Cái Chết Huy Hoàng - Chương 14 - Phần 2

Cô day ngón tay vào giữa lông mày. “Vậy thì chúng ta cùng tới đó. Và làm hai ly sau khi chúng ta xong việc.”

Whitney không phí thời giờ. Ngay khi Eve và Feeney bước vào phòng ông, ông như nướng chín cả hai người bằng cái nhìn chằm chằm. “Cô đã bắt David để thẩm vấn.”

“Tôi đã làm thế, thưa Chỉ huy.” Eve tiến thêm một bước để chịu trận. “Chúng tôi có hình quay anh ta ở máy an ninh cổng của Kênh bảy lăm vào thời điểm vụ giết Louise Kirski.” Cô không dừng lại, mà lưu loát trình bày báo cáo của mình, giọng nói hoạt bát, ánh mắt điềm tĩnh.

“David nói nó chứng kiến vụ giết người.”

“Anh ta nói đã thấy ai đó, có lẽ đàn ông, mặc áo khoác đen dài và đội mũ, tấn công Kirski, rồi chạy về phía đường Ba.”

“Và nó lo sợ,” Whitney thêm vào, vẫn giữ bình tĩnh. Tay ông vẫn để yên trên bàn. “Rời hiện trường không khai báo về sự việc.” Whitney có lẽ đang rủa thầm, trong lòng ông có lẽ đang sôi sục, nhưng mắt ông vẫn lạnh lùng, khắc nghiệt điềm tĩnh. “Đấy không phải là phản ứng không điển hình của một nhân chứng đối với một vụ phạm tội nghiêm trọng.”

“Anh ta chối đã có mặt ở hiện trường,” Eve nói bình tĩnh. “Cố che giấu, hối lộ. Anh ta đã có cơ hội, Chỉ huy. Và anh ta có liên quan đến cả ba nạn nhân. Anh ta biết Metcalf, làm việc với cô ta trong một dự án, từng đến nhà cô ta.”

Phản ứng duy nhất của Whitney là cuộn ngón tay, rồi duỗi ra. “Động cơ, Trung úy.”

“Trước hết là tiền,” cô nói. “Anh ta gặp khó khăn tài chính và sẽ được giải quyết sau khi di chúc của mẹ anh ta được chứng thực. Các nạn nhân, hay ở trường hợp thứ ba, nạn nhân bị nhằm vào, tất cả đều là phụ nữ mạnh mẽ trong mắt công chúng. Tất cả, ở những phương diện nhất định, đều khiến anh ta khó chịu. Trừ phi luật sư của anh ta cố ngăn cản, Bác sĩ Mira sẽ kiểm tra anh ta, xác định tình trạng cảm xúc và tâm lý của anh ta, chỉ số xác suất về khuynh hướng bạo lực của anh ta.”

Cô nghĩ lại sức ép bàn tay anh ta quanh cổ cô và nhận định xác suất sẽ khá cao.

“Nó không ở New York trong hai vụ giết người đầu tiên.”

“Thưa Chỉ huy.” Cô thoáng thất vọng, nhưng nén lại. “Anh ta có máy bay riêng. Anh ta có thể đi ngay đến bất cứ đâu. Làm giả các kế hoạch bay cũng thật đơn giản. Tôi chưa thể cáo buộc anh ta về tội giết người, nhưng tôi muốn giữ anh ta cho đến khi chúng tôi thu thập thêm bằng chứng.”

“Cô định giam giữ nó về cáo buộc rời bỏ hiện trường tội phạm và hối lộ?”

“Đó là lý do xác đáng để bắt giữ, thưa Chỉ huy. Tôi đang đề nghị lệnh khám xét. Khi chúng ta tìm thấy bất cứ vật chứng nào...”

“Nếu,” Whitney xen ngang. Giờ ông đã đứng lên, không thể ngồi đằng sau bàn nữa. “Đó là một sự khác biệt rất lớn, Dallas. Không có vật chứng, cô không thể cáo buộc nó giết người được.”

“Đó là lý do anh ta chưa bị cáo buộc giết người.” Cô đặt một bản in lên bàn. Cô và Feeney đã tranh thủ đảo qua phòng cô để tính xác suất trên máy. “Anh ta biết hai nạn nhân đầu tiên và Nadine Furst, có mối liên hệ với họ, đã ở hiện trường vụ giết người thứ ba. Chúng tôi nghi ngờ Towers đang che giấu cho ai đó khi bà ấy xóa cuộc gọi cuối trên điện thoại của bà. Bà ấy hẳn đã bao che cho con trai mình. Và mối quan hệ giữa họ căng thẳng do anh ta đánh bạc và bà ấy từ chối giúp đỡ. Với dữ liệu đã biết, xác suất có tội là 83,1 %.”

“Cô chưa tính đến việc nó không có khả năng thực hiện kiểu bạo lực đó.” Whitney đặt tay lên bàn và rướn người ra trước. “Cô chưa tính đến yếu tố đó vào kết quả, đúng không, Trung úy? Tôi biết David Angelini, Dallas. Tôi biết nó rõ như biết con cái của tôi. Nó không phải một tên giết người. Nó khờ khạo, có lẽ vậy. Nó yếu đuối, có lẽ vậy. Nhưng nó không phải một kẻ giết người máu lạnh.”

“Đôi khi yếu đuối và khờ khạo cũng sinh ra chuyện. Chỉ huy, tôi xin lỗi. Tôi không thể thả anh ta.”

“Cô có nghĩ một chút nào về hệ quả tác động đến nó khi nó bị giam giữ không? Khi biết rằng nó bị tình nghi là kẻ giết chết mẹ đẻ?” Không còn lựa chọn nào khác cho ông, Whitney nghĩ, ngoài cầu khẩn. “Tôi không thể chối bỏ rằng nó là đứa hư hỏng. Cha nó muốn mang lại những gì tốt nhất cho nó và Mirina, và ngắm nhìn chúng đón nhận. Từ bé nó quen đòi hỏi, quen có được thứ nó muốn một cách đơn giản. Đúng thế, cuộc sống của nó thật dễ dàng, thuận lợi, thậm chí quá được nuông chiều. Nó đã mắc sai lầm, lỗi lầm trong nhận định, và chúng đã được giải quyết cho nó. Nhưng nó không ác độc, Dallas. Không bạo lực. Tôi biết nó.”

Giọng Whitney không cao lên, mà ngân vang đầy cảm xúc. “Cô sẽ không bao giờ thuyết phục được tôi rằng David cầm dao cắt ngang cổ mẹ nó. Tôi đề nghị cô xem xét, hoãn việc lập hồ sơ tội phạm và thả nó ra theo bảo lãnh.”

Feeney định nói, nhưng Eve lắc đầu. Ông ta có thể ở cấp bậc cao hơn cô, nhưng cô là điều tra chính. Cô được giao trọng trách. “Ba phụ nữ đã chết, thưa Chỉ huy. Chúng ta đang giữ một kẻ tình nghi. Tôi không thể làm điều ông đang yêu cầu. Chỉ huy chọn tôi làm điều tra viên chính bởi vì ông biết tôi sẽ không làm như vậy.”

Ông xoay người và đăm chiêu nhìn ra ngoài cửa sổ. “Lòng thương người không phải thế mạnh của cô, phải không, Dallas?”

Cô nhăn mặt, nhưng không nói gì.

“Ông nhầm rồi, Jack,” Feeney nóng nảy lên tiếng. “Và nếu ông định chỉ trích cô ấy thì ông sẽ phải chỉ trích cả tôi nữa, vì tôi đứng về phía Dallas trong chuyện này. Chúng tôi có đủ lý lẽ để bắt giam anh ta vì những sai phạm nhỏ, để anh ta khỏi tự do đi lại, đó là điều chúng tôi đang làm.”

“Cô sẽ hủy hoại nó.” Whitney quay lại. “Nhưng đó không phải vấn đề của cô. Cô sẽ có lệnh khám, và cô tiến hành khám xét. Nhưng với tư cách là Chỉ huy, tôi ra lệnh cho cô phải làm vụ này công khai. Cô tiếp tục theo dõi. Nộp báo cáo lên bàn tôi lúc mười bốn giờ.” Ông vụt nhìn lần cuối sang Dallas. “Giải tán.”

Cô bước ra, ngạc nhiên cảm thấy chân mình như thủy tinh: mong manh, dễ vỡ, có thể bị tan tành với một vết quệt tay bất cẩn.

“Ông ấy mất bình tĩnh, Dallas,” Feeney nói, níu cánh tay cô. “Ông ấy đang tổn thương và trút bực dọc lên cô.”

“Không tồi lắm.” Giọng cô dữ dội và sắc lạnh. “Lòng thương người không phải là điểm mạnh của tôi, đúng không? Tôi chẳng biết quái gì về quan hệ gia đình và lòng trung thành cả, đúng không?”

Khó chịu, Feeney đá chân. “Nào Dallas, cô không định xem đấy là chuyện cá nhân chứ.”

“Không ư? Ông ấy ủng hộ tôi rất nhiều lần. Giờ ông ấy bảo tôi đứng về phía ông ấy, và tôi phải nói xin lỗi, không đâu. Là chuyện cá nhân khốn kiếp đấy, Feeney.” Cô xua tay ông ta. “Lần sau đi uống nhé. Giờ tôi không thoải mái.”

Không biết làm gì, Feeney cho tay vào túi. Eve quay bước theo một hướng, viên Chỉ huy vẫn đằng sau cánh cửa hướng ngược lại. Feeney buồn bã đứng giữa họ.

Eve trực tiếp giám sát việc khám xét ngôi nhà đá nâu của Marco Angelini. Cô không cần ở đó. Nhân viên khám xét biết việc của họ, và thiết bị của họ tốt trong chừng mực ngân sách cho phép. Nhưng, cô vẫn phun thuốc lên tay, đi ủng, và vào ngôi nhà ba tầng để tìm bất cứ cái gì có liên quan đến vụ án, hoặc, nghĩ đến khuôn mặt Whitney, phá vỡ vụ án.

Marco Angelini vẫn ở trong nhà. Vì là chủ nhà và là cha của kẻ tình nghi, ông ta có cái quyền ấy. Eve lờ đi sự có mặt của ông ta, cũng như lờ đi đôi mắt xanh lạnh lùng theo dõi từng cử động của cô, vẻ phờ phạc trên mặt ông ta, sự co giật trên cằm ông ta.

Một nhân viên khám xét dùng máy cảm ứng cầm tay tìm rất kỹ tủ đồ của David để kiếm vết máu. Trong khi ông ta làm việc, Eve tỉ mỉ tìm kiếm phần còn lại của căn phòng.

“Có thể hắn đã vứt vũ khí,” nhân viên khám xét bình luận. Ông ta là một cựu binh già, răng vẩu, có biệt hiệu Beaver. Ông ta quét máy cảm ứng, dây đeo máy quấn bên vai trái, rủ xuống chiếc áo khoác thể thao giá cả nghìn đô.

“Hắn ta giết ba phụ nữ với cùng một vũ khí,” Eve trả lời, nói với chính cô hơn là nói cho Beaver nghe. “Phòng thí nghiệm xác nhận. Sao giờ hắn lại vứt đi?”

“Có lẽ hắn xong việc rồi.” Máy cảm ứng chuyển từ âm thanh rì rì sang một tiếng bíp. “Chỉ là một chút dầu salad,” Beaver thông báo. “Dầu ô liu sống. Dính vào chiếc cà vạt đắt tiền của hắn ta. Có lẽ hắn xong việc rồi,” Beaver nhắc lại.

Ông ta ngưỡng mộ các thám tử, từng có tham vọng trở thành thám tử. Công việc gần nhất với mơ ước ấy mà ông đã làm là kỹ thuật viên hiện trường. Nhưng ông đọc tất cả các câu chuyện trinh thám có trên đĩa cứng.

“Cô thấy đấy, số ba giống như một con số bí ẩn. Một con số quan trọng.” Mắt ông ta đanh lại đằng sau cặp kính màu khi mắt thần phát hiện một vết nhỏ bột tan trên cổ tay áo. Ông ta nói tiếp, hâm nóng chủ đề. “Kẻ này giết ba phụ nữ, những người hắn biết, xuất hiện rất nhiều trên truyền hình. Có lẽ hắn ham muốn họ.”

“Nạn nhân đầu tiên là mẹ anh ta.”

“Này.” Beaver dừng lại đủ lâu để quay sang liếc nhìn Eve. “Cô chưa bao giờ nghe nói đến Oedipus à? Gã người Hy Lạp, cô biết đấy, cũng ham muốn mẹ của anh ta. Dù sao, hắn đã giết ba người, rồi vứt vũ khí và bộ quần áo hắn mặc khi giết họ. Tuy nhiên, gã này có đủ quần áo cho sáu người mặc.”

Eve nhíu mày, bước về tủ quần áo rộng rãi, nhìn giỏ đựng đồ tự động, ngăn kéo gắn động cơ. “Hắn ta thậm chí không sống ở đây.”

“Gã này giàu thật?” Với Beaver, điều đó giải thích tất cả. “Có vài bộ đồ hắn chưa bao giờ mặc. Cả giày nữa.”

Ông ta cúi xuống, nhặt một đôi ủng da, lật ngược lại. “Sạch tinh, thấy chưa?” Ông ta quét máy cảm ứng lên đế giày chưa hề trầy xước. “Không bụi bẩn, không tì vết, không sợi vải.”

“Điều đó chỉ khiến hắn mang tội quá nuông chiều bản thân. Khỉ thật, Beaver, hãy tìm vết máu.”

“Tôi đang tìm đây. Có lẽ hắn vứt cả chiếc áo đã mặc rồi.”

“Ông là người lạc quan thực sự đấy, Beaver.”

Bực mình, cô quay sang chiếc bàn sơn bóng hình chữ U và bắt tay lần tìm trong các ngăn. Cô sẽ mang theo mấy cái đĩa về mở trên máy tính riêng của cô. Chúng có thể mang lại may mắn và cho ra một số thư trao đổi giữa David Angelini và mẹ anh ta hoặc Metcalf. Hoặc may mắn hơn, cô nghĩ, tìm được đoạn nhật ký dông dài mô tả các vụ giết người.

Hắn ta để chiếc ô ở chỗ quái nào nhỉ? Cô tự hỏi. Chiếc giày nữa? Cô không biết liệu những nhân viên khám xét ở New Los Angeles hoặc những người ở châu Âu có may mắn hơn không. Ý nghĩ phải lần lại mà tìm kiếm tất cả căn nhà nhỏ nhắn, ấm cúng và những chỗ lẩn trốn xa xỉ của David Angelini khiến cô thấy như mắc phải một ca táo bón nặng.

Rồi cô tìm được con dao.

Thật quá đơn giản. Mở ngăn kéo giữa của bàn làm việc, và nó nằm đó. Dài, mỏng và chết người. Cán dao rất đẹp, có lẽ được làm bằng ngà voi thứ thiệt, trông nó giống một món đồ cổ hoặc một thứ hung khí quốc tế. Săn ngà voi, hoặc mua nó dưới bất cứ hình thức nào đều được xem là phi pháp trên Trái Đất từ cách đây hơn nửa thế kỷ, sau khi loài voi châu Phi gần như tuyệt chủng.

Eve không phải tay chơi đồ cổ, cũng không phải chuyên gia tội phạm môi trường, nhưng kiến thức pháp y của cô đủ cho cô biết rằng hình dạng và độ dài của lưỡi dao là phù hợp.

“A ha.” Ca táo bón đã biến đi, như một người khách đen đủi. Thay vào đó là sự thành công thấy rõ. “Có lẽ rốt cuộc ba không phải là con số ma thuật đối với anh ta.”

“Hắn giữ nó? Tên khốn.” Thất vọng vì sự ngu ngốc của một kẻ giết người, Beaver lắc đầu. “Gã này ngu thật.”

“Quét thử nó xem,” cô ra lệnh, đưa con dao cho ông ta.

Beaver đưa thân máy quét, chuyển chương trình từ chế độ dò tìm trên quần áo. Sau một chút điều chỉnh thấu kính, ông ta rà cái đầu hình phễu của thiết bị lên con dao. Máy quét kêu bíp bíp đầy hữu ích.

“Có cái khỉ gì đấy,” Beaver lẩm bẩm, những ngón tay mập mạp của ông ta thao tác trên nút điều khiển giống như nghệ sĩ dương cầm lướt trên phím đàn. “Vải - có lẽ là giấy. Một dạng chất dính. Dấu vân tay trên cán. Cô muốn in ra không?”

“Có.”

“Rồi.” Máy quét nhả ra một tờ giấy vuông lấm chấm dấu vân tay. “Lật nó lại. Và đây rồi. Máu đây. Không nhiều lắm.” Ông ta nhíu mày, rà ống phễu dọc theo lưỡi dao. “Sẽ may mắn nếu đủ để phân loại, chứ chưa nói đến làm DNA.”

“Ông vẫn có cái vẻ khách quan đó, Beaver. Máu lâu chưa?”

“Thôi nào, Trung úy.” Đằng sau mắt kính cảm biến, mắt ông ta mở lớn và hoài nghi. “Cô biết tôi không thể trả lời được nếu dựa vào máy xách tay. Phải tịch thu nó. Điều duy nhất mà cái máy nhỏ nhắn này làm được là nhận dạng. Không có da,” ông ta tuyên bố. “Sẽ tốt hơn nếu cô có mẫu da.”

“Tôi sẽ kiểm tra máu.” Khi cô niêm phong con dao làm bằng chứng, một cử động khiến cô để mắt. Cô nhìn lên, vào phía bóng tối, cặp mắt đáng nguyền rủa của Marco Angelini.

Ông ta liếc xuống con dao, rồi nhìn lên mặt cô. Điều gì đó thoáng qua trong mắt ông ta, điều gì đó thình lình khiến cơ mặt ông ta giật lên.

“Tôi muốn gặp cô một phút, Trung úy Dallas.”

“Tôi không thể cho ông lâu hơn thế.”

“Không lâu đâu.” Mắt ông ta liếc nhìn Beaver, rồi nhìn lại con dao Dallas đã cho vào túi. “Gặp riêng.”

“Được.” Cô gật đầu ra hiệu cho tay cảnh sát đang đứng gần Angelini. “Bảo một người trong đội đến đây và hoàn tất việc lục soát.” Cô ra lệnh cho Beaver, rồi đi theo Angelini ra khỏi phòng.

Ông quay về phía bậc thềm hẹp, trải thảm, tay ông ta bám dọc trên lan can bóng loáng khi bước lên. Đến đầu cầu thang, ông ta rẽ phải và bước vào một căn phòng.

Một văn phòng, Eve nhận ra là vậy. Ánh nắng buổi chiều rực rỡ. Ánh sáng rọi vào phản chiếu trên bề mặt thiết bị liên lạc, dội vào và ánh lên từ chiếc bàn bán nguyệt đen sẫm và mượt mà, rọi vào và tụ lại trên bề mặt sàn nhà sáng bóng.

Như thể khó chịu vì cường độ ánh sáng, Angelini nhấn công tắc khiến các cửa sổ chuyển sang màu hổ phách. Giờ căn phòng đã có bóng tối ở các gờ tường vàng nhạt.

Angelini bước thẳng đến một bức tường và yêu cầu một ly whisky pha đá. Ông ta cầm ly rượu vuông trong tay, nhấp một ngụm từ tốn.

“Cô tin là con trai tôi giết mẹ nó và hai phụ nữ kia.”

“Con trai ông được xét hỏi về những cáo buộc đó, ông Angelini. Anh ta bị tình nghi. Nếu ông có câu hỏi nào về thủ tục, ông nên nói chuyện với luật sư của anh ta.”

“Tôi đã nói chuyện với họ.” Ông ta lại hớp rượu. “Họ tin rằng có nhiều khả năng cô sẽ buộc tội nó, nhưng nó sẽ không bị kết án.”

“Điều đó tùy thuộc vào ban bồi thẩm.”

“Nhưng cô nghĩ là nó sẽ bị kết tội.”

“Ông Angelini, nếu và khi tôi đã bắt con trai ông và cáo buộc anh ta tội giết ba người, cấp độ một, thì đó là bởi tôi tin anh ta sẽ bị truy tố, xét xử, kết án về những tội đó, và rằng tôi có bằng chứng để đảm bảo sự kết án đó.”

Ông ta nhìn vào cái túi dã chiến trong đó cô giữ bằng chứng. “Tôi đã tìm hiểu một chút về cô, Trung úy Dallas.”

“Vậy sao?”

“Tôi thích biết những chuyện kỳ quặc,” ông ta nói với nụ cười không chút đùa cợt thoáng hiện. “Chỉ huy Whitney tôn trọng cô. Và tôi tôn trọng ông ấy. Vợ cũ của tôi ngưỡng mộ tính ngoan cường và thận trọng của cô, và bà ấy không phải là người ngờ nghệch. Bà ấy đã nói về cô, cô biết không?”

“Tôi không biết.”

“Bà ấy rất ấn tượng trước tâm hồn cô. Một cảnh sát có tâm hồn trong sạch, bà ấy đã nói thế. Cô rất giỏi trong công việc của mình, đúng không, Trung úy?”

“Đúng, tôi làm rất tốt.”

“Nhưng cô mắc những sai lầm.”

“Tôi cố mắc sai lầm ở mức tối thiểu.”

“Một sai lầm trong nghề nghiệp của cô, cho dù nhỏ nhặt thế nào, cũng có thể gây ra nỗi đau to lớn cho người vô tội.” Ông ta vẫn nhìn vào mắt cô, không ngớt. “Cô tìm thấy một con dao trong phòng con trai tôi.”

“Tôi không thể bàn luận về việc đó với ông.”

“Nó hiếm khi về căn nhà này,” Angelini nói thận trọng. “Có lẽ ba hay bốn lần một năm. Nó thích ngôi nhà ở Long Island hơn mỗi khi đến New York.”

“Có lẽ vậy, ông Angelini, nhưng anh ta đã ở ngôi nhà này vào đêm Louise Kirski bị giết.” Giờ đã hết kiên nhẫn, cô hăm hở muốn đem vật chứng về phòng xét nghiệm, Eve lắc vai. “Ông Angelini, tôi không thể tranh luận tình hình vụ án với ông...”

“Nhưng cô rất tự tin rằng tình hình vụ án thuận lợi,” ông ta cắt ngang. Khi cô không trả lời, ông ta lại nhìn chằm vào cô. Rồi ông ta nốc một hơi hết ly rượu, và để nó sang bên cạnh. “Cô đã nhầm, Trung úy. Cô bắt nhầm người.”

“Ông tin con trai ông vô tội, ông Angelini. Tôi hiểu được.”

“Không phải tin, Trung úy, mà là biết. Con trai tôi không giết ba phụ nữ ấy.” Ông ta hít sâu, như một thợ lặn bắt đầu ngụp xuống mặt nước. “Mà là tôi.”