Nhảy, nhảy, nhảy - Chương 30 phần 2

Tôi chậm rãi đi xung quanh, căng mắt quan sát những gì có thể.
Những đồ nội thất lạ thường xếp ở các góc phòng. Cái bóng xám kia có lẽ
là ghế sofa, ghế đẩu, bàn hay cái tủ. Kỳ lạ, thật kỳ lạ. Cảnh này như
được bố trí bằng máy ly tâm, siêu thực, mà lại rất thực. Ý tôi muốn nói
rằng đồ nội thất ở đây trông rất thật.

Trên ghế sofa là
một thể màu trắng. Một tờ giấy à? Hay cái túi trắng mà Yuki đang đeo.
Tôi lại gần hơn và thấy rằng nó là một cái gì đó rất khác.

Cái gì đó như là những khúc xương.

Hai
bộ xương người ngồi cạnh nhau trên ghế sofa. Hai bộ xương người hoàn
chỉnh, một lớn, một nhỏ hơn, đang ngồi cạnh nhau chính xác như người
sống. Bộ xương lớn hơn đặt một tay lên lưng tựa sofa. Bộ xương nhỏ hơn
hai tay đặt ngay ngắn trên đùi. Như người chết đột ngột, trước khi kịp
biết bị tấn công bởi cái gì, rồi da thịt tiêu tan, nhưng tư thế ngồi vẫn
không hề suy suyển. Dường như họ đang cười. Đang cười, và trắng đến lạ
lùng.

Tôi không thấy sợ. Tại sao, tôi hoàn toàn không hiểu, nhưng
tôi rất bình tĩnh. Mọi thứ trong căn phòng này quá tĩnh lặng, nhưng bộ
xương sạch và lặng lẽ. Hai bộ xương đã chết, chết hoàn toàn và không thể
thay đổi được gì. Không có gì phải sợ cả.

Tôi chậm rãi đi quanh
phòng. Tất cả có sáu bộ xương người. Tất cả đều hoàn chỉnh, chỉ trừ một
cái. Tất cả đều ngồi trong tư thế tự nhiên. Một người đàn ông (ít nhất
qua vóc dáng tôi đoán đó là một người đàn ông) đang chăm chú xem tivi.
Một người khác đang khom người qua bàn ăn đầy bát đĩa, đồ ăn giờ chỉ là
bụi. Vẫn còn một bộ xương nữa, bộ duy nhất không hoàn chỉnh, đang nằm
trên giường. Cánh tay trái từ chỗ bả vai trở xuống không còn.

Tôi nhắm nghiền mắt lại.

Cái quái gì thế này? Kiki, em đang cố gắng cho tôi thấy điều gì vậy?

Lại
một lần nữa, tôi nghe tiếng bước chân. Từ một căn phòng khác, nhưng ở
hướng nào? Dường như không thể định vị được. Với những gì tôi có thể
nhìn thấy, căn phòng này là chỗ cuối cùng. Không còn đường ra nào khác
nữa. Tiếng bước chân tiếp tục, rồi biến mất. Sự im lặng còn phảng phất
lại bỗng trở nên nặng nề tới mức ngột ngạt. Tôi lấy tay lau mồ hôi trên
mặt. Kiki lại biến mất một lần nữa.

Tôi đi ra theo lối đã bước
vào. Cái liếc cuối cùng: sáu bộ xương người mờ trong bóng tối buồn thảm.
Dường như họ sẵn sàng đứng dậy và đi lại ngay sau khi tôi đi khỏi. Họ
sẽ bật ti vi và hâm nóng đồ ăn. Tôi đóng cánh cửa nhẹ nhàng để không làm
phiền, rồi xuống cầu thang trở lại gian phòng trống rỗng. Vẫn thế,
không một bóng người, báo cũ vứt lung tung trên sàn. Đèn đường đã sáng
hơn; xe tải vẫn đậu trên con đường hẹp. Mặt trời đã hoàn toàn khuất
bóng. Không có ai trong tầm nhìn.

Khi tựa vào bậu cửa sổ ám bụi,
tôi thấy một mảnh giấy nhỏ bằng một tấm danh thiếp. Tôi nhặt lên và đọc
cẩn thận. Trên đó có một số điện thoại. Mảnh giấy vẫn còn mới, nét mực
chưa mờ. Thật đáng tò mò. Tôi đút vào túi và đi ra hành lang.

Tôi
thử cố tìm người quản lý khu nhà để hỏi về văn phòng, nhưng tôi chợt nhớ
tới Yuki đang mắc kẹt trong xe, ở một khu không an toàn của thành phố.
Tôi đã bỏ con bé một mình bao lâu rồi? Hai mươi phút? Hay một tiếng?
Chiều dần tối thẫm.

Khi trở lại ô tô, Yuki đang mê man, mặt vùi xuống ghế, đài vẫn mở. Tôi gõ cửa kính, con bé mở cửa.

“Chú xin lỗi,” tôi nói với thái độ long trọng.

“Đủ
mọi loại người quái đản đến. Họ la hét, đập mạnh lên kính chắn gió và
lắc xe nữa,” con bé kể, gần như đờ đẫn. “Cháu sợ không còn biết gì nữa.”

“Chú rất xin lỗi.”

Yuki
nhìn thẳng vào mặt tôi. Rồi đôi mắt nó trở lên lạnh giá. Đồng tử không
còn thần sắc, nét mặt run rẩy như mặt hồ bị một chiếc lá rơi làm gợn
sóng. Môi con bé nghẹn ngào không thành tiếng. Chú đã đi vào cái nơi quái quỷ nào vậy?

“Chú
không biết,” giọng tôi vang lên từ một nơi nào đó rồi mờ dần vào khoảng
không xa xa giống như những bước chân vang vang kia vậy. Tôi móc túi
lấy một chiếc khăn tay rồi chậm chạp lau mồ hôi trên trán. “Chú không
biết.”

Yuki nheo mắt và chạm tay lên má tôi. Những ngón tay của
con bé mềm và mịn. Con bé hít hít không khí xung quanh tôi, chiếc mũi
nhỏ bé của nó khẽ phồng lên. Nó nhìn tôi lâu hơn. “Chú đã thấy gì phải
không?”

Tôi gật đầu.

“Nhưng chú không thể nói nó là cái gì.
Chú không diễn tả bằng lời được. Không thể giải thích với bất kỳ ai.
Cháu hiểu điều đó.” Con bé ngả người, lướt má nó qua má tôi. “Thật đáng
thương,” Yuki nói.

“Thế nào?” Tôi hỏi và cười lớn. Chẳng có lý do
gì để cười cả, nhưng tôi không thể nhịn được. “Xét toàn diện, chú là
người đàn ông bình thường nhất mà cháu có thể tìm được. Vậy tại sao
những điều kỳ lạ này lại cứ xảy xa với chú nhỉ?”

“Phải, tại sao nhỉ?” Yuki nói. “Đừng nhìn cháu. Cháu chỉ là một đứa trẻ. Ở đây chú là người lớn cơ mà.”

“Đúng thật.”

“Nhưng cháu hiểu chú đang cảm thấy thế nào mà.”

“Chú không hiểu.”

“Vào những lúc như thế này, người lớn cần uống thứ gì đó.”

Chúng
tôi đi tới quán Halekulai. Quán trong nhà, không phải kiểu bên hồ. Lần
này tôi gọi một ly martini, Yuki gọi một ly soda chanh. Chúng tôi là
những người khách duy nhất ở đây. Một người chơi piano hói đầu, có ánh
nhìn của Rachmaninoft(39) đang ngồi trên chiếc piano cánh lớn, lướt qua những tác phẩm kinh điển “Stardust”, “But Not for Me”, “Moonlight in Vermont.”
Kỹ thuật hoàn hảo, nhưng vô hồn. Rồi ông ta kết thúc bằng một khúc dạo
nghiêm trang của Chopin. Yuki vỗ tay, và người chơi đàn piano rặn ra một
nụ cười.

39. Nhà soạn nhạc và nghệ sĩ piano bậc thầy người Nga.

Uống
tới ly martini thứ ba, tôi nhắm mắt lại và căn phòng đó lại tràn vào
tâm trí. Cảnh tượng khiến tôi có cảm giác như vừa ngủ dậy thấy mình ướt
đẫm mồ hôi rồi nhận ra rằng chỉ là một giấc mơ. Nhưng lần này không phải
là một giấc mơ. Tôi biết và Yuki cũng biết. Con bé biết tôi đã thấy một
cái gì đó. Sáu bộ xương người. Điều này có nghĩa là gì? Họ là ai? Bộ
xương người mất một cánh tay có phải ám chỉ Dick North không?

Kiki đang cố nói với tôi điều gì?

Tôi
nhớ đến mảnh giấy trong túi, mảnh giấy mà tôi đã tìm thấy trên bậu cửa
sổ. Tôi đi ra phía điện thoại và quay số. Không ai trả lời. Chỉ có tiếng
chuông reo không dứt, giống như những hòn rọi bằng chì treo trong sự
lãng quên vô tận. Tôi quay lại chỗ ngồi và thở dài. “Chú đang định ngày
mai sẽ về Nhật. Nếu đặt được vé,” tôi nói. “Chú đã ở đây khá lâu rồi. Ở
đây rất tuyệt, nhưng đã đến lúc phải quay về. Chú còn nhiều việc phải
giải quyết ở nhà.”’

Yuki gật đầu, như thể con bé hiểu tất cả. “Được thôi, chú đừng lo về cháu. Cứ về nếu chú nghĩ là nên làm thế.”

“Cháu định thế nào? Vẫn ở đây à? Hay là về với chú?”

Yuki
nhún vai, “Cháu nghĩ sẽ ở lại với mẹ thêm một thời gian nữa. Cháu đoán
bà ấy sẽ không thấy phiền gì. Cháu chưa sẵn sàng quay về.”

Tôi uống nốt ly martini cuối cùng.

“Vậy chúng ta sẽ làm thế này. Ngày mai chú sẽ chở cháu tới Makaha. Chú gặp mẹ cháu một lần nữa. Và sau đó chú sẽ tới sân bay.”

Tối
hôm đó chúng tôi ăn bữa tối cuối cùng với nhau tại một nhà hàng hải sản
gần tháp Aloha. Yuki không nói nhiều, tôi cũng vậy. Chắc chắn đã có lúc
tôi ngủ gật, miệng ngậm đầy hàu chiên, rồi biến thành một trong những
bộ xương trên gác mái. Yuki liếc nhìn tôi đầy ẩn ý trong suốt bữa ăn.
Sau khi ăn xong, con bé nói: “Tốt hơn là chú nên về nhà ngủ. Trông chú
thật tệ.”

Quay về phòng, tôi uống thêm một chút rượu và bật ti vi.
Đội Yankee với đội Oriole. Tôi không thích xem bóng chày, nhưng vẫn cứ
để đấy. Đó là một kênh liên kết với thực tại.

Rượu đã có tác dụng.
Tôi thấy buồn ngủ. Rồi tôi lại nhớ tới mảnh giấy trong túi và thử liên
lạc lại. Một lần nữa không có ai nhấc máy. Tôi đã để điện thoại kêu mười
lăm tiếng. Liếc mắt qua ti vi, tôi thấy Winfield bước vào vị trí người
đánh bóng, và lại có cái gì đó thoáng hiện lên trong tâm trí tôi.

Cái gì vậy? Mắt tôi dán vào màn hình.

Có cái gì đó tương đồng với nhau. Có cái gì đó đã kết nối với một cái khác.

Ôi,
không thể thế được. Nhưng cái quái gì thế này, thử xem nào. Tôi cầm
mảnh giấu kia và đi lấy tập giấy mà June đã ghi lại số điện thoại của cô
cho tôi. Tôi so sánh con số với nhau.

Trời ơi. Chúng là một.

Mọi thứ đã được kết nối rồi. Chỉ trừ việc tôi không hiểu được những đầu mối đó có ý nghĩa gì.

Sáng
hôm sau tôi gọi tới hãng hàng không Nhật Bản đặt một chuyến bay vào
buổi chiều. Tôi thanh toán, rồi cùng Yuki tới Makaha. Đây là lần đầu
tiên bầu trời trở nên u ám. Một cơn bão rình rập nơi chân trời.

“Nghe cứ như có con Pacman đang gặm nhấm trái tim chú ấy,” Yuki nói. “bip-bip-bip-bip-bip-bip-bip-bip.”

“Chú không hiểu.”

“Có thứ gì đó đang ăn mòn chú.”

Vừa
lái xe tôi vừa nghĩ về điều đó. “Có lúc chú cảm nhận được bóng của cái
chết,” tôi bắt đầu. “Đó là một cái bóng dày đặc. Giống như cái chết đang
ở rất gần, bao bọc lấy chú, giữ chặt mắt cá chân chú lại. Như thể nó có
thể xảy ra bất cứ lúc nào. Nhưng nó không khiến chú sợ. Bởi vì chưa bao
giờ nó thể hiện cái chết của chú cả. Lúc nào cũng là cái chết của người
khác. Cứ như vậy, mỗi lần ai đó chết nó lại làm chú suy sụp. Tại sao thế nhỉ?”

Yuki nhún vai.

“Cái
chết luôn luôn rình rập quanh chú, chú không biết tại sao. Và chỉ cần
có một đoạn mào đầu nhỏ nhấy, nó liền hiện hình ngay lập tức.”

“Có thể đó là chiếc chìa khóa của chú. Có lẽ cái chết chính là sự liên kết của chú với thế giới này,” Yuki nói.

“Điều này chẳng hay ho gì,” tôi nói.

Dường
như Dick North thực sự buồn khi biết tôi phải đi. Không phải vì chúng
tôi có nhiều điểm chung, mà vì chúng tôi cảm thấy rất thoải mái khi nói
chuyện với nhau. Và tôi rất quý trọng Dick vì ý thơ mà anh đem tới cho
cái thế giới đầy những lo toan vật chất này. Chúng tôi bắt tay nhau. Và
đúng lúc đó, hình ảnh bộ xương người với một cánh tay lại hiện lên trong
tôi. Liệu đó có phải là người đàn ông này không?

“Dick, đã bao giờ anh nghĩ về cái chết chưa? Anh sẽ chết như thế nào chẳng hạn?” tôi hỏi khi ngồi trò chuyện với Dick lần cuối.

Anh
mỉm cười. “Tôi đã nghĩ về cái chết rất nhiều lần trong chiến tranh. Cái
chết ở khắp xung quanh, có quá nhiều cách để anh bị giết. Nhưng sau đó
thì không. Tôi không có thời gian để lo lắng về những việc mình không
kiểm soát được. Trong thời bình tôi bận rộn hơn thời chiến,” anh cười
lớn. “Điều gì khiến anh hỏi vậy?”

“Không có lý do gì cả,” tôi trả lời.

“Tôi sẽ nghĩ về điều này. Lần sau chúng ta sẽ nói nhé,” Dick nói.

Rồi Ame mời tôi đi dạo cùng, hai chúng tôi đi dọc đường chạy bộ.

“Cám
ơn anh về tất cả,” Ame nói, “Tôi thực sự muốn nói vậy. Tôi không giỏi
nói những điều thế này. Nhưng - ừm - tôi thực sự muốn cám ơn anh. Anh đã
giúp cho mọi chuyện trôi chảy. Yuki và tôi đã có thể nói chuyện với
nhau. Chúng tôi đã gần gũi hơn. Và bây giờ con bé sẽ tới đây ở cùng
tôi.”

“Điều đó thật tuyệt,” tôi nói. Tôi không nghĩ ra được câu
nào bớt sáo rỗng để nói. Tất nhiên là Ame hiếm khi để ý nghe tôi nói gì
rồi.

“Con bé dường như đã điềm đạm hơn đáng kể từ khi gặp anh. Nó
không cáu kỉnh và căng thẳng nữa. Tôi không biết anh đã làm gì, nhưng
chắc chắn anh đã có một phương pháp nào đó. Anh và con bé có điểm gì
chung à?”

Tôi cam đoan rằng tôi không biết gì cả.

Tôi nghĩ về chuyện học hành của Yuki.

“Nếu
con bé không thích đến trường, có lẽ chị nên nghĩ cách nào đó thay
thế,” tôi nói. “Đôi khi bắt trẻ con tới trường là không tốt, đặc biết
đối với một đứa trẻ quá ư nhạy cảm và thu hút nhiều sự chú ý hơn là nó
thích như Yuki. Gia sư có thể là một gợi ý. Tôi nghĩ Yuki không thể chịu
được những đợt học nhồi nhét mỗi kỳ thi chuyển cấp, những cuộc thi ngớ
ngẩn, áp lực từ phía bạn bè, quy tắc và các hoạt động ngoại khóa. Một số
người đã rất thành công mà không cần có những thứ đó. Tôi biết mình
đang lý tưởng hóa vấn đề, nhưng điều quan trọng là Yuki có thể nhận ra
khả năng của mình và có cơ hội để được bồi dưỡng. Có thể con bé sẽ quyết
định quay trở lại trường. Thế cũng tốt, nếu đó là quyết định của nó.”

“Tôi
nghĩ là anh đúng,” Ame nói sau một hồi suy nghĩ. “Tôi cũng không phải
loại người thích tụ tập, cũng không bao giờ theo kịp được với trường
học, vì vậy tôi nghĩ mình có thể hiểu được những điều anh đang nói.”

“Nếu chị đã hiểu thì còn gì phải nghĩ nữa. Vấn đề là ở đâu?”

Chị lắc đầu, từ bên này sang bên kia cho đỡ mỏi cổ.

“Ý
tôi là không có vấn đề gì cả, vấn đề duy nhất chính bản thân tôi còn
không có niềm tin vững chắc của một người mẹ. Thế nên tôi không thể
quyết đoán thay Yuki được. Nếu thiếu niềm tin, anh sẽ đầu hàng. Trong
thâm tâm anh sẽ luôn lo lắng rằng xét về mặt xã hội, không cho con tới
trường là một điều sai trái.”

Xét về mặt xã hội là sai trái? “Tôi
không thể khẳng định được điều gì, nhưng ai mà biết được thế nào là
sai, thế nào là đúng? Không ai có thể biết trước được tương lai. Kết quả
có lẽ sẽ rất tệ hại. Nhưng cũng có thể xảy ra theo hướng kia. Tôi nghĩ
nếu chị thể hiện với con bé rằng chị thực sự cố gắng - với tư cách là
một người mẹ hay một người bạn - để làm cho mọi việc của con bé trở nên
tốt đẹp, và nếu chị thể hiện sự tôn trọng của mình với con bé, khi con
bé đủ sắc sảo để tiếp nhận và có thể tự lập được trong suốt quãng đời
còn lại của mình.”

Ame đứng lên, tay đút túi quần soóc và im lặng. Rồi chị nói: “Anh thực sự hiểu nó nghĩ gì nhỉ? Tại sao thế?”

Bởi vì tôi không thường xuyên để đầu óc trên mây, tôi muốn nói với chị như thế. Nhưng tôi không nói.

Rồi
Ame nói muốn đưa tôi một thứ gì đó để thể hiện lòng cảm kích đối với
tôi. Tôi nói với Ame đã nhận quá nhiều từ người chồng cũ của chị rồi.

“Nhưng tôi muốn. Ông ấy là ông ấy, còn tôi là tôi. Và tôi muốn cám ơn anh. Nếu không làm ngay bây giờ, tôi sẽ quên mất”.

“Tôi sẽ rất vui nếu chị quên,” tôi đùa.

Chúng
tôi ngồi trên một chiếc ghế dài. Ame móc bao Salem trong túi áo sơ mi
ra. Châm lửa, hít vào, rồi thở ra. Rồi để điếu thuốc thành tro tàn giữa
những ngón tay.

Trong khi đó, tôi lắng nghe tiếng chim hót và xem
những người làm vườn đi quanh quanh trên những chiếc xe nhỏ. Bầu trời
bắt đầu tươi sáng, dù loáng thoáng có tiếng sấm xa xa. Ánh mặt trời chói
chang đã chọc thủng màn mây dày đặc xám xịt. Đeo kính râm và mặc áo cộc
tay, Ame dường như quên hẳn đi ánh nắng và cái nóng, mặc dù vài vệt mồ
hôi vẫn chảy dài trên cổ áo. Có lẽ đó không phải là do mặt trời. Có thể
vì chị đang tập trung hay phân tán tinh thần quá mức cũng nên. Mười phút
đã trôi quan, dường như thời gian không phải là một điều gì thiết thực
trong cuộc sống. Hay nếu có đi chăng nữa, nó cũng không được xếp hạng
cao trong dang sách ưu tiên của Ame. Khác hẳn với tôi. Tôi còn có một
chuyến bay.

“Tôi phải đi rồi,” tôi nói và liếc đồng hồ. “Tôi phải trả xe trước khi làm thủ tục lên máy bay.”

Ame
rất cố gắng để hướng ánh mắt nhìn tôi. Tôi thường xuyên bắt gặp ánh mắt
này ở Yuki. Đúng là mẹ nào con nấy. “Ồ, đến giờ rồi, tôi không để ý,”
Ame nói. “Tôi xin lỗi”.

Chúng tôi đứng lên và đi bộ quay trở về nhà.

Tất
cả cùng bước ra ngoài để tiễn tôi. Tôi dặn Yuki nên bớt ăn đồ ăn nhanh,
nhưng gợi ý Dick North quan tâm chuyện đó. Khi xe chuyển bánh, nhìn qua
gương chiếu hậu,tôi thấy ba người đứng đó tạo thành một bức tranh kỳ
lạ. Dick giơ tay cao vẫy vẫy; Ame thất thần nhìn về phía trước, khoanh
chéo tay trước ngực; Yuki nhìn xuống bên đường đá đá một viên sỏi. Những
tàn dư của một gia đình trong một góc tam của vũ trụ không hoàn chỉnh.
Không hiểu sao tôi lại liên can tới họ nữa? Tôi rẽ trái và họ dần khuất
khỏi tầm nhìn. Lâu lắm rồi, đây là lần đầu tiên tôi chỉ có một mình.