Nhảy, nhảy, nhảy - Chương 04

4

Tôi đặt một chiếc taxi trong hai ngày và cùng tay phóng
viên ảnh đội tuyết chạy khắp Hakodate để xem xét các quán ăn trong thành
phố.

Tôi rất giỏi điều tra, tôi làm việc này rất có hệ thống và
hiệu quả. Điều quan trọng nhất đối với loại công việc này là phải chuẩn
bị trước và lập kế hoạch chi tiết. Mấu chốt là ở đó. Nếu cần thu thập
tài liệu trước khi bắt tay vào việc, ta sẽ không thể thắng nổi các tổ
chức chuyên tập hợp thông tin cho người trong ngành. Chỉ cần đăng ký làm
thành viên và đóng hội phí; họ sẽ kiếm cho ta gần như tất cả mọi thứ.
Vì vậy, nếu ta đang tình cờ điều tra về các quán ăn ở Hakodate, họ có
thể đào lên cho bạn cả tá. Họ sử dụng siêu máy tính cỡ lớn, sắp xếp dữ
liệu vào file, in ra giấy và thậm chí còn giao tận nhà. Tất nhiên chẳng
rẻ chút nào nhưng nó hoàn toàn xứng đáng với khoản thời gian ta tiết
kiệm được.

Ngoài ra, tôi cũng tự mình đi kiếm thông tin. Có những
phòng đọc sách chuyên cung cấp tài liệu du lịch, những thư viện sưu tập
báo chí và các ấn phẩm địa phương. Từ tất cả các nguồn này, tôi chọn ra
những địa điểm khả quan rồi gọi điện cho họ để xem họ làm việc giờ nào.
Làm như vậy, tôi sẽ tránh được rất nhiều rắc rối khi đi thực tế. Sau đó,
tôi kẻ ô trong sổ ghi chép và vạch kế hoạch cho từng ngày một. Tôi xem
bản đồ và đánh dấu lộ trình dự kiến. Cố gắng giảm các nhân tố không chắc
chắn xuống mức tối thiểu.

Khi đến Hakodate, tay phóng viên ảnh và
tôi đi một vòng khắp các nhà hàng đó theo thứ tự. Có khoảng ba mươi địa
điểm. Chúng tôi ăn một ít - vừa đủ để nếm được hương vị - còn thì bỏ
thừa phần lớn thức ăn. Nâng cao chất lượng tiêu dùng. Vì vẫn đang ở giai
đoạn điều tra bí mật, nên chúng tôi không chụp ảnh. Chỉ khi đã rời khỏi
nhà hàng, tay phóng viên ảnh và tôi mới thảo luận về các món ăn và đánh
giá chúng theo thang điểm từ không đến mười. Nếu được cho qua, nhà hàng
sẽ ở lại trong danh sách, nếu không, nó sẽ bị loại. Chúng tôi dự định
gạch bỏ ít nhất là một nửa. Sử dụng chiến lược song song, chúng tôi cũng
đọc thêm cả báo chí địa phương, lập danh sách những địa điểm trước đó
đã bỏ sót, chọn thêm chừng năm quán nữa. Chúng tôi cũng đến những nơi
này và gạch tên các quán không-tốt-lắm. Rồi chúng tôi có danh sách cuối
cùng. Tôi gọi điện, giới thiệu tên tờ tạp chí, bảo họ rằng chúng tôi
muốn làm chuyên đề về họ, bài viết kèm theo ảnh. Tất cả chỉ mất có hai
ngày. Buổi tối, tôi ở lại trong khách sạn, vạch ra các ý chính cho bài
viết.

Ngày hôm sau, trong khi tay phóng viên ảnh chụp hình các món
ăn và cách bày biện bàn ăn, tôi nói chuyện với chủ nhà hàng. Tiết kiệm
thời gian. Và như vậy, chúng tôi gói gọn chuyến đi này trong vòng ba
ngày. Đương nhiên, trong số đồng nghiệp của tôi cũng có những người có
thể làm nhanh hơn. Nhưng họ chẳng điều tra gì cả. Họ đến vài nhà hàng
nổi tiếng hơn cả, ngó nghiêng qua quýt mà chẳng buồn ăn thứ gì rồi viết
những lời bình sơ sài. Nhưng đấy là việc của họ, không phải của tôi. Nói
thẳng, tôi không cho rằng có nhiều người chịu bỏ công bỏ sức như tôi
cho những bài phóng sự kiểu này. Đó là loại công việc khiến người ta
kiệt sức nếu quá coi trọng nó, nhưng ta cũng có thể chỉ cần ngồi không
chẳng làm gì cả. Nhưng tệ nhất là dù có sốt sắng hay lười nhác, sản phẩm
cuối cùng gần như không hề cho thấy sự khác biệt. Bề ngoài thì sàn sàn
như nhau. Chỉ ở những mức tinh tế hơn mới thấy được dấu ấn của sự khác
biệt.

Tôi không giải thích chuyện này ra để tự tâng bốc hay vì bất cứ lý do nào khác.

Tôi chỉ muốn các bạn có được cái nhìn tổng quan về công việc của tôi, hiểu thêm về tính chất của những gì tôi phải bỏ ra.

Đến đêm thứ ba, tôi đã viết xong bản thảo.

Ngày thứ tư tôi để trống, phòng trường hợp có gì đột xuất.

Nhưng
vì công việc đã hoàn tất, và chẳng còn gì khác phải bận tâm. chúng tôi
thuê một chiếc xe và thoải mái dành cả ngày trượt tuyết khắp vùng. Tối
đó, hai chúng tôi nghỉ chân uống rượu bên nồi lẩu nóng. Coi như có một
ngày nghỉ ngơi trọn vẹn. Tôi giao bản thảo cho tay phóng viên ảnh. Và
thế là xong. Nhiệm vụ của tôi đã hoàn tất, công việc giờ chuyển sang tay
người khác.

Nhưng tối đó, trước khi lên đường, tôi gọi cho dịch
vụ tổng đài ở Sapporo hỏi số điện thoại của khách sạn Cá Heo. Tôi không
phải chờ lâu. Tôi ngồi dậy trên giường và thở phào nhẹ nhõm. Ít ra là
khách sạn Cá Heo vẫn chưa sập tiệm. Thật nhẹ nhõm, tôi nghĩ vậy. Bởi
cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu một cái khách sạn bí hiểm như thế
bị sập tiệm. Tôi hít một hơi thật sâu rồi quay số - người ta nhấc máy
ngay tiếng chuông đầu tiên. Như thể họ chỉ chầu chực chờ điện thoại kêu
vậy. Thực sự là tôi quá ngỡ ngàng.

“Xin chào, khách sạn Cá Heo nghe!” một giọng vui vẻ cất lên.

Đó là một phụ nữ trẻ. Một phụ nữ ư? Chuyện gì vậy? Tôi không nhớ là ở đó có một phụ nữ.

Tôi
không tính đến điều này, bèn hỏi xem có đúng địa chỉ đó không. Chính
xác, đó chính là địa chỉ khách sạn Cá Heo mà tôi biết. Có lẽ khách sạn
đã tuyển thêm nhân viên mới, cháu gái của ông chủ chẳng hạn. Chẳng có lạ
cả. Tôi nói với cô gái là mình muốn đặt phòng.

“Rất cảm ơn ông,” cô nhỏ nhẹ đáp. “Xin ông, chờ cho một chút, tôi sẽ chuyển máy cho ông sang bộ phận đặt phòng.

Bộ phận đặt phòng? Giờ
thì tôi thực sự bối rối. Tôi không sao tiêu hóa nổi thông tin này.
Chuyện quái gì đã xảy ra với cái khách sạn cũ nát đó vậy?

“Xin lỗi
đã để quý khách phải đợi lâu. Đây là bộ phận đặt phòng. Tôi có thể giúp
gì cho quý khách?” Lần này là giọng một thanh niên. Âm sắc lanh lợi và
thân thiện đúng kiểu nhân viên khách sạn chuyên nghiệp. Tôi càng thấy tò
mò hơn.

Tôi đặt một phòng đơn trong ba ngày. Tôi nói tên và cho anh ta số điện thoại của mình ở Tokyo.

“Vâng, thưa ông. Ba đêm, từ ngày mai, phòng đơn của ông sẽ sẵn sàng.”

Tôi
chẳng nghĩ ra được gì để nói tiếp, bèn cám ơn anh ta và cúp máy, không
hiểu nổi chuyện gì đang xảy ra nữa. Liệu tôi có nên yêu cầu giải thích
không? Thôi không sao, mọi chuyện sẽ rõ ràng khi tôi đến đó. Hơn nữa,
tôi cũng không thể không đi. Tôi không còn lựa chọn nào khác cả.

Tôi
nhờ người phục vụ khách sạn kiểm tra lại lịch trình các chuyến tàu
đến Sapporo. Sau đó, tôi gọi dịch vụ buồng yêu cầu mang lên một chai
whiskey cùng ít đá, và thức xem một bộ phim chiếu muộn trên ti vi. Một
phim cao bồi miền Tây của Clint Eastwood. Suốt cuốn phim, Clint không
cười lấy một tiếng, không cả nhếch mép. Tôi đã cố để cười, nhưng anh ta
cứ đăm đăm mãi cái bộ mặt cứng đờ ấy. Bộ phim kết thúc và tôi cũng đã
nốc kha khá whiskey, tôi liền tắt đèn và ngủ một mạch đến sáng. Nếu có
mơ thì tôi cũng chẳng nhớ gì nữa.

Tuyết là tất cả những gì tôi
thấy bên ngoài cửa sổ chuyến tàu tốc hành buổi sớm. Bầu trời trong trẻo
quang đãng, bởi vậy nên ánh nắng dần trở nên gay gắt. Tôi không thấy
hành khách nào nhìn ra ngoài cửa sổ. Tuyết rơi chẳng có gì đáng để họ
nhìn.

Vì bỏ mất bữa sáng nên chưa đến 12 giờ tôi đã phải mò đến
toa ăn. Tôi chọn bia và trứng ốp la. Cạnh chỗ tôi ngồi có một người đàn
ông khoảng năm mươi, ông ta mặc vest đen thắt cà vạt, đang uống bia với
bánh mì kẹp thịt nguội. Trông ông ta giống một kỹ sư cơ khí, và hóa ra
lại đúng là như vậy. Ông ta bắt chuyện với tôi trước, kể rằng mình làm
nhiệm vụ bảo trì máy bay phản lực cho Lực lượng Phòng vệ. Sau đó ông ta
giảng giải cho tôi làm thế nào máy bay chiến đấu và máy bay ném bom của
Xô viết xâm phạm được vào không phận Nhật Bản, dù vậy ông ta chẳng có vẻ
gì là phiền lòng về chuyện đó. Ông ta quan tâm hơn đến hiệu quả kinh tế
của loại máy bay Phantom F4. Chúng ngốn không biết bao nhiêu là nhiên
liệu mỗi lần xuất kích khẩn cấp, thật lãng phí khủng khiếp. “Nếu người
Nhật chế tạo ra chúng, tôi cá là sẽ tiết kiệm nhiên liệu hơn. Và tính
năng thì không hề kém cạnh! Chẳng có lý gì chúng ta lại không chế tạo
được máy bay chiến đấu giá rẻ nếu muốn.”

Đó là lúc tôi đưa ra
triết lý của mình, rằng sự lãng phí là mỹ đức lớn nhất mà một người
trong xã hội tư bản bậc cao có thể đạt được. Việc Nhật Bản mua máy bay
Phantom của Mỹ và tiêu tốn một lượng lớn nhiên liệu trong những lần xuất
kích khẩn cấp góp phần làm cho nền kinh tế thế giới vận hành nhanh hơn,
và chính sự vận hành đó đã nâng chủ nghĩa tư bản lên giai đoạn phát
triển cao hơn. Nếu ngăn chặn mọi sự lãng phí lại, khủng hoảng kinh tế
quy mô lớn chắc chắn sẽ xảy ra, và cuối cùng nền kinh tế toàn cầu sẽ sụp
đổ. Sự lãng phí chính là nhiên liệu cho mâu thuẫn, và mâu thuẫn sẽ hoạt
hóa nền kinh tế, và một nền kinh tế hoạt động sôi nổi sẽ càng sinh ra
nhiều lãng phí hơn.

Ồ, có lẽ vậy, ông kỹ sư gật gù, nhưng một
người lớn lên trong chiến tranh và từng phải sống thiếu thốn như ông
không thể hiểu nổi kết cấu xã hội hiện hay. “Thế hệ chúng tôi không
giống những người trẻ các cậu,” ông nói, gượng cười. “Chúng tôi không
thể hiểu những vấn đề phức tạp của các cậu”.

Thực ra cũng không
thể nói là tôi hiểu rõ được những thứ ấy, nhưng tôi chẳng có hứng để
tiếp tục cuộc trò chuyện này, nên tôi im lặng. Không, tôi không hiểu
được những thứ ấy, chỉ là tôi nhận thức được chúng là cái gì. Có sự khác
biệt cơ bản giữa hai mệnh đề đó. Tôi nghĩ việc tốt hơn cả mình có thể
làm lúc này là ăn nốt món trứng và đứng dậy.

Tôi ngủ khoảng ba
mươi phút, sau đó trong suốt hành trình còn lại tôi đọc cuốn tiểu sử
Jack London mua ở gần ga Hakodate. So với cuộc đời sôi nổi và lãng mạn
của Jack London, sự tồn tại của tôi chỉ giống như một con sóc nhỏ gục
đầu vào quả óc chó, gà gật ngủ mong đến mùa xuân. Cho đến thời điểm hiện
tại, nó là như vậy. Nhưng những cuốn tiểu sử thường phải thế. Ý tôi là,
ai thèm đọc về cuộc đời tẻ nhạt của một kẻ vô danh làm việc ở thư viện
thành phố Kawashaki chứ? Nói cách khác, những gì chúng ta đang tìm kiếm
là một kiểu bù đắp cho những gì bản thân phải chịu đựng.

Đến Sapporo, tôi quyết định thả bộ đến khách sạn. Đó là một buổi chiều dễ chịu, rồi chỉ mang theo một chiếc túi khoác ngang vai.

Đường
phố bị phủ kín một lớp tuyết mỏng lép nhép bùn, mọi người qua lại đều
phải mở to mắt, cẩn thận nhón chân. Không khí rất vui vẻ. Những cô nữ
sinh trung học vừa đi vừa trò chuyện ríu rít, má ửng hồng, miệng phả ra
làn hơi trắng mỏng tưởng như có thể viết lên đó những đoạn đối thoại
trong truyện tranh. Tôi tiếp tục tản bộ, nhìn ngắm thành phố. Đã bốn năm
rưỡi trôi qua kể từ lần cuối tôi tới Sapporo. Vậy mà tưởng như còn lâu
hơn thế nhiều.

Dọc đường tôi dừng lại ở một quán cà phê. Mọi sự
xung quanh tôi không có gì lạ, những chuyện thường ngày ở một thành phố
đang diễn ra hết sức bình thường, những việc thường nhật. Những đôi tình
nhìn trò chuyện thì thầm, mấy tay doanh nhân dán mắt vào bảng thống kê,
đám sinh viên thì đang lập kế hoạch cho chuyến trượt tuyết sắp tới và
bàn tán về album mới của nhóm Police. Quang cảnh quen thuộc này dễ thấy ở
bất cứ thành phố nào của Nhật Bản. Sẽ chẳng có gì là lạc điệu nếu
chuyển dịch cảnh tượng đang diễn ra tại quán cà phê này
đến Yokohama hay Fukuoka. Dù như vậy - hoặc đúng hơn là chính vì vậy -
mà tôi ở đây, ngồi trong cái quán này uống cà phê mà vẫn cảm thấy cô đơn
ghê gớm. Tôi chỉ là một người ngoài. Tôi không thuộc về nơi này.

Tất
nhiên, cùng một lý lẽ như thế, tôi cũng không thể nói rằng mình thực sự
thuộc về Tokyo và các quán cà phê ở đó. Nhưng ở đó tôi chưa bao giờ cảm
thấy cô đơn nhường này. Ở đó tôi nhâm nhi cà phê, đọc sách, trải qua
một ngày mà chẳng cần suy nghĩ gì đặc biệt, chỉ bởi vì tôi là một phần
của cảnh trí quen thuộc ở đó. Còn ở đây, tôi chẳng có mối liên hệ với ai
cả. Và thực tế là tôi đến đây để tìm lại chính mình.

Tôi trả tiền rồi ra khỏi quán. Sau đó, không nghĩ ngợi, tôi đi một mạch đến khách sạn.

Tôi
không nhớ đường lắm và cũng hơi lo là mình sẽ đi lạc. Tôi không bị lạc.
Ai lại lạc đường được cơ chứ? Khách sạn Cá Heo giờ đây đã biến thành
một bản giao hưởng rực rỡ của thép và kính gồm hai mươi sáu tầng được
dựng theo lối kiến trúc hiện đại của trường phái Bauhaus(1),
cờ các nước tung bay dọc lối đi dành cho xe hơi, những nhân viên trực
cửa mặc đồng phục gọn gàng đang ra hiệu cho taxi, một chiếc thang máy
bằng kính chạy thẳng lên nhà hàng trên tầng áp mái. Một bức phù điêu cá
heo được khắc lên một trong mấy cột đá cẩm thạch ngay trước cửa ra vào,
bên dưới còn khắc dòng chữ:

L’Hôtel Dauphin

1. Tên một
ngôi trường nghệ thuật dạy kiến trúc và thiết kế của Đức. Được lập nên
bởi Walter Gropius, chủ trương kết hợp sự khéo léo của thủ công truyền
thống với các kỹ thuật và vật liệu hiện đại.

Tôi đứng ngây ra
ở đó phải đến hai mươi giây, miệng há hốc, mắt nhìn trân trân. Rồi tôi
thở hắt ra một hơi rất dài, dài đến mức tưởng như vươn thẳng được tới
tận cung trăng. Ngạc nhiên không phải là từ chính xác để miêu tả cảm xúc
của tôi lúc này.