Bí quyết hóa rồng - Lịch sử Singapore 1965 - 2000 - Phần 1 - Chương 11 phần 1

11

XÂY
DỰNG MỘT CHÍNH PHỦ TRONG SẠCH

Khi đảng PAP lên nắm chính quyền vào năm 1959, chúng
tôi bắt tay xây dựng một bộ máy chính quyền trong sạch. Chúng tôi ghê tởm trước
lòng tham và sự suy đồi của những nhà lãnh đạo châu Á – những người chiến đấu
giành tự do cho dân tộc bị áp bức lại trở thành kẻ cướp vì sự giàu có cho riêng
mình. Xã hội của họ đã tụt hậu. Chúng tôi bị cuốn theo làn sóng cách mạng ở
châu Á, quyết tâm giũ sạch ách áp bức của thực dân, để rồi giận dữ và xấu hổ
khi những nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa dân tộc ở châu Á không sống theo những lý
tưởng mà một thời chúng tôi đã từng kỳ vọng.

Tại Anh sau Thế chiến thứ hai, tôi gặp những sinh
viên đến từ Trung Quốc mang hoài bão thiết tha giải thoát Trung Quốc khỏi nạn
tham nhũng và bất tài của những kẻ lãnh đạo theo chủ nghĩa dân tộc Trung Hoa
Dân Quốc. Lạm phát cao và nạn cướp bóc hàng loạt đã dẫn đến sự thất bại nhục
nhã của họ và họ phải trốn tránh sang Đài Loan. Sự căm phẫn đối với tính dễ bị
mua chuộc, tham lam và vô đạo đức của những người lãnh đạo này là động lực cho
sinh viên học sinh Trung Quốc tại Singapore quay sang ủng hộ cộng sản. Các sinh
viên nhìn người cộng sản như một tấm gương mẫu mực cho sự cống hiến, hy sinh và
quên mình. Phẩm chất cách mạng được bộc lộ qua cuộc sống thanh đạm của những
nhà lãnh đạo cộng sản Trung Quốc. Họ đã tạo nên niềm tin lúc bấy giờ.

Một quyết định quan trọng mà chúng tôi thực hiện
trước cuộc tổng tuyển cử tháng 5/1959 là nhấn mạnh quan điểm của chúng tôi đối
với tệ tham nhũng. Chính quyền của Lim Yew Hock (1956 – 1959) đã bắt đầu rơi
vào nạn tham nhũng. Bộ trưởng Giáo dục của ông ta, Chew Swee Kee, nhận một
triệu đôla Singapore, số tiền có nguồn gốc từ Mỹ, để chống cộng sản trong những
cuộc bầu cử sắp tới. Đã xuất hiện phổ biến những cuộc điều đình đổi chác những
số tiền nhỏ hơn để lấy những lý do ít thuộc về hệ tư tưởng hơn. Chúng tôi thực
sự chưa muốn đấu tranh để giành thắng lợi trong cuộc bầu cử vì chúng tôi cảm
thấy mình chưa chuẩn bị và chưa được tổ chức một cách đầy đủ để có thể là đối
thủ của những người cộng sản, những người mà chúng tôi cho rằng sẽ đối địch khi
chúng tôi nắm chính quyền. Tuy nhiên, nếu cho phép nhóm người vô lại này một
nhiệm kỳ năm năm thì họ sẽ làm hư hỏng những công chức trung thành của nhân dân
vốn vẫn còn đang lương thiện; và một khi điều này xảy ra, chúng tôi sẽ không
thể cứu chữa được cho cả một hệ thống. Do đó, chúng tôi quyết định phải nỗ lực
giành chiến thắng.

Sự cám dỗ đang có mặt ở khắp mọi nơi, chứ không chỉ
riêng ở Singapore. Lấy ví dụ, viên chức đầu tiên tiếp xúc với những người nước
ngoài khi họ bước chân vào lãnh thổ một quốc gia chính là nhân viên phòng hải
quan và nhập cư. Ở nhiều sân bay tại Đông Nam Á, du khách thường thấy sự chậm
trễ trong khâu thủ tục hải quan cho đến khi nào họ đã sẵn sàng một số tiền đút
lót đúng lúc (thường là tiền mặt). Cái thực tế phiền hà ấy cũng hiện diện ở
những cảnh sát giao thông; khi buộc phải ngừng xe do bị vin vào lý do tốc độ,
lái xe phải nộp bằng lái cùng với việc tiếp theo là một số tiền ước lượng bằng
đôla để tránh những hành động xa hơn. Các sĩ quan cao cấp cũng chẳng nêu được
một tấm gương tốt. Ở nhiều thành phố trong khu vực, thậm chí nhập viện sau một
tai nạn giao thông cũng cần một khoản đút lót để được chăm sóc mau lẹ. Những
người có chức vụ nhỏ không thể sống nổi bằng đồng lương của họ và thực tế đó đã
lôi kéo họ đến sự lạm dụng quyền lực.

Chúng tôi ý thức sâu sắc sứ mệnh của mình là kiến
lập một chính quyền trong sạch và hiệu quả. Vào tháng 6/1959, khi tuyên thệ tại
nghi lễ nhận nhiệm kỳ ở văn phòng hội đồng thành phố, tất cả chúng tôi đều mặc
áo sơ mi trắng và quần trắng tượng trưng cho sự thanh khiết và lương thiện của
mình trong hành vi cá nhân cũng như trong cuộc sống cộng đồng. Đây là điều mà
nhân dân đã kỳ vọng ở chúng tôi và chúng tôi quyết định phải sống xứng đáng với
những kỳ vọng đó. Những người theo chủ nghĩa cộng sản phô bày những phẩm chất
thuộc tầng lớp Lao động của họ qua cách ăn mặc (quần và tay áo sơ mi nhăn
nhúm), phương tiện đi lại (xe buýt hay taxi), chỗ ngủ (các phòng phía sau của
các trụ sở công đoàn) và học vấn từ các trường Trung Quốc. Họ chế nhạo văn
phòng và ngôi nhà lắp máy điều hòa, xe hơi hiệu Studebaker của Mỹ, thú uống bia
và chơi gôn, nguồn gốc xuất thân từ gia đình tư sản và học vấn từ trường
Cambridge của tôi. Song họ không thể buộc tội tôi và các đồng sự của tôi lấy
tiền của công nhân và của các đoàn thể mà chúng tôi đã giúp đỡ.

Tất cả các Bộ trưởng của tôi, ngoại trừ một người,
đều là những người đã tốt nghiệp đại học. Hết nhiệm kỳ, chúng tôi tin là mình
có thể kiếm sống được và những nhà chuyên nghiệp giống như tôi luôn sẵn sàng
làm điều đó. Chúng tôi không cần phải dành dụm một cái gì đó để phòng những
trường hợp có thể xảy ra. Quan trọng hơn, hầu hết chúng tôi đều có những người
vợ Lao động có thể nuôi dưỡng gia đình nếu chúng tôi bị vào tù hay không còn
xuất sắc trong công việc được nữa. Yếu tố này định hướng quan điểm của các Bộ
trưởng và vợ của họ. Khi các Bộ trưởng chiếm được niềm tin và lòng kính trọng
của người dân, các công chức còn có thể ngẩng cao đầu và tự tin ra quyết định.
Điều này đóng vai trò quan trọng trong cuộc chiến của chúng tôi với những người
cộng sản.

Từ ngày lên nắm chính quyền vào tháng 6/1959, chúng
tôi chắc chắn rằng mỗi đồng đôla trong tổng thu nhập đều phải được giải thích
một cách hợp lý và sẽ đến với người dân nguyên vẹn là một đồng đôla mà không bị
rút bớt đi ở dọc đường. Vì vậy, ngay từ buổi đầu chúng tôi đã đặc biệt chú ý
đến những lĩnh vực mà sự lộng quyền được khai thác cho lợi ích cá nhân và đồng
thời mài nhọn những công cụ có thể ngăn chặn, phát hiện và cản trở những thủ
đoạn này.

Cơ quan trọng yếu thực hiện nhiệm vụ này là Corrupt
Practices Investigation Bureau (CPIB) (Ban điều tra hành vi tham nhũng) do
người Anh thành lập vào năm 1952 để xử lý tình trạng gia tăng tham nhũng, đặc
biệt là ở những cảnh sát có cấp bậc vừa và thấp, ở những nhân viên kiểm soát
bán hàng, và những nhân viên quản lý đất có trách nhiệm chống lại kẻ phạm luật
lấn chiếm các con đường công cộng để buôn bán bất hợp pháp, hoặc lấy đất công
xây nhà trái phép. Những nhân viên kiểm soát này có thể hoặc đưa ra một cái
trát hầu tòa hoặc sẽ làm ngơ bởi một khoản tiền đút lót phù hợp.

Chúng tôi quyết định tập trung vào những người đảm
nhận chức vụ lớn ở các cơ quan hành chính cấp cao và cho CPIB hướng vào mục
tiêu mà chúng tôi ưu tiên. Đối với những đối tượng nhỏ hơn, chúng tôi đơn giản
hóa thủ tục, tẩy trừ sự lạm quyền bằng đường lối chỉ đạo được công bố rõ ràng,
thậm chí hủy bỏ nhu cầu cấp giấy phép hoặc phê chuẩn trong những phạm vi ít
quan trọng. Mỗi khi chúng tôi gặp khó khăn trong việc kết tội khi truy tố,
chúng tôi siết chặt hơn luật pháp trong lĩnh vực đó.

Năm 1960, chúng tôi thay đổi luật chống tham nhũng
đã lỗi thời của năm 1937 và mở rộng định nghĩa về quà cáp để chỉ bất cứ thứ gì
có giá trị. Sự sửa đổi này nới rộng quyền lực của các điều tra viên, kể cả
quyền bắt giữ, khám xét, thanh tra tài khoản ngân hàng, sổ ghi tiền gởi ngân
hàng của những kẻ bị tình nghi cũng như của vợ, con và thuộc hạ của họ. Việc
chứng tỏ rằng người nhận hối lộ đang ở một vị trí thực hiện sự thiên vị theo
yêu cầu trở nên không cần thiết. Người quản lý thuế thu nhập buộc phải đưa
những thông tin có liên quan tới bất kỳ ai đang bị điều tra. Luật hiện hành quy
định rằng chứng cứ do kẻ đồng phạm khai ra không có giá trị tin cậy trừ phi
được chứng minh. Chúng tôi đã thay đổi, cho phép các quan tòa chấp nhận lời
khai của kẻ đồng phạm là chứng cứ.

Thay đổi hiệu quả nhất mà chúng tôi thực hiện năm
1960 là cho phép quan tòa xem những chứng cứ cho thấy kẻ bị tố cáo đang sống ở
mức sống vượt quá khả năng kinh tế của anh ta hoặc có những tài sản mà thu nhập
của anh ta không thể giải thích là bằng chứng xác thực chứng minh rằng người bị
tố cáo đã nhận hối lộ. Với sự nhạy bén, tinh tế và quyền hạn được điều tra bất
kỳ viên chức hay vị Bộ trưởng nào, vị giám đốc của CPIB, đang làm việc tại Phủ
Thủ tướng, nổi danh trong việc phát hiện ra những kẻ phản bội lại lòng tin của
nhân dân.

Năm 1963, chúng tôi thực hiện việc bắt buộc các nhân
chứng, được triệu tập bởi CPIB, phải có mặt để cung cấp thông tin. Năm 1989,
chúng tôi tăng tiền phạt tối đa đối với tội tham nhũng từ 10.000 đôla Singapore
lên đến 100.000 đôla Singapore. Cung cấp thông tin giả hoặc lừa dối CPIB sẽ bị
phạt tù và số tiền nộp phạt lên đến 10.000 đôla Singapore, các quan tòa được
quyền sung công những khoản tiền có nguồn gốc từ tham nhũng.

Tham nhũng từng được tổ chức trên quy mô lớn ở một
số khu vực nhất định. Năm 1971, CPIB đã phá tan một tổ chức có trên 250 cảnh
sát cơ động, nhận những khoản phí từ 5 đến 10 đôla Singapore mỗi tháng từ những
chủ xe tải mà phương tiện của họ bị nhận ra bởi dòng địa chỉ được sơn trên mặt
bên của xe. Chủ xe nào từ chối trả tiền sẽ thường xuyên bị quấy rối bằng những
lệnh triệu tập nhằm chống lại họ.

Nhân viên hải quan nhận những khoản hối lộ để kiểm
tra qua loa những xe buôn lậu hàng cấm. Các viên chức ở Central Supplies Office
(Phòng thu mua của chính phủ) tiết lộ thông tin sau khi đã được ngã giá tế nhị
một khoản phí. Nhân viên phòng xuất nhập khẩu nhận đút lót để đẩy nhanh việc
cấp giấy phép. Các thầu khoán hối lộ cho các đốc công để bớt xén vật liệu. Nhân
viên vệ sinh công cộng nhận tiền của các chủ cửa hiệu và cư dân để làm cái công
việc dọn dẹp rác rưởi của họ. Hiệu trưởng và giáo viên ở một số
trường trung học người Hoa nhận hoa hồng từ những người cung cấp văn phòng
phẩm. Tài khéo léo của con người khi sử dụng quyền lực hay sự lạm quyền để tư
lợi cá nhân là vô hạn.

Không phải quá khó khăn đến độ không thể dẹp bỏ được
những thủ đoạn có tổ chức này. Việc phát hiện những hành vi tham nhũng đơn độc
thì khó hơn nhưng khi phát hiện được thì phải bóp chết ngay.

Nhiều vụ nổi bật đã gây xôn xao trên báo chí. Vài vị
Bộ trưởng đã phạm tội tham nhũng, suốt từ 1960 đến 1980, mỗi một thập niên lại
có một vị. Tan Kia Gan đã giữ chức vụ Bộ trưởng Phát triển quốc gia cho đến khi
ông thất bại trong cuộc bầu cử năm 1963. Chúng tôi là những đồng sự thân thiết
từ đầu những năm 1950 khi ông là người lãnh đạo của Hiệp hội kỹ sư hãng hàng
không Malaya và tôi là cố vấn pháp lý của nó. Chúng tôi bổ nhiệm ông làm Giám
đốc hãng hàng không Malaya. Tại một cuộc họp ban giám đốc công ty vào tháng
8/1966, Tan phản đối mạnh mẽ việc mua máy bay Boeing. Vài ngày sau đó, có một
ngài Lim nào đó liên lạc với First National City Bank, chủ ngân hàng của
Boeing, đề nghị một khoản hoa hồng cho dịch vụ của ông. Người khách đó chính là
bạn kinh doanh của Tan Kia Gan. Ngân hàng biết sự nghiêm khắc của chính phủ đối
với tội tham nhũng và đã báo cáo lại sự việc trên. Lim phủ nhận có liên can đến
Tan Kia Gan và Tan không thể bị truy tố. Nhưng tôi biết rõ rằng Tan chính là
nguyên nhân. Đau lòng khi ra quyết định, tôi tuyên bố, là đại diện của chính
phủ trong ban giám đốc của hãng hàng không Malaya nhưng ông đã không làm tròn
trách nhiệm. Tôi sa thải ông ra khỏi ban giám đốc và tước bỏ những chức vụ bổ
nhiệm khác. Sau đó Kim San bảo tôi là trông Tan nghèo nàn nhếch nhác, không thể
làm gì nhiều vì ông đã bị khai trừ. Tôi rất buồn nhưng tôi đã không có sự chọn
lựa nào khác.

Wee Toon Boon đang là Quốc vụ khanh của Bộ Môi
trường năm 1975, khi đó ông đã nhận một chuyến du lịch miễn phí cho mình và gia
đình đến Indonesia do một nhà kinh doanh địa ốc bao trả chi phí. Nhà kinh doanh
này đã nhân danh Wee Toon Boon để chống lại các công chức. Wee còn nhận từ
người này một ngôi nhà trị giá 500.000 đôla Singapore và rút hai khoản tiền chi
trội tổng cộng 300.000 đôla Singapore trong tài khoản tên của người cha do nhà
kinh doanh này bảo lãnh để đầu cơ cổ phiếu. Wee từng là người lãnh đạo trung
kiên của tập đoàn mậu dịch phi cộng sản từ những năm 50. Rất đau lòng khi đối
chất với ông và nghe ông nói những lời cam đoan không có sức thuyết phục về sự
vô tội của mình. Ông bị bắt giam, ra tòa và bị kết án 4 năm 6 tháng tù. Wee
kháng án. Tội trạng vẫn được giữ nguyên nhưng bản án giảm nhẹ còn 18 tháng.

Tháng 12/1979, chúng tôi đột ngột phải đối mặt với
một trở lực lớn. Phey Yew Kok, chủ tịch của NTUC và là nghị sĩ của đảng PAP, đã
có bốn vụ vi phạm lợi dụng lòng tin với tổng số tiền là 83.000 đôla Singapore.
Ông còn dính vào hai vụ phạm tội khác, lấy danh nghĩa của Trade Unions Act đầu
tư 18.000 đôla Singapore tiền của công đoàn vào một siêu thị tư nhân mà không
thông qua sự phê duyệt của Bộ trưởng. Theo cách thức thông thường trong những
trường hợp như thế, ông được tạm thả với một số tiền bảo lãnh.

Devan Nair, tổng thư ký của NTUC, rất thân thiết với
Phey Yew Kok và tin vào sự vô tội của ông ta. Devan Nair, muốn CPIB xem xét lại
trường hợp này, đã phát biểu rằng những buộc tội sai lầm của CPIB đang phá hủy
thanh danh của một người vô tội. Tôi không đồng ý vì tôi đã xem qua các báo cáo
điều tra và cho phép CPIB tiếp tục tiến hành. Devan Nair tin Phey vô tội và lo
lắng về việc mất đi một trợ thủ giá trị cho hoạt động công đoàn đến nỗi ông đã
tranh cãi quyết liệt với tôi trong bữa ăn trưa vào một ngày thứ bảy. Trước mặt
ông, tôi gọi điện cho trưởng thanh tra của CPIB, yêu cầu ông ta bí mật cho
Devan Nair xem những chứng cứ chống lại Phey Yew Kok ngay sau bữa ăn trưa đó.
Sau khi đọc các chứng cứ, Devan không tìm gặp tôi nữa. Phey Yew Kok quyết định
chạy trốn không ra tòa, và hai người bảo lãnh mất đi số tiền 50.000 đôla
Singapore khi ông ta không bao giờ trở lại. Tin tức cuối cùng về ông ta mà tôi
nghe được là ông ta đang sống cuộc sống khốn khổ của kẻ chạy trốn, chịu áp lực
của cảnh sát và nhà chức trách nhập cư tại Thái Lan.

Sự sụp đổ bi kịch nhất là trường hợp của Teh Cheang
Wan, Bộ trưởng phát triển quốc gia. Tháng 11/1986, một trong những người giao
thiệp cũ của ông khi bị CPIB tra vấn đã thú nhận rằng hắn từng đưa Teh hai
khoản tiền mặt, mỗi khoản trị giá 400.000 đôla Singapore, khoản tiền đầu tiên
là để xin phép cho một công ty phát triển giữ lại phần đất của công ty mà chính
phủ đã đánh dấu để trưng thu, và khoản tiền thứ hai là để giúp cho một nhà kinh
doanh mua lại phần đất của nhà nước nhằm sử dụng cho mục đích cá nhân. Hai vụ
hối lộ này diễn ra vào năm 1981 và 1982. Teh phủ nhận việc mình nhận tiền và cố
gắng mặc cả với viên trợ lý thanh tra cao cấp của CPIB để ngưng việc điều tra.
Thư ký nội các báo cáo lại sự việc này và nói Teh yêu cầu được gặp tôi. Tôi đáp
là tôi không thể gặp ông cho đến khi nào cuộc điều tra kết thúc. Một tuần sau,
sáng ngày 15/12/1986, nhân viên an ninh của tôi thông báo rằng Teh đã chết và
để lại cho tôi một bức thư.

Ngài Thủ tướng

Suốt hai tuần nay tôi đã rất ân hận và thực sự suy
sụp. Tôi cảm thấy mình có trách nhiệm đối với những sự việc đáng tiếc xảy ra và
tôi nên nhận toàn bộ trách nhiệm về mình. Là người phương Đông trọng danh dự,
tôi phải nhận lấy hình phạt cao nhất cho lỗi lầm của mình.

Chào vĩnh biệt

Teh Cheang Wan

Tôi đến thăm vợ ông và thấy thi hài ông đặt trên
giường. Vợ Teh nói ông đã suốt đời phục vụ cho chính phủ và muốn giữ danh dự.
Bà hỏi liệu rằng có thể đừng tiến hành một cuộc điều tra về cái chết bất thường
của chồng bà hay không. Điều đó chỉ có thể nếu như bà có được giấy chứng tử từ
bác sĩ xác nhận rằng ông ta chết vì những nguyên nhân tự nhiên. Không thể tránh
khỏi có một cuộc điều tra về cái chết bất thường của ông nếu người ta tìm thấy
rằng ông đã dùng chất sodium amytal quá liều để kết thúc cuộc sống. Phe đối lập
đưa vụ việc lên nghị viện và yêu cầu một hội đồng điều tra. Tôi lập tức đồng ý.
Quyết định này đã công khai sự việc làm cho vợ và con gái ông cảm thấy đau lòng
hơn. Ngay sau đó, họ đã rời khỏi Singapore và không bao giờ trở lại.

Chúng tôi đã kiến lập một xu hướng quan điểm xem
tham nhũng trong các cơ quan chính quyền là sự đe dọa đối với xã hội. Teh chọn
con đường kết thúc cuộc sống hơn là phải đối mặt với sự cách chức và bị khai
trừ. Tôi không hiểu được tại sao ông lại nhận số tiền 800.000 đôla Singapore
này. Ông là một kiến trúc sư tài giỏi, và với khả năng đó ông có thể kiếm được
hàng triệu đồng một cách lương thiện.

Đưa ra những chuẩn mực đạo đức cao, lên án mạnh mẽ
và đề ra quyết tâm tiêu diệt tham nhũng thì dễ dàng. Nhưng sống theo những lý
tưởng tốt đẹp này thì vô cùng khó khăn trừ phi người lãnh đạo có đủ mạnh mẽ và
quyết tâm để đương đầu với kẻ phạm tội và không có sự ngoại lệ nào. Nhân viên
CPIB phải được ủng hộ để thực thi luật, không e dè hay thiên vị.

Niên giám cạnh tranh thế giới năm 1997 của Viện phát
triển quản lý sắp xếp theo thứ hạng cho các quốc gia ít tham nhũng nhất trên
toàn thế giới, và cho điểm mười, điểm hoàn hảo, đối với quốc gia nào không có
nạn tham nhũng. Singapore được xếp vào hàng ngũ các quốc gia ít tham nhũng nhất
trong khu vực châu Á với điểm số 9,18 trước Hong Kong, Nhật Bản và Đài Loan.
Transparency International (đặt tại Berlin) xếp Singapore đứng thứ bảy trên thế
giới năm 1998 cho thành tích “vắng mặt tham nhũng”.

Chuyện phần trăm, tiền lại quả, tiền làm quà, quỹ
đen hay có thể gọi chúng bằng bất kỳ uyển ngữ địa phương nào khác là một lối
sống ở châu Á: người ta công khai chấp nhận nó như một phần văn hóa của họ.
Đồng lương của các Bộ trưởng và viên chức nhà nước không đảm bảo nổi tiêu chuẩn
của chức vụ mà họ đảm nhận. Chức vụ càng cao, nhà càng lớn, vợ, vợ lẽ, tình
nhân càng nhiều, tất cả đều được trang điểm bằng những trang sức phù hợp với
quyền lực và vị trí của người đàn ông. Người Singapore đang làm việc tại các
quốc gia này phải chú ý không được du nhập cái lối sống đó về đất nước mình.

Khi những người cộng sản Trung Quốc nắm quyền lực,
họ rầm rộ bày tỏ sự cống hiến và lòng lương thiện. Nhân viên phục vụ và những
người hầu gái ở Trung Quốc vào thập niên 50, 60 sẽ trả lại tài sản mà khách để
quên trong khách sạn, thậm chí cả những món đồ mà khách cố tình vứt bỏ. Họ cố ý
phô trương sự thờ ơ của mình đối với của cải vật chất. Tuy nhiên, trong suốt
giai đoạn cao trào của cuộc Cách mạng văn hóa 1966 – 1976, hệ thống đó đã sụp
đổ. Sự thiên vị, thói gia đình trị, và tham nhũng đã lây lan đến vị trí tối
cao. Toàn bộ xã hội bị thoái hóa bởi những kẻ cơ hội đeo cho mình một lớp mặt
nạ cách mạng mà cái thành tích “thăng chức nhanh như trực thăng lên thẳng” của
họ đạt được bằng sự phản bội và khủng bố đối với cấp trên và những người cùng
địa vị.

Tham nhũng trở nên tồi tệ, nghiêm trọng hơn khi
Trung Quốc mở cửa năm 1978. Nhiều nhà cách mạng cảm thấy mình đã bị lừa dối và
lãng phí những năm tháng tươi đẹp nhất, họ liền tranh thủ thời gian còn lại để
làm giàu cho bản thân bằng mọi cách. Tình trạng này có thể thấy ở các xã hội
đóng kín vừa bước sang giai đoạn mở cửa. Nạn tham nhũng ở đó có khi còn tồi tệ
hơn ở những nước tự bản suy đồi tại châu Á mà trước đây họ khinh thường.