Gái công xưởng - Phần I - Chương 09 phần 1

Phần Hai: Làng quê

9. Tiếng Anh kiểu dây chuyền lắp ráp

Ở Đông Quản, tôi thường đến nhà hàng một mình. Khi ăn, tôi hay viết vào cuốn sổ tay hoặc đọc một tờ tạp chí Mỹ. Lần nào cũng có một cô phục vụ hoặc một khách ăn xuất hiện bên cạnh tôi, nhìn tôi một cách sùng kính khi tôi sử dụng thứ ngôn ngữ tôi được học đầu tiên. “Chắc tiếng Anh của cô phải giỏi lắm nhỉ!” Cuối cùng họ sẽ nói như thế.

Tôi phải giải thích rằng tôi sinh ra ở Mỹ.

“Có lẽ tiếng Anh của cô phải trình độ cấp tám đúng không?”

Tôi phải trả lời rằng người Mỹ không chia cấp độ về khả năng tiếng Anh như người Trung Quốc. Tiếng Anh đối với tôi cũng bình thường như tiếng Trung Quốc với họ vậy, tôi nói như thế, nhưng điều ấy chỉ làm tăng thêm nỗi kính sợ trong họ.

“Tiếng Anh của cô chắc ít nhất cũng phải cấp tám, đúng rồi!”

Người ta luôn thất vọng khi biết rằng tôi là một nhà báo. Họ bảo với tôi rằng, với khả năng của tôi, tôi có thể làm phiên dịch viên được trả lương cao ngất ở một công ty thương mại. Tiếng Anh là con đường dẫn đến sự giàu có và thỏa mãn, đối với họ tôi giống như người vừa trúng xổ số nhưng lại từ chối không chịu đổi vé lấy tiền vậy.

HẦU NHƯ MỌI NGƯỜI Ở TRUNG QUỐC đều học tiếng Anh ở trường, có trường hợp học hàng năm trời, nhưng hiếm có người nào nói được ngôn ngữ ấy. Các bài học nhấn mạnh vào ngữ pháp và học thuộc lòng danh sách từ vựng; các giáo viên nhiều khi cũng tắc tị như học sinh. Tâm lý bầy đàn là một nhân tố - thà ẩn danh trong im lặng còn hơn là liều chịu xấu hổ mở miệng. Sự phổ biến của việc học tiếng Anh có vẻ như chỉ để tăng thêm sự tôn kính với nó: mặc dù rất nhiều người thử nỗ lực, người ta vẫn không thể nắm vững được thứ ngôn ngữ đó.

Tiếng Anh cũng là cơ sở của công việc ở Đông Quản, ở thành phố này, nó là ngôn ngữ của công việc đối với hàng nghìn nhà máy gia công cho khách hàng nước ngoài. Như vậy không có nghĩa là người ta thực sự hiểu tiếng Anh; họ học chỉ đủ để làm việc trong ngành nghề chuyên biệt của mình. Họ thường nói tắt nói cụt, một thứ ngôn ngữ giản hóa sẽ làm bất cứ người Mỹ nào cũng thấy bối rối. Trên một mẫu đơn đặt hàng, FOB HK viết tắt cho “Free on Board Hong Kong” (Giao lên tàu Hồng Kông) - là điều kiện chỉ ra người mua sẽ nhận quyền sở hữu của thứ anh ta đã đặt trước ở điểm nào. L và W, H thể hiện kích thước của món hàng. Đóng gói nhựa là PP hoặc PE, mặc dù rất ít người có thể nói với bạn những chữ cái ấy đại diện cho chữ gì. Máy móc ở dây chuyền lắp ráp cũng hoạt động dựa trên thứ tiếng Anh nghèo nàn, chỉ đạo cho công nhân ROUTE FINDER (NGƯỜI TÌM TUYẾN ĐƯỜNG) và KEYBOARD TEST (THỬ BÀN PHÍM) hay PRESS ANY KEY TO SEND LOOPBACK Q TO QUIT (NHẤN BẤT KỲ PHÍM NÀO ĐỂ GỬI VÒNG TRỞ LẠI Q ĐỂ THOÁT.)

Hầu hết những người tôi quen biết ở Đông Quản đều tập trung tinh thần và tấn công đầy quyết tâm vào môn tiếng Anh ở một thời điểm nào đó. Một thời gian, Mẫn đã học theo một cuốn sách cũ nhàu mép quăn như tai chó tên là Crazy English Crash Course (Học tiếng Anh cấp tốc điên rồ) vào các buổi tối, một phần ba phần đầu của cuốn sách được đánh dấu chi chít qua lần thử nghiệm với thứ ngôn ngữ này và đã thất bại của chị gái cô. Giang Hải Yến mang theo bên mình một cuốn sách mẫu câu bỏ túi. Lần cuối cùng tôi gặp Trần Anh, cô gái ở lớp Công sở đã vươn lên làm quản lý, thì cô đã có kế hoạch tự học tiếng Anh và thi vào trường cao đẳng nghề. Thậm chí cả những cô gái trong quán karaoke cũng cho tiếng Anh là một con đường thoát ra khỏi đó: nó có thể khiến một khách ngoại quốc ấn tượng và thuê một tiểu thư làm văn thư hoặc thư ký.

Thỉnh thoảng những người khát khao nhiệt tình nói tiếng Anh đẩy tôi vào những cuộc đối thoại rời rạc không liên quan hệt như một đoạn thoại trong kịch của Beckettt vậy.

Cô bao nhiêu tuổi?

Rất tốt! Cô bao nhiêu tuổi?

Vâng.

Tôi không lấy làm ngạc nhiên khi Xuân Minh quyết định học tiếng Anh. Cô đăng ký học ở một trường dạy tiếng bảo đảm rằng học viên sẽ nói tiếng Anh như học sinh lớp năm ở Mỹ sau một năm học. “Tôi nghĩ thế là khá tốt,” cô nói. “Một học sinh lớp năm có thể diễn tả gần như mọi thứ rồi.” Chiêu bài quảng cáo chủ đạo của trường là đứa con trai chín tuổi của người thành lập, một thằng bé nói tiếng Anh lưu loát. Xuân Minh có lý do để học thứ ngôn ngữ này. “Nếu tôi học tiếng Anh,” cô nói, “tôi có thể gia nhập những nhóm người mới.” Sau đó, tôi hiểu cô đủ để diễn dịch ra ẩn ý đằng sau lời nói: Tiếng Anh có thể là một con đường khác để kiếm chồng.

***

Trường dạy ngoại ngữ nằm bên trong Viện Bảo tàng Khoa học Đông Quản, một đống những hình thù bê tông lộn xộn trông có vẻ vị lai khi nó được xây dựng vào năm 1994. Một hôm, Xuân Minh đưa tôi đến đó sau bữa tối. Viện bảo tàng đã đóng cửa để cải tạo; trong bóng tối, những giàn giáo treo lơ lửng trên tường trông như bệnh dịch ngoài da nào đó đang ăn mòn cả công trình kiến trúc. Chúng tôi leo lên năm tầng lầu, vừa đi Xuân Minh vừa thì thầm kể lại truyền thuyết về ngôi trường này. Người sáng lập ra nó đã mất hai mươi năm để hoàn thiện hệ thống dạy học của ông ta; mới đây, ông đã được cấp bằng sáng chế cho nó. Ngôi trường có ba trăm học viên. Học phí trung bình mỗi tháng là sáu trăm nhân dân tệ, tức là khoảng bảy mươi lăm đô la.

Trên tầng cao nhất của viện bảo tàng là một văn phòng duy nhất còn sáng đèn. Một tấm biển ở lối vào đề:

MÁY HỌC DÂY CHUYỀN

Trong một căn phòng rộng và được thắp sáng bởi ánh đèn nê ông, khoảng gần chục học viên đang đứng tách riêng rẽ bên cạnh những chiếc bàn dài. Trên mỗi bàn đều đặt một chiếc máy bằng kim loại hình ô van với những miếng xoay theo chiều dọc gắn các thẻ; trên thẻ in những cột từ trôi qua trước mặt học viên với một tốc độ ổn định. Căn phòng tràn ngập những tiếng rì rì của những chiếc máy, giống như một bộ bài đang được xáo lên vậy.

Một cột từ trôi qua trước mặt tôi.

FUCK

CLEAN

RUDE

PIZZA

CREEP

Ở đầu hồi căn phòng, một người đàn ông nhiều tuổi hơn đang ngồi trước máy tính. Ông ta đưa cho tôi tấm danh thiếp mà chẳng buồn đứng lên. Trên đó viết bằng tiếng Trung:

CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN KỸ THUẬT GIÁO DỤC NĂNG ĐỘNG CỦA NGÔ TIÊN SINH NGÔ QUAN HỆ, CHỦ TỊCH

KỸ SƯ THIẾT KẾ CHÍNH NHÀ MÁY XỬ LÝ NGÔN NGỮ NĂNG ĐỘNG CỦA NGÔ TIÊN SINH NHÀ SÁNG CHẾ CÔNG CỤ HỖ TRỢ GIÁO DỤC NĂNG ĐỘNG CỦA NGÔ TIÊN SINH NHÀ SÁNG LẬP MÔN KHOA HỌC GIÁO DỤC NĂNG ĐỘNG CỦA NGÔ TIÊN SINH NGƯỜI KHỞI PHÁT NGÔN NGỮ THẾ GIỚI NĂNG ĐỘNG CỦA NGÔ TIÊN SINH TỔNG CHỈ ĐẠO LỚP ĐÀO TẠO DỊCH THUẬT ĐỒNG BỘ TIÊN TIẾN TIẾNG ANH NĂNG ĐỘNG

Ông Ngô bốn mươi lăm tuổi, gương mặt vuông chữ điền, cằm xị ra và mái tóc rối bù như thể vừa mới ngủ dậy. Ông ta hơi béo phì. Người đàn ông này không phù hợp với hình ảnh một giáo viên hay thậm chí là một người thành phố - ông ta trông giống như tài xế của quan chức chính quyền. Trông ông ta không được năng động cho lắm.

Tôn chỉ trong trường học của ông Ngô coi con người như máy móc là chìa khóa để chinh phục môn tiếng Anh. Sau khi học bảng chữ cái và cách phát âm, học viên sẽ ngồi cạnh một cái máy trong khi những cột từ tiếng Anh trôi qua trước mặt. Học viên sẽ đọc to mỗi từ và viết lại mà không cần biết nó nghĩa là gì, tuần này qua tuần khác, đến khi nào anh ta đạt được tốc độ cao nhất.

Sau đó anh ta sẽ chuyển qua một chiếc máy khác có nghĩa tiếng Trung của các từ, tiếp đó anh ta tiến tới các câu ngắn. Ở mỗi giai đoạn, anh ta viết lại các từ hay câu bằng tiếng Anh và đọc to chúng lên mà không hề lĩnh hội được ý nghĩa của chúng. Khi một học viên đạt tới tốc độ cao nhất - có thể viết sáu trăm câu tiếng Anh trong một giờ - anh ta chuyển lên học ngữ pháp căn bản. Chỉ khi đó anh ta mới học nghĩa của từ, mẫu câu và các câu anh ta đã lặp đi lặp lại hàng tháng trời.

Ông Ngô gọi phương thức này là “dạy học theo chỉ đạo.” Theo như tôi hiểu, vậy có nghĩa là không có giáo viên nào hết - những cái máy truyền đạt tất cả mọi thứ các học viên cần biết. Học viên lý tưởng của ông Ngô học mười một giờ một ngày: học bốn tiếng, ăn trưa, nghỉ, học thêm bốn tiếng nữa, ăn tối, lại học thêm ba tiếng nữa. Đó chính xác là lịch làm việc của một nhà máy ở Đông Quản, kể cả ba tiếng đồng hồ làm thêm mỗi ngày được luật lao động giới hạn. “Ở dây chuyền lắp ráp, người ta có thể ngồi và làm việc tám hay mười tiếng đồng hồ không ngừng nghỉ,” ông Ngô nói. “Giá mà chúng ta có thể học theo cách đó thì thật tốt!”

Phương thức của ông ta đi ngược lại với tất cả những tri thức được chấp nhận xưa nay về việc học một thứ ngôn ngữ - quan trọng nhất là nói và hiểu, và giáo viên là nhân tố quyết định. Ông Ngô xổ toẹt tất cả những điều đó. Phương thức dạy học của Trung Quốc tập trung quá nhiều vào sự ghi nhớ, ông ta nói; phòng học biến học viên thành những vật chứa thụ động. Tiếng Anh kiểu dây chuyền sản xuất buộc họ phải hành động.

“Bàn tay, bộ óc, mắt và miệng của bạn phải học cách phản ứng nhanh và tự động,” ông Ngô giải thích. “Bạn không có thời gian để dịch một từ sang tiếng Trung hay nhớ lại nó. Bạn phải luyện cho mình phản ứng một cách bản năng.” Bằng cách buộc nhiều bộ phận cơ thể cùng lúc hoạt động, ông ta nói, tiếng Anh kiểu dây chuyền sản xuất kích thích những bộ phận khác nhau của bộ não hoạt động mạnh hơn. Khoa học đã chỉ ra rằng con người chỉ sử dụng 5% khả năng của đại não. Ông Ngô có rất nhiều số liệu kiểu như thế. Một người trung bình có thể viết hai trăm câu một phút. Phụ nữ có thể đọc chín mươi câu một phút, nhưng đàn ông chỉ xử lý được bảy mươi lăm. Nếu một người học tiếng Anh mười tiếng mỗi ngày, anh ta có thể làm phiên dịch đồng bộ trong ba năm. Ở phương diện này, ông Ngô giống như người đã thu gọn cả vũ trụ vào thành một chuỗi công thức hóa học: không dữ liệu nào sai cả, nhưng sự kết hợp của chúng lại thiếu một thứ gì đó. Nhưng ông ta đúng ở một điểm - cách dạy tiếng Anh ở Trung Quốc thực sự có vấn đề, sự thụ động của người học chiếm một phần lớn trong vấn đề đó. Người ta có thể luyện thi để đạt điểm tối đa trong kỳ thi TOEFL - bài sát hạch tiếng Anh được sử dụng rộng rãi nhất - nhưng không thể chỉ dựa vào thuộc lòng mà nói thông viết thạo được, cho dù cố gắng đến mấy đi chăng nữa.

Sau bài thuyết giảng của ông Ngô, Xuân Minh và tôi đi quanh quẩn trong lớp học. Cô nhận ra một học viên đã gặp từ lần trước đến đây. Lưu Nghi Hà hai mươi mốt tuổi, có gương mặt tròn, đôi mắt sáng và mái tóc cắt kiểu bát úp khiến cô trông như một búp bê. Cô đã học tiếng Anh ở đây được một năm, đồng thời làm công việc văn thư để trang trải chi phí ăn ở và được miễn học phí. Trước ánh mắt thận trọng của Xuân Minh, Lưu Nghi Hà nói chuyện với tôi bằng tiếng Anh. Cô không có vẻ gì là giống một học sinh lớp năm người Mỹ cả. Nhưng cô không sợ nói, không đưa tay che miệng hay xin lỗi liên tục vì những lỗi sai của mình.

Giờ Lưu Nghi Hà đã có việc mới, dạy tiếng Anh cho các quản lý nhà máy - điều này làm tôi ngạc nhiên, mặc dù không nên như thế. Ở Đông Quản, biết thứ gì đó một chút làm bạn đủ tư cách để dạy nó cho người khác. Tôi hỏi cô xem cô định làm gì tiếp theo.

“ “Thương mại quốc tế” nói như thế nào chị nhỉ?” Cô hỏi tôi bằng tiếng Trung. Tói trả lời. Tham vọng của cô có vẻ rộng lớn như cả thế giới, và dễ dàng đạt được như thể nói to một từ.

Xuân Minh và tôi bước ra khỏi tòa nhà và đi qua bãi cỏ xanh phía trước viện bảo tàng. Đêm đã buông xuống và những ngọn đèn đường trải bóng dài xuống đường đi của chúng tôi. “Tôi phải quyết định,” Xuân Minh nói. “Năm nay tôi sẽ học tiếng Anh hoặc tự mở công ty riêng.”

***

Trong năm đầu tiên xa nhà, Lưu Nghi Hà sống, thở, và ngủ với tiếng Anh kiểu dây chuyền sản xuất. Cô làm việc trong văn phòng cả ngày, còn buổi tối cô học với những cái máy của ông Ngô. Cô ở trong một căn phòng nhỏ phía sau lớp học chung với hai cô gái khác; cả ba đều đang học tiếng Anh, nhưng Lưu Nghi Hà là người chăm chỉ nhất. “Tôi lớn hơn hai người kia một tuổi,” cô kể với tôi, “vì vậy tôi cảm thấy có áp lực phải làm tốt hơn họ.” Quê cô ở tỉnh Giang Tây nghèo nàn nằm trong nội địa, ở đó cha mẹ cô trồng trọt và nuôi vịt. Cô luôn thích ngôn ngữ; ở nhà, cha mẹ cô nói bằng những thổ âm khác nhau và cô đã quen với việc chuyển đổi qua lại giữa những thổ âm ấy. Khi bắt đầu học tiếng Anh ở trường cấp hai, cô đã học khá giỏi. Nhưng cô không thi vào đại học, gia đình cô không đủ tiền để cô học tiếp, vì vậy Lưu Nghi Hà ra đi và đến Đông Quản làm việc.

Ở trường của ông Ngô, cô làm việc để tăng khả năng phát âm của mình - tôi không biết làm sao cô có thể làm được điều đó khi xung quanh chẳng có ai sửa lỗi cho. Cô là học sinh hạng sao của ông Ngô, nhưng quan hệ của họ không được vững bền cho lắm. “Thỉnh thoảng ông ấy quá keo kiệt với em.” Cô kể. “Và ông ta còn không cho em học thuộc các từ vựng nữa.”

“Ông ta không cho cô học thuộc từ vựng?” Tôi hỏi.

“Ông ta khăng khăng bắt em học tiếng Anh theo cách của ông ta. Vì vậy em phải lén học thuộc lòng các từ vựng.”

Lưu Nghi Hà còn xung đột với ông Ngô một trận nữa khi cô ra đi. “Ông ta muốn chụp ảnh em,” cô nói, “nhưng em không để ông ta làm thế.” Ông Ngô dùng ảnh của các học viên để làm tài liệu quảng cáo cho trường học của mình, nhưng Lưu Nghi Hà tự hào với những gì cô hoàn thành và không muốn bất cứ ai nhận ra đó là công của mình. “Mọi thứ tôi đã làm được,” cô bảo ông Ngô, “Tôi đã tự làm, chứ không phải nhờ có ông.”

Ngay cả theo tiêu chuẩn của Đông Quản, Lưu Nghi Hà cũng tiến nhanh một cách đáng sợ. Trong chín tháng từ khi rời trường học của ông Ngô, cô đã làm sáu công việc dạy học khác nhau, lướt đi như một cơn lốc qua những thể hiện khác nhau của sự quản lý kém cỏi. Ở công việc nọ, cô đã chủ động đến tham quan các trường khác để quan sát những cách thức dạy học khác nhau; ông chủ của Lưu Nghi Hà buộc tội cô lén lút làm hai công việc một lúc và sa thải cô. Ở công việc tiếp theo, ai đó nghĩ rằng tổ chức một trường học ngoại ngữ không theo lịch định trước là một ý kiến hay. Bất cứ khi nào một sinh viên đến, Lưu Nghi Hà phải dạy ngay lập tức. “Em dạy năm hay sáu tiếng một ngày, ở tất cả các cấp độ khác nhau,” cô nói. “Lúc này đang dạy mức cơ sở, ngay sau đó em đã phải dạy mức nâng cao rồi.” Cô quá kiệt sức đến nỗi phải nghỉ việc sau một tháng mà không nhận tiền lương.

Ở công việc hiện tại, Lưu Nghi Hà dạy hai tiếng mỗi tối và có cả ngày để chuẩn bị bài cũng như tự học. Cô kiếm được 1.500 nhân dân tệ mỗi tháng - khoảng gần hai trăm đô la, một món khá đáng kể. Nhưng cô lại vừa mới xung đột với giám đốc của trung tâm giảng dạy đó. Ông ta muốn cô nhanh chóng dạy được thật nhiều bài; cô lại nghĩ học viên nên có được sự tự tin khi nói chuyện trước đã. Ông ta phủ quyết cách dạy tập trung vào các trò chơi và sự tham gia của sinh viên hơn là các bài giảng. Ông giám đốc trung tâm ấy không biết ngoại ngữ nào.

Tất cả những người thuê Lưu Nghi Hà làm việc đều nghĩ cô đã tốt nghiệp đại học ngành Tiếng Anh vì đó là điều cô nói với họ trong buổi phỏng vấn xin việc. Điều gây ấn tượng sâu sắc nhất ở cô - là cô đã tìm được cách học một ngôn ngữ khác mà không cần được đào tạo chính quy - đồng thời cũng là điều cô che giấu với hầu hết những người cô quen biết.

SÁU THÁNG SAU LẦN GẶP GỠ ĐẦU TIÊN, tôi đến thăm Lưu Nghi Hà ở ngôi trường nơi cô dạy học ở Thạch Kiệt - một quận công nghiệp khác của Đông Quản mà tôi chưa bao giờ đến. Cô để tóc dài, đeo kính gọng bạc và mặc một chiếc váy kẻ trông rất đứng đắn nghiêm túc, đi giày cao gót đen. Trông cô khá trưởng thành, mặc dù vẫn hơi loạng choạng khi bước đi. Trong lúc ăn cơm sườn ở một nhà hàng bán đồ ăn nhanh, chúng tôi nói chuyện, bằng tiếng Trung, về tiếng Anh. Lưu Nghi Hà muốn xin việc làm phiên dịch ở nhà máy để có thể nâng cao khả năng tiếng Anh của mình -Thương mại quốc tế nói như thế nào chị nhỉ? - nhưng nếu không có kinh nghiệm làm việc trong nhà máy, sẽ chẳng ai nhận cô cả. Cô bị ám ảnh bởi thứ ngôn ngữ đó; câu chuyện trong bữa tối của chúng tôi không bao giờ lạc ra khỏi chủ đề này.

Sau khi ăn xong, Lưu Nghi Hà nhìn tôi và hỏi: “Chị nghĩ em nên làm gì để nâng cao khả năng tiếng Anh của mình?”

“Cô nên nói chuyện với những người bản ngữ càng nhiều càng tốt,” tôi đáp. Lời vừa tuột ra khỏi miệng, tôi liền nhận ra đó là một lời khuyên vô dụng, bởi hiếm khi tôi thấy một người phương Tây nào ở Đông Quản bên ngoài sảnh của khách sạn Sheraton. Sự thực là, cách tốt nhất để học tiếng Anh là hẹn hò với một người nước ngoài - có vô số tiểu thư đã trở nên nói thông viết thạo bằng cách này - nhưng tôi không thể nói chuyện đó với Lưu Nghi Hà được.

“Còn ngành du lịch thì thế nào?” Tôi hỏi cô.

Cô đặt lòng bàn tay lên đỉnh đầu. “Nhìn em đây này. Em không đủ tiêu chuẩn chiều cao. Hướng dẫn viên du lịch ít nhất phải cao 1,6 mét.”

Đúng vậy - đó là một đề nghị ngu ngốc khác. Tôi đã hoàn toàn quên rằng chiều cao có thể ảnh hưởng đến công dụng của tiếng Anh ở một nơi như Đông Quản. Trong khi đó, Lưu Nghi Hà lo lắng rằng kỹ năng ngôn ngữ của cô đang thui chột dần, làm giáo viên ở các trường học có vẻ như là một ngõ cụt. Trong một thành phố bị chiếm lĩnh bởi các nhà máy, trường tư cũng chỉ là một dịch vụ chất lượng thấp khác mà thôi. Trong hệ thống trường học chính quy, giáo viên được hưởng sự tôn kính và các lợi ích khác, nhưng Lưu Nghi Hà sẽ không bao giờ bước vào được thế giới của họ. “Họ có hệ thống riêng của mình,” cô nói. “Họ không thể chấp nhận được rằng em có kinh nghiệm từ xã hội.”

Sau bữa ăn, Lưu Nghi Hà đưa tôi về trường cô - một tòa nhà văn phòng bốn tầng hầu như trống không vào giờ này. Vài giáo viên đang chơi bi-a trong một phòng học, hai chàng trai trẻ hát karaoke ở một phòng khác, giọng lạo xạo của họ vang vọng dọc hành lang. Các phòng học chỉ đầy người vào buổi tối khi người ta đi làm về. Trường học thường đóng cửa vào buổi tối, nhưng ở Đông Quản, thời gian biểu cho việc học đã đảo lộn, như thể những nơi này được gắn với một múi giờ cách đây nửa vòng trái đất vậy.

Trong lớp của mình, Lưu Nghi Hà cho tôi xem các cuốn giáo trình tiếng Anh của cô. Cô chỉ ra một cuốn mình thích vì nó khuyến khích người học thực hành những gì họ đã học được; cô phê bình một cuốn khác vì mỗi bài học có quá ít kiến thức. Trong cuốn Từ ABC đến đàm thoại bằng tiếng Anh có một đoạn hội thoại mẫu chẳng liên quan gì đến thực tế ở Đông Quản cả:

Are those factories?

No, they aren't. They are parks.

(Đó có phải các nhà máy không?

Không, không phải. Chúng là công viên.)