Chiếc Lexus và cây Ô Liu - Phần II - Chương 14 - Phần 2

Sau cùng, cái khoảng cách trong đội hình và khoảng cách trong số các chủ nhân đã tạo nên những khoảng cách vị trí xã hội. Fan của Michael Jordan sẽ không bao giờ thắc mắc về lương bổng của anh ta, một khi anh tiếp tục tạo chiến thắng trong các giải thi đấu. Nhưng cái khoảng cách giữa những kẻ thắng và người thua trong kinh tế toàn cầu phản ánh trong những đồng lương thể thao vừa kể, đã nảy sinh những hậu quả xã hội. Người giàu và người nghèo ngày càng sống cách biệt, cho con cái đến học ở những trường khác biệt, sống ở những khu khác biệt, mua sắm đồ ở những tiệm khác biệt và đến thưởng thức thể thao ở những nơi khác nhau –, tồi tệ hơn, có người đến được, người không. Nhưng giới yêu thể thao không còn được đi xem thể thao nhiều như trước, vì để trả lương hậu cho cầu thủ, giá vé đã bị tăng gấp nhiều lần và rồi chỉ có người giàu có mới mua được, sân vận động được chia ô cho nhiều giai cấp khác nhau, trong đó những người nghèo không mua được loại vé 75 đô-la đã chen chúc nhau ở một góc sân, nhai lạc rang xem thi đấu, trong khi những người giàu ngồi trong những lô ghế riêng, duỗi chân thoải mái và ăn món cua rán do bồi bàn phục vụ. Ngay cả những cầu thủ xuất thân từ tầng lớp đói nghèo đã nói về khoảng cách giữa bản thân họ và cái đám đông giàu có phần nhiều là da trắng đến xem họ thi đấu. “Bạn lao đầu ra sân, đuổi theo một trái bóng,” một cầu thủ da đen không cho biết danh tính nói với báo Sports Illustrated, “rồi bị vấp vào một máy điện thoại di động của một thằng cha chủ ngân hàng đầu tư ném vào. Trong khi đó những người cùng sinh ra và lớn lên với bạn không có tiền mua vé vào xem. Vâng, đó là những điều khiến bạn phải suy nghĩ.” Để trả 121 triệu đô-la trong bảy năm cho Shaquille O’Neal, đội bóng Los Angeles Lakers đã phải tăng giá vé hạng xoàng nhất từ 9,5 đô-la lên 21 đô-la/vé, và giá thượng hạng của họ trong mỗi trận đấu là 500-600 đô-la. Michael J. Sandel, nhà khoa học chính trị của Đại học Harvard cho biết, kết quả là sân đấu bóng, một thời là trung tâm của dân chúng trong cộng đồng “không còn là nơi công cộng để quy tụ các tầng lớp khác nhau trong dân chúng.”

Khoảng cách mức sống giữa siêu sao thể thao với fan của họ đã trở nên một trời một vực. “Hôm trước tôi đọc thấy câu chuyện về võ sĩ quyền Anh Evander Holyfield người cho xây một căn nhà rộng 5.200 mét vuông,” Steve Kerr nói với tôi. “Và tôi chắc rằng anh ta cũng có thiện ý khi làm chuyện đó, nhưng bài báo này trích dẫn anh ta nói sẽ mời những trẻ em nghèo khó đến thăm quan căn nhà để chúng có thể thấy nếu làm việc chăm chỉ, chúng cũng có thể có căn nhà như vậy. Một căn nhà 5.200 mét vuông! Để có căn nhà như vậy thì chỉ có cách trở thành lực sĩ vô địch quyền anh thế giới, trên thế giới thì chỉ có một người làm được điều đó. Mọi sự giờ đây tùy thuộc vào những gì anh trả tiền mua. Có những cầu thủ đến trường học và nói với học sinh, “hãy đi học để sau này có thể mua được những gì mà tôi có.” Tôi không nghĩ đó là một lời khuyên tốt. Một lời khuyên tốt phải là, hãy đến trường để bạn sau này có thể làm được bất cứ điều gì bạn muốn làm trong cuộc sống.”

Khi tôi không dùng đến vé đi xem các trận đấu của đội Washington Wizards, tôi thường tặng chúng cho một người bạn của tôi, đang làm chân gác cửa. Anh ấy rất mừng, nhưng tôi thì rất buồn. Tôi buồn là anh ta rất hàm ơn khi được làm cái điều mà cha tôi và tôi thời trước thường dễ dàng thực hiện – hứng lên là đi xem các trận của đội Minneapolis Lakers, khi đó lương của cha tôi là 13 ngàn đô-la một năm.

Có điều gì đó không ổn, khi số đông dân chúng bị hắt hủi khỏi những lối sống như vậy. Cộng đồng đã bị băng hoại thêm một mức, bạn không mấy ngạc nhiên khi nhặt tờ Washington Times ngày 12/11/1997 và đọc mẩu tin sau đây: “Hai người dân thường bị giết hại ở Philadenlphia sau một bất đồng về chuyện ai là hậu vệ giỏi hơn: Allen Iverson của Philadelphia 76ers hay Gary Payton của Seattle SuperSonics. Sự cãi cọ đã chuyển sang đọ súng hôm chủ nhật sau trận đấu giữa 76ers và Sonics. Derrick Washington, 21 tuổi, và người họ hàng của anh, Jameka Wright, 22 tuổi, đã bị giết trong vụ đọ súng ở công trường xây dựng Southwark Plaza.”

Tôi biết rằng về nhiều mặt, một nền kinh tế hai tầng như vậy là điển hình trong nhiều giai đoạn của lịch sử nước Mỹ và sự nổi dậy của tầng lớp trung lưu là một hiện tượng thực sự trong những năm giữa thế kỷ 20. Cha tôi sẽ không tài nào hiểu được chuyện không thể đủ tiền đi xem một trận đấu bóng rổ, nhưng tôi có thể dám chắc là ông nội của tôi đã có thể hiểu được điều đó. Nhưng không may là cháu tôi sau này chắc cũng phải hiểu và chứng kiến điều đó.

Tôi dùng hình ảnh NBA làm ví dụ không phải do tôi đồng cảm với những cầu thủ lương tối thiểu mức 272.250 đô-la/năm, mà vì nó phản ánh rõ ràng sự khác biệt về thu nhập đã và đang tạo những phản ứng khắp nơi trên thế giới chống lại toàn cầu hóa. (Tôi sẽ bàn chi tiết trong chương sau). Những hố ngăn cách về thu nhập đã xuất hiện khá nhiều ở bên ngoài nước Mỹ nơi những giai cấp trung lưu có số lượng nhỏ hơn, và những luật lệ chống độc quyền cũng như chia sẻ phúc lợi không chặt chẽ như ở Mỹ. Đây là một trong những tình thế tiến thoái lưỡng nan trong kinh tế của toàn cầu hóa: Áo nịt nạm vàng, Bầy Thú Điện Tử, thương mại và thị trường tự do, tất cả khiến cho toàn thể xã hội tạo ra nhiều của cải và thu nhập nhiều hơn. Đó là thực tế. Nhưng những nguồn thu nhập đang ngày càng được phân chia không cân bằng và cùng với điều đó, cái chủ nghĩa tư bản được ăn cả, tự do khai thác đã trở nên mang mầm mống gây đảo lộn xã hội. Nhưng nếu cứ sống mãi với một nền kinh tế đóng cửa, được điều tiết chặt chẽ bằng cơ chế quan liêu thì toàn bộ xã hội sẽ nghèo đi và hỗn loạn càng có cơ diễn ra và diễn ra ở mức cao hơn – mà cũng không tạo ra được nguồn của cải để cứu giúp những người khốn khó.

Hãy nhìn trường hợp Cuba của Fidel Castro trong những năm 90... Fidel Castro đã hé mở cửa kinh tế Cuba và cho phép hình thành một khu vực kinh doanh tự do, điều đó ngay lập tức khiến xuất hiện những khoảng cách lớn về thu nhập. Một hướng dẫn viên du lịch nói với tôi khi tôi sang Cuba năm 1999: “Ngày trước tôi có thể có hai đôi giày và ông có ba đôi. Nhưng ngày nay, vì là hướng dẫn viên và có ngoại tệ, tôi có thể có tới 30 đôi giày, trong khi ông vẫn chỉ có ba đôi.” Về lâu về dài, những khoảng cách thu nhập đó, nếu tiếp tục mở rộng, sẽ trở thành những cái gót chân A sin của toàn cầu hóa. Có điều gì đó không ổn định về cái thế giới đang bị công nghệ, thị trường và viễn thông, khâu dệt lại cho chặt chẽ trong khi các giai cấp xã hội bị tách xa nhau hơn, ngày càng xa. (Chương cuối cùng của cuốn sách, tôi sẽ nói đôi lời về những giải pháp.)

Hãy xem xét mẩu tin sau mà tôi tình cờ đọc được trên các nguồn tin thông tấn: “PORT-AU-PRINCE (Reuters) – Haiti, đất nước nghèo nhất Tây bán cầu, lần đầu tiên sẽ được trang bị điện thoại di động từ cuối tháng tám 1998, các nhà cung cấp dịch vụ điện thoại di động cho biết vào hôm thứ sáu. Chỉ có thiểu số các gia đình giàu có, giới đầu tư người nước ngoài và thương gia mới có khả năng trả tiền dùng dịch vụ này. Thu nhập bình quân của người dân Haiti là khoảng 250 đô-la/năm. Máy điện thoại có giá 450 đô-la, giá nối mạng là 100 đô-la, và mức dịch vụ bảo hành hàng tháng là 20 đô-la.” Nói cách khác, đối với thiểu số toàn cầu hóa trong dân chúng Haiti thì điệu thoại di động là một dụng cụ làm việc hàng ngày, còn đối với đa số dân ở đó thì điện thoại di động là hai năm lương của họ.

Một hiện tượng bất ổn, nhưng không phải là hy hữu. Theo báo cáo của tổ chức Phát triển Dân số của Liên Hiệp Quốc, thì Internet nối kết dân chúng trong một hệ thống toàn cầu mới, nhưng cơ hội để sử dụng Internet vẫn chỉ nằm tại phần lớn trong các nước giàu có. OECD chiếm 19 phần trăm dân số thế giới nhưng chiếm 91 phần trăm tổng số người sử dụng Internet. Bulgaria có số máy chủ nhiều hơn tổng số máy chủ ở vùng tiểu Sahara, châu Phi, trừ Nam Phi. Ở Hoa Kỳ và Thụy Điển, cứ một ngàn người thì có 600 đường điện thoại trong khi ở Chad thì trong một ngàn người thì chỉ có một người có điện thoại. Nam Á, với 23 phần trăm dân số thế giới, chỉ chiếm một phần trăm trong số người sử dụng Internet trên thế giới. Tiếng Anh được sử dụng trong 80 phần trăm các trang mạng mặc dù trên thế giới cứ 10 người thì chưa tới một người biết tiếng Anh. Các nước công nghiệp chiếm giữ 97 phần trăm tác quyền các sản phẩm trên thế giới. Tôi chắc rằng các công cụ thông tin và Internet sẽ tiếp tục được phổ biến nhanh hơn là mọi người nghĩ, nhưng sự chia rẽ, bất bình đẳng về kỹ thuật số là đã rõ và đang góp phần gia tăng khoảng cách giàu nghèo.

Theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc, một phần năm dân chúng trong các nước có thu nhập cao cho ra 86 phần trăm tổng sản phẩm nội địa, chiếm 82 phần trăm thị trường xuất khẩu, 68 phần trăm lượng đầu tư nước ngoài trực tiếp và 74 phần trăm đường điện thoại trên thế giới. Còn một phần năm dân số nghèo đói trong các nước nghèo nhất chiếm khoảng một phần trăm trong các con số kể trên. Không lấy gì làm ngạc nhiên là cái một phần năm giàu nhất tiêu thụ 45 phần trăm lượng thịt và cá, trong khi số một phần năm nghèo khó chỉ tiêu thụ 5 phần trăm lượng thức ăn đó.

Và cái hố ngăn cách đó ngày càng rộng ra. Trong những năm 60, 20 phần trăm dân sô thuộc các nước giàu có nhất có thu nhập cao gấp 30 lần thu nhập của số dân nghèo nhất thế giới, cũng chiếm 20 phần trăm trong dân số thế giới. Nhưng vào năm1995, tổng thu nhập của những người giàu đó tăng 82 lần. Chẳng hạn ở Brazil trong năm 1960, 50 phần trăm dân số là người nghèo, họ chiếm 18 phần trăm thu nhập của đất nước. Đến 1995, họ chỉ còn chiếm 11,6 phần trăm tổng thu nhập trong toàn quốc, trong khi con số 10 phần trăm giàu có của Brazil chiếm giữ tới 63 phần trăm tổng thu nhập toàn dân. Tại nước Nga, số 20 phần trăm người giàu có nguồn thu nhập gấp 11 lần tổng thu nhập của số 20 phần trăm nghèo túng ở đây. Năm 1998, báo cáo của Liên Hiệp Quốc cho biết, nhờ có toàn cầu hóa, các thương gia đang bán sản phẩm của họ cho “các nhóm thượng lưu toàn cầu”, “tầng lớp trung lưu toàn cầu,” và các “thanh thiếu niên toàn cầu,” vì dù đang sống ở đâu họ cũng đang theo đuổi một trào lưu tiêu thụ thống nhất: nghe loại nhạc, xem băng video và mặc áo phông có thương hiệu “thịnh hành trên thế giới.” “Hậu quả sẽ ra sao?” báo cáo này đặt câu hỏi. “Trước hết một loạt các lựa chọn được đặt ra cho rất nhiều người tiêu thụ – nhưng rất nhiều người trong số đó không đủ tiền để mua. Và sức ép tiêu thụ ngày càng lên cao. Trào lưu đua đòi đã khiến dân chúng chuyển từ việc tiêu tiền để đủ ăn đủ mặc, sang việc đua đòi với hàng xóm, rồi đến mức mua sắm bắt chước lối sống của những nhân vật giàu có và nổi tiếng thường chỉ xuất hiện trên truyền hình và phim ảnh.”

Đến bất cứ đất nước đang phát triển nào bạn cũng gặp nhan nhản những hố ngăn cách giàu nghèo. Khi sang Rio de Janeiro, tôi đến phỏng vấn dân chúng vùng Rocinha, nơi họ chen chúc sống trong các khu ổ chuột tạm bợ, một khu vực nghèo, lớn nhất vùng Nam Mỹ. Khi đi xe đến đó, bạn sẽ gặp một ngã ba đường. Nếu rẽ phải bạn sẽ vào một con đường nhỏ, đi qua những khu vườn được trồng tỉa đẹp đẽ để đến Trường Tư thục American, trường đắt nhất đất nước, học phí khoảng 2.000 đô-la một tháng. Trường này nằm trong trung tâm vùng Gavea, khu vực bảo thủ nhất ở Rio, tuyển dụng học sinh cho trường thì “hạn chế”.

Nhưng từ ngã ba đó nếu bạn rẽ trái thì sẽ vào được khu vực nghèo nhất, khu Rocinha, nơi dân chúng không kiếm ra nổi 2.000 đô-la một năm, và trường học ở đó thì tuyển dụng học trò “thoải mái.” Hơn 100 ngàn dân chen chúc sống trong khu này. Nếu Brazil tiếp tục tăng trưởng kinh tế thì ngã ba đường đó rồi sẽ được cải thiện. Nhưng nếu Brazil trì trệ thì nơi đó sẽ là giới tuyến mãi mãi chia đôi đất nước.

Để mặc tấm áo nịt nạm vàng làm vừa lòng Bầy Thú Điện Tử, Tổng thống Fernado Henrique Cardoso của Brazil đã phải ngay lập tức cắt giảm các chi tiêu về an sinh xã hội sau ngày ông nhậm chức do tái thắng cử, tháng mười năm 1998. Diana Jean Schemo, phóng viên báo The New York Times đã viết một bài về những người dân nghèo bị cắt trợ cấp xã hội ở Brazil. Tổng thống Cardoso đã bị chỉ trích kịch liệt khi ông gọi những người muốn về hưu và hưởng trợ cấp xã hội là “những cái mông đít.” Schemo kể câu chuyện về Nilton Tambara, 54 tuổi, một công nhân luyện thép về hưu, người bắt đầu đi làm từ năm 11 tuổi, và đã cống hiến cho quỹ phúc lợi của Brazil suốt 33 trong số 41 năm làm việc trong đời ông.

“Liệu có cách nào giữ được bình tĩnh khi sống trên đất này hay không?” Tambara hỏi, khi ông đứng trước siêu thị Wal-Mart ở Sao Paulo, phàn nàn về việc ông ta không đủ tiền để mua một chiếc thang gấp bằng nhôm, giá 16 đô-la. “Những giai cấp mà chính phủ nói đến – người giàu, người trung lưu và người nghèo – không thấy đâu. Tôi chỉ thấy có hai loại: người giàu và những kẻ khốn khổ.”

Ở thủ đô Cairo, Ai Cập, bạn thấy khoảng 500 ngàn dân sống chui rúc trong những hầm mộ trong “Thành phố của người chết” – diện tích năm cây số vuông trong trung tâm Cairo. Và thành phố của những người chết chỉ nằm cách khu cộng đồng những người chơi golf, khu Katamya Heights, kín cổng cao tường, có 10 dặm. Khu này là một trong những phức hợp nhà ở, có vài trăm gia đình sinh sống, trông như một ốc đảo gồm nhà cửa, vườn, hồ nhân tạo, và khách sạn. Quảng cáo cho khu nhà này trên Internet cho biết: “Katamya Heights là một khu cộng đồng giành cho những người chấp nhận thách thức trong môn golf và tennis và những sinh hoạt gia đình trong một môi trường sa mạc sạch sẽ. Trong khu vực này có sân golf 27 lỗ, tiêu chuẩn quốc tế, các phương tiện và một trường đào tạo đánh golf, một câu lạc bộ rộng 50 ngàn bộ, với nhà hàng và phòng nghỉ, bể bơi, các cơ sở giải trí và sức khỏe. Giá cho một người chơi golf bao gồm phí đi lại từ nơi nghỉ đến sân golf là 165 đô-la.” Thu nhập bình quân của người dân Ai Cập trong năm 1998 là 1.410 đô-la/ năm – vừa đủ để chơi khoảng chín ván golf.

Thái Lan là một đất nước có sự chia rẽ sắc nét giữa tầng lớp dân thành thị hóa, làm ăn theo hướng xuất khẩu, sống trong các trung tâm tài chính và sản xuất của đất nước và tận hưởng những lợi thế toàn cầu hóa, với khu vực nông thôn nghèo đói, đóng cửa, không nhìn nhận được toàn cầu hóa và cũng chẳng biết đến lợi lộc do toàn cầu hóa mang lại. Khi đồng tiền baht của Thái bị mất giá vào năm 1997, thì bộ phận dân chúng sống dựa vào đất đai trong vùng nông thôn, đã không tỏ ra cảm thông gì với những khổ đau của giới thương gia thành phố, ăn diện và nhiễm đầy toàn cầu hóa – những kẻ bị đào thải khi chính phủ bị buộc phải thả nổi đồng tiền.

Vào lúc đó ca sĩ tạp kỹ người Thái đã cho ra đời một bài hát theo lối nhạc rap mang tên “đồng baht trôi nổi.” Bài hát là một đoạn đối thoại giữa một nông dân Thái với một ông chủ nhà băng. Tôi xin viết lại nội dung bài hát dưới đây, vì nó phản ánh rất hay sự xung khắc và ngăn cách giữa những người được toàn cầu hóa và giới xa rời toàn cầu hóa trong cùng một xã hội. Nếu không được sửa chữa, thì sự ngăn cách đó sẽ khiến cho sinh ra những người cùng nói một thứ tiếng nhưng lại hoàn toàn không hiểu được nhau, chưa nói đến việc gắn bó với nhau.

Sau đây là lời bài hát được tạm dịch:

Bài hát khởi đầu với điệp khúc, “đồng [tiền] baht được thả nổi… Nổi bao lâu thì còn tùy thuộc vào tình hình. Hãy theo dõi đầy đủ tình hình.”

Chủ nhà băng: “OK. Mọi người xem đây. Hôm nay, đồng baht đang trôi nổi.” Nông dân: “Hôm qua có cháu bé hai tuổi ngã xuống sông nhưng không bị chết đuối.”

Chủ nhà băng: “Vì sao? Sao thằng cu đó không bị chết đuối?”

Nông dân: “Thằng bé ngã xuống nước, người ta thấy nó ngụp lặn trong nước. Đến khi chạy ra bờ sông thì họ thấy thằng bé đang bám vào một tờ baht được thả nổi.”

Chủ nhà băng: “Anh không hiểu gì cả? Tôi đang nói đến chuyện thả nổi đồng nội tệ của Thái lan.”

Nông dân: “Nhưng, nếu không có tờ baht thì thằng bé đã chết chìm rồi.”

Chủ nhà băng: “Đồ ngu, tôi đang nói đến việc thả nổi đồng tiền.”

Nông dân: “Vì sao ông lại nói chuyện đó với chúng tôi? Quan trọng gì chuyện đó?”

Chủ nhà băng: “Tôi nói với các người vì các người cần phải quan tâm đến điều đó. Tôi nói vì sợ rằng các người không hiểu.”

Nông dân: “Vì sao chúng tôi phải bận tâm tới những chuyện đó? Chủ nhà băng: “Đó là những tư tưởng mang tính triết lý mà các người phải để tâm đến.”

Nông dân: “Vì sao tôi phải nghĩ đến điều đó? Chúng tôi có phải là những nhà hiền triết đâu?

Chủ nhà băng: “Anh là một thằng ngốc.”

Nông dân: “Thực ra nếu tôi không phải là thằng ngốc thì tôi đã không trở thành người đứng đầu một quỹ tín dụng.” [Hầu hết các quỹ tín dụng của Thái lan đã bị khánh kiệt khi đồng baht bị mất giá.]

Điệp khúc: “Đồng baht của chúng ta đang được thả nổi. Khi baht được thả nổi thì giá các mặt hàng cũng được thả nổi.”

Chủ nhà băng: (lên lớp) “Khi baht được thả nổi đến đâu thì giá hàng hóa tăng đến đó. Baht trượt giá đến đâu thì trong vòng một hai ngày giá của hàng hóa sẽ trượt theo mức đó. Mọi thứ trôi nổi, không thứ gì lặng chìm. Đó là thực tế.”

Nông dân: “Vậy thì tại sao ông phàn nàn và than vãn suốt ngày vậy?”

Chủ nhà băng: “Chúng tôi phàn nàn, hô hoán, chửi thề và sau cùng chúng tôi sẽ đi biểu tình trên đường phố, chặn các phố phường, và rồi dân chúng nhìn thấy, thông cảm với chúng tôi và giúp chúng tôi giải quyết vấn đề đó.”

Nông dân: “Vì sao ông lại nóng lòng muốn giải quyết vấn đề đó?”

Chủ nhà băng: “Để mọi thứ trở nên tốt đẹp hơn, đồ khờ khạo ạ.”

Nông dân: (cười phá vào mặt chủ nhà băng) “Ha ha ha. Nhìn lại mình xem. Ông kêu la như trẻ con vậy. Lúc trước thì nói năng hoạt bát, vậy mà giờ đây ông gào thét như vậy.” Chủ nhà băng: “Đồ khờ khạo.”

Điệp khúc: “Đồng baht đã yếu hơn trước và gây bao nhiêu khó khăn cho chúng ta. Giá của mọi mặt hàng đang tăng vọt. Chủ nhà băng: “Tiền của Thái Lan đang ra khỏi Thái Lan, mà ngoại tệ thì không thấy chuyển vào nội địa. Người Thái muốn ra nước ngoài để du lịch. Họ ra vào và mua đồ từ nước ngoài.

Nông dân: “Thì đã sao. Họ có tiền thì họ mua. Tiền của họ. Làm gì mà nhắng lên? Chủ nhà băng: “Họ mang tiền Thái Lan ra ngoài, khiến cho tình hình trở nên bí bét hơn. Đồng baht mất hết giá trị, vậy là các nguồn vốn đầu tư trong nước cũng đi tong.” Nông dân: “Làm thế nào mà ông biết điều đó?”

Chủ nhà băng: “Tin tức ngày nào, tuần nào cũng nói. Anh không theo dõi tin tức à?”

Nông dân: “Tôi chẳng bao giờ nghe đài. Chẳng bao giờ đọc báo. Tôi không quan tâm tới chuyện ông nói. Tôi chỉ xem đấu võ truyền thống Thái Lan và giải vô địch bóng đá.”

Chủ nhà băng: “Vậy thì đổi tính đổi nết đi. Hãy nghĩ đến những vấn đề của đất nước. Nông dân: “Tôi chỉ lo rằng võ sĩ Thái Lan rồi bị người nước ngoài đánh bại trong giải vô địch. Đó không phải là điều đáng lo hay sao?”

Chủ nhà băng: “Anh có biết đất nước ta vay bao nhiêu là tiền từ nước ngoài?”

Nông dân: “Nhiều không?”

Chủ nhà băng: “Nhiều, nhiều ghê lắm. Anh là một thằng ngu. Anh không hiểu bất cứ điều gì tôi đang nói phải không? Tôi tốn hơi giải thích cho anh. Khi vay tiền từ nước ngoài, thì anh phải thanh toán, trả lại cho người ta.”

Nông dân: “Nhưng chẳng lẽ cái người đi vay không có cách gì hưởng những đồng tiền vay đó?” Chủ nhà băng: “Những thứ người như anh chính là loại đang phá hoại đất nước và tiêu tốn tiền của. Anh là một phần của quốc gia Thái Lan, của gia đình Thái Lan, là những người phải chịu trách nhiệm cho việc chi tiêu quá đà hiện nay. Chúng ta đều cùng hội cùng thuyền cả.”

Nông dân: “Nhưng tôi chưa cưới vợ. Và tôi hiện không có gia đình.”