Sự Hiền Hòa Của Sói - Phần 24

Vào buổi tối ngày thứ sáu, lần đầu tiên họ nhìn thấy đích đến. Donald bước lê theo sau - ngay cả Bà Ross có thể đi nhanh hơn anh vì chân anh bị phồng rộp. Không thể nào bỏ rơi đôi giày ủng gây cực hình, nhưng ngay cả với cái chân đã hoàn toàn được băng bó kín, mỗi bước là một cơn đau cực độ. Hơn nữa, vết thương bị dao đâm lại đau nhức, mà anh giữ bí mật đối với hai người kia. Ngày hôm qua, anh tin rằng vết sẹo sưng tấy trở lại, và lấy lý do dừng bước để lo chuyện riêng tư anh cởi nút áo để xem xét. Vết sẹo vẫn kín, nhưng sưng nhẹ và rỉ ra một ít chất dịch trong. Anh lo lắng sờ để xem chất dịch tiết ra từ đâu. Có lẽ cuộc hành trình đầy gian khổ đã làm cho anh mất sức; khi họ dừng lại nó sẽ phục hồi.

Vì thế, anh vui mừng tột độ khi nhận ra thương điếm từ đằng xa - mà trong những thời khắc bị đau đớn anh nghĩ nó không hiện hữu. Vào lúc này, Donald nghĩ không có gì vinh quang cho bằng được nằm trên một chiếc giường trong một thời gian dài. Anh vui mừng nhớ lại rằng bí mật của hạnh phúc là sự biến đổi giống như sau một hồi đập đầu vào tường rồi dừng lại.

Nhà Hanover nhằm trên một khu đất cao; một con sông chảy vòng bao bọc ba phía. Có cây cối túm tụm nhau phía sau, là cây cối đầu tiên mà họ nhìn thấy sau nhiều ngày - những cây cáng lò uốn cong, còi cọc và những cây thông rụng lá, tuy chỉ cao hơn đầu người một chút nhưng vẫn là cây. Con sông trải rộng và lặng lờ nhưng không bị đóng băng - nhiệt độ chưa xuống thấp lắm - và mang màu đen trên nền tuyết trắng. Khi họ tiến đến khá gần mà vẫn chưa thấy một bóng người, Donald cảm nhận mối sợ hãi dai dẳng là ở đây chẳng có người nào cả.

Thương điếm được xây dựng theo cách thức như Pháo đài Edgar nhưng rõ ràng là cũ kỹ hơn. Hàng cọc tường thành nghiêng ngả; các tòa nhà màu xám và xác xơ qua những đợt tấn công dồn dập của thời tiết. Nói chung, tất cả đều đã sờn mòn, cho dù đã có nỗ lực để phục hồi nhưng bộ mặt bên ngoài vẫn nói lên sự bỏ phế. Donald mơ hồ nhận ra lý do cho tình trạng này. Bây giờ họ đang ở sâu trong vùng Nền đá Canada phía nam Vịnh Hudson. Có một thời, vùng này là nguồn phong phú của lông thú cho Công ty, nhưng lúc ấy đã lâu lắm rồi. Nhà Hanover là phế tích của những vinh quang ngày xưa, giống như một cơ quan đã teo lại trên một thân thể. Nhưng bên ngoài tường thành và chĩa ra phía bình nguyên là một vòng những khẩu đại bác nhỏ, và sau đợt bão tuyết có người nào đó đã chịu khó đi ra bên ngoài và quét dọn lớp tuyết khỏi các khẩu súng này. Những hình thù màu đen ngồi xổm, tương phản với tuyết, là dấu hiệu duy nhất cho thấy hoạt động của con người.

Cánh cổng của tường thành khép hờ, và có những dấu vết do con người để lại đây đó. Dù ba người và chiếc xe trượt tuyết đã hiện rõ trên nền tuyết trong ít nhất một giờ, vẫn không có ai ra đón tiếp.

“Nơi này trông hoang vắng.” Donald nhận xét, mắt nhìn qua Parker để chờ xác định. Parker không trả lời, nhưng đẩy cánh cửa, và chỉ đẩy được dăm bảy phân thì cánh cửa bị kẹt do sức nặng của lớp tuyết phía sau. Khoảnh sân bên trong không được quét tuyết - là cái tội nặng ở Pháo đài Edgar.

“Ông có chắc đúng là nơi đây không?” Donald hỏi, và rồi thấy mình khó mà chống lại thân người mình ngã xuống để anh cởi đôi giày ủng ra. Anh không thể chịu nổi cơn đau thêm một thời khắc nào nữa.

Parker trả lời: “Đúng.”

Donald nhìn quanh khoảnh sân hoang vu: “Có lẽ nó đã bị bỏ hoang.”

“Không, không bị bỏ hoang.” Parker nhìn qua một cuộn khói mỏng tỏa lên từ phía sau một nhà kho thấp. Cuộn khói có cùng màu như bầu trời. Donald cố vươn mình lên trên đôi chân - một nỗ lực siêu nhiên - và lảo đảo đi vài mét.

Rồi một người đàn ông bước quanh góc một ngôi nhà và đứng sững lại: một người cao lớn, da sẫm với đôi vai mạnh mẽ và mái tóc dài, trông hoang dại. Dù cho cơn gió lạnh băng, anh chỉ mặc một chiếc áo lót bằng vải bông mềm mở ra đến thắt lưng. Anh ta đăm đăm nhìn họ, miệng há hốc, lộ vẻ khó hiểu, thân hình rộng chùng xuống và tê cóng vì lạnh. Bà Ross trân trối nhìn như thể trông thấy một hồn ma. Parker bắt đầu giải thích với anh rằng họ từ xa đến, rằng Donald là nhân viên Công ty, nhưng trước khi ông nói dứt, anh ta quay người đi trở lại theo lối anh đã đến. Parker nhìn Bà Ross và nhún vai. Donald nghe bà thì thầm: “Tôi nghĩ anh ta đã say,” và mỉm cười chán nản với chính mình. Rõ ràng là bà không có kinh nghiệm giết thời gian trong mùa đông ở một thương điếm tĩnh lặng.

Bà Ross hỏi: “Ta có nên đi theo anh ấy không?” Cũng như mọi lần, bà có ý hỏi Parker, nhưng Donald lê bước tới, chân anh tê cóng nhưng thời may không còn đau nữa.

Đây là thương điếm của Công ty, vì thế anh cảm thấy bây giờ mình nên lấy quyền dẫn dắt: “Tôi tin chắc sẽ có ai đó đi ra trong một phút. Bà Ross biết không, ở một thương điếm trong mùa đông, đặc biệt là thương điếm bị cô lập như thế này, nhân viên tìm mọi cách để được khuây khỏa mà giết thời giờ.”

Hai con chó vẫn còn ở bên ngoài cánh cổng, bây giờ đang sủa và vẫy vùng mãnh liệt. Có vẻ như chúng không thích đứng yên mà không cắn nhau. Như bây giờ, hình như chúng đang cố giết nhau. Parker quay lại la thét với chúng, cầm cây gậy quật chúng; một chiến thuật trông không hay ho gì nhưng có hiệu quả.

Sau ít phút, có tiếng bước chân trên mặt tuyết và một người đàn ông khác đi vòng quanh góc tòa nhà. Donald nhẹ nhõm thấy đó là người da trắng, có lẽ lớn hơn anh vài tuổi, với gương mặt nhợt nhạt, âu lo, và mái tóc hoe đỏ bù xù. Anh này lộ vẻ bị làm phiền hà nhưng tỉnh táo.

Anh ta cáu kỉnh cất tiếng: “Trời ơi! Như vậy đúng là...”

“Xin chào!” Donald càng vui hơn khi nghe ngữ âm Scotland.

Người đàn ông trấn tĩnh lại phần nào: “À... xin chào. Tôi xin lỗi, đã lâu lắm rồi chúng tôi mới có khách, mà lại trong mùa đông... bất thường. Tôi đã quên cách cư xử…”

Donald chìa bàn tay ra, lắc lư: “Donald Moody, kế toán Công ty ở Pháo đài Edgar.”

“À, Ông Moody. Ờ... Nesbit. Frank Nesbit, phó quản trị viên.”

Trong khoảnh khắc, Donald hoang mang vì cụm từ “phó quản trị viên”, vì đó là chức danh anh chưa từng nghe nói đến, nhưng anh vẫn nhớ mình nên tỏ ra bay bướm đối với Bà Ross: “Xin giới thiệu đây là Bà Ross, và đây là...” Parker đã quay lại, trông có vẻ đe dọa khi cầm cây gậy trên tay, “... à, Parker, người đã dẫn đường cho chúng tôi đến đây.”

Nesbit bắt tay với họ, rồi nhìn xuống chân của Donald, lấy làm kinh hãi: “Trời ơi, chân anh... anh không có giày ủng sao?”

“Có chứ, nhưng tôi bị khó chịu nên đã cởi ra, đằng kia... không có chi đâu, thật mà. Chỉ là mấy bong bóng nước, anh biết đó.”

Donald cảm thấy cảm giác như đầu nhẹ tênh dễ chịu, và tự hỏi liệu mình sắp ngã xuống hay không. Nesbit không có vẻ vội vàng đưa họ vào bên trong, tuy trời đã tối và lạnh thêm. Anh có vẻ như lo lắng và luống cuống, tự hỏi có nên cho họ ở trong nhà khách đã bị bỏ hoang, hoặc chính anh phải ra khỏi khu nhà của mình để nhường cho họ... Cuối cùng, sau khi đã dao động trong khoảng thời gian mà đối với Donald như cả hàng giờ vì cái chân đã mất cảm giác, Nesbit dẫn họ vòng qua góc tòa nhà, đi dọc một hành lang không ánh sáng rồi mở ra cánh cửa của một gian phòng rộng, không được sưởi ấm.

“Có lẽ xin quý vị vui lòng chờ ở đây trong chốc lát. Tôi sẽ đi tìm người đốt lò sưởi và mang món nóng gì đó. Xin lỗi...”

Nesbit đi ra ngoài, đóng sầm cánh cửa lại. Donald khập khiễng đi đến lò sưởi trống không và buông người xuống chiếc ghế kế bên.

Parker nói ông đi chăm sóc hai con chó, rồi biến mất. Donald nghĩ đến Pháo đài Edgar, nơi khách viếng thăm luôn là lý do cho niềm hồ hởi, và được đối xử như hoàng gia. Có lẽ phân nửa số nhân viên đã bỏ đi; anh nhận thấy lò sưởi rất dơ bẩn, rồi anh không thể chống chọi được nữa với cơn kiệt sức đang chờ cho anh có lý do mà nhắm mắt lại.

“Anh Moody!”

Tiếng nói của bà sắc lẻm, khiến cho anh phải mở mắt ra.

“Hả? Vâng, Bà Ross?”

“Ta không nên nói gì về lý do tại sao ta đến đây, không nên nói ra tối nay. Để xem sự thể như thế nào đã. Ta không muốn họ chuẩn bị đề phòng rồi chống chế.”

“Tùy ý bà.” Anh lại nhắm mắt. Anh cần ngủ rồi mới có thể thảo luận một cách thông suốt. Quả là hạnh phúc khi được thoát ra khỏi cái lạnh cắt da.

Anh có cảm tưởng mình mới thiếp đi chỉ trong chốc lát, nhưng khi anh mở mắt, lò sưởi đã được đốt, còn Bà Ross thì không thấy đâu. Khung cửa sổ đã tối đen; anh không biết bây giờ là mấy giờ. Nhưng quả là sự xa hoa được ngồi trong không gian ấm áp mà anh không muốn cử động. Ước gì có một chiếc giường; nó sẽ trả lại sinh lực cho anh. Rồi tuy vẫn còn mệt nhọc, anh vẫn nhận ra có một người khác trong phòng. Anh quay đầu và thấy một phụ nữ mang hai dòng máu, người đã mang vào một tô nước nóng và ít bông băng. Cô gật đầu với anh rồi ngồi trên sàn, kế bên đôi chân anh, bắt đầu tháo ra lớp vải lanh dính máu khô.

“Cám ơn cô.” Donald có phần ngượng nghịu vì việc chăm sóc, và vì lớp bông băng cũ trông gớm ghiếc. Anh không thể kiềm nén ngáp một cái như muốn trẹo quai hàm: “Tôi là... Donald Moody, kế toán Công ty ở Pháo đài Edgar. Tên cô là gì?”

Cô ít nhìn anh, chỉ lo rửa vết thương trên chân anh. Donald tự cho phép mình ngả đầu tựa thành ghế, thấy mừng vì không phải nói nhiều hoặc thậm chí không phải suy nghĩ. Có thể cho đến ngày mai anh mới thi hành nhiệm vụ của mình. Từ bây giờ đến lúc ấy, theo nhịp độ bàn tay người phụ nữ da ngăm đen đang lau chùi chân anh, anh có thể ngủ và ngủ và ngủ.

***

Khoảnh sân hoàn toàn tối đen, và tôi không thể nghe tiếng hai con chó nữa, như thế quả là điều lạ lùng. Bình thường, khi chó từ bên ngoài đi đến thì tất cả các con chó thi nhau sủa và gầm gừ. Nhưng ở đây, khi chúng tôi đến thì hoàn toàn yên ắng. Tôi lên tiếng gọi Parker. Một trận gió thổi quật quanh tôi và ít bông tuyết đâm vào mặt tôi. Không có tiếng trả lời, và tôi lại kinh sợ; có lẽ vì bây giờ chúng tôi đã đến đây, ông ta đã đi bất kỳ đâu đấy để lo công chuyện riêng của ông. Ngay khi tôi vừa cảm thấy lệ dâng lên khóe mắt, có người mở một cánh cửa bên tay trái tôi và một luồng ánh sáng hình chữ nhật tỏa xuống mặt tuyết.

Có tiếng tranh cãi nóng vội, và tôi nghe tiếng của Nesbit: “Không được nói gì về ông ấy thì tốt hơn, nếu không sẽ biết tay tôi. Đúng ra, tốt hơn mà đứng ngoài vụ này.”

Tôi không nghe rõ tiếng nói kia - nhưng đấy là tiếng của một phụ nữ đang phản ứng lại. Không kịp nghĩ ngợi cho thông suốt, tôi bước vào bóng tối của một mái hiên. Nhưng tôi không còn nghe gì nữa, cho đến khi Nesbit chốt lại cuộc tranh cãi - nếu đúng là tranh cãi - với lời càu nhàu: “Ôi, vì Chúa, cứ làm như cô muốn. Chỉ cần chờ cho đến khi ông ấy trở về.”

Cánh cửa đóng sầm và Nesbit bước ngang qua khoảnh sân, một bàn tay chải qua tóc nhưng không làm cho tóc anh bớt lù xù. Tôi mở cánh cửa rồi khép lại sau lưng mình và bước ngang qua khoảnh sân để gặp anh, làm như là lúc ấy tôi vừa mới đi ra ngoài.

“À, anh Nesbit, anh ở đây...”

“À, Bà...” anh ngưng bặt, hai bàn tay giơ lên.

“Ross.”

“Bà Ross, đúng rồi. Tôi xin lỗi. Tôi vừa...” Anh cười: “Tôi xin lỗi vì đã bỏ bê bà. Có ai đốt lò sưởi chưa? Xin bà thứ lỗi cho chúng tôi lúc này. Tôi e chúng tôi neo người, và vào mùa này trong năm...”

“Không cần thiết phải xin lỗi. Chúng tôi đến đây quá bất ngờ làm phiền anh.”

“Không làm phiền. Không làm phiền gì hết. Công ty tự hào có tính hiếu khách và đại loại như thế... Còn hơn là hân hạnh, xin bà tin đi.” Anh mỉm cười với tôi, dù có vẻ gượng gạo: “Xin mời bà dùng bữa tối với tôi... dĩ nhiên là cả Ông Moody và Ông Parker nữa.”

“Anh Moody thiếp ngủ khi tôi đi ra ngoài. Tôi e anh ấy có nhiều bong bóng nước.”

“Còn bà không có sao? Phải nói đó là đáng kể. Bà nói bà đi từ đâu?”

“Chúng ta đi vào bên trong nhé? Trời lạnh quá...”

Tôi không chắc phải mở đầu câu chuyện như thế nào. Tôi đã muốn bàn với Parker về việc này, nhưng Parker đã đi đâu mất. Tôi đi theo Nesbit dọc một hành lang khác - dường như có nhiều cửa mở ra hành lang này - rồi đi vào một gian phòng nhỏ ấm cúng, có lò sưởi đang cháy. Một chiếc bàn loại cao cấp đặt ở giữa phòng, với hai chiếc ghế. Trên tường là những ảnh màu của ngựa đua và võ sĩ đoạt giải, được cắt ra từ các tạp chí.

“Xin mời bà ngồi. Vâng. Ở đây có phần ấm hơn, phải không? Không gì bằng một lò sưởi nóng ở nơi chốn quái quỷ này.”

Rồi thình lình anh bước ra khỏi phòng mà không báo trước, khiến cho tôi tự hỏi chuyện gì vừa xảy ra. Tôi chưa mở miệng gì hết.

Trong số các võ sĩ và ngựa đua có vài ảnh đẹp, và tôi thấy rằng đồ nội thất cũng thuộc loại tốt; hàng nhập khẩu chứ không phải nội địa. Chiếc bàn làm bằng gỗ xà cừ, bóng lên qua sử dụng và thời gian; hai chiếc ghế có lưng dựa hình đàn lia, có lẽ là hàng Ý. Phía trên lò sưởi treo một tấm ảnh thể hiện cảnh đi săn được lồng khung mạ vàng, nền đậm và áo choàng đỏ sáng rực của thợ săn. Và có ly cốc bằng thủy tinh chì nặng, được chạm một cách tinh tế với hình những con chim. Một người nào đó ở đây có đầu óc thưởng ngoạn và có văn hóa, và tôi nghĩ đấy không phải là Nesbit.

Nesbit quay trở vào với thêm một chiếc ghế: “Bình thường, bà biết chứ...” anh ta nói như thể mình đã không đi khỏi chúng tôi chỉ có hai người, “… ý tôi nói là nhân viên cấp cao, vì thế chúng tôi rất thầm lặng. Tôi đã yêu cầu bữa tối, để... A ha, dĩ nhiên là vậy!” Vừa ngồi xuống anh ta đã đứng bật dậy: “Tôi nghĩ bà thích một ly cô-nhắc. Tôi có loại ngon. Tự tôi mang đến, từ Kingston[45], mùa hè hai năm trước.”

[45] Kingston: thành phố ở miền đông-nam tỉnh Ontario, Canada, bên bờ Hồ Ontario.

“Chỉ một ly nhỏ thôi. Tôi sợ nếu uống thêm sẽ gục tại chỗ.” Đấy là sự thật. Lần thứ nhất sau nhiều ngày, không gian ấm cúng đã ngấm vào tay chân tôi, khiến cho đôi mắt tôi nặng trĩu.

“Được, chúc sức khỏe. Chuyện gì đã khiến cho bà và hai người bạn của bà đi đến đây - để chúng tôi bất ngờ có hân hạnh đón tiếp?”

“Chúng tôi đi từ Himmelvanger - anh biết chỗ ấy không?”

Nesbit đăm đăm nhìn tôi qua đôi mắt nâu mãnh liệt: “Không, không, tôi không biết.”

“Đấy là một cộng đồng tín đồ Lutheran. Người Na Uy. Họ muốn xây dựng một cộng đồng nơi họ có thể sống tốt đẹp trong tầm nhìn của Thượng đế.”

“Thật đáng khâm phục.”

Những ngón trên bàn tay phải của anh không ngừng mân mê đuôi cây bút chì, xoay qua xoay lại, khẽ gõ trên mặt bàn; và tôi nhớ ra cái gì đấy. Laudanum, hoặc có lẽ strychnine. Có Trời mà biết được vận rủi nào đã mang anh đến đây, cách xa dược sĩ và bác sĩ.

“Chúng tôi đến đây bởi vì...” Tôi ngưng lại, thở nặng nề: “Quả là đau đớn mà kể lại... đứa con trai tôi bỏ đi khỏi nhà. Lần cuối cùng người ta thấy nó là ở Himmelvanger, và từ đó, có dấu chân dẫn đến hướng này.”

Khuôn mặt của Nesbit, đôi mắt mãnh liệt đã khiến tôi rùng mình, bây giờ có phần dịu lại. Có lẽ anh đang trông chờ điều gì khác.

“Dấu chân dẫn đến hướng này phải không? Đến tận đây hay sao?”

“Có vẻ như thế, mặc dù sau cơn bão tuyết, chúng tôi không thể dám chắc.”

Anh xác nhận với vẻ suy tư: “Đúng vậy.”

“Nhưng Ông Parker nghĩ có thể là ở đây. Không có nhiều khu định cư trong vùng này, thật ra tôi tin là có rất ít.”

“Đúng. Chúng tôi khá là biệt lập. Anh ấy... trẻ lắm không, con trai bà đó?”

Tôi nhìn xuống: “Mười bảy. Anh có thể hiểu được tôi lo lắng đến thế nào.”

“Vâng, đương nhiên. Còn Ông Moody...”

“Anh Moody đã có lòng tốt mà đi cùng tôi bởi vì chúng tôi đi đến một thương điếm Công ty. Tôi biết anh ấy rất muốn gặp quản trị viên của anh.”

“À, vâng, hẳn rồi. Này, Ông Stewart đã đi vắng trong một chuyến đi ngắn, nhưng một hay hai ngày nữa ông ấy sẽ trở về.”

“Ông ấy có láng giềng không?”

“Không. Ông ấy đi săn. Đó là sở thích của ông ấy.”

Nesbit đã uống cạn ly rượu rồi rót thêm. Tôi nhấm nháp ly của mình một cách chậm rãi: “Thế là... anh chưa trông thấy hay nghe nói đến người lạ mặt nào hay sao?”

“Tiếc là không. Không có ai hết. Nhưng có lẽ ông ấy gặp một bộ lạc Da Đỏ, hoặc người đặt bẫy... Đủ mọi loại người đến và đi. Bà sẽ ngạc nhiên khi biết người ta đi lang thang khắp cùng ngay cả trong mùa đông.”

Tôi lại thở dài và ra vẻ tuyệt vọng, mà không khó khăn phải làm thế. Anh rót thêm rượu vào ly của tôi.

Cánh cửa mở, và một phụ nữ Da Đỏ thấp, béo, mà tôi không thể đoán tuổi, bước vào với một chiếc khay. Với tia nhìn ra vẻ đe dọa về phía Nesbit, cô nói: “Anh kia, anh ấy muốn ngủ.”

“Vâng, được rồi Norah. À, để xuống... cảm ơn. Chị xem có thể đi tìm ông kia được không?”

Giọng ông có vẻ mỉa mai. Người phụ nữ đặt vội chiếc khay xuống bàn với tiếng động mạnh.

Với vẻ phô trương vụng về, Nesbit mở chiếc khay ra và tiếp cho tôi một đĩa bít tết nai sừng tấm và bắp băm. Chiếc đĩa trông đẹp, kiểu Anh, nhưng món bít tết không được tươi và có nhiều xương xẩu; không ngon hơn nhiều so với các món chúng tôi đã ăn dọc đường. Tôi phải cố gắng giữ cho đôi mắt không nhắm lại và giữ tinh thần còn lanh lợi. Nesbit ăn ít nhưng uống rượu liên tục, vì thế may mà ý tưởng của anh không được sắc bén lắm. Tôi mong anh nói ra nhiều hơn bây giờ, tối nay, trong khi anh không có lý do nào mà nghi ngại.

“Thế thì, những ai đang sống ở đây? Có nhiều người không?”

“Chúa tôi! Không! Chúng tôi là nhóm rất nhỏ. Ở đây không phải chính xác là trung tâm của xứ sở lông thú. Không còn nữa.” Anh mỉm cười một cách chua cay, nhưng tôi nghĩ không phải do tham vọng cá nhân bị ngăn trở: “Có Ông Stewart, quản trị viên, là một trong những người tốt nhất mà bà có thể mong gặp. Rồi có gia nhân khiêm tốn của bà đây, chỉ làm chuyện sai vặt...!” Anh làm động tác giả cúi đầu chào với vẻ mỉa mai: “… và rồi có vài gia đình hai dòng máu và bản địa quanh đây.”

“Người phụ nữ mới vào, Norah, là vợ của một nhân viên phải không?”

“Phải.” Nesbit lại nốc thêm whisky.

“Còn các nhân viên tải hàng làm gì trong mùa đông?” Tôi nghĩ đến người mặc quần áo phong phanh đứng trên sân. Anh ta có vẻ như không đứng vững được.

Dường như Nestbit đọc được ý nghĩ của tôi: “À, có rất ít công việc, như bây giờ, tôi e họ... dễ bị cám dỗ. Mùa đông rất dài.”

Đôi mắt anh đã mất tập trung, trông như thủy tinh, chớm đỏ màu máu, tuy tôi không rõ do rượu hay do cái gì khác.

“Nhưng dù thế người ta vẫn di chuyển đây đó…”

“Đúng, có môn săn bắn và đại loại như vậy cho đàn ông - và Ông Stewart... Tôi thì không thích.” Anh ra một điệu bộ thanh lịch để tỏ vẻ kinh tởm: “Dĩ nhiên là có đặt bẫy một ít. Chúng tôi có gì được nấy.”

Tôi cố giữ giọng nói của mình được bình thản nhưng pha chút buồn rầu: “Có ai sống ở đây đi từ hướng tây-nam lúc gần đây không? Tôi chỉ băn khoăn liệu dấu vết chúng tôi thấy có thể là một nhân viên của anh, mà không phải của con trai tôi. Nếu thế, chúng tôi sẽ biết mà... đi tìm nơi khác.”

“Một nhân viên của chúng tôi…?” Anh tỏ vẻ rất mơ hồ, lông mày nhíu lại trông buồn cười. Nhưng mà, anh đã say. “Tôi không nghĩ ra... không, theo tôi được biết, tôi có thể hỏi...”

Anh mỉm cười với tôi một cách thẳng thắn. Tôi biết anh nói dối, nhưng tôi đã quá mệt mỏi nên khó mà chắc chắn mọi điều. Ước muốn thiết tha được nằm xuống ngủ bỗng dưng trở nên bức thiết như cơn đau về thể chất. Thêm một phút nữa thì tôi không thể gượng nổi.

“Xin lỗi, anh Nestbit, tôi... phải đi nghỉ.”

Nesbit đứng dậy nắm chặt cánh tay tôi, như thể anh nghĩ tôi sắp té ngã hoặc chạy đi mất. Ngay cả gió lạnh thình lình ngoài hành lang không thể giúp cho tôi được tỉnh táo.

Có cái gì đấy đánh thức tôi. Trời đã gần tối hẳn, vắng lặng ngoại trừ tiếng gió thổi. Trong một khoảnh khắc, tôi nghĩ có một người nào khác trong phòng, và tôi ngồi dậy với một tiếng kêu mà tôi không kiềm chế được. Khi mắt tôi đã quen với bóng tối, tôi nhận ra không có ai ở đây. Nhưng có cái gì đấy đánh thức tôi, và tôi cảnh giác, tim đập thình thịch, tai cố lắng nghe âm thanh nhỏ nhất. Tôi cầm lấy cây đèn nhưng không hiểu sao không muốn thắp sáng. Tôi rón rén bước ra cánh cửa. Cũng không có ai bên ngoài.

Những tiếng răng rắc và kẽo kẹt vang lên từ lớp mái gỗ, do gió thổi luồn dưới các tấm ngói. Và một tiếng răng rắc lạ kỳ, rất nhỏ. Tôi lắng nghe ở mỗi cánh cửa một hồi lâu trước khi mở chốt nhìn vào trong. Một phòng bị khóa; phần lớn các phòng khác trống không, nhưng qua khung cửa sổ của một phòng trống tôi thấy một ánh sáng lờ mờ màu lam nhạt bên ngoài, một bức màn ánh sáng nhấp nháy ở hướng bắc chiếu xuyên qua bóng tối và cho tôi thấy cảnh tượng này.

Tôi mở một cánh cửa và thấy Moody, khuôn mặt non trẻ và trông yếu đuối khi không mang kính. Tôi nhanh chóng đóng cánh cửa lại. Tôi nghĩ đến Parker. Tôi phải đi tìm Parker. Tôi cần nói chuyện với ông. Về những gì tôi đang làm, và trước khi tôi làm chuyện gì đấy ngu xuẩn không tưởng tượng nổi. Nhưng bên trong vài cánh cửa kế tiếp, tôi không thấy gì cả, rồi một cánh cửa khiến tôi rùng mình vì sốc. Nesbit đang nằm ngủ say sưa, và nằm kế bên anh là người phụ nữ Da Đỏ đã dọn bữa tối, một cánh tay béo quàng qua ngực anh, màu sẫm nổi trên màu da trắng như sữa. Hai người thở lớn tiếng. Tôi đã có cảm tưởng là cô ghét anh ta, nhưng hai người ở đây, và có một vẻ ngây thơ về giấc ngủ của họ gây xúc cảm một cách lạ kỳ. Tôi nhìn họ lâu hơn là mình muốn và rồi, không phải vì họ sẽ bất ngờ thức dậy, tôi cẩn thận đóng cánh cửa.

Cuối cùng, tôi tìm ra Parker ở nơi mà tôi ít ngờ nhất: trong chuồng gia súc, kế bên hai con chó. Ông quấn người trong một tấm chăn mà ngủ, mặt hướng về cánh cửa. Thình lình cảm thấy hoang mang, tôi thắp đèn và ngồi xuống để chờ. Mặc dù trong nhiều ngày hai chúng tôi đã từng ngủ cách nhau ít mét trong lều, nhưng dưới một mái gỗ có vẻ như không phải phép khi tôi nhìn ông ngủ, ngồi bó gối trên ổ rơm bên cạnh ông, như là tên trộm.

Mua sách giấy (nếu có) để ủng hộ tác giả và đọc bản có chất lượng tốt hơn <3

Tìm Mua Sách Này