Nhím thanh lịch - Phần 25 chương 10 - 11 - 12

10

Mây đen

- Mày thật là một kẻ ngu ngốc đáng thương, - tôi tự nhủ khi cởi chiếc váy màu mận ra và phát hiện vết whisky trên một lỗ khuyết - Mày tưởng gì chứ? Mày chỉ là một mụ gác cổng đáng thương thôi. Không thể có tình bạn giữa các giai cấp. Mà mày tưởng gì chứ? đồ điên khốn khổ?

- Mày tưởng gì chứ? Đồ điên khốn khổ? - Tôi không ngừng nhắc đi nhắc lại câu này khi tắm rửa buổi tối và chui vào chăn đệm sau một trận chiến ngắn với Léon vì nó không chịu nhường chỗ.

Khuôn mặt đẹp của Sanae Ozu nhảy múa trước đôi mắt nhắm nghiền của tôi và tôi tự tạo cho mình cảm tưởng về một thứ cũ kỹ bỗng nhiên gợi lại một thức tế không niềm vui.

Tôi ngủ thiếp đi trong nỗi lo âu.

Sáng hôm sau, tôi có cảm giác gần như khô miệng, nhức đầu vì uống rượu.

Thế nhưng cả tuần trôi qua thật lôi cuốn. Ông Kakuro vài lần bất chợt xuất hiện để nhờ tôi làm trọng tài (kem hay nước hoa quả lạnh? Đại Tây Dương hay Địa Trung Hải?) và tôi cũng thấy thích thú với cách nói chuyện tươi tỉnh của ông ấy, mặc dù có những đám mây đen đang lặng lẽ đan vào nhau trên trái tim tôi. Manuela cười ngặt nghẽo khi phát hiện ra chiếc váy màu mận, còn Paloma ngồi lỳ trong chiếc ghế bành của Léon.

- Sáng nay, con sẽ làm người gác cổng, - con bé tuyên bố với mẹ mình như vậy. Mẹ nó nhìn tôi với cách nhìn mới pha lẫn thận trọng khi đến gửi con ở phòng tôi.

- Thượng đế sẽ che chở cho cháu, - tôi đáp và nở nụ cười lịch sự với Quý Bà, - Cháu sẽ là Công Chúa.

Con bé mặc chiếc áo phông màu kẹo hồng rất hợp với cặp kính mới và thể hiện vẻ mặt thích gây gổ của đứa-con-gái- sẽ-làm-nghề-gác-cổng-bất-chấp-tất-cả-nhất-là-mẹ-mình.

- Có mùi gì thế nhỉ? - Paloma hỏi.

Hệ thống đường ống trong phòng tôi đang có vấn đề, nó bốc mùi hôi như trong phòng ở của lính. Tôi đã gọi thợ nước từ sáu ngày nay rồi, nhưng hình như anh ta không nhiệt tình đến lắm.

- Tại cống đấy, - tôi nói, không muốn dài dòng.

- Thất bại của chủ nghĩa tự do - con bé nói như tôi chưa hề trả lời nó.

- Không, - tôi nói - đường ống bị tắc.

- Đúng như cháu nói với cô đấy, - Paloma nói - Tại sao thợ nước vẫn chưa đến?

- Vì anh ta còn có những khác hàng khác?

- Hoàn toàn sai, - con bé phản ứng - Câu trả lời đúng là: Vì anh ta không buộc phải đến. Thế tại sao anh ta không buộc phải đến?

- Vì anh ta không có nhiều đối thủ cạnh tranh - tôi nói.

- Đúng thế, - Paloma tỏ vẻ hoan hỉ - điều tiết không tốt. Quá nhiều nhân viên đường sắt, không đủ thợ sửa ống nước. Cá nhân cháu, cháu thích nông trang Xô Viết hơn.

Than ôi, cuộc đối thoại lý thú này bị cắt ngang vì có tiếng bước chân trước cửa.

Đó là ông Kakuro với chút gì đó long trọng.

Ông ấy bước vào, và nhận ra Paloma.

- Ồ, chào cháu, - ông ấy nói - Này bà Renée, chốc nữa tôi quay lại được không?

- Tùy ông, - tôi nói - ông có khỏe không?

- Vâng, tôi khỏe, - ông ấy đáp.

Rồi bất chợt ông ấy quyết định nói luôn:

- Bà có muốn dùng bữa với tôi tối mai không?

- Ồ, - tôi nói, cảm giác hốt hoảng xâm chiếm tôi, - nhưng…

Dường như trực cảm lan tỏa trong những ngày vừa qua bỗng nhiên định hình.

- Tôi muốn đưa bà đến một tiệm ăn mà tôi rất thích, - ông ấy nói tiếp với bộ mặt của một con chó đang hy vọng có một cục xương.

- Đến tiệm ăn? - tôi hỏi lại, càng lúc càng hốt hoảng.

Bên trái tôi, Paloma cười thành tiếng.

- Thế này, - ông Kakuro nói có vẻ hơi lúng túng, - tôi thành thật xin bà đấy. Ngày mai… ngày mai là sinh nhật tôi, tôi sẽ rất vui nếu có bà đi cùng.

- Ôi, - tôi nói, không thể nói gì hơn nữa.

- Thứ Hai, tôi sẽ tới nhà con gái tôi và tổ chức sinh nhật ở đó kiểu gia đình, tất nhiên, nhưng… tối mai… nếu bà đồng ý…

Ông ấy dừng một lát, nhìn tôi với ánh mắt hy vọng.

Đó là một cảm giác? Tôi thấy hình như Paloma đang cố nín thở.

Im lặng một lát.

- Này ông, - tôi nói - tôi thực sự rất tiếc. Tôi không nghĩ rằng đó là một ý kiến hay.

- Nhưng tại sao chứ? - ông Kakuro hỏi, rõ ràng rất bối rối.

- Ông thật có lòng tốt, - tôi nói, cố làm ra vẻ cứng rắn mặc dù giọng tôi có xu hướng chùng xuống, - tôi rất cảm ơn ông, nhưng tôi không thích, cảm ơn. Tôi tin chắc là ông có những người bạn khác để cùng tổ chức sinh nhật.

Ông Kakuro sững sờ nhìn tôi.

- Tôi… - cuối cùng ông ấy cũng nói - tôi… vâng, tất nhiên rồi, nhưng… cuối cùng… thực sự, tôi rất muốn… tôi không hiểu.

Ông ấy nhíu mày

- Cuối cùng, - ông ấy nói - tôi không hiểu.

- Như thế tốt hơn, - tôi nói - ông hãy tin tôi đi.

Rồi tôi đẩy nhẹ ông ấy về phía cửa bằng cách tiến về phía ông ấy và nói thêm:

- Chúng ta còn nhiều dịp khác để chuyện trò, tôi tin như vậy.

Ông ấy bước lùi với vẻ mặt của người đi bộ không thấy vỉa hè.

- Tiếc quá, - ông ấy nói - tôi từng coi đó là niềm vui. Thế mà…

- Chào ông, - tôi nói và đóng nhẹ cửa trước mặt ông ấy.

11

Mưa

Chuyện tồi tệ nhất đã qua, tôi tự nhủ.

Đó là chưa kể đến con bé mặc đồ màu kẹo hồng, tôi quay lại và thấy Paloma ngay trước mặt.

Nó có vẻ không hài lòng chút nào.

- Cháu có thể được biết cô đang diễn trò gì không? - nó hỏi tôi với giọng làm tôi nhớ tới bà Billot, cô giáo cuối cùng của tôi.

- Cô chẳng diễn gì cả, - tôi nói yếu ớt, ý thứ rõ về cách xử sự trẻ con của mình.

- Tối mai cô có dự định gì đặc biệt hay sao? - nó hỏi.

- Không, - tôi đáp, - nhưng không phải vì thế…

- Thế cháu có thể được biết chính xác tại sao không?

- Tôi nghĩ đấy không phải là một việc làm hay, - tôi nói.

- Thế thì tại sao? - chính ủy của tôi vẫn cố hỏi.

Tại sao?

Nhưng liệu tôi có biết điều đó không?

Đúng lúc đó, mưa bắt đầu rơi, bất ngờ.

12

Chị em gái

Cơn mưa này…

Ở quê tôi, mùa đông, trời mưa. Tôi không có kỷ niệm về những ngày có ánh nắng mặt trời: chỉ có mưa, nỗi khổ vì bùn lầy và giá lạnh, không khí ẩm ướt ám vào quần áo, vào tóc chúng tôi, ngay cả khi ngồi bên bếp lửa cũng vẫn không thực sự hết ẩm. Từ đó, biết bao lần tôi đã nghĩ về buổi tối mưa này, biết bao nhiều hồi tưởng trong hơn bốn mươi năm về một sự kiện lại xuất hiện vào ngày hôm nay, dưới cơn mưa rào này?

Cơn mưa này…

Chị tôi được đặt tên theo tên của một chị gái đã mất từ khi mới lọt lòng, chị này lại đã lấy tên đó từ một người quá cố. Chị Lisette rất xinh xắn, và mặc dù còn là trẻ con, tôi đã biết điều đó, cho dù mắt tôi vẫn chưa hề biết xác định hình thức của cái đẹp, mà chỉ cảm thấy những đường nét chính. Vì ở nhà tôi, mọi người ít nói chuyện với nhau, nên điều này thậm chí chưa bao giờ được nói ra; nhưng hàng xóm thường xì xào bán tán, và mỗi khi chị tôi đi qua, người ta thường bình luận về sắc đẹp của chị ấy. “Xinh thế mà lại nghèo quá, số phận thật đen đủi,” bà bán hàng tạp hóa trên đường đến trường chép miệng. Còn tôi, xấu xí và tàn tật cả đầu, bước đi nhẹ nhàng, mặc kệ những số phận đau khổ mà mỗi người đều gắng sức gán cho chị.

Năm mười sáu tuổi, chị ra thành phố trông con cho một nhà giàu. Suốt một năm trời chúng tôi không gặp chị nữa. Chị trở về đón Noel ở nhà với những món quà mới lạ (bánh mì tẩm gia vị, những dải duy băng màu sắc sặc sỡ, những túi nhỏ đựng hoa oải hương khô) và vẻ mặt của một bà hoàng. Liệu có thể có sắc mặt nào hồng hơn, sống động hơn, tuyệt vời hơn sắc mặt của chị? Lần đầu tiên có người kể chuyện cho chúng tôi nghe và chúng tôi dán mắt vào miệng chị ấy, hau háu muốn biết sự thức tỉnh thần bí mà những lời nói từ miệng chị đem lại, chị tôi, một cô gái nông thôn trở thành người giúp việc cho những người giàu có và kể về một thế giới xa lạ, màu mè, lấp lánh, nơi phụ nữ lái xe móc để làm thay công việc của đàn ông hay cho biết tin tức trên thế giới khi người ta ấn nút…

Khi nghĩ lại tất cả những chuyện đó, tôi biết được gia đình mình đã phải sống trong sự cùng kiệt. Chúng tôi chỉ sống cách thành phố khoảng năm mươi kilômet và cách một thị trấn lớn chỉ mười hai kilômét, nhưng chúng tôi sống như ở thời Trung cổ, không tiện nghi, không hy vọng, vẫn tin chắc rằng mình sẽ luôn là dân quê. Chắc là đến nay, ở một vùng nông thôn xa xôi nào đó, vẫn có một vài cụ già lạc hậu không biết đến cuộc sống hiện đại, nhưng chúng tôi là một gia đình còn trẻ và trong độ tuổi lao động, vậy mà khi chị Lisette miêu tả những con phố thành thị sáng rực trong dịp Noel, chúng tôi mới phát hiện ra rằng tồn tại một thế giới mà chúng tôi thậm chí chưa bao giờ nghĩ là có.

Chị Lisette lại ra đi. Trong vài ngày tiếp theo, cứ như theo một cỗ máy trì trệ, chúng tôi tiếp tục bàn tán một chút. Một vài buổi tối, trong khi ăn, bố tôi bình luận về những câu truyện của con gái mình. “Những câu truyện ấy khó tin quá, ôi chao buồn cười quá.” Rồi yên lặng và những tiếng la mắng lại đổ lên đầu chúng tôi như bệnh dịch hạch đổ lên những kẻ bất hạnh.

Khi nghĩ tới chuyện đó… Cơn mưa này, những người đã mất… Chị Lisette mang tên của hai người đã chết; tôi chỉ mang tên của một người, đó là bà ngoại tôi, bà mất ít lâu trước khi tôi được sinh ra. Các anh tôi mang tên của những người anh họ đã hi sinh trong chiến tranh, còn mẹ tôi mang tên một người chị họ mẹ đã mất trong khi sinh nở mà mẹ chưa từng gặp mặt. Chúng tôi đang sống không chuyện trò trong vũ trụ của người chết, thì chị Lisette trở về từ thành phố vào một buổi tối tháng Mười một.

Tôi còn nhớ cơn mưa đó…tiếng nước đập xuống mái nhà, những con đường đầy nước, biển bùn đến tận cửa nhà, bầu trời đen kịt gió, cảm giác khó chịu ghê gớm vì sự ẩm ướt không biết bao giờ mới kết thúc đè nặng lên chúng tôi như cuộc sống của chính chúng tôi: không ý thức không phản kháng. Chúng tôi đang ngồi sát bên nhau cạnh bếp lửa thì mẹ tôi bỗng đột ngột đứng lên, làm tất cả bị xô nghiêng; quá bất ngờ, chúng tôi nhìn bà đi về phía cửa, và do bị một xung năng bí ẩn nào đó thôi thúc, bà mở tung cửa.

Cơn mưa ấy, ôi, cơn mưa ấy…Trong khuôn cửa, một người đứng bất động, tóc dính chặt vào mặt, váy áo ướt súng, giày ngập bùn, mắt nhìn đăm đăm, đó là chị Lisette. Làm thế nào mẹ tôi lại biết được? Làm thế nào mà người đàn bà, vì không muốn đối xử tệ với chúng tôi, chưa bao giờ để lộ tình yêu đối với các con, cho dù bằng cử chỉ hay lời nói, làm thế nào mà người đàn bà thôi kệch đã sinh con ra đời bằng cái giống như khi đất thay cho gà ăn, làm thế nào mà người đà bà mù chữ ngu dốt đến mức thậm chí chưa bao giờ gọi chúng tôi bằng cái tên mà bà đã đặt cho và tôi không biết bà có luôn nhớ không, lại không còn cử động được nữa, không nói được nữa và chỉ nhìn chăm chăm vào cánh cửa dưới trời mưa như trút mà không nghĩ đến chuyện gõ cửa, đang đứng chờ ai đó mở cửa cho và đưa vào nơi ấm áp?

Liệu đó có phải là tình mẫu tử, trực giác trong tai họa, tia sáng đồng cảm vẫn còn tồn tại ngay cả khi con người chỉ còn sống như con vật? Đó chính là điều Lucien đã nói với tôi: một người mẹ yêu thương con luôn luôn biết khi nào chúng gặp khó khăn. Về phần tôi, tôi không ngả về cách diễn giải này. Tôi không oán hận người mẹ cũng giống nhiều người mẹ khác ấy. Đói nghèo là một chiếc lưỡi hái: nó gặt trong chúng tôi tất cả những gì chúng tôi có khả năng và đem lại cho người khác, để lại chúng tôi trống rỗng, sạch, sạch trơn tình cảm, để có thể chịu đựng được tất cả sự đen tối của hiện tại. Nhưng tôi cũng không có niềm tin quá tươi đẹp; không hề có tình mẫu tử trong trực giác đó của mẹ tôi, mà chỉ là những hành động xuất phát từ sự tin chắc vào bất hạnh. Đó là một dạng ý thức bẩm sinh mà cội rễ đã ăn sâu vào nơi sâu thẳm nhất của trái tim, khiến người ta nhớ rằng với những người cùng khổ như chúng tôi, sẽ đến một buổi tối mưa to, một đứa con gái bị ô nhục sẽ trở về chết ở nhà.

Chị Lisette sống thêm khoảng thời gian đủ để sinh ra một đứa trẻ. Đúng như người ta mong đợi: đứa trẻ mất ba giờ sau khi được sinh ra. Bố mẹ tôi coi thảm cảnh này là chuyện rất tự nhiên, vì thế họ chẳng động lòng hơn - cũng không kém - như khi mất một con dê. Nhưng từ thảm cảnh này, tôi nghiệm thấy hai điều chắc chắn: kẻ mạnh thì sống, kẻ yếu thì chết, trong những hoàn cảnh sung sướng và đau khổ tỉ lệ với vị thế thứ bậc của mình, và mình và bần cùng, chắc chắn tôi sẽ phải chịu hình phạt tương tự nếu tôi hy vọng kiếm lợi từ trí óc, bất chấp giai cấp của mình. Cuối cùng, vì tôi cũng không thể là thực chất của bản thân, tôi thấy mình phải đeo con đường bí mật: tôi phải im lặng về bản chất của mình và không bao giờ xen vào thế giới khác.

Từ im lặng, tôi trở thành sống trong bí mật.

Rồi đột nhiên tôi nhận ra rằng mình đang ngồi trong bếp của chính mình một nơi ẩn náu vô hình và tôi đã học được cách không bao giờ xen vào thế giới đó, rằng mình đang khóc, nước mắt giàn giụa, trong khi một bé gái có cái nhìn vô cùng ấm áp đang cầm tay tôi, vuốt nhẹ các đốt ngón tay và tôi cũng nhận ra rằng tôi đã nói hết, kể hết mọi chuyện: chị Lisette, mẹ tôi, cơn mưa, sắc đẹp bị xúc phạm và cuối cùng là bàn tay sắt của số phận đã đem lại cho những đứa trẻ chết ngay khi mới được sinh ra những người mẹ chết vì muốn được tái sinh. Tôi khóc, những dòng nước mắt nóng bỏng lăn dài, tôi ngượng ngùng nhưng không hiểu sao rất sung sướng vì ánh mắt buồn bã và nặng nề của Paloma đã biến thành cái giếng ấm áp, nơi tôi hâm nóng những tiếng thổn thức của mình.

- Trời ơi, - tôi nói và lấy lại một chút bình tĩnh - trời ơi Paloma cô thật ngớ ngẩn quá!

- Cô Michel, - con bé đáp, - cô biết đấy, cô đã đem lại cho cháu hy vọng.

- Hy vọng ư? - tôi hỏi và sụt sịt mũi vì xúc động.

- Vâng, - con bé nói, - dường như số phận cũng có thể thay đổi được.

Và chúng tôi cứ nắm tay nhau như vậy mà không nói gì trong mấy phút liền. Tôi đã trở thành bạn của một tâm sự hồn đẹp mới hai tuổi mà tôi cảm thấy rất biết ơn, sự khác biệt về tuổi tác, thân phận và hoàn cảnh không thể làm hoen ố cảm xúc của tôi. Khi Solange Josse đến chỗ tôi để đón con gái, cả hai cô cháu tôi nhìn nhau với sự đồng cảm của những người bạn không thể tách rời, chúng tôi nói lời chào tạm biệt và tin chắc sẽ nhanh chóng gặp lại nhau. Đóng cửa lại, tôi ngồi xuống chiếc ghế bành trước tivi, đặt tay lên ngực và bất giác nói thật to: có lẽ như thế chính là sống.