Bí quyết hóa rồng - Lịch sử Singapore 1965 - 2000 - Phần 1 - Chương 12 phần 1

12

SINGAPORE
XANH

Trong chuyến viếng thăm đầu tiên của tôi đến Ủy ban
nhân dân thành phố Bắc Kinh năm 1976, trong phòng khách nơi tiếp đón chúng tôi
có rất nhiều ống nhổ. Một vài nhà lãnh đạo Trung Quốc thật sự sử dụng chúng.
Năm 1978, khi Đặng Tiểu Bình đến thăm Singapore, chúng tôi đã chuẩn bị một ống
nhổ màu trắng xanh đời Minh. Mặc dù chúng tôi đã đặt nó sát bên ghế của ông ta
trong phòng họp, nhưng ông ta không sử dụng nó. Dường như ông ta biết rằng
người Singapore gốc Trung Quốc không nhổ. Năm 1980, trong chuyến viếng thăm kế
tiếp tại Bắc Kinh, tôi thấy các ống nhổ được chuyển đi khỏi Ủy ban. Vài năm
sau, khi tôi dùng bữa tối với Gu Mu, ủy viên hội đồng nhà nước chịu trách nhiệm
về kinh tế tại Singapore, tôi đã đề cập đến vấn đề rằng họ đã ngừng sử dụng các
ống nhổ tại Ủy ban. Ông ta cười và nói rằng họ đã loại bỏ chúng khỏi phòng họp
nhưng vẫn còn sử dụng chúng trong văn phòng. Đó là một hủ tục lâu đời khó bài
trừ.

Trong những năm 60, tôi đã khởi xướng một cuộc vận
động chống khạc nhổ. Nhưng thậm chí trong những năm 80, một vài tài xế tắc xi
vẫn khạc nhổ ra khỏi cửa sổ và một vài người vẫn khạc nhổ trong chợ và các
trung tâm ăn uống. Tôi vẫn bền lòng và tiếp tục phổ biến thông báo vào các trường
học và trên khắp phương tiện thông tin đại chúng rằng khạc nhổ sẽ làm lây lan
dịch bệnh như ho lao chẳng hạn. Ngày nay chúng ta thấy rằng ít người khạc nhổ
nơi công cộng. Chúng tôi là một cộng đồng di cư, những người đã rời bỏ nơi chôn
nhau cắt rốn của mình và chuẩn bị từ bỏ những hủ tục để tạo cuộc sống tốt hơn
trên quê hương mới. Điều này cũng khích lệ tôi thay đổi những thói quen xấu
khác.

Sau độc lập, tôi đã tìm kiếm một vài cách để chỉ ra
sự khác biệt giữa chúng tôi với các nước thuộc Thế giới thứ Ba khác. Tôi chấp
nhận chọn một Singapore xanh và sạch. Mục đích của chiến lược này là làm
Singapore trở thành một ốc đảo trong Đông Nam Á, vì nếu chúng tôi có những tiêu
chuẩn của Thế giới Thứ nhất thì các thương gia và các khách du lịch sẽ chọn
chúng tôi làm căn cứ cho việc kinh doanh của họ cũng như là một vùng du lịch.
Cơ sở hạ tầng cơ bản dễ cải tiến hơn cung cách cộc cằn của người dân. Nhiều
người trong số họ đã rời khỏi những nhà xí tạm bợ chỉ với một cái lỗ dưới đất
và một cái gầu để đến những căn hộ cao tầng với điều kiện vệ sinh hiện đại,
nhưng cách cư xử của họ thì vẫn như cũ. Chúng tôi đã phải làm việc cật lực để
xóa bỏ việc vứt rác bừa bãi, những âm thanh ồn ào và thái độ thô lỗ, và hướng
dẫn người dân trở nên ý tứ và lịch sự hơn.

Chúng tôi bắt đầu từ một nền tảng thấp. Trong những
năm 60, hàng nghìn người xếp hàng dài tại các buổi tiếp dân của chúng tôi, nơi
các Bộ trưởng và các Nghị sĩ giúp giải quyết các vấn đề của cử tri của họ.
Những người thất nghiệp, cùng với vợ và con của họ cần xin việc làm, giấy phép
lái xe tắc xi hoặc bán hàng rong, hoặc quyền bán thức ăn trong căn tin trường
học. Đây là khía cạnh nhân quyền đằng sau các con số thống kê thất nghiệp. Hàng
nghìn người bán thức ăn trên lề đường không đếm xỉa gì đến giao thông, sức khỏe
và các lý do khác. Rác rưởi, mùi hôi của các thức ăn đã bị thối rữa và các âm
thanh hỗn loạn đã khiến nhiều khu vực của thành phố biến thành những khu ổ
chuột.

Một vài thương nhân cho nhiều người mướn các xe hơi
tư nhân cũ kỹ để trở thành “những tài xế cướp tắc xi”, không bằng lái và không
bảo hiểm. Giá đi loại xe này chỉ đắt hơn một chút so với xe buýt nhưng lại rẻ
hơn rất nhiều so với các loại xe tắc xi có đăng ký. Họ dừng lại mà không hề báo
hiệu, đón và trả khách vô tội vạ và đã trở thành mối đe dọa cho nhiều người đi
đường khác. Hàng trăm, hoặc thậm chí hàng nghìn các tắc xi kiểu này đã làm kẹt
cứng đường phố và phá hủy hệ thống xe buýt.

Chúng tôi không thể làm sạch thành phố bằng cách di
dời những người bán hàng rong và những tắc xi bất hợp pháp trong nhiều năm. Chỉ
sau năm 1971, khi đã tạo ra nhiều việc làm, chúng tôi mới có thể thi hành luật
pháp và làm sạch đường phố. Chúng tôi cấp giấy phép kinh doanh cho những người
bán hàng rong và chuyển họ từ lề đường vào trung tâm dành cho những người bán
hàng rong với hệ thống nước, cống rãnh và chỗ đổ rác. Mãi đến đầu những năm 80,
chúng tôi mới tái ổn định tất cả những người bán hàng rong. Một vài người trong
số đó làm những món ăn tuyệt hảo hấp dẫn khách du lịch. Một vài trong số đó trở
thành những nhà triệu phú đi làm bằng xe Mercedes–Benz và thuê người phục vụ.
Đây là sự táo bạo, nỗ lực và tài năng của những người tạo nên Singapore. Những
tài xế tắc xi bất hợp pháp đã bị trục xuất khỏi đường phố chỉ sau khi chúng tôi
tái tổ chức lại hệ thống xe buýt phục vụ và tạo cho họ những việc làm khác.

Sau hai cuộc bạo động vào tháng 7 và tháng 9/1964,
lúc đó chúng tôi còn thuộc Malaysia, thành phố trở nên bẩn thỉu. Nhuệ khí giảm
xuống. Có hai sự việc đã khiến tôi phải hành động. Một sáng tháng 11/1964, tôi
nhìn qua Padang từ cửa sổ phòng làm việc của tôi ở Tòa Thị chính và thấy một
vài con bò đang ăn cỏ trên Esplanade. Một vài ngày sau đó, một luật sư đang lái
xe chạy trên một đại lộ ngoài thành phố đụng phải một con bò và chết. Những
người Ấn Độ chăn bò dắt bò của họ vào thành phố để thả ăn cỏ bên lề đường và
trên Esplanade. Tôi triệu tập một cuộc họp với những nhân viên sức khỏe cộng
đồng và giải thích một kế hoạch hành động để giải quyết vấn đề này. Chúng tôi
gia hạn cho những người chủ của những đàn bò và dê một khoảng thời gian đến
ngày 31/1/1965. Sau thời gian đó, tất cả những gia súc nào đi lang thang trên
đường sẽ bị mang đến lò sát sinh và sau đó đem thịt tới cho các nhà làm phúc.
Đến tháng 12/1965, chúng tôi đã bắt và giết 53 con bò. Rất nhanh sau đó, tất cả
các súc vật đều bị nhốt lại trong chuồng.

Để đạt được những tiêu chuẩn của Thế giới Thứ nhất
trong một khu vực thuộc Thế giới thứ Ba, chúng tôi bắt đầu biến đổi Singapore
thành một thành phố vườn nhiệt đới. Tôi đã trồng rất nhiều cây tại buổi khai
trương các khu cộng đồng, trong suốt những chuyến viếng thăm của tôi đến những
tổ chức khác nhau và các bùng binh. Một số cây lớn rất mau, nhưng số khác thì
không. Khi thăm lại một khu cộng đồng, tôi thấy có nhiều cây non mới trồng,
nhưng dường như nó chỉ được trồng để dành cho chuyến viếng thăm của tôi. Tôi
kết luận rằng, chúng tôi cần một văn phòng có đầy đủ chuyên môn để chăm sóc các
cây sau khi đã trồng chúng. Tôi thiết lập một văn phòng như thế trong Bộ Phát
triển Quốc gia.

Sau một vài xúc tiến, tôi gặp tất cả các quan chức
cấp cao trong chính phủ và các ban lập pháp để kêu gọi họ tham gia vào phong
trào “sạch và xanh”. Tôi cũng kể lại rằng tôi đã viếng thăm gần 50 nước và đã ở
lại gần như bằng đó số nhà khách chính phủ của họ như thế nào. Điều gây ấn
tượng đối với tôi không phải là quy mô của tòa nhà mà là các tiêu chuẩn của nó.
Tôi biết rằng một đất nước mà các nhà cầm quyền của đất nước đó đang bị mất
tinh thần khi các nhà khách của họ bị bỏ bê – các bồn rửa mặt bị rạn vỡ, các
vòi nước rò rỉ, nhà vệ sinh không đủ các chức năng, một tình trạng đổ nát chung
và chắc hẳn sẽ có những khu vườn bị bỏ hoang. Các chính khách sẽ đánh giá
Singapore theo cách đó.

Chúng tôi đã trồng hàng triệu cây cối: cọ và các cây
bụi. Màu xanh đã làm tăng thêm tinh thần của mọi người và họ tự hào với các khu
vực lân cận. Chúng tôi cũng dạy họ cách chăm sóc mà không phá hoại cây cối.
Chúng tôi cũng không phân biệt các khu vực của giới trung lưu và giai cấp công
nhân. Anh quốc cũng có một vùng đất dành cho người da trắng gọn gàng hơn, sạch sẽ
hơn và xanh hơn khu vực của người bản xứ ở Tanglin và bao quanh Government
House (tòa nhà Quốc hội). Điều này thật tai hại về một chính trị cho chính phủ
được bầu. Chúng tôi hạn chế ruồi muỗi và tẩy uế các cống rãnh cũng như kênh
mương. Trong vòng một năm, những nơi công cộng đã có sự thay đổi đáng kể.

Tính kiên trì và sức chịu đựng là những đức tính cần
thiết để đánh đổ các thói xấu cũ: Người ta bước lên cây, giẫm lên cỏ, hái hoa,
ăn cắp cây non hoặc dựng xe đạp hay xe gắn máy dựa lên những cây lớn hơn khiến
chúng bị đổ. Và không chỉ những người nghèo khổ phạm tội. Một bác sĩ bị bắt quả
tang khi đang chuyển một cây thông giống Norfolk Island có giá trị mà ông ta
yêu thích về vườn nhà của ông ta. Để khắc phục thái độ dửng dưng ở nơi công
cộng, chúng tôi giáo dục trẻ em trong trường bằng cách dạy chúng trồng cây,
chăm sóc cây và trồng vườn. Chúng mang thông điệp học được về nhà cho cha mẹ
chúng.

Thiên nhiên đã không ưu đãi chúng tôi với những vạt
cỏ xanh mướt như ở New Zealand và Ireland. Năm 1978, theo yêu cầu của tôi, một
chuyên gia về cây trồng người Úc và một chuyên gia nghiên cứu đất New Zealand
đã đến để nghiên cứu tình trạng đất đai ở đây. Các báo cáo của họ khiến tôi
quan tâm và tôi yêu cầu được gặp họ. Họ giải thích rằng, Singapore nằm trong
khu vực vành đai rừng mưa nhiệt đới gần xích đạo, nắng gắt và mưa lớn suốt năm.
Khi cây cối bị tàn phá, mưa lớn sẽ xói mòn lớp đất trên và lọc đi hết các chất
dinh dưỡng. Để có những vạt cỏ xanh và tươi tốt, chúng tôi phải bón phân thường
xuyên, tốt nhất là phân trộn (composed) vì loại phân này không dễ dàng bị xói
mòn, và rắc vôi bởi vì đất của chúng tôi có quá nhiều axit. Người phụ trách
Istana thử nghiệm điều này trên các bãi cỏ. Tự nhiên chúng trở nên xanh hơn.
Chúng tôi áp dụng điều này vào tất cả các trường học và các khu thể thao khác
cũng như các sân vận động. Các mảnh đất nhỏ quanh cột gôn trước đây lơ thơ vài
cọng cỏ vàng trông thật chán mắt nay nhanh chóng trở thành một thảm cỏ xanh
mượt. Dần dần, cả thành phố xanh dần lên. Bộ trưởng Pháp, một khách mời tại
tiệc chiêu đãi nhân dịp lễ Quốc khánh của chúng tôi trong thập niên 70, đã
thích thú chúc mừng tôi bằng tiếng Pháp. Tôi không nói tiếng Pháp, nhưng tôi
hiểu ý nghĩa từ “tươi tốt” (verdure) mà ông ta dùng. Ông ta đã bị quyến rũ bởi
màu xanh của thành phố.

Hầu hết các nước châu Á đều chú ý rất ít hoặc thậm
chí không hề chú ý gì đến việc làm tươi xanh đất nước. Đó là điều khác biệt của
Singapore, và những biện pháp cứng rắn chống lại việc gia súc đi lang thang
trên đường đã được đăng tin trên tạp chí Look của Mỹ vào tháng 11/1969. Tán
dương sau chuyến viếng thăm, giám đốc sở thông tin của Hong Kong tuyên bố rằng
ông ta sẽ khai mạc một chiến dịch vứt rác trong hai năm dựa trên những kinh
nghiệm của chúng tôi.

Để chuẩn bị cho cuộc họp của các Thủ tướng trong khối
cộng đồng diễn ra vào giữa tháng 1/1971, tôi tập hợp các quan chức chính phủ
lại để cùng nhau nỗ lực hơn nhằm mang đến cho quan khách một ấn tượng tốt hơn
về Singapore. Chúng tôi chỉ dẫn tường tận cho các ngành dịch vụ, những người
bán hàng, các tài xế tắc xi và nhân viên làm việc trong các khách sạn cũng như
nhà hàng cố gắng hết mình trở nên lịch thiệp và thân thiện hơn. Họ hưởng ứng và
sự phản hồi từ các Thủ tướng, các chủ tịch và đoàn tùy tùng đến thăm là rất
tốt. Được khuyến khích bởi điều này, Ủy ban Phát triển Du lịch đã khai mạc một
chiến dịch phục vụ lịch thiệp và duyên dáng cho những người bán hàng và các
nhân viên khác trong ngành thương mại dịch vụ. Tôi đã can thiệp vào. Thật lố
bịch nếu các nhân viên phục vụ của chúng tôi chỉ lịch thiệp với các du khách
chứ không lịch thiệp với người dân Singapore. Tôi triệu tập Bộ Quốc phòng chịu
trách nhiệm về Quân đội Quốc gia, Bộ Giáo dục quản lý hơn nửa triệu học sinh,
và đại hội Công đoàn Quốc gia với vài trăm nghìn công nhân để phổ biến thông
báo rằng sự lịch sự phải trở thành cách sống của chúng ta, làm cho Singapore
trở thành một nơi dạo chơi cho chính chúng ta, ngoài những lợi ích thương mại
du lịch.

Phần thưởng lớn nhất của chúng tôi là khi các nhà
lãnh đạo Asean thi đua trong việc làm xanh các thành phố của họ. Ngài Mahathir
của Malaysia, người đã từng ở tại biệt thự Istana vào thập niên 70, hỏi tôi
cách làm thế nào để biến những thảm cỏ ở Istana trở nên xanh như vậy. Khi ông
ta trở thành Thủ tướng, ông ta cũng làm xanh Kuala Lumpur. Tổng thống Suharto
cũng phủ màu xanh lên Jakarta, cũng như Tổng thống Marcos ở Manila và Thủ tướng
Thanin ở Bangkok. Tất cả đều tiến hành vào cuối thập niên 70. Tôi đã khuyến
khích họ và đã nhắc nhở họ rằng họ có một khối lượng phong phú các loại cây
khác nhau, và một khí hậu thích hợp.

Không có một dự án nào mang lại những phần thưởng
phong phú hơn cho khu vực. Các nước láng giềng của chúng tôi cố gắng thi đua
lẫn nhau để làm xanh hơn thành phố của họ. Việc làm xanh là một cuộc thi đua
tích cực giúp ích cho mọi người – nó tốt cho tinh thần, cho ngành du lịch và cả
những nhà đầu tư. Điều tốt nhất là chúng tôi đã thi đua để trở thành nước xanh
và sạch nhất châu Á. Tôi có thể nghĩ về nhiều lãnh vực nơi mà sự cạnh tranh sẽ
trở nên có hại, thậm chí chết chóc.

Vào chủ nhật đầu tiên của tháng 11/1971, chúng tôi
khai mạc ngày trồng cây hàng năm có mặt tất cả các nghị sĩ, các khu cộng đồng
và các nhà lãnh đạo của họ. Từ đó trở đi chúng tôi không hề bỏ lỡ một dịp tết
trồng cây nào. Trồng cây non vào tháng 11 cần rất ít nước tưới bởi vì mùa mưa
sẽ bắt đầu ngay sau đó.

Bởi vì các loại cây, cây bụi và dây leo phù hợp với
thổ nhưỡng của chúng tôi rất hạn chế, nên tôi đã gửi nhiều đội nghiên cứu đến
thăm vườn bách thảo, các công viên và vườn cây gỗ trong các khu vực nhiệt đới
và cận nhiệt đới để chọn nhiều loại mới từ các nước có cùng khí hậu trong khu
vực châu Á, châu Phi, Caribê và Trung Mỹ. Họ đã mang về rất nhiều loại hoa và
cây để trồng thử nghiệm trên đất và khí hậu của chúng tôi. Nhưng thật không may
những cây hoa thật đẹp từ Caribê không nở hoa ở Singapore bởi vì chúng tôi
không có những mùa đông lạnh. Những cây đến từ Ấn Độ và Myanmar (trước đây là
Burma) hiếm khi ra hoa ở Singapore bởi vì chúng cần một khoảng mùa khô dài giữa
các mùa mưa hàng năm trong môi trường sống tự nhiên của chúng. Các nhà thực vật
học của chúng tôi mang về 8.000 loại cây khác nhau nhưng chỉ có 2.000 loại sống
được ở Singapore. Họ nhân giống những cây thích nghi được và bổ sung chúng vào
nhà kính.