người phải bỏ áo khoác, cởi cúc cổ áo sơ-mi và xắn tay áo lên. Một giờ qua. Phút chờ đợi vừa bực bội vừa căng thẳng. Mọi người đều "mở mắt mở tai", tay lăm lăm khẩu súng. Thuyền trưởng đứng giữa nhà, môi mím chặt, trán hằn lên những vết nhăn. Thốt nhiên, Do-sơ giương súng bắn. Tiếng súng đầu tiên vừa nổ thì chung quanh lô-cốt hàng loạt súng bắn vào dồn dập. Nhưng không có viên đạn nào lọt vào trong. Sau lúc khói tan, nhìn lại, các vách gỗ trong lô-cốt vẫn lành lặn y nguyên như cũ. Thuyền trưởng hỏi Do-sơ:

- Anh có bắn trúng tên giặc không?

Do-sơ đáp:

- Thưa ông, chắc trúng!

Thuyền trưởng truyền lệnh:

- Dim! Nạp đạn cho anh ấy. Còn bác sĩ, ở phía ông, ông ước chừng có mấy đứa?

Bác sĩ đáp:

- Tôi biết chắc chắn là có ba phát súng bắn ở rừng vào. Tôi trông rõ ba tia lửa. Thuyền trưởng nhắc lại:

- Ba... Còn ở phía ông Chi, ông thấy mấy?

Ở phía này không biết rõ được như ở các phía kia. Nhưng phía này nhiều giặc hơn cả. Ông Chi thì nói độ bảy tên, còn Grây thì bảo tám, chín đứa. Rõ ràng là lực lượng chính chúng dồn về phía này cả. Còn mấy phía kia chúng chỉ cốt làm phân tán, giữ chân chúng tôi thôi. Biết thế nhưng thuyền trưởng vẫn không thay đổi cách bố trí. Vì ông cho rằng nếu bọn địch vượt qua được hàng rào, chúng sẽ đến chiếm ngay những vị trí nào bỏ ngỏ và sẽ chĩa súng bắn vào người trong lô-cốt như bắn chuột. Nhưng lúc ấy, không ai còn kịp suy nghĩ. Thốt nhiên chúng tôi nghe cả loạt tiếng hò reo, rồi thấy một toán giặc chạy xổ trong rừng ra, ồ ạt tiến về phía lô-cốt. Ngay lúc ấy có hàng loạt đạn từ rừng bắn ra. Một phát bắn trúng vào khẩu súng của bác sĩ làm gãy tan từng mảnh. Bọn giặc leo lên hàng rào nhanh nhẹn như đàn khỉ. Ông Chi và Grây bắn luôn tay, không ngớt. Ba đứa trong bọn chúng bị ngã: một đứa ngã lộn vào trong, hai đứa bật ra ngoài. Nhưng một đứa xem chừng sợ nên co giò chạy biến vào rừng... Còn bốn đứa leo qua được. Chúng chạy thẳng lại lô-cốt, hò hét vang ầm. Còn bảy tám đứa khác, có lẽ có nhiều súng dài nên đứng ngoài bắn yểm hộ và hò reo trợ lực. ở trong lô-cốt có bắn ra nhưng vì bắn vội nên không trúng. Trong chớp mắt, bốn đứa đã leo lên đỉnh đồi và nhảy xổ lại lô-cốt. Qua lỗ châu mai, thấy rõ thằng An-đe-sơn đương gào lớn:

- Tiến vào! Tất cả tiến vào!

Giữa lúc ấy một tên giặc giật được súng của Hun-tơ, chĩa qua lỗ châu mai bắn một phát làm Hun-tơ ngã vật ra. Một tên nữa chạy khom khom đến ngay cửa, múa dao xông vào chém bác sĩ. Trong lô-cốt đầy khói, nhờ thế chúng tôi chống đỡ có lợi hơn. Tiếng thuyền trưởng oang oang:

- Ra ngoài, anh em! Dùng dao mà đánh!

Tôi vớ một con dao trên đống củi. Một tên cướp cũng giật lấy một con dao và chém một nhát vào tay tôi. Tôi chỉ thấy tê tê ở tay rồi tôi vội nhảy ra ngoài. Trước mặt tôi, bác sĩ Ly đuổi theo một tên giặc và chém một nhát mạnh vào mặt hắn, làm hắn ngã vật xuống. Tiếng thuyền trưởng lại vang lên:

- Anh em ơi! Vòng quanh lô-cốt! Vòng quanh lô-cốt!

Nhưng tiếng ông nghe đã khang khác. Như cái máy, tôi theo lệnh chạy qua góc nhà. Được mấy bước, tôi gặp An-đe-sơn. Hắn giơ dao chém bổ xuống tôi. Tôi vội tránh nhưng trượt chân ngã lăn xuống dốc. Khi tôi ra khỏi lô-cốt là lúc tôi thấy một thằng đội mũ đỏ, miệng ngậm dao đương chân trong chân ngoài trên bờ rào. Nhưng trận đánh như đã kết thúc. Grây đã giết chết tên An-đe-sơn khi hắn giơ dao chém hụt tôi. Một tên nữa bị giết ở trước lỗ châu mai khi hắn đang chĩa súng vào lô-cốt. Còn một tên bị bác sĩ Ly chém chết. Số còn lại ném dao chạy vào rừng. Cả bọn rút chạy, bỏ lại năm xác chết. Lúc này chúng tôi mới kiểm điểm lại phía mình. Hun-tơ nằm thoi thóp. Do-sơ bị một phát súng vào đầu đã tắt thở. Còn thuyền trưởng thì bị thương. Thuyền trưởng hỏi:

- Chúng chạy cả rồi hả?

Bác sĩ đáp:

- Thằng nào chạy được mới chạy. Còn năm đứa chết lăn kềnh ngoài kia.

Thuyền trưởng kêu to:

- Năm đứa! Khá lắm! Bọn hắn mất năm, ta mất ba. Thế là chúng ta còn lại bốn chọi chín.

- Như vậy chúng ta vẫn có cơ thắng được.

Nhưng thực ra, bọn giặc chỉ còn tám tên, vì tên bị ông Chi bắn trên tàu chiều hôm ấy đã tắt thở. Việc ấy mãi về sau này chúng tôi mới biết.

Chương 18

Từ phút ấy không thấy bóng một tên giặc nào lai vãng và cũng không thấy một phát đạn nào trong rừng bắn ra. Khu lô-cốt bây giờ thuộc về chúng tôi, chúng tôi yên trí săn sóc những người bị thương và nấu cơm sáng. Hun-tơ sau đấy đã tắt thở. Còn vết thương của thuyền trưởng tuy nặng nhưng không đến nỗi nguy hiểm đến tính mạng. Phát súng của tên An-đe-sơn làm gãy xương ngực nhưng không chạm đến phổi. Phát thứ hai chỉ xé thịt ở bắp chân. Theo lời bác sĩ thì ông thuyền trưởng sẽ khỏi, nhưng cần phải tĩnh dưỡng và tránh cử động trong dăm tuần lễ. Còn vết thương của tôi chỉ như muỗi đốt. Bác sĩ chỉ dán vào đấy một lá thuốc cao rồi béo tai tôi một cái. Cơm sáng xong xuôi, ông Chi và bác sĩ ngồi bên cạnh thuyền trưởng bàn bạc. Các ông thảo luận xong thì đã quá trưa. Bác sĩ Ly đội mũ, cầm súng, giắt dao, bỏ bức bản đồ vào túi rồi rảo bước đi ra khỏi đồn. Grây đang hút thuốc, thốt nhiên bỏ tẩu xuống, sững sờ nhìn theo bác sĩ. Hắn nói:

- Lạ kia! Bác sĩ điên rồi chắc?

Tôi đáp:

- Điên à? Đời nào. Bác sĩ là người còn bình tĩnh và sáng suốt nhất trong bọn ta.

Grây lại nói:

- Nếu ông ấy không điên, thì chính tôi điên mất.

Tôi bảo:

- Tôi chắc bác sĩ có ý định gì đây. Chưa biết chừng bác sĩ đến gặp Ben-gun đấy.

Về sau này, tôi mới biết dự đoán của tôi là đúng. Lúc này trong lô-cốt nóng như thiêu như đốt... Bãi cát trên đồi bị nóng bỏng hắt hơi nồng vào mặt mọi người. Tôi lo quét dọn trong ngoài rồi đi rửa bát đĩa. Mồ hôi ướt đẫm, người như chín dừ. Nhìn thi thể của Hun-tơ và Do-sơ nằm ở góc nhà, tôi thấy bụng nóng ran lên. Tôi muốn làm một việc gì dù nguy hiểm đến đâu cũng không từ nan để giết hết bọn giặc và gỡ cho bọn tôi ra khỏi cảnh này. Khốn nỗi, tôi chỉ là đứa bé, đánh nhau cũng chẳng hơn ai. Tôi tự xét ở đây cũng không giúp ích được gì lắm. Một ý định táo tợn bỗng thoáng qua đầu, tôi hăm hở đứng lên. Dự định của tôi là sẽ xuống dưới bãi cát ở mé đông, tìm tảng đá trắng mà Ben-gun đã nói để xem hắn có giấu chiếc thuyền của hắn ở đó không. Có thuyền rồi, tôi sẽ làm cho bọn giặc một mẻ kinh hồn. Lừa lúc không ai để ý, nhân tiện lại đứng gần bị bánh quy, tôi liền thò tay vào bị, lấy bánh quy nhét đầy túi áo. Nếu gặp trở ngại gì, tôi sẽ không phải lo chết đói. Số bánh này có thể ăn hai hôm cũng chưa hết. Tôi mang theo hai khẩu súng lục; trong lưng tôi đã có bao thuốc súng và đạn rồi, như vậy là đủ khí giới để tự vệ. Nhưng làm sao để ra đi? Tôi chắc, nếu nói ra thì chẳng một ai cho tôi đi cả. Tôi đành phải dùng lối "đánh lén", thừa lúc mọi người vô ý tôi sẽ chuồn đi một mạch. Cái lối chuồn ấy thật là vô kỷ luật. Nhưng tôi chỉ là một đứa trẻ, hễ thích là làm, chẳng cần phải suy tính thiệt hơn gì cho lắm. Thế là thừa cơ hội lúc ông Chi và Grây đương lúi húi thay băng cho thuyền trưởng, tôi nhảy phóc ra ngoài. Tôi chạy một mạch thẳng vào lùm cây. Lúc này, ông Chi có biết cũng không gọi kịp. Tôi đi thẳng đến bờ biển phía đông. Tôi định men theo bãi cát ven biển để bọn chúng ở trên tàu khỏi trông thấy.

Trời đã về chiều. Nhưng mặt trời còn nóng gay gắt. Tôi đi len lỏi trong rừng; xa xa nghe tiếng sóng vỗ bờ, tiếng lá cây xao động và tiếng cành cây răng rắc. Những tiếng ấy cho tôi biết gió biển hôm nay thổi mạnh hơn mọi ngày. Chốc sau, những luồng gió lạnh thổi tới. Đi dăm bước nữa, tôi đã đến ven rừng. Trước mặt tôi là chân trời vời vợi, một dải biển xanh mênh mông, lấp lánh dưới nắng trời. ở ven bờ, sóng đánh sủi bọt trắng xóa. Tôi đi dọc theo bờ biển, lòng thấy vui vui. Tôi vui chân đi quá về phía nam, núp vào các bụi rậm, rồi bò thật cẩn thận đến dải đất cát. Trước mặt tôi là nơi tàu đỗ, sau lưng tôi là biển. Gió biển đã lắng xuống. Một làn gió nhẹ tiếp theo từ phía nam và phía đông nam thổi lại mang theo những dải sương mù. Chỗ tàu đậu, nhờ có hòn đảo Hình Người che kín, vẫn yên lặng và âm thầm như hôm chúng tôi mới đến. Mặt biển như tấm gương trong; chiếc tàu in bóng rõ rệt từ lườn tàu đến đầu cột buồm, có mang lá cờ đen của giặc. Trên một chiếc thuyền đỗ gần tàu, tôi nhận ra ngay Xin-ve ngồi ở phía sau, đang trò chuyện với hai tên khác lưng tựa vào mép tàu. Một tên là thằng đội mũ đỏ, cách đây vài giờ đã ngồi chân trong chân ngoài trên bờ rào lô-cốt. Hình như chúng đương nói cười hỉ hả. Thốt nhiên có mấy tiếng kêu khác thường và ghê rợn. Nhưng tôi đã nhận ra ngay là tiếng con vẹt Phơ-linh của Xin-ve. Nhờ có bộ lông bóng lộn của nó, tôi thấy nó đang đậu trên cổ tay chủ nó. Một lát sau chiếc thuyền kia đi thẳng vào bờ. Tên giặc mũ đỏ cùng tên bạn nó ở trên tàu cũng đã chui vào đằng lái. Mặt trời đã lặn sau gò Vọng Viễn. Sương mù chả mấy chốc đã dày đặc, bóng tối phủ dần. Tôi biết nếu muốn tìm được chiếc thuyền của Ben-gun thì không thể trì hoãn một phút. Tảng đá trắng lồ lộ sau bụi cây còn cách tôi đến hai trăm mét. Tôi phải mất một thời gian khá lâu mới bò được đến đấy. Khi tay tôi sờ được vào mép đá gồ ghề thì trời đã tối mịt. Ngay phía trước, có một cái hồ nhỏ, cỏ phủ đầy chung quanh, đất mấp mô và những lùm cây rậm che kín. Giữa hồ có dựng một cái lều con bằng da dê như lều của những kẻ giang hồ. Tôi nhảy xuống hồ, vén lều lên, thấy ngay chiếc thuyền của Ben-gun. Thuyền là khúc gỗ đục nham nhở, trông rất thô kệch; trên thuyền trải một tấm da dê. Thuyền bé quá, ngay đối với tôi mà nó cũng còn bé, huống chi đối với thân hình một người lớn. Trong lòng thuyền, có kê một cái ghế dài rất thấp, ở đằng mũi có hai mái chèo. Đây là một chiếc thuyền rất thô sơ, nhưng được cái rất nhẹ, mang đi đâu cũng tiện. Bây giờ có thuyền rồi, tôi mới nghĩ đến việc thực hiện kế hoạch của tôi. Tôi định nhân đêm tối, bơi thuyền ra tàu để dò xét. Tôi chắc rằng, sau trận thua liểng xiểng hôm nay, bọn giặc sẽ rút xuống tàu, giong ra biển. Tôi ngồi đợi cho trời tối hẳn. Tôi thọc tay vào túi, lấy bánh ăn ngon lành. Đêm tối như thế này, rất lợi cho tôi hành sự. Sương mù che kín bầu trời. Những tia sáng cuối cùng của ban ngày còn sót lại đã tắt hẳn. Cả hòn đảo chìm trong bóng tối mịt mù. Khi tôi vác thuyền lên vai, mò mẫm bước ra ngoài, tôi thấy ở nơi tàu đỗ chỉ còn hai chấm ánh sáng. Một chấm là đống lửa cạnh đầm ở trên bờ, nơi bọn giặc đương vây quanh chè chén. Chấm kia là nơi tàu đậu. Lúc này, theo chiều nước thủy triều, tàu đã quay lại, mũi tàu ngoảnh về phía tôi. Trên tàu, chỉ trong phòng là có ánh sáng. Cái điểm sáng tôi thấy chỉ là do ánh sáng lọt qua chiếc cửa sổ đằng lái, lờ mờ lên lớp sương mù đặc. Nước thủy triều đã xuống từ lâu. Trước khi tới bờ biển, tôi phải lội qua một dải cát dài ướt nhão nhớt, chân thụt đến mắt cá. Phải vất vả và khéo léo lắm, tôi mới đặt được thuyền lên mặt nước.