Kim Ốc Hận (Tập 1: Duyên) - Phần I - chương 14 phần 2

Sau khi gia nhập phường may Tạp Môn, Hạ Đông Trữ nghe theo ý
Hàn Nhạn Thanh mở một cửa hông tại viện Đan Tâm mà hai mẹ con nàng ta ở để khi
ra vào không phải giáp mặt với những người khác trong Hạ phủ. Thật ra theo ý
Hàn Nhạn Thanh thì tốt nhất là xây lên một bức tường triệt để ngăn cách viện
Đan Tâm và Hạ phủ nhưng mẫu thân của Hạ Đông Trữ không chịu, nói như vậy sẽ làm
xấu đi tình cảm giữa người một nhà.

Tình cảm, Hàn Nhạn Thanh cười khinh miệt, bọn họ đã không
coi các người là người một nhà rồi, các người còn bận tâm về cái tình cảm đó
làm gì chứ? Tới nơi, nàng bảo phu xe chờ ở bên cửa hông viện Đan Tâm còn mình
thì nâng váy đi vào.

Cửa hàng mở hé một nửa không có ai trông chừng. Hàn Nhạn
Thanh bước vào, trong lòng tràn ngập cảm giác kỳ quái, đi ngang vườn thì đột
nhiên nghe thấy sâu trong rừng đào có tiếng người tranh cãi, trong đó có một
giọng trong trẻo chính là Hạ Đông Trữ.

Nàng nghiêng mình đi tới, từ đằng xa đã thấy Hạ Đông Trữ mặc
y phục màu lam dịu dàng tươi tắn đứng dưới một cây hoa đào và đối diện với nàng
ta, Hàn Nhạn Thanh cau mày, lại là Liễu Ngôn Hạ.

“Đông Trữ, nàng phải tin tưởng ta, lúc đó thật sự ta bất đắc
dĩ mà thôi.”

“Ngươi còn chưa nói đã vào đây bằng cách nào?”, Hạ Đông Trữ
không hề bộc lộ chút tình cảm, hỏi trống không một câu.

“Năm xưa là cái tên ác ôn họ Hàn kia”, Liễu Ngôn Hạ nói bừa,
“Hắn bức ép ta, ta vạn bất đắc dĩ mới phải nói cho hắn biết tin tức về nàng.”

Ở đằng xa, Hàn Nhạn Thanh nheo mắt, hay cho họ Liễu, đồ ăn
cháo đá bát, bán đứng người khác như ngươi mà còn dám gắp lửa bỏ tay người.

“Đông Trữ, tuổi nàng cũng lớn rồi”, Liễu Ngôn Hạ tiếp tục
huyên thuyên, dường như không nhìn thấy vẻ mặt thiếu kiên nhẫn của Hạ Đông Trữ,
“Ta cũng không chê nàng bị tên họ Hàn giày xéo, cam tâm tình nguyện lấy nàng.
Nàng cũng đừng lăn lộn ở phường may Tạp Môn đó nữa, nhà nhạc phụ có sản nghiệp
lớn như thế mà lại để nàng và nhạc mẫu đói khát sao?”

Hàn Nhạn Thanh đột nhiên nghe thấy tin tức động trời như vậy
thì quá kinh ngạc bước hụt một cái khiến Hạ Đông Trữ lập tức cảnh giác, “Ai?”

Hàn Nhạn Thanh bước ra ngoài. Đang tiết xuân nên hoa đào nở
rộ, một cơn gió thổi qua khiến mấy cánh hoa rụng xuống vai nàng, khẽ lay động
rồi trượt theo y phục xuống đất.

Hạ Đông Trữ liếc qua thì thấy một cô gái xa lạ đang đi tới.
Cô gái này mặc chiếc váy dài có kiểu dáng bình thường nhưng cách cắt may lại là
thượng phẩm để lộ ra vòng eo không hơn một chét tay[3]. Nàng nhìn
qua cũng có thể nhận ra đây là tay nghề của phường may Tạp Môn, dùng chỉ thêu
cùng màu thêu lên đủ các hình hoa mẫu đơn phức tạp. Bộ y phục này dành riêng
cho một người con gái đang ở xa tận vùng biên cương mặc. Đôi mắt linh động của
cô gái khiến Hạ Đông Trữ có một cảm giác quen thuộc tới kỳ lạ.

[3] Chét tay: Một lượng vừa nắm gọn trong hai lòng bàn
tay.

“Tỷ tỷ?”, Hạ Đông Trữ hô lên thất thanh.

“Đông Trữ”, Hàn Nhạn Thanh vén cành đào, mỉm cười đi tới,
“Nhiều năm không gặp muội”, nàng cố ý nhấn giọng, nhìn sâu vào mắt Hạ Đông Trữ,
“vẫn khỏe chứ?”

“Muội vẫn khỏe.” Hạ Đông Trữ dường như nhớ lại điều gì, lạnh
mặt quay sang Liễu Ngôn Hạ, “Ngươi có thể đi rồi.”

“Ngươi”, Liễu Ngôn Hạ tái mặt, “Ngươi đừng tưởng rằng mình
là tiểu thư khuê các con nhà đại gia gì, nếu không phải cha ngươi trả tiền thuê
ta tới thì ta sẽ không bao giờ thèm cái thứ hoa tàn liễu rủ như ngươi.”

Hạ Đông Trữ tức giận đến lạnh toát tay chân, nước mắt trào
ra, “Cút.” Nàng ta chỉ về hướng cánh cửa trống không, lạnh lùng quát lên.

“Sao lúc đầu muội lại mù mắt coi trọng hắn như thế chứ?”, Hạ
Đông Trữ dùng khăn lau nước mắt, nói vẻ oán hận.

“Cho nên tỷ nói con mắt chọn đàn ông của muội không ra gì
mà”, Hàn Nhạn Thanh không muốn nàng ta thương tâm nên trêu đùa, tiếp đó nghiêm
nghị hỏi, “Viện Đan Tâm lớn như thế này mà sao lại không có người canh cửa?”

Hạ Đông Trữ tỏ vẻ rầu rĩ, thấp giọng nói, “Chắc chắn là cha
muội dã điều đi để cho Liễu Ngôn Hạ vào.” Nàng khổ sở: “Tốt xấu gì thì cũng là
cha con với nhau, làm gì mà phải dùng tới cách này.”

“Bá mẫu!”, Hàn Nhạn Thanh bước vào phòng, thấy Hạ phu nhân
nằm ở trên giường, sắc mặt tái nhợt, hốc mắt lõm sâu, thân thể quả thật suy
nhược tới cực điểm. Trong hơn nửa năm nàng ở Trường An, Hạ phu nhân đối xử với
nàng rất tốt nên nàng vội bước tới bắt mạch cho bà.

“Đại phu trong thành Trường An đều nói là ho lao, không cứu
được nữa rồi”, Hạ Đông Trữ rầu rĩ, giọng nói ảm đạm dường như mất hết hy vọng.

“Ha ha, ai nói vậy”, Hàn Nhạn Thanh cười khẩy, “Đông Trữ
quên sư phụ của tỷ là ai sao?”

“Tiêu tiên sinh!”, Hạ Đông Trữ sáng mắt lên. Nàng vốn rất
kính trọng và ngưỡng mộ Tiêu Phương, cũng loáng thoáng biết y thuật của hắn như
thần, “Tỷ tỷ có biện pháp trị bệnh sao?”

“Để tỷ thử xem.” Hàn Nhạn Thanh mặc dù có học dược lý, đọc
qua một số sách trung y nổi danh đời sau nhưng rất ít thực hành nên không dám
bảo đảm, trầm ngâm nói, “Muội lấy giấy bút ra đây.”

“Được rồi.” Hạ Đông Trữ quay đi lấy giấy bút tới. Hàn Nhạn
Thanh cúi đầu suy nghĩ một chút rồi viết ra một đơn thuốc mang tính ôn hòa để
ổn định lại thân thể.

“Nói đến bút mực…”, Hạ Đông Trữ vì có hy vọng mẫu thân sẽ
bình phục nên tâm trạng cũng khá hơn, “nghe nói Tang tiên sinh tính toán mở một
cửa hiệu chuyên bán giấy bút tên là Tức Lam các, chuẩn bị khai trương rồi!”

“Cái gì?”, Hàn Nhạn Thanh ngẩng đầu, thoáng giật mình.

Năm đó, Hàn Nhạn Thanh, Tang Hoằng Dương và Liễu Duệ gặp lại
nhau, cả ba người đều nhận thấy không thích ứng được với trúc giản, còn dùng tơ
lụa thì cao quý nhưng lại không quen. Cho nên sau khi kinh doanh phường may và
lầu Thanh Hoan có lợi nhuận thì họ quyết định nghiên cứu kỹ thuật làm giấy.

Tang Hoằng Dương biết rõ đạo lý khéo quá hóa hỏng. Nếu nói
về kiếm cơm gạo thì phường may và lầu Thanh Hoan đã chiếm hai vị trí hàng đầu.
Nếu bọn họ muốn nhúng tay vào tất cả mọi việc thì sẽ khiến mọi người chú ý.
Trong ba người, ngoài Tang Hoằng Dương thì Liễu Duệ là xuyên không thân thể,
còn thân phận của Hàn Nhạn Thanh lại không thể để cho người ngoài biết. Mặc dù
người nào cũng bố trí che đậy nhưng nếu có người truy xét đến cùng thì cũng có
thể điều tra ra. Vì thế ba người cùng nỗ lực giữ công nghệ làm giấy ở phạm vi
nhỏ nhất, chỉ sử dụng trong đám nhân sĩ thân cận thôi. Trước mắt, ngoài ba
người thì chỉ Triêu Thiên môn ở Đường Cổ Lạp Sơn và Hạ Đông Trữ là có loại đồ
dùng hiếm lạ này. Thân đại nương không biết chữ nên không cần.

Theo ý Hạ Đông Trữ thì Tang Hoằng Dương lại đang tính toán
dùng thân phận của mình đưa giấy mực ra kinh doanh như một nghề làm ăn mới. Hàn
Nhạn Thanh ngồi trên xe ngựa, nhíu mày không giải thích được. Lẽ ra Tang Hoằng
Dương không được tự tiện quyết định như vậy cho dù thời cuộc có biến hóa nhưng
cũng nên thương lượng trước với nàng và Liễu Duệ mới phải.

Rời khỏi viện Đan Tâm, Hàn Nhạn Thanh thấy lầu Thanh Hoan
ngay gần bèn chuyển hướng đi tới đó, hy vọng có thể gặp được Tang Hoằng Dương.

Lúc nàng đến lầu Thanh Hoan thì Tang Hoằng Dương không có
mặt nhưng thư đồng Chiêu Tài của hắn đang ở đó, trông thấy Hàn Nhạn Thanh vội
vàng tới nghênh đón, tỏ vẻ ngạc nhiên, “Tiểu thư, người đã về Trường An rồi?”

“Thì sao? Không hoan nghênh ta hả?”, Hàn Nhạn Thanh mỉm cười
hỏi. Tang Hoằng Dương quản lý đầu bếp của lầu Thanh Hoan vô cùng tốt cho nên đến
nay lầu Thanh Hoan là số một ở thành Trường An, hàng ngày quan lại quyền quý,
dân chúng phố phường ra vào không ngớt.

Trên sàn diễn giữa hai lầu, người thuyết thư[4] kể
chuyện Tam Quốc Diễn Nghĩa lúc này đang sôi trào nhiệt huyết
diễn giải việc Gia Cát Lượng bố trí “Không thành kế”[5], Tư Mã Ý đa
nghi lui binh, lầu trên lầu dưới rầm rầm ủng hộ.

[4] Thuyết thư: Thuyết thư là cách gọi khác của nghệ
thuật Hát nói Trung Quốc, bao gồm các thể loại như Bình sách, Đàn từ, Bình
thoại… Người thuyết thư là người biểu diễn các tiết mục Hát nói trước đám đông.

[5] “Không thành kế”là kế sách thứ tư trong nhóm kế sách
“Nghi binh”. Khổng Minh cuối thời Tam quốc đã sử dụng kế này khi chống lại sự
tấn công vào thành Bình Dương của đội quân Tư Mã Ý. Biết rằng mình đang ở thế
yếu hơn, ông đã cố tình bố trí quang cảnh thành Bình Dương càng tiêu điều xơ
xác để quân địch cảm thấy hoang mang, không dám tin vào tình cảnh quá sức bi
đát đó của mình, còn sợ sa bẫy nên luống cuống đào thoát. Nhờ vậy mà Khổng Minh
đã có đủ thời gian tập trung binh lực, trở lại với thế mạnh thường có của mình.

Đột nhiên người thuyết thư gõ thẻ gỗ một cái, chắp tay nói,
muốn biết tiếp theo thế nào, xin nghe hồi sau sẽ rõ. Tấm màn che từ từ buông
xuống, mấy thiếu nữ ôm đàn tỳ bà bước lên, hát bài Phiến vĩ khúc:

“Trường giang lớp lớp chảy về đông

Sóng dâng cuộn hết anh hùng

…”

“Hay!” Một giọng nữ thanh nhã từ phía sau truyền đến. Hàn
Nhạn Thanh quay đầu nhìn lại, thấy một đôi nam nữ từ trên lầu đi xuống, nam thì
nho nhã lịch sự, tuấn tú phong độ, nữ thì thanh tao quyến rũ, khí chất cao
sang.

“Khúc hát thật thay. Trường Khanh[6] này,
chàng có biết nữ ca sĩ chơi nhạc cụ gì không?”

[6] Trường Khanh: Tên tự của Tư Mã Tương Như.

“Nhạc cụ này gọi là đàn ‘ô đặc’ từ Tây Vực truyền đến, người
Trung Nguyên thấy khó đọc mới gọi là đàn ‘tỳ bà’”, Hàn Nhạn Thanh nói, mắt nàng
sáng lên, mơ hồ đoán được thân phận của hai người này, mỉm cười bước ra nghênh
đón.

“Nghe ý tứ như vậy thì chắc hẳn phu nhân rất giỏi môn này?”,
Trác Văn Quân hơi kinh ngạc, nhưng nhanh chóng thừa nhận thân mật hỏi.

“À, cũng hơi biết một chút”, Hàn Nhạn Thanh vã mồ hôi, đây
chính là cách nói khiêm nhường mà người cổ đại thường xuyên sử dụng. Nàng từng
học đàn tỳ bà nhưng chỉ học sơ qua, có thể gảy được một khúc nhưng đến chỗ cao
siêu thì không bàn được. Hồi mới chơi, nàng khoác lác là người giỏi nhất cả
nước, bây giờ thì e rằng một nữ ca kỹ tầm thường nhất trong lầu Thanh Hoan cũng
hơn nàng.

“Nếu Tư Mã đại nhân và phu nhân có hứng thú, chúng ta hãy
vào trong nói chuyện.” Nói gì thì nói Hàn Nhạn Thanh cũng không chịu để cho hai
người đi, “Tôi sẽ bảo người ca cơ này đàn vài khúc mới cho hai người nghe.”

“Ồ!” Ngay cả Tư Mã Tương Như cũng cảm thấy có hứng thú. Hai
vợ chồng họ rất giỏi âm nhạc, vừa mới tới kinh thành đã được nghe ở lầu Thanh
Hoan này một khúc hát hay, theo lời Hàn Nhạn Thanh thì hẳn là còn không ít bài
mới khác, “Phu nhân là chủ nhân lầu Thanh Hoan à?”

“Coi như là một
nửa thôi.” Hàn Nhạn Thanh đưa tay duyên dáng nói, “Xin mời”, rồi đưa bọn họ vào
phòng, quay lại bảo Chiêu Tài, “Hãy mời Mai cô nương đến đây.”

Một cô gái mặc y
phục trắng như tuyết vén rèm bước vào, bàn tay nõn nà như ngọc, “Ký Giang ra
mắt phu nhân, ra mắt Tư Mã đại nhân, Tư Mã phu nhân.”

Mai Ký Giang quỳ
gối thi lễ, đàn tỳ bà che khuất nửa khuôn mặt, chỉ hé ra nửa bên trái được ánh
mặt trời từ cửa sổ phía bắc mờ mờ chiếu vào, tuy không phải nghiêng thành tuyệt
sắc nhưng cũng khá tươi tắn quyến rũ, không hề gợn chút phong trần.

“Ký Giang, tên
rất hay”, Trác Văn Quân cười khanh khách nhìn sang, khen, “Quả thật là một cô
nương thanh khiết như băng tuyết.”

“Đa tạ Tư Mã phu
nhân khích lệ”, Mai Ký Giang dịu dàng trả lời, “Đây là nghệ danh phu nhân chọn
cho tôi.”

“Ồ, có thể biểu
diễn luôn không?” Tư Mã Tương Như mỉm cười hỏi. Hắn bỗng kinh ngạc thốt lên khi
trông thấy nước trà mà người hầu dâng tới, là trà màu xanh biếc mát mắt, nở xòe
trong nước như một đóa hoa. “Trà này chắc là có tên chứ?”

“Tiểu nữ bất tài
nhưng cũng đã đặt tên. Tư mã đại nhân nổi tiếng thiên hạ, xin hãy giúp bình
phẩm. Trà tên là ‘Minh Tiền Vũ Hậu’.”

“Minh Tiền Vũ Hậu”,
hai vợ chồng nhấp thử một ngụm, liền cảm thấy như hoa thêu trên gấm, hương tan
trong miệng, bèn khen, “Tên rất hay!”

“Đến phần Ký
Giang biểu diễn rồi. Ký Giang”, Hàn Nhạn Thanh khẽ đưa mắt, “Tỷ hãy hát cho Tư
Mã đại nhân và Tư mã phu nhân nghe bài Tây Châu khúc đi.”

“Được!” Mai Ký
Giang ngồi ở chiếu dưới, chỉnh dây đàn rồi khoan thai đàn hát:

“Nhớ Mai ở Tây
Châu,

Chặt gửi ra
miền Bắc.

Cánh đơn nhụy
đỏ hồng,

Hai nhành nâu
một sắc

Tây Châu ở
chốn nào?

Sông sâu cầu
kết nối

Hoàng hôn chim
khách kêu

Cành phong theo gió thổi.

Dưới cây là cổng trước

Vào trong đến vườn xanh

Mở cửa chàng không tới

Đành đi hái sen hồng

Hái sen ao phía Nam

Đài sen vượt quá đầu

Cúi đầu tách mấy hạt

Hạt sen ngọt nước Thu

Sen giấu trong tay áo

Tâm sen đỏ rực nồng

Nhớ chàng chàng chẳng đến

Ngẩng đầu hỏi chim Hồng

Chim bay khắp Tây Châu

Thấy chàng đến lầu xanh

Lầu cao lạc mất bóng

Ngày đậu hành lang trống

Hành lang mười hai khúc

Tay ai muốt như ngọc

Vén rèm cuốn trời cao

Biển trời màu xanh lục

Biển trời mộng phiêu diêu

Chàng sầu thiếp cũng sầu

Gió Nam hiểu lòng thiếp

Chuyển mộng đến Tây Châu.”

Bài Tây Châu khúc này vốn là một trong
những bài dân ca nổi tiếng nhất Nam Triều, ca từ mộc mạc trong sáng, hoàn toàn
tự nhiên. Giọng hát Mai Kỳ Giang cực kỳ êm ái, lại cố ý dùng phong cách đàn hát
của Tô Châu như Hàn Nhạn Thanh bày dạy, thổ âm nước Ngô nhẹ nhàng ngân nga, lan
tỏa khắp phòng như hơi thở vùng sông nước Giang Nam đang vỗ dồn.

Khúc hát đã hết mà Tư Mã Tương Như và Trác Văn Quân còn ngây
ngất mãi. “Đây là lời bài hát Tây Châu khúc”, Hàn Nhạn Thanh không thay đổi sắc
mặt, đưa cho hai người khúc phổ.

Có trí nhớ của A Kiều làm cơ sở, cộng thêm mấy năm tự khổ
luyện, có thể nói Hàn Nhạn Thanh hôm nay đã có thể viết đủ bốn kiểu chữ Thượng
Thanh Lệ Điền, nhưng điều hai vợ chồng chú ý tới trước tiên không phải là chữ
của nàng, thậm chí không phải là lời bài hát Tây Châu khúc, mà là
trang giấy mềm mại trắng nõn ghi chép bài hát.

“Đây là loại giấy mà chính miệng Hoàng thượng từng tán
dương, gần đây truyền tụng huyên náo cả thành Trường An đó ư?” Tư Mã Tương như
than lên, “Quả nhiên là tuyệt phẩm.”

Hàn Nhạn Thanh buồn bực, loại giấy giá cả bình thường của
đời sau như thế này mà cũng được các người sùng bái vậy sao? Nhưng nàng lại có
được một thông tin, chính miệng Hoàng thượng khen? Tang Hoằng Dương hiến tặng
giấy bút cho Hán Vũ Đế sử dụng rồi sao? Nói đi cũng phải nói lại, nếu quả thật
quyết định kinh doanh giấy mực thì lấy Lưu Triệt làm hình ảnh ngươi phát ngôn
cũng không tệ, ít nhất là có sức hấp dẫn rất lớn.

“Tức Lam viên phải tới cuối tháng mới được khai trương, phu
nhân lại có loại giấy này, vậy phu nhân và Tang Hoằng Dương đại nhân…?”, Tư Mã
Tương Như trầm tư hỏi.

“Tang đại nhân là nghĩa huynh của tôi.”

“Nhạn Thanh muội trở về mà không thèm báo cho ta một tiếng
nhé.” Tang Hoằng Dương mặc một bộ y phục màu xanh cười dài từ bên ngoài rèm rồi
bước vào, không nhìn sang Mai Kỳ Giang đang đứng dậy hành lễ mà phất tay cho
nàng ta lui, nói với Hàn Nhạn Thanh vẻ giận dỗi, “Muội còn biết trở về cơ đấy.”

“Hì”, Hàn Nhạn Thanh cười lúng túng, biết Tang Hoằng Dương
đang oán trách nàng bỏ hắn một mình ở lại Trường An, vội vàng lảng sang chuyên
khác, “Đây là Tư Mã Tương Như đại nhân và phu nhân, còn đây chính là Trị túc đô
úy Tang Hoằng Dương đại nhân.”

Tang Hoằng Dương thu lại vẻ phóng túng, tôn kính cúi chào,
“Nghe tiếng tăm Tư Mã đại nhân đã lâu, hôm nay mới được gặp, quả nhiên nghe
danh không bằng gặp mặt. Về phần giấy của Tức Lam viên, nếu Tư Mã đại nhân
thích thì đến ngày khai trương, ta sẽ cho người mang đến quý phủ.”

“Làm sao dám nhận”, Tư Mã Tương Như đáp lễ, “Vẫn nói là vô
công bất thụ lộc, nhưng đến ngày khai trương Tức Lam viên, vợ chồng ta nhất
định sẽ tới dự. Hôm nay huynh muội gặp lại nhau thì chắc chắn có nhiều chuyện
muốn nói, phu thê chúng ta xin cáo từ trước.”

Dân Tây Hán cởi mở phóng khoáng không phân biệt nam nữ nặng
nề như triều Tống đời sau, hơn nữa không phải ai cũng “biến thái” giống như cha
của Hạ Đông Trữ cho nên Tang Hoằng Dương có thể đi thẳng vào phòng có khách nữ,
còn Trác Văn Quân cũng có thể thoải mái từ biệt.

Hàn Nhạn Thanh cầm tay Trác Văn Quân mỉm cười nói, “Trác tỷ
tỷ, khi nào rảnh rỗi thì đến chơi với muội, muội nhất định sẽ mở tiệc tiếp
đãi.”

Trác Văn Quân theo Tư Mã Tương Như rời đi, Hàn Nhạn Thanh
nhìn bóng lưng của nàng bỗng thấy trống trải. Đây là một trong những cô gái mà
nàng ngưỡng mộ, có thể dũng cảm yêu, dũng cảm nói lời cự tuyệt. Còn Tư Mã Tương
Như từng vì nàng ta viết bài Trường Môn phú. Hàn Nhạn Thanh hừ lạnh một tiếng,
cũng chỉ là một người đàn ông phụ tình vô ơn bạc nghĩa.

“Đủ rồi!”, Tang Hoằng Dương cầm quạt cốc vào đầu của nàng,
“Tỉnh lại đi.”

“Không được cốc đầu muội”, Hàn Nhạn Thanh tức giận quát lên.
Hai người đã quen lúc nào cũng phải tính toán, thủ đoạn trong cuộc sống, giờ
chỉ còn mỗi bạn bè liền trở lại tính trẻ con.

“Huynh muốn mở Tức Lam viên thật sao?” Hàn Nhạn Thanh tìm
chỗ ngồi xuống.

“Còn chưa…”, Tang Hoằng Dương có vẻ hơi phiền muộn, “Hôm đó
ta đang viết chữ trong thư phòng thì Hoàng thượng cải trang dẫn Dương Đắc Ý và
thị vệ đi vi hành, ngang qua Tang phủ nhất thời cao hứng rẽ vào thăm nhưng
không cho người thông báo mà cứ thế đến thẳng thư phòng nên bắt được quả tang.”

Thì ra là vậy, Hàn Nhạn Thanh im lặng, “Thế huynh đối phó
như thế nào?”

“Ta đổ cho A Duệ”, Tang Hoằng Dương đắc ý, “Dù sao thì hắn
cũng đã có hai phát minh rồi, thêm một nữa thì cũng chẳng sao. Ta chỉ nói rằng
trong khi chế tạo binh khí đã bất ngờ phát minh, vì thấy không quan trọng cho
nên chỉ nói cho ta biết.”

“Phải thống nhất lời khai đấy”, nàng nhắc nhở.

“Ta biết”, Tang Hoằng Dương chỉ tay nói tiếp, “Y vừa thấy nó
thì rất vui mừng, nói cái này còn quan trọng hơn cả binh khí, nhất định phải
phát triển rộng ra, lập tức phất tay phê chuẩn cho ta lấy thân phận quan lại để
kinh doanh.”

“Ừm”, Hàn Nhạn Thanh đang thầm suy tính, chỉ lơ đãng nói,
“Thế thì tốt rồi.”

“Tốt cái gì chứ”, Tang Hoằng Dương chán nản, “Hoàng thượng
nói một nửa thu nhập của Tức Lam viên phải nộp vào quốc khố.”

Hàn Nhạn Thanh choáng váng, “Như thế cũng vẫn còn tốt….”
Nàng miễn cưỡng, “Ít nhất huynh còn được cái tư cách quan thương nghiệp.”

“Dẹp cái trò an ủi đi”, Tang Hoằng Dương gạt đi, “Không nói
nữa, Mạch nhi và Sơ nhi đâu?”

“Ở chỗ sư phụ.”

“Năm Nguyên Sóc nguyên niên, Vệ Tử Phu sinh hạ Lưu Cứ, trên
danh nghĩa là hoàng tử trưởng, được tấn phong hoàng hậu”, Tang Hoằng Dương nhìn
nàng đầy ẩn ý, “Nhạn nhi, muội thấy rồi đó.”

Hàn Nhạn Thanh nhìn đi chỗ khác. Nàng cố không chú ý đến nỗi
đau bị Tang Hoằng Dương khơi dậy làm chảy máu đầm đìa, nhất thời không biết nên
căm hận hay giận dữ.

Người người ca tụng Giang Nam

Khách du chỉ muốn ở thăm trọn đời

Nước xuân xanh biếc chân trời

Thuyền hoa nghe tiếng mưa rơi rộn ràng

Bê vò em ngước khuôn trăng

Đôi tay trắng muốt như ngừng tuyết sương

Chưa già chớ kể hồi hương

Bởi chưng mang nỗi đoạn trường về theo

(Bồ tát man – Kỳ 3 – Vi Trang)