Người Đàn Ông Mỹ Cuối Cùng - Chương 01 - Phần 3

Thì đây, một ví dụ, xem ti vi - nhiều, rất nhiều giờ xem ti vi, nhiều ngày và tuần và tháng xem ti vi trong đời mỗi người Mỹ. Và nữa, làm việc. Người Mỹ mỗi năm lại dành nhiều và nhiều giờ hơn nữa cho công việc, hầu như gia đình nào cũng có cả bố lẫn mẹ (nếu có đủ bố mẹ) phải ra ngoài làm việc cả ngày để trang trải cho mọi hàng hóa và dịch vụ này. Điều đó đồng nghĩa với đi lại liên tục. Điều đó đồng nghĩa với stress. Mối liên hệ với gia đình và cộng đồng giảm đi. Những bữa toàn thức ăn nhanh trong ô tô trên đường đi làm rồi từ chỗ làm về nhà. Sức khỏe không ngừng suy giảm. (Chắc chắn Mỹ là xã hội ít vận động và béo phì nhất trong lịch sử, và mỗi năm chúng ta một tăng cân thêm. Dường như chúng ta có thái độ coi thường cơ thể của mình cũng y như chúng ta xem thường các tài nguyên thiên nhiên vậy; rốt cuộc, nếu một bộ phận cơ thể quan trọng suy yếu thì chúng ta vẫn tin chúng ta chỉ việc mua một cái mới. Một ai khác sẽ lo chuyện đó. Hệt như cách chúng ta tin một ngày nào đó một ai khác sẽ trồng thêm rừng sử dụng rừng đến cạn kiệt. Đó là nếu chúng ta còn để ý chúng ta đang sử dụng nó cạn kiệt.)

Trong thái độ đó có sự ngạo mạn, nhưng - quan trọng hơn - có cả sự xa lánh sâu sắc. Chúng ta đã lạc khỏi tổng thể. Đơn giản là vậy. Nếu không tự nuôi trồng lấy nguồn cung lương thực thực phẩm cho chính mình nữa, chúng ta có còn cần phải để tâm tới khái niệm ví như mùa không? Có gì khác biệt giữa mùa đông và mùa hè chứ, khi mà ngày nào ta cũng có thể ăn dâu tây? Nếu có thể giữ nhiệt độ trong nhà ổn định ở mức 20°C dễ chịu quanh năm, chúng ta có còn cần để ý rằng mùa thu đang tới? Chúng ta có còn phải chuẩn bị cho điều đó? Coi trọng điều đó? Nhiệt độ giảm mạnh khiến vạn vật trong tự nhiên chết đi mỗi khi thu đến, song chuyện đó có ý nghĩa gì đối với sự tồn vong của chúng ta? Và khi mùa xuân lại về, chúng ta có cần để ý tới sự hồi sinh đó? Ta có cần dành chút thời gian cám ơn ai vì điều đó? Chào mừng nó? Nếu chẳng khi nào bước ra khỏi nhà trừ lúc lái xe đi làm, chúng ta có cần nhận thức dù chỉ rất mơ hồ về cái lực sống mãnh liệt, lớn lao, phi thường và bất tận không ngừng dâng rồi hạ hạ rồi dâng quanh chúng ta không?

Rõ ràng là không. Bởi vì chúng ta dường như đã thôi không còn bận tâm nữa rồi. Hoặc giả đó là điều Eustace Conway nhận thấy khi anh nhìn quanh nước Mỹ. Anh thấy một dân tộc đã lạc nhịp với những chu trình tự nhiên vốn định hình văn hóa và sự tồn tại của nhân loại hàng thiên niên kỷ. Đánh mất đi mối liên hệ sống còn với tự nhiên, dân tộc này đang có nguy cơ đánh mất nhân tính. Xét đến cùng, chúng ta không phải là những du khách xa lạ tới hành tinh này mà là cư dân tự nhiên và là quyến thuộc của mọi sinh thể sống ở đây. Trái đất này là nơi chúng ta sinh ra và cũng là nơi chúng ta kết thúc tất cả khi chết đi, và trong suốt khoảng thời gian giữa hai mốc ấy thì đây là nhà của chúng ta. Chẳng cách nào chúng ta mong hiểu nổi bản thân nếu không hiểu được dù chỉ một chút xíu mái nhà của mình. Đó là sự thấu hiểu mà chúng ta cần có để đặt cuộc đời của chúng ta vào một cảnh huống trừu tượng nào đó lớn lao hơn.

Nhưng Eustace chỉ thấy một cảnh tượng đáng buồn - tất cả công dân đều xa rời nhịp điệu tự nhiên tới nỗi chúng ta đi qua đời mình chỉ như những kẻ mộng du, không nhìn thấy gì, không nghe thấy gì và không cảm nhận được gì. Tồn tại một cách vô cảm trong môi trường đã được tiệt trùng, trí tuệ chúng ta tê liệt, cơ thể chúng ta bạc nhược và tâm hồn chúng ta hao mòn. Nhưng Eustace tin chúng ta có thể có lại nhân tính. Khi chúng ta suy ngẫm về tuổi thọ đáng kính của một ngọn núi, chúng ta có nó. Khi chúng ta quan sát vẻ đẹp tráng lệ của nước và ánh nắng, chúng ta có nó. Khi chúng ta tự mình trải nghiệm chất thơ bạo tàn của hệ sinh vật mà ở đó lớp trên ăn thịt sinh vật lớp dưới, chúng ta có nó. Khi tràn ngập trong tâm trí chúng ta là mọi sắc thái của thế giới tự nhiên, rốt cuộc chúng ta sẽ hiểu ra: mỗi chúng ta chỉ được trao cho một khoảnh khắc sống huy hoàng tại đây trên Trái đất, và đứng trước thực tại đó chúng ta phải vừa khiêm cung hơn vừa cao quý hơn, chấp nhận mọi quy luật của vũ trụ và biết ơn về sự tham dự ngắn ngủi nhưng căn bản của mình trong đó.

Cứ cho đây không phải là một khái niệm cấp tiến. Mọi nhà môi trường trên thế giới đều hoạt động theo một triết lý dựa trên chính những giả thuyết này. Nhưng điều khiến Eustace Conway khác biệt với mọi nhà môi trường khác là niềm tin lạ thường anh đã có từ thời thơ ấu rằng sứ mệnh dành riêng cho anh là đưa những người đồng hương của anh ra khỏi giấc mộng du. Anh luôn tin chỉ một mình anh có quyền năng và nhiệm vụ này, anh là con đường dẫn đến thay đổi. Một người đàn ông, một mộng tưởng.

Và đây chính xác là mộng tưởng của anh - từng người từng người một, người Mỹ sẽ tới thiên đường bí ẩn trong rừng của anh. Ở đó, dưới sự hướng dẫn của anh, họ sẽ rũ bỏ sự bạc nhược, dốt nát và nhỏ nhen mà lối dưỡng dục của xã hội ngày nay đem lại cho họ. Sử dụng khả năng lãnh đạo của mình để thu hút, anh sẽ dẫn dắt mọi người trở lại vùng hoang dã, tháo khăn bịt mắt ra cho họ, chỉ họ nhìn về phía khung cảnh hùng vĩ choáng ngợp của vùng biên còn nguyên vẹn, và nói, “Nhìn kìa!” Rồi anh sẽ đứng lui lại quan sát sự thức tỉnh.

Eustace luôn mường tượng những nhóm trẻ tới tham gia vào các trại hè tại vùng đất nguyên sơ, nhưng anh cũng sẽ chào đón cả người lớn - những người học việc - những kẻ mà, trong khoảng thời gian dài, sẽ nghiên cứu nghiêm túc một lối sống tự nhiên dưới sự dẫn dắt của anh. Tất nhiên anh biết lôi kéo mọi người Mỹ vào rừng cùng mình là điều bất khả, đó là lý do vì sao anh cũng cam kết xuống núi cùng thông điệp của anh và tự mình đưa rừng trực tiếp tới mọi người - mang chính mùi của miền hoang dã trong tóc, trên da và trong lời ăn tiếng nói. Anh sẽ trình bày và giảng dạy học thuyết của mình ở mọi trường học, tại mọi hội chợ toàn bang, trong mọi trung tâm thương mại, điểm đỗ xe và trạm xăng mà anh bắt gặp. Anh sẽ say sưa trình bày với bất kỳ doanh nhân, người trông trẻ, bà nội trợ, gái đêm, tỉ phú hay kẻ nghiện nào trên nước Mỹ.

Với năng lượng và thông qua tấm gương của mình - Eustace vẫn luôn tin chắc điều đó – người Mỹ sẽ dần dần thay đổi. Họ sẽ khôn trưởng và học hỏi rồi sẽ lại một lần nữa tháo vát và khỏe mạnh. Sau đó họ sẽ chia tay Eustace và đi phổ biến kiến thức vừa lĩnh hội được giữa anh em bằng hữu của mình. Với phương thức đầy tính mặc khải này, mộng tưởng của Eustace Conway về sự hòa hợp hoàn hảo với tự nhiên sẽ mở rộng và mở rộng thêm mãi qua bao mái nhà, thành phố, hạt rồi bang, cho tới khi tất cả chúng ta sẽ sống như Eustace - tự nuôi trồng lấy lương thực thực phẩm, tự làm quần áo cho mình, đánh lửa bằng cách chà hai que củi vào nhau, và nhận ra nhân tính thiêng liêng của mình. Bằng cách đó, cả dân tộc vĩ đại chúng ta lẫn hành tinh thiêng liêng này sẽ được cứu.

Dẫu sao thì đó cũng là dự tính của anh.

Quá ngông cuồng? Chắc rồi. Tuy nhiên, có một điều gì đó ở gã trai này...

Không dễ gì coi nhẹ Eustace. Như cậu em Judson thường xác nhận trong niềm kính sợ, và như tôi sau này cũng đã được tận mục sở thị, những kỹ năng ở rừng của Eustace quả thực là nhiều vô kể. Anh cực kỳ giỏi giang. Trí tuệ và thể lực của anh như được định mệnh ưu đãi để có thể đạt đến độ tuyệt hảo. Anh có thị giác hoàn hảo, thính giác hoàn hảo, cân bằng hoàn hảo, phản xạ hoàn hảo, độ tập trung hoàn hảo. Anh có những bắp thịt dài trên một thân hình nhẹ nhàng song chắc chắn, giống như một vận động viên chạy cự ly trung bình thiên bẩm. Cơ thể anh có thể làm bất cứ việc gì anh đòi hỏi nó. Trí tuệ của anh cũng vậy. Anh chỉ cần thấy một ý tưởng hoặc xem một tiến trình đúng một lần là có thể làm được, ghi nhớ, và lập tức bắt tay hoàn thiện những nguyên lý của nó. Anh quan tâm sâu sắc tới môi trường xung quanh hơn bất kỳ ai tôi từng gặp. Trí óc anh hoạt động, như Henry Adams[18] từng viết về trí tuệ của những người định cư đầu tiên tại Mỹ, giống “một công cụ cắt xén đích thực, trực tiếp, sắc bén, hiệu quả và thực dụng.”

[18] Henry Adams (1838-1918) tên đầy đủ là Henry Brooks Adams: tiểu thuyết gia, viện sĩ, nhà báo, sử gia người Mỹ.

Và kiểu trí tuệ đó đồng hành với đức tính trung thực thẳng băng. Thế nên khi có lần tôi hỏi anh, “Có việc gì anh không làm được không?” Eustace trả lời, “À, tôi chưa bao giờ thấy việc gì đặc biệt khó cả.” Nói cách khác, anh có lòng tự tin hậu thuẫn cho niềm xác tín vững chắc rằng anh có thể thay đổi. Điều đó, cộng với ý chí vững như bàn thạch và thế giới quan kiên định của một nhà cải cách bẩm sinh. Và anh còn có cả tư chất thủ lĩnh mà anh chẳng ngần ngại thể hiện ra trong quan hệ với bất kỳ ai.

Tôi tới thăm Eustace tại Đảo Rùa lần đầu hồi năm 1995. Giữa chừng chuyến thăm ấy Eustace phải xuống núi, thế là tôi đi cùng anh. Anh phải xa rừng, như thường vẫn thế, để thuyết giảng về rừng, để kiếm ít tiền và truyền bá đức tin. Thế là chúng tôi lái xe qua Bắc Carolina tới một trại hè nhỏ chuyên về giáo dục môi trường. Một nhóm thiếu niên đi vào phòng ăn của khu trại để dự sự kiện tối hôm đó, và với tôi tất cả chúng trông như bọn ngốc - ồn ào, bất kính, xô đẩy, la hét, cười đùa ầm ĩ. Eustace có nhiệm vụ làm cho bọn trẻ này hứng thú với thiên nhiên.

Tôi nghĩ, Chuyện này sẽ chẳng đi tới đâu.

Eustace, mặc quần jean và áo sơ mi kẻ, không phải bằng da hoẵng, bước qua sân khấu về phía micro. Cổ anh đeo hai cái răng chó sói to tướng. Nơi thắt lưng anh là con dao.

Xô đẩy và la hét và cười đùa ầm ĩ vẫn tiếp diễn.

Eustace, mảnh khảnh và nghiêm trang, đứng bên micro, hai tay đút túi quần. Sau một lúc lâu, anh nói, “Tôi là một người nói khẽ, vì thế tối nay tôi sẽ phải nói khẽ.”

Xô đẩy và la hét và cười đùa tắt ngấm. Đám thiếu niên bất kính nhìn Eustace Conway, chăm chú. Đúng là thế - im phăng phắc. Tôi xin thề là vậy. Hệt như trong phim Giáo viên sát nhân[19].

[19] Nguyên văn “To Sir with Love”: cụm từ này xuất phát từ tên một bộ phim của Anh (1967), nội dung kể về sự đối phó của giáo viên với lứa học sinh tuổi thiếu niên ngỗ ngược.

“Tôi chuyển vào rừng sống khi tôi mười bảy tuổi,” Eustace bắt đầu. “Không lớn hơn các bạn bây giờ là bao…” Rồi anh kể về cuộc đời mình. Những đứa trẻ kia chết lặng đi, ta có thể phẫu thuật chúng mà chúng cũng chẳng nhận ra. Eustace nói với chúng về sự sinh tồn trong rừng hoang và những cuộc phiêu lưu của anh, đồng thời anh cũng trình bày về sự khác nhau giữa thế giới hình hộp và thế giới hình tròn.

“Tôi sống giữa thiên nhiên,” Eustace nói, “ở đó mọi thứ có liên hệ với nhau, luân lưu. Các mùa tuần hoàn. Hành tinh hình tròn, và đường đi của nó quanh mặt trời cũng thế. Chu trình của nước trên trái đất là vòng tròn, từ trời đổ xuống rồi luân chuyển khắp thế giới để trải rộng sự sống rồi lại bốc hơi lên. Tôi sống trong lều vải tròn và tôi dựng củi đốt lửa trong một hình tròn, và khi người thân của tôi tới thăm, chúng tôi ngồi quây quần thành vòng tròn mà trò chuyện. Chu trình sống của cây cối và động vật là vòng tròn. Tôi sống giữa thiên nhiên nơi tôi có thể thấy điều này. Người xưa đã hiểu rằng thế giới của chúng ta tròn, nhưng ngày nay chúng ta không còn thấy được điều đó. Tôi không sống trong nhà cao tầng, bởi vì nhà cao tầng là địa điểm chết, ở đó chẳng thứ gì mọc lên, ở đó nước không trôi chảy, ở đó sự sống ngưng lại. Tôi không muốn sống trong một nơi chết. Mọi người nói tôi không sống trong thế giới thật, nhưng chính người Mỹ hiện đại mới sống trong thế giới giả, bởi vì họ đã bước ra ngoài vòng đời tự nhiên.

“Tôi thấy vòng đời rõ nhất là khi bắt gặp xác một con chó sói mới chết khi tôi đang trên đường phi ngựa xuyên nước Mỹ. Xác con vật bị cái nóng hoang mạc làm khô quắt lại, nhưng khắp xung quanh nó, trong một vòng tròn căng tràn nhựa sống, là một dải cỏ xanh mơn mởn. Ở đó đất đai đang vay mượn dưỡng chất từ con vật để tái sinh. Đây không phải là cái chết, tôi nhận ra vậy; đây là sự sống vĩnh hằng. Tôi lấy răng của con chó sói đó và làm cho mình chiếc vòng cổ này đây, nó luồn vòng quanh cổ tôi để tôi không bao giờ quên bài học ấy.

“Ngày nay mọi người có sống trong hình tròn không? Không. Họ sống trong hình hộp. Họ thức dậy mỗi sáng trong cái hộp phòng ngủ bởi vì một cái hộp bên cạnh họ bắt đầu kêu bíp bíp báo cho họ là đã đến giờ dậy. Họ ăn sáng từ một cái hộp và rồi họ ném cái hộp đó vào một cái hộp khác. Rồi họ rời khỏi cái hộp họ sống và chui vào cái hộp có bánh xe để lái tới chỗ làm, lại là một cái hộp to đùng khác chia ra thành nhiều ngăn hộp nhỏ, nơi một đám người cả ngày ngồi chú mục vào cái hộp máy tính ngay trước mặt. Khi hết ngày, mọi người lại chui vào cái hộp có bánh xe để về hộp nhà và dành cả tối chằm chằm nhìn vào cái hộp ti vi để giải trí. Họ chọn nhạc từ hộp, họ lấy thức ăn từ hộp, họ cất quần áo trong hộp, họ sống đời mình trong một cái hộp! Điều đó nghe có giống với ai đấy mà các bạn biết không?”

Đến đây thì đám trẻ cười lớn và vỗ tay tán thưởng.

“Hãy thoát khỏi cái hộp!” Eustace nói. “Các bạn không phải sống như thế này bởi vì người ta bảo các bạn đó là con đường duy nhất. Các bạn không bị còng tay vào nền văn hóa của mình! Đây không phải là cách nhân loại đã sống hàng nghìn hàng nghìn năm mà cũng chẳng phải con đường duy nhất các bạn có thể sống ngày nay!”

Thêm một giờ như thế nữa, rồi đến tràng pháo tay không ngớt, giống như trong một buổi mít tinh thức tỉnh lại lòng mộ đạo. Sau cuộc nói chuyện, Eustace ngồi bên mép sân khấu, uống nước suối Đảo Rùa trong lành đong đầy cái bình thủy tinh mà anh mang theo bên mình khắp mọi nơi. Đám thiếu niên tiến lại gần với vẻ khiêm cung, kính sợ, trong khi đó giám đốc trại bắt tay Eustace đầy cảm kích và trao cho anh một tờ séc hào phóng đựng kín đáo trong phong bì. Bọn trẻ xúm lại gần hơn. Cậu con trai ngỗ ngược, ngông cuồng nhất trong đám tới đứng ngay bên cạnh Eustace. Thằng bé đặt nắm tay lên ngực và tuyên bố, với sự long trọng chân thành, “Anh cừ lắm. Tuyệt bỏ xừ.” Eustace ngửa đầu ra sau cười vang. Các trại viên khác xếp hàng bắt tay anh và rồi nổ ra hàng loạt câu hỏi.

“Nếu phải đánh lửa ngay bây giờ anh làm được không?”

“Được chứ.”

“Nếu ai đó thả anh trần truồng giữa Alaska, anh có thể sống sót không?”

“Tôi nghĩ là có. Nhưng nếu tôi có con dao thì sẽ dễ hơn nhiều.”

“Lần đầu tiên vào rừng sống anh có sợ không?”

“Không. Thế giới văn minh đáng sợ hơn rừng nhiều.”

“Cha mẹ anh có phát rồ với anh khi anh chuyển vào rừng không?”

“Bố tôi không hiểu sao tôi lại muốn ngôi nhà hiện đại thoải mái, nhưng mẹ tôi hiểu.”

“Có bao giờ anh ốm không?”

“Hiếm khi.”

“Anh đã bao giờ đi bác sĩ chưa?”

“Chưa từng.”

“Anh có biết lái xe không?”

“Thế cậu nghĩ tối nay tôi đến đây bằng gì?”

“Anh có sử dụng công cụ hiện đại nào không?”

“Tôi thường xuyên sử dụng cưa máy để coi sóc vùng đất của mình. Tôi dùng điện thoại. Xô nhựa nữa. Chúa ơi, xô nhựa tuyệt thật! Tôi đã làm nhiều giỏ và thùng chứa bằng vỏ cây và cỏ - ý tôi là tôi biết cách làm việc đó và tôi vẫn thường dùng những phương tiện thô sơ ấy đi lấy nước - nhưng tôi nói các bạn nghe, để làm được việc nhanh hơn thì chẳng có gì hơn xô nhựa đâu. Ôi! Xô nhựa! Tuyệt diệu! Tôi thích xô nhựa!”

“Anh có bàn chải đánh răng không?”

“Ngay lúc này thì không.”

“Anh có lược không?”

“Tôi từng có một cái lược nhím. Nhưng giờ tôi không còn nó nữa.”

“Lược nhím là cái gì?”

“Một cái lược làm từ lông nhím.”

“Anh kiếm được thứ ấy ở đâu?

“Có lần một con nhím đã cứu mạng tôi khi tôi đang cuốc bộ trên đường mòn Appalachia, thế nên tôi làm một chiếc lược bằng lông của nó, để ca ngợi công ơn nó.”

“Một con nhím thì có thể cứu mạng anh thế nào được?”

“Bằng cách cho tôi cái gì đó để ăn khi tôi đang đói sắp chết.”

Đến đây thì có một khoảng lặng kéo dài, trong khi bọn trẻ cố gắng hiểu được điều đó. Rồi tất cả bọn chúng đồng thanh kêu lên, “Ôôôiii...”, và những câu hỏi lại tiếp tục.

“Tại sao anh lại đói sắp chết?”

“Bởi vì không có gì để ăn cả.”

“Tại sao không có gì để ăn?”

“Bởi vì lúc đó đang là mùa đông.”

“Khoảng thời gian anh không được ăn uống gì lâu nhất là khi nào?”

“Có lẽ hai tuần trước khi tôi giết con nhím đó.”

“Anh cho bọn em xem cái lược lông nhím ấy được không?”

“Tôi không còn nó nữa. Tôi mang nó tới một sự kiện giống thế này đây, để cho mấy cô cậu tuổi tầm các bạn xem, và ai đó đã chôm mất. Các bạn có thể tưởng tượng chuyện đó làm tôi buồn tới mức nào không?”

“Anh có súng không?”

“Tôi có mấy khẩu.

“Có bao giờ anh giết người chưa?”

“Chưa.”

“Anh kết hôn chưa?”

“Chưa.”

“Tại sao?”

“Tôi cho là mình chưa tìm thấy người phụ nữ phù hợp.”

“Anh có ước mình có gia đình rồi không?”

“Hơn bất cứ thứ gì trên đời.”

“Có khi nào anh thấy cô đơn ở ngoài rừng không?”

Eustace ngập ngừng, mỉm cười bâng khuâng. “Chỉ trong đêm.”

Đêm muộn hôm đó, khi chúng tôi còn lại một mình, Eustace nói với tôi anh cảm thấy đau buồn biết bao mỗi khi ở bên đám thiếu niên Mỹ hiện đại. Phải, anh giao lưu với chúng, nhưng mọi người không bao giờ hiểu trong lòng anh tan nát khi thấy bọn trẻ mới dốt nát làm sao, chứng vô kỷ luật trong giao tiếp cá nhân, thiếu tôn trọng người lớn tuổi, và bị ham muốn vật chất hủy hoại như thế nào, và chúng bất tài vô dụng theo một lối mà ta sẽ không bao giờ thấy ở trẻ em Amish chẳng hạn.

Nhưng tôi không chăm chú nghe lời Eustace than vãn, bởi vì tôi có một câu hỏi khác trong đầu. “Này, về những gì xảy ra ở đây đêm nay ấy mà. Anh có gặp kiểu phản ứng đó ở mọi nơi anh tới nói chuyện không?”

“Có.”

“Từ mọi lứa tuổi; từ mọi trình độ?”

“Phải.”

Tôi suy ngẫm về điều đó. “Vậy hãy nói rõ tôi nghe. Anh nghĩ vì sao mà bọn trẻ đêm nay lại bị anh thôi miên như vậy?”

Câu đáp của Eustace đến ngay lập tức, hết sức quả quyết, và bày tỏ lạnh lùng tới mức nó làm một thoáng ớn lạnh vụt khắp người tôi.

“Bởi vì,” anh nói, “họ nhận ra ngay rằng tôi là một người thật. Mà họ thì có lẽ chưa bao giờ gặp một ai như thế trước đây.”