Chiếc Lexus và cây Ô Liu - Phần II - Chương 10 - Phần 2

Không phải bất cứ nhà tạo lập nào ban đầu đã có ý tưởng tạo lập. Hãng máy tính Dell là một ví dụ. Khởi đầu là một nhân tố thích nghi, Dell đã tận dụng những kỹ thuật sẵn có của IBM, thích nghi chúng bằng một loạt kỹ thuật sản xuất đầy sáng tạo. Dell trở thành một phần của dây chuyền của IBM. Sau đó Dell trở thành một nhân tố tạo lập. Dell đã sáng lập ra những phương thức mới sử dụng Internet để đến với khách hàng và quản lý các nhà phân phối và tài sản của hãng. Làm như thế Dell đã hình hành được một dây chuyền của riêng họ và IBM quay lại trở thành một kẻ tự thích nghi khép mình vào những kỹ thuật sản xuất và quản trị dựa trên Internet do Dell sáng chế.

Nguyên tắc như trên cũng được áp dụng trong lĩnh vực địa-chính trị. Hoa Kỳ ngày nay là một nhân tố tạo lập về mặt địa-chính trị. Nói Hoa Kỳ chịu trách nhiệm về toàn cầu hóa thì hơi quá, nhưng đây là một đất nước có khả năng cao nhất hiện nay để có thể nhào nặn các liên minh để quản trị nền toàn cầu hóa theo thể thức địa-chính trị. Chẳng hạn, trong thế giới ràng buộc hơn hiện nay, Hoa Kỳ đã huy động các mặt, tiền, thông tin và sức mạnh quân sự để có thể vào cứu những người dân Albania ở Kosovo, khi họ bị Nam Tư trục xuất, năm 1999. Hoa Kỳ đã sáng lập khá nhiều luật lệ trên đó Tổ chức Thương mại Thế giới hoạt động và theo đó Trung Quốc có thể gia nhập tổ chức này. Hoa Kỳ đã định hình phản ứng của Liên hiệp quốc đối với Tổng thống Saddam Hussein của Iraq. Các nước NATO ngoài Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nga thường là những nhân tố thích nghi, mặc dù có lúc họ chỉ thích nghi một cách miễn cưỡng.

Hoa Kỳ và Anh là hai nhân tố tạo lập ra chiếc áo nịt nạm vàng cùng những siêu thị tài chính. Trong thế giới đầy ràng buộc hiện nay, những luật lệ liên quan tới chiếc áo nịt nạm vàng đã trở thành khuôn mẫu, tiêu chuẩn được áp dụng rộng rãi nhất cho việc tăng trưởng. Những luật lệ đó cũng đã tạo ra những hệ thống giá trị quy định các hành xử trong thương mại và dịch vụ – từ đó Hoa Kỳ và Anh là hai nước được hưởng lợi rất nhiều. Ngày nay càng có nhiều quốc gia khác nhận thức thấy lợi ích của việc mặc chiếc áo nịt và họ cũng đã đưa ra những sáng kiến mới – làm cho việc mặc chiếc áo đó dễ chịu hơn.

Trong thế giới thương mại, chìa khóa để trở thành một nhà tạo lập trên lĩnh vực địa-chính trị là cần phải tỏ ra rộng lượng và hào phóng, để các quốc gia khác có thể thấy được những lợi ích của việc thích nghi với những luật lệ và và tiêu chuẩn do bạn đặt ra, cho bản thân họ cũng như sự ổn định khu vực họ đang sinh sống. Hoa Kỳ có thể trở thành một nhà tạo lập tham lam nếu họ nói với thế giới: “Các vị phải thích nghi với chiếc áo nịt nạm vàng và mở cửa cho phép tự do thương mại. Và khi đó, chúng tôi sẽ xuất khẩu tất cả những gì chúng tôi có thể sang đất nước của các vị và chúng tôi chỉ cho phép các vị xuất một vài thứ sang Hoa Kỳ”. Nói như thế thì sẽ không thuyết phục được các nước mặc lên cho họ chiếc áo nịt, và sẽ khiến họ tự xây dựng lấy một hệ tiêu chuẩn mới. Những nhà tạo lập địa chính trị không tồn tại được lâu chính là những kẻ đã vơ vét quá nhiều cho bản thân họ và không để phần cho nhưng người khác thích nghi và sáng tạo.

Điều ít được hiểu mà cũng rất lý thú là cũng những nguyên tắc áp dụng cho các nhân tố tạo lập và thích nghi cũng có thể được áp dụng đối với giá trị nhân quyền, hoạt động xã hội, công tác từ thiện và hoạt động môi trường. Tất cả các hình thái nhóm tư nhân, chính phủ, cá nhân được trao quyền và các công ty ngày nay đều có thể trở thành những nhân tố tạo lập quy tắc và liên minh để có được sự quản trị tốt hơn trong những lĩnh vực kể trên ở mức cao hơn bao giờ hết. Nhưng nhiều nhà hoạt động đã không hiểu ra cơ hội đó.

Hãy cân nhắc: khi nước Mỹ vào cuối thế kỷ 19 đang chuyển mình từ môt tập hợp các vùng kinh tế bán tự trị hội nhập thành một nền kinh tế quốc gia, nó đã đồng thời cho ra đời thể chế liên bang như ngày nay người ta thấy. Dự trữ Liên bang, Ủy ban Giao dịch Chứng khoán, Ủy ban Thông tin Liên bang và những định chế khác đã ra đời trong thời kỳ đó. Một nền kinh tế quốc gia cần phải có những định chế giám sát nó, theo dõi và quản lý nó về luật pháp. Khuynh hướng tự nhiên cho thấy cần phải có một cơ chế giám sát toàn cầu hóa. Có nghĩa là khi chúng ta chuyển mình từ những nền kinh tế bán tự trị trở thành một nền kinh tế hội nhập toàn cầu thì chúng ta cũng cần phải có một thứ chính phủ theo dõi, giám sát và quản lý toàn cầu về pháp lý.

Nhưng đạt một bước nhảy từ mức thể chế địa phương lên mức thể chế toàn quốc trong khuôn khổ một quốc gia vẫn dễ dàng hơn nhiều so với việc hội nhập từ mức quốc gia lên tới những định chế toàn cầu. Hai trở ngại sẽ xuất hiện khi bạn đi lên toàn cầu: Vấn đề chủ quyền – dân chúng một nước sẽ rất miễn cưỡng khi phải chịu sự chỉ đạo từ các chính trị gia và viên chức từ một nước khác, những người mà họ không duy trì được giám sát bằng cách này hay cách khác. Trở ngại thứ hai nằm trong bản thân hệ thống toàn cầu hóa. Trong một thế giới không có rào cản, được dựng lên quanh hệ thống Evernet, khả năng của một chính quyền toàn cầu, vươn tay ôm trọn quyền quản lý, ấn định những loại thuế và quy tắc hành xử cho các quốc gia sẽ bị hạn chế – dù đó là lực lượng cảnh sát quốc tế Interpol truy tìm những giao dịch tài chính phi pháp trên Internet từ quần đảo Cayman đến quần đảo trên biển Manche, hay là Tổ chức Thương mại Thế giới cố gắng đặt quy chế thương mại trên mạng toàn cầu. Ngày mỗi ngày càng nảy sinh ra những khu vực mà bộ máy chính phủ theo lối thông thường không với tay được đến.

Do đó khi bàn tới việc tuân thủ những tiêu chuẩn toàn cầu – bảo tồn thiên nhiên, quyền con người, giao dịch tài chính và điều kiện lao động cho công nhân – những nhân tố tạo lập sẽ không nắm vai trò một chính quyền toàn cầu, ít nhất là trong tương lai gần. Vậy chúng ta sẽ phải làm gì? Chúng ta không thể làm ngơ trước những vấn đề đó và chúng ta cũng không muốn để mặc chúng cho thị trường quyết định. Vậy chúng ta tiến đến một vấn đề then chốt: Làm thế nào để có được một sự quản lý toàn cầu trong những chủ đề lớn như môi sinh, nhân quyền, giao dịch tài chính và điều kiện lao động, mà không phảo lập nên một chính quyền toàn cầu? Làm thế nào để chúng ta điều hành và quản trị pháp lý những lĩnh vực mà nhân loại và cộng đồng thực sự coi trọng nhưng không cần phải dùng tới một thứ cảnh sát toàn cầu?

Câu trả lời là một sự hiểu biết, một tri thức rằng trong một thế giới được kết nối, các cá nhân, cộng đồng, giới tiêu dùng, các nhà hoạt động và các chính phủ đều có quyền lực như những nhà tạo lập – để định hướng và hình thành các hệ giá trị cho nhân loại. Bạn sẽ rất ngạc nhiên khi thấy có thể tăng cường được sự quản lý toàn cầu mà không cần phải sinh ra một chính phủ toàn cầu. Tuy nhiên để làm được thế cần phải có một tư duy mới giành cho việc huy động các hệ quyền lực. Cần có một lối nghĩ làm thế nào có thể tận dụng được sức mạnh của Internet, người tiêu dùng, và hoạt động của các công ty đa quốc gia, những tập đoàn muốn bảo vệ thương hiệu của họ trên toàn thế giới.

Tôi xin đưa ra một vài ví dụ. Một trong những vấn đề lớn nảy sinh trong thời toàn cầu hóa là việc làm thế nào chúng ta có thể xử lý đúng đắn quyền lợi của người lao động và điều kiện lao động ở những xưởng thợ ở các nước đang phát triển. Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, trong khi nhiều nhà hoạt động nhân quyền vẫn tập trung vào vấn đề tự do ngôn luận, bầu cử và việc viết báo chống đối, dân chúng ở các nước đang phát triển tiếp tục chú trọng vào quyền của người lao động, công ăn việc làm, quyền được tự tổ chức đoàn đội và quyền được hưởng những điều kiện làm việc thích đáng. Đơn giản là đối với những người lao động trên thế giới, sự đàn áp từ phía các cai lao động họ phải chịu đựng trước đây giờ được thay thế bởi sự đè nén đến từ những ngài tư bản hoạt động ngoài vòng kiểm soát, những kẻ đang di chuyển thường xuyên các cơ sở sản xuất từ nước này sang nước khác, chuyên tìm tòi những nơi có chi phí rẻ mạt nhất.

Những người lao động đó cần được giúp đỡ một cách thực tế. Nhưng hiện nay không có một chính quyền chung nào trên thế giới để họ trông mong vào, chính quyền có thể chỉ đạo và giám sát điều kiện lao động chung cho mọi người. Trong nhiều năm, các chủ xưởng người Mỹ đã thông qua các mối quan hệ của họ ở Quốc hội, ngăn chặn việc đưa tiêu chuẩn lao động của Mỹ sang áp dụng trong những xưởng thợ của họ ở nước ngoài. Đồng thời, những xưởng dệt áo từ miền nam bang Carolina chuyển hoạt động sang Guatemala, một địa phương nơi không có tiêu chuẩn lao động riêng, thêm nữa tại đó, Tổ chức Lao động Quốc tế cũng chẳng có ảnh hưởng gì. Đó là trường hợp người lao động không được hưởng bất cứ tiêu chuẩn nào, cả địa phương lẫn toàn cầu, như đã được đề cập tới vào năm 1996, trong một nhà máy ở Honduras gia công sản phẩm cho thương hiệu Kathie Lee Gifford. Chờ đợi để có một chính quyền toàn cầu giúp đỡ trong trường hợp đó quả là vô vọng.

Đối diện với thử thách như vậy, cộng đồng nhân quyền cần phải được trang bị hiện đại hơn, cũng giống như các tay thợ sản xuất vũ khí trước kia nay phải học cách sản xuất xe hơi hay máy nướng bánh, thay vì xe tăng. “Trong Chiến tranh Lạnh”, Michael Posner, đứng đầu Ủy ban Luật gia vì Nhân quyền, lập luận, “vấn đề chính là buộc các chính phủ phải chịu trách nhiệm khi họ vi phạm luật lệ và nguyên tắc. Ngày nay, vấn đề là làm thế nào khiến các công ty tư nhân phải gánh trách nhiệm về việc đối xử với công nhân của họ, khi mà quyền lực chính phủ khắp toàn cầu giảm đi, hoặc bản thân các chính phủ (Trung Quốc chẳng hạn) cũng tham gia các thương vụ và do đó không thể mong đợi họ giữ vai trò giám sát và trọng tài”.

Trong một thế giới như vậy, các nhà hoạt động cần phải học cách tận dụng toàn cầu hóa. Họ cần học cách bắt buộc các công ty phải ứng xử tử tế hơn bằng cách dùng Internet để vận động giới tiêu dùng trên toàn cầu. Tôi xin gọi đó là “giải pháp mạng dành cho nhân quyền”, và đó là tương lai của các nhà hoạt động. Đó là giải pháp từ dưới lên hay ngang hàng chứ không phải được ấn định từ trên xuống. Bạn trao quyền cho bên dưới, thay vì chờ đợi quyền hạn được rót từ trên, bằng cách hình thành một liên minh mà có thể tổ chức một hệ thống quản lý tốt hơn mà không cần một chính quyền toàn cầu.

Một thử nghiệm như thế rõ ràng đã xuất hiện vào cuối năm 1999. Từ những tranh cãi xung quanh vụ Kathie Lee Gifford đã nảy sinh một liên minh mới, mang tên Hiệp hội vì sự công bằng cho Người lao động (FLA). Hiệp hội này đã quy tụ các cố gắng của Chính phủ Hoa Kỳ, các nhà hoạt động cho quyền của công nhân như Ủy ban Luật gia, giới lao động ngành quần áo và sinh viên Mỹ. Hiệp hội hoạt động như sau: Phần lớn những công ty và giới hoạt động trong ngành quần áo trên toàn cầu thống nhất với nhau về một hệ tiêu chuẩn lao động tối thiểu trong các nhà máy, bao gồm việc giảm thiểu lao động trẻ em và hạn chế giờ công và ngày công. Họ cũng thỏa thuận về một hệ thống giám sát theo đó những giám sát viên độc lập được phép vào thanh tra đột xuất trong các nhà máy. Các điều tra và giám sát viên được cơ quan FLA cất giấy phép hành nghề, họ là những người đại diện cho các tổ chức khác nhau, từ các nhóm tôn giáo cho đến nhân viên giám sát tín dụng của Pricewaterhouse Cooper. FLA cho phát hành những báo cáo hàng năm về việc các công ty tuân thủ các nguyên tắc lao động ra sao. Báo cáo được lưu hành trên Internet và sẽ được tạp chí Báo cáo của Người tiêu dùng (Consummer Reports) đăng tải. Nếu một công ty chấp hành đúng quy định, họ sẽ được gắn một nhãn FLA lên sản phẩm của họ và người tiêu dùng sẽ phân biệt giữa các thương hiệu – sẽ mua sản phẩm nếu họ muốn ủng hộ điều kiện lao động trong ngành quần áo, và từ chối không mua những sản phẩm không có nhãn hiệu của FLA. Hơn 100 trường đại học đã tham gia vào liên minh và đòi các hiệu sách của họ – bán áo phông, sản phẩm may mặc – chỉ bán sản phẩm mang nhãn FLA. Hy vọng là sẽ có ngày các tiệm bán lẻ lớn sẽ làm theo.

Chương trình như trên sẽ không một sớm một chiều cải cách hết được các điều kiện lao động. Nhưng đó là một sự khởi đầu – đưa ra một hệ thống có quy tắc và thể lệ mới trong toàn bộ ngành dệt trên thế giới. Và nó được hình thành không phải do một chính phủ ấn định, mà bằng cách hình thành được một liên minh mà có tiềm năng khiến mỗi người tiêu dùng trở thành một nhà hoạt động nhân quyền và khiến các tổng công ty toàn cầu không còn chỗ nào để lẩn trốn nữa.

“Thật ngạc nhiên khi thấy trong quá khứ cách nhà hoạt động bị mê hoặc ra sao”, Paul Gilding, cựu phụ trách tổ chức Hòa bình Xanh, hiện đang tư vấn cho nhiều công ty đa quốc gia về chủ đề phát triển bền vững, “Trước đây, bạn sẽ xuống đường, vận động dân chúng trong cộng đồng, gây áp lực để chính quyền thay đổi luật pháp, rồi thì các công ty sẽ chống đối, sau đó hai bên cùng nhau thỏa hiệp và trong vòng năm năm, mọi sự sẽ thay đổi. Giờ đây chúng tôi không còn thời gian nhiều đến thế”.

Những nhóm hoạt động tạo được thay đổi lớn ngày nay là những nhóm có khả năng khống chế được các lợi ích kinh tế của các công ty và người tiêu dùng, dùng khả năng đó để bảo tồn môi trường, cải thiện quyền của người lao động để tăng cường nhân quyền – thay vì đứng ra chống đối trực tiếp các công ty. Có nghĩa là hoạt động, hợp tác cùng các công ty và người tiêu dùng, cơ bản là chứng minh cho các công ty thấy rằng họ vừa có thể kiếm lợi vừa bảo tồn được môi sinh. Các nhà hoạt động sẽ cho họ hiểu rằng nếu họ không có những hành động bảo vệ môi sinh và quyền lợi của nhân công, thì các tổ chức hoạt động sẽ tổ chức một chiến dịch vận động, thông qua Internet, liên lạc với giới tiêu dùng ở khắp thế giới để tẩy chay hàng hóa và dịch vụ. Lợi nhuận kinh tế đang là đòn bẩy quyền lực lớn hiện nay. Nhưng đó không phải là đòn bẩy duy nhất. Luật pháp và quy tắc vẫn là yếu tố quan trọng. Chính phủ vẫn là quan trọng. Chính phủ vẫn cần phải thông qua luật lệ theo chiều hướng bảo vệ quyền lợi của toàn thể xã hội, chứ không phải chỉ của riêng một nhóm người tiêu dùng hay các nhà hoạt động. Nhưng thông thường cung cách tốt nhất để mọi người cùng tuân thủ luật lệ chính là sử dụng đòn bẩy, áp lực kinh tế – sự chuyển hóa của chính hệ thống toàn cầu hóa – theo hướng xây dựng hơn là phá hoại.

Trong những năm đầu của thập niên 90, WTO đã phản đối việc Hoa Kỳ cấm tiêu thụ loại cá ngừ bị đánh bắt bằng lưới cũng bắt luôn cá heo. Họ nói sự cấm đoán đó là sự bế quan về thương mại. Quyết định của WTO rõ ràng đã khiến các nhà môi trường đau lòng. Một số các nhà hoạt động đã công kích WTO, đặc biệt trong các cuộc họp tại Seattle vào cuối 1999. Tuy nhiên một số khác quyết định liên hiệp lại và trở thành một những nhân tố tạo lập ra một giá trị mới – phương châm là dân đánh cá không nên giết cá heo chỉ vì để bắt cá ngừ với chi phí thấp. Kết quả là trong các tiệm tạp hóa của Hoa Kỳ, người ta chỉ thấy có bán loại cá ngừ hộp được dán nhãn “cá heo (đã) được bảo vệ”. Làm thế nào mà họ đạt được kết quả đó, trong khi WTO chỉ trích Hoa Kỳ là bế quan thương mại? Vì những nhà hoạt động thông minh đã lách được sự tài phán của WTO và sáng lập ra một phương thức ứng xử mới. Họ vận động giới tiêu dùng và sử dụng Internet để gây áp lực, buộc các công ty đánh cá phải dùng loại lưới có thể bảo vệ được cá heo nếu không muốn mất khách hàng; nhờ đó, rất nhiều cá heo đã được bảo vệ. Tiêu chuẩn đánh cá bảo vệ cá heo tuy vậy vẫn chưa thật hoàn hảo; Một số ngư dân vẫn lách luật và một số công ty đã không tuân theo tiêu chuẩn đó. Nhưng sự xuất hiện một tiêu chuẩn mới như vậy quả là một cải thiện lớn, từ thời đánh cá vô tội vạ trước đó; đó là kết quả của việc các nhà hoạt động đã sáng lập một hệ tiêu chuẩn mới, sử dụng giải pháp liên kết mà không cần đến sự can thiệp thực sự của chính phủ. “Quyết định đặt tiêu chuẩn an toàn cho cá heo chính bắt nguồn từ công luận trong giới tiêu dùng”, Michael Mullen, người phát ngôn thuộc công ty StarKist tuna nói với tôi, “Trong một tuần, chúng tôi đã nhận được khoảng một ngàn cú điện thoại và 300 email của người tiêu dùng về việc này”.

(Trong chương 13 “Người Tháo dỡ”, tôi sẽ nói chi tiết về phương thức vận động trên được những tổ chức lớn như Bảo tồn Quốc tế áp dụng để cứu nhiều khu vực như các cánh rừng nhiệt đới ở Brazil hay các sông hồ lớn nhất thế giới.)

Hãy xem xét thêm một ví dụ của chiến lược nói trên áp dụng vào một lĩnh vực hoàn toàn khác – xóa đói giảm nghèo. Tôi xin giới thiệu một trang mạng mang địa chỉwww.planetfinance.org. Đó là đứa con tinh thần của Jacques Attalli, một giám đốc ngân hàng người Pháp, người đã nhận thức rằng toàn cầu hóa đã tiếp sức cho ông trở thành một nhà tạo lập ra những chiến lược mới trong cuộc chiến chống nghèo đói trên toàn cầu. PlaNet Finace hoạt động như sau: Hiện có khoảng 1,3 tỷ dân sống ở mức 1đô-la/ngày. Một điều mà chúng ta ai cũng biết đó là một trong những phương thức hữu hiệu nhất để xóa nghèo đói cho họ là cho vay những khoản vay nhỏ – từ 100 đến 1.000 đô-la. Khoản tiền đó thường vào tay phụ nữ và hầu như không cần đến tài sản thế chấp. Những người được vay dùng tiền đó để mua máy may, xe đạp để chuyển rau quả của họ ra chợ, trang thiết bị để mở một tiệm cắt tóc ở một vùng quê nghèo ở Bangladesh chẳng hạn. Bản thân những người đó có nghị lực để xóa nghèo, nhưng họ không có nguồn vốn cơ bản, và đó chính là lý do họ cần đến các khoản vay nhỏ. Những người cần vốn thường không được nối mạng và máy vi tính, nhưng các ngân hàng và những tổ chức viện trợ đang giúp đỡ họ thì có điện thoại và khả năng nối mạng. Công ty PlaNet Finance hiện cung cấp dịch vụ nối mạng cho 7.000 các nhóm trợ giúp tài chính nhỏ trên thế giới.

“Trước hết”, ông Attali giải thích, “PlaNet nối mạng với thật nhiều các tiểu ngân hàng, để họ liên lạc và chia sẻ kinh nghiệm trên mạng. Sau đó, chúng tôi giúp các nhóm chưa lên mạng được cài đặt giống trường hợp ở Benin. Tiếp theo, chúng tôi tổ chức một hệ thống đánh giá mức khả tín, tương tự như Moody’s, đánh giá tiềm lực của các tiểu ngân hàng, dựa vào các tiêu chuẩn đạo đức làm việc, hiệu quả giúp đỡ người nghèo và khả năng tài chính của họ. Tiếp theo chúng tôi thành lập một trường đại học trên mạng để đào tạo kỹ năng cho họ và cũng trên mạng, chúng tôi mở một thị trường để những người khách hàng của các tiểu ngân hàng (người vay để sản xuất) có thể bán các sản phẩm của họ trên mạng. Và sau cùng chúng tôi tổ chức PlaNet Bank để hỗ trợ tín dụng cho các tiểu ngân hàng đó và sẽ thu hút các nhà hảo tâm đến trang mạng của chúng tôi để đóng góp tài chính cho các dự án mà các tiểu ngân hàng đang tài trợ, họ có thể giám sát xem tiền tài trợ đựơc sử dụng ra sao”.

Một khi PlaNet Bank có thể xếp hạng và kết nối các tiểu ngân hàng qua Internet, nó có thể giúp họ giảm thứ chi phí đáng kể nhất – chi phí theo dõi và xử lý các nguồn vốn cho vay nhỏ nhoi của họ. Hy vọng là một tiểu ngân hàng được trang bị một thiết bị thông tin, giống như của hãng chuyển phát nhanh Fedex sử dụng theo dõi các bưu kiện, có thể cùng một lúc theo dõi được hàng trăm những món cho vay và lãi suất từ chúng. Nếu chi phí hành chính và giao dịch giảm xuống thì những khoản vốn cho vay có thể được quy tụ và bán cho các đại ngân hàng trên thế giới. Các tiểu ngân hàng thường đặt mức lãi suất 4- 5%/tháng với các khoản vay, để thanh toán các chi phí, đòi hỏi người vay hoàn vốn nhanh chóng để họ có thể quay vòng cho người khác. Thị trường như vậy với mức lãi như vậy sẽ hấp dẫn các ngân hàng lớn – một khi chi phí giao dịch được cắt bỏ. Và điều đó sẽ tạo nhiều thay đổi. Hiện nay nhu cầu để có được các khoản vay nhỏ thật là lớn, nhưng tiền vốn lại chỉ tùy thuộc vào các nhà hảo tâm cá nhân và mức đóng góp của chính phủ. Thế nhưng hãy tưởng tượng với mức 20 tỷ đô-la tín dụng từ các ngân hàng lớn cung cấp, bạn có thể chu cấp tín dụng cho 100 triệu dân nghèo đang có mức sống 1 đô-la/ngày.

Đó là phương cách để bạn biến đổi thế giới – sử dụng toàn cầu hóa để đối phó với chính nó. Trở thành một nhà tạo lập, người không cần đợi đến khi có một chính phủ toàn cầu để chống nghèo đói, mà thay vào đó, sử dụng một hệ thống mới vận động những đại gia lạnh lẽo và vị kỷ, hoạt động trên thương trường tham gia làm từ thiện nhưng lại kiếm được lợi nhuận. Bằng cách biến các ngân hàng thành những nhân tố thích nghi với khái niệm mới như của PlaNet Finance và tạo cho họ những cơ hội kiếm tiền, bạn đã mở ra một loạt các cơ hội mới để xóa đói giảm nghèo.

“Có một câu ngạn ngữ cổ, ‘Nếu bạn tặng một người một con cá, bạn đã giúp họ một bữa ăn. Nhưng nếu bạn dạy cho người đó cách câu cá, bạn sẽ khiến người đó được được no ấm cả đời’”. Ông Attali nói, “Chúng tôi hiện có hàng triệu dân nghèo đã được dạy cho cách câu cá. Hiện nay họ chưa có cần câu. Nhưng thông qua PlaNet, chúng tôi sẽ trang bị cần câu cho rất nhiều người trong số họ”.

Trong một thế giới được kết nối mạng và không còn rào cản, tương lai thuộc về những nhân tố tạo lập và thích nghi – họ là những công ty hay người tiêu dùng, cường quốc hay những cá nhân được trao quyền.