Hòn Đất - Chương 06 phần 2

Song dù thế, y vẫn chờ đợi. Với hai lỗ tai giảo hoạt, y rình nghe mọi lời nói và mọi tiếng động từ bên ngoài lọt vào. Vì thế, tuy bị giam cầm ở hốc hang trong cùng, nhưng y vẫn biết được phần lớn cái gì đã xảy ra trong bốn ngày đêm quyết chiến.Y đã bắt đầu có cái thói quen nhổm dậy kể từ khi loạt súng thứ nhất của bọn giặc nổ ran. Buổi sáng lựu đạn nổ ngót một ngàn trái là một trong những buổi sáng mừng rỡ của đời y. Đêm chặt tay thằng Bé đối với y là một đêm hả hê. Hôm Quyên bị bất tỉnh về những quả lựu đạn MK3 và Năm Nhớ bị trúng độc, y khoái trá. Cả về việc chị Sứ ra đi không trở về hang, y cũng biết. Rồi cái chuyện giặc bắc loa buộc chị Sứ kêu gọi đầu hàng cũng gieo vào lòng y nỗi mừng khấp khởi, nhưng y rất dỗi kinh ngạc và hậm hực khi biết bị Sứ đã nói ngược lại. Không có nước uống, cổ họng y cũng khô khát như ai. Nhưng trong nỗi khổ thiếu nước, lòng y cũng vẫn dấy lên cái hy vọng độc địa là nếu không có nước thì mọi người trong hang này không thể chống trả lâu được. Riêng khi biết rằng chị Sứ có thể chết đi thì y lo nơm nớp. Không phải lo cho tính mệnh Sứ, mà lo cho tính mệnh của y: "Chắc tụi nó giết mình để trả thù". Đôi khi y cũng không muốn đám người trong hang bị đánh nột quá, vì thế theo sự suy đoán của y, một khi nột quá họ có thể xử tội y trước.
Ngày cũng như đêm, y cứ lo quẩn về số phận của vợ chồng y, nhất là của y. Trước sự đe dọa của cái chết,thằng chỉ điểm ác ôn này có nhiều ý nghĩa diễn biến hết sức lạ lùng. Tất cả mọi ý nghĩa đó đều đen như chính cái bóng tối đang vây quanh y.
Đêm này, giữa lúc mụ vợ thở dài sườn sượt. Trước sự đe dọa của cái chết, tên Ba Phi bỗng giật mình thấy có cái chi rọi sang sáng trước mặt.
Thì ra đó là ánh nến. Người cầm nến đi xồng xộc về phía y. Mấy bữa nay, trước mặt y chỉ tuyền là bóng tôi nên y bị lóa chưa kịp nhận ra ai, thì đã nghe:
- Đứng dậy!
Người nói ấy là anh Hai Thép
Tên Ba Phi vội vã đứng lên. Cả mụ vợ cũng rối rít đứng lên theo. Nhưng anh Hai Thep giỡ ngón tay ngăn mụ lạibảo mụ cứ ngồi đó. Anh quắt mắt nhìn tên Ba Phi:
- Nghe tao hỏi, mấy bữa nay mày đã thấy ra tội của mày chưa? Như vậy mày đáng chết chưa?
Thằng chỉ điểm cúi thấp chiếc đầu hói, im lặng:
- Nói - Anh Hai Thép lớn tiếng giục.
Bờy giờ, y đáp một tiếng cụt ngủn:
- Đáng!
Anh Hai Thép gật đầu:
- ờ, đáng chết!
Ngừng một giây, anh nhìn y nói tiếp:
- Thôi đi!
Tên Ba Phi thoạt nghe thế thì liền lúc đó, hai gối chân y tự nhiên rủn xuống. Nhưng ở phía sau, anh Ba Rèn đã lách tới,lẹ làng đưa cánh tay lực lưỡng xốc ngay nách y dậy.
Anh Ba Rèn chợt thấy thằng Ba Phi như không còn có chân nữa. Đôi chân đó giờ cứ như cái gọng bún, cứ ngoặt ngoẹo rủn xuống.
Anh Hai Thép giơ cao ngọn nến soi lối cho Ba Rèn vừa lôi xốc thằng Ba Phi đi vừa càu nhàu:
- Thằng này sở quá, chưa chi đã xỉu rồi!
Anh Ba Rèn đem nó vào cuối hang. Chỗ này ở gần chỗ để một cái lu mái lớn màu thổ chu đựng di cốt sáu đồng chí bị giặc thảm sát. Đó là những xương cốt mà hồi năm ngoái chị em Sứ đã lén lút mò nhặt từ trong bàu rừng.
Bọn giặc đập đầu các đồng chí ta bằng cột chèo rồi liệng xác xuống tàu. ba ngày trời, Sứ và Quyên đi kiếm không gặp. Tới bữa trưa ngày thứ tư, hai cô mò vô rừng tràm thì bỗng nghe tiếng chó hoang tru từng hồi dài. Hai cô lẩn tới đó, thấy một bầy chó bốn năm con từ dưới tàu chạy lên, mồm ngoạm những chiếc xương tước thịt lòng thòng. Chính Sứ vác cây tất tả đuổi đánh bầy chó, giật lại từng cái xương, còn Quyên thì xăng quần lội xuống quờ tay mò. Hai người mò hết tất cả những xương dưới bàu, túm vào vải nhựa vác về Hòn giấu. Bấy giờ thì chẳng còn nhận ra xương là của ai nữa. Đồng khởi lên rồi, xương đó mới được đặt vào lu mái để ở đây.
Xốc thằng Ba Phi quá khỏi cái lu để xương một chút, anh Ba Rèn đặt dựa y vào vách đá. Đầu thằng chỉ điểm vẫn nghẹo xuống. Anh Ba Rèn và anh Hai Thép đứng đợi mãi, một lát sau y mới tỉnh dậy.
Hai người lôi y vào tận trong cùng. Lúc trở ra, Anh Hai Thép nói với anh Ba Rèn:
- Tôi coi tụi ác ôn thì đứa nào cũng vậy, ông à.Tụi nó có gan giết người, chớ không có gan chịu chết. Hồn nãy, nó ngỡ mình đưa nó đi giết nên nó chết giấc đó!
- Thì thứ đó mà gan góc mẹ gì! Có tài chỉ chọc chớ nhát hít thôi.
Hai người ra tới ngoài miệng hang thì Ngạn cũng vừa về tới. Anh liệng cặp dừa xuống đất giữa tiếng vỗ tay hoang hô rôm rốp của mọi người. Tới và Trọng cũng vào đến nơi, tháo cặp dừa trên cổ để xuống. Quyên sờ soạng tìm đến bên Ngạn. Ngạn đứng hồi lâu mới nặng nhọc nói:
- Chị Ba hy sinh rồi!
Tất cả mọi người đều đứng sững lại ở cái động tác của mình. Có những bàn tay đang vỗ trong bóng tốt, chợt từ từ để xuống, Ngõ hang bỗng chốc trở nên hết sức im lặng. Anh Hai Thép đến sát bên Ngạn, khẽ hỏi giọng đau đớn:
- Chú lần tới được chỗ cô Sứ chết à?
- Không, chị ấy không còn ở đó nữa, bà con đã đem chị về xóm rồi. Tụi tôi nghe bọn lính nói chuyện với nhau.
... Ngạn ngồi bệt xuống giữa ngõ hang, kể lại với anh em câu chuyện mấy tên lính trò chuyện ban nãy. Đến cuối, lúc lặp lại lời chị Sứ gọi bà con, gọi Bác trước lúc giãy mình chết, Ngạn nghẹn ngào không nói được nữa. Quyên vùng khóc nức nở. Cô gục vào vai Ngạn, Đầu cô cứ rung lên trên chiếc vait rần rịn ướt mồ hôi của Ngạn. Mọi anh em đều úa nước mắt. Nhưng ai cũng cố nén không để bật khóc thành tiếng, dù trước đó, họ vẫn nghĩ là Sứ khó sống được, nhưng họ chưa biết chắc Sứ đã chết và biết chết như thế nào. Bây giờ nghe Ngạn kể, họ mới thấy đau đớn thật sự. Và cùng một lúc, ai cũng chợt nhận ra hình như tình yêu mến và sự hiểu biết của bản thân mình trước nay đối với Sứ đều là không đủ. Dường như người con gái đó đang ở trên cao, mà họ còn đứng thấp, nên với lên chưa tới. Đức kiên trinh và cái vẻ đẹp dịu dàng của người con gái đó chừng như bây giờ mới lộ ra hết, mà lại rất gần, rất quen. Kìa, chị đang khẽ mỉm cười và lặng lẽ. Kia, khuôn mặt trái xoan thon thả của chị đang mở to đôi mắt đẹp đẽ chân thật. Kia là mái tóc óng mượt tươi tốt mà cả Hòn Đất ai cũng lấy làm hãng diện. Những nét đó từ nay chẳng thể phôi pha trong lòng họ. Những tiếng nói sau cùng của chị củng không sao tắt được giữa lòng họ.
Thế là một lần nữa trong đời, anh Hai Thép cảm thấy tim mình như bị những móng sắc vô hình quào cấu. Anh từ từ đứng dậy, run run nói:
- Các đồng chí thấy không, sống với anh em đồng chí Sứ lo từng miếng cơm giọt nước, hiền lành nhường nhịn tất cả, nhưng giáp mặt với kẻ thù, Sứ thiệt cứng cỏi, thiệt không chịu thua chúng nó một tấc? Sự dặn chúng ta đừng buông súng, chúng ta phảinhớ lấy. Sứ dặn chúng ta trả thù cho Sứ, chúng ta cũng phải nhớ lấy!
Dưới ánh nến chập chờn, mọi người không ai bảo ai đều đứng lên, im phăng phắc. Đầu họ hơi cúi xuống. Họ hình dung ra Sứ, nghĩ đến chị với tất cả tình yêu mến. Trong phút đó, họ nắm chặt súng, lòng càng riết siết cái quyết tâm chiến đấu tới giọt máu chót.
... Từ đấy trở đi, không ai khóc nữa. Họ gạt những giọt lệ còn sót lại trên mi mắt.Họ móng lòng mang đêm qua mau, để rạng ngày địch tấn công vào, họ có cơ hội trả thù cho Sứ lập tức.
Anh Ba Rèn nói:
- Vậy mới biết vàng thiệt không sợ lửa. Cô Sứ là vàng thiệt đó, anh em à! Đâu có như thằng Ba Phi ban nãy, chưa chi mà đã té chết rồi.
- Chết thiệt à? - Ngạn hỏi.
- Không, chết giấc thôi!
Anh Hai Thép day hỏi Ngạn:
- Bẻ được mấy trái dừa chú?
- Sáu!
- Bẻ dễ không?
- Cũng dễ. Nhưng ở sát bên vòng vây tụi nó, phải đợi nó bắn súng mới dám buông dừa rớt xuống. Nghe tụi lính nói chuyện không sót một câu. Tụi nó hút thuốc, rít thở phào phào, thấy mặt mũi hết ráo. Coi bộ tụi nó hoang mang dữ. Thằng nào củng sợ vô hang. Tụi nó gọi cái hang mình đây là cái hang thảm thiết...
Anh hai nói:
- Nó đặt tên như vậy cũng phải, nhưng thảm thiết đây là thảm thiết đối với tụi nó, chớ đối với mình thì đây vẫn là hang Hòn Đất thôi.
Chú Tư Nghiệp gật đầu:
- Phải, tên Hòn Đất nghe hiền khô, vậy mà thằng nào ăn hiếp ăn đáp thì không được, dứt khót không được!
Ngạn nói:
- Nè, trận này có tụi Mỹ theo nữa. Chết một thằng rồi!
- Vậy sao?
- Nghe tụi lính nó là ngày hôm qua trực thăng xuống chở thằng Mỹ và mấy thằng sĩ quan ngụy bị thương về rồi. Tụi lính tức lắm, vì mấy thằng Mỹ lái trực thăng từ chối không chịu chở lính bị thương nặng!
- Tụi chó đẻ quá!
- Vậy cho lính nó sáng mắt ra chút đỉnh chớ! Tưởng đi theo Mỹ sướng lắm! Mỹ may ra chỉ có tình nghĩa với chó thôi, chứ cái thứ lính mướn mỗi tháng từ tám trăm tới một ngàn hai đó bị cụt cẳng đổ ruột thì nó dại gì mà cứu. Có cứu sống cũng là lính bị loại khỏi vòng chiến rồi, đánh cách mẹ gì được!
Ngạn nói:
- Tình hình này tôi coi bộ tụi lính thối chí dử.
Phải chi mình vừa đánh vừa kêu gọi cho tụi nó rã tinh thần thì hay quá!
Anh Ba Rèn bảo:
- May ra chỉ trông cậy ông Tám Chấn và bà con ngoài xóm làm chuyện đó, chớ mình ở đây hễ thấy thằng nào nhào vô là mình phải "bửa" lật thôi, chớ còn kêu rèo gì nữa?
- Không, mình cũng có thể làm được chớ - Chú Tư Nghiệp nói - Phải chi mình có vài cái loa!... Một mặt đánh, một mặt kêu. Như vậy tụi nó mau rã đám hơn.
- Có lý lắm, hay lắm. Nhưng làm sao kiếm được loa? - Ngạn hỏi.
Chú Tư Nghiệp ngẫm nghĩ một lúc rồi bảo:
- Không có loa bằng thiếc thì làm như vầy cũng đặng... Tôi để ý thấy trên nắp cái lu mái đựng hài cốt các anh em hy sinh có đậy nhiều tầm mo cau. Lấy mo cau đó làm loa tàm tạm được. Tôi chắc vong linh anh em cũng không buồn phiền gì mình đâu!
Ba Rèn bảo:
- Buồn gì, phải chi mình đội mo cau đó đi đầu hàng thì mấy chả mới buồn, chớ đằng này... Mà chết rồi còn buồn khỉ gì nữa, cha nội!
- ấy, đừng nói vậy chớ Ba Rèn - Giọng chú Tư trở nên nghiêm trang thật sự - Anh em khuất rồi thì phải để anh em yên nghỉ, tôi ngại là ngại mình mó máy làm động xác thể anh em, tội nghiệp...
Anh Ba Rèm im đi một chốc rồi nói nhỏ, giọng hơi kéo dài ra:
- Sao lóng rày tôi để ý thấy ông đâm mê tín trở lại quá!
- Không phải mê tín, tôi... tôi... - Chú Tư Nghiệp ấp úng cãi.
Anh Hai Thép cười, xua tay:
- Thôi đi!... Anh Tư nói vậy không hẳn là mê tín đâu. Nhưng thấy tấm mo cau có thể dùng làm loa, thì cứ lấy làm, không sao. Vong linh anh em đồng chí mình còn mừng nữa chớ không buồn đâu. Anh cứ lấy mo cau đó làm loa đi anh Tư!
- Được để tôi làm... Nhưng nói là nói..
Chú Tư Nghiệp bằng lòng làm loa bằng những tấm mo cau nọ, nhưng vẫn còn tấm tức về câu nói của Ba Rèn. Đối với chữ "mê tín", chú không chịu, mặc dù từ lâu chú vẫn tin rằng có Trời, có Phật. Trong một cuộc nhậu nào đó, đã có lần chú cào sườn nói: "Nè, giả tỷ trên mặt địa cầu ba ngàn triệu con người ta đều không tin có Trời, Phật thì vẫn sót một người còn tin nghe đa!". Đoạn chú Tư trỏ vào ngực mình, nhấn mạnh từng tiếng một: "Người đó là Tư Nghiệp". Bây giờ chú Tư Nghiệp không còn ăn chay nữa, vì như chú nói - "Tôi tu tại bụng, chớ không tu tại miệng. Ăn chay cày ruộng đuối lắm, mà mặt mày xanh rời, coi kỳ quá!".
Lạ thay, con người còn tin Trời tin Phật đó lại có cái nguyện vọng hết sức tha thiết là được kết nạp Đảng. Nhiều lần, chú thắc mắc, hỏi anh Hai Thép liệu như chú có thể được vô Đảng không. Anh Hai Thép bảo: - "Được chớ, nhưng muốn làm người Đảng thì phải thực tế. Người Đảng tôn trọng sự tín ngưỡng của tín đồ các đạo, nhưng không tin có Chúa, có Phật, có Trời. Cái đó tôi nói thiệt, không giấu giếm ông làm chi. Nhưng tụi tôi tin là có kẻ bóc lột và người bị bóc lột. Tụi tôi tin là nếu mình đồng lòng đánh Mỹ - Diệm thì mình sẽ sung sướng, nông dân có đất càt, đạo giáo được gìn giữ".
Cái gì chứ đánh Mỹ - Diệm thì chú Tư Nghiệp chịu lắm. Nhưng nghe anh Hai Thép nói kiểu người Đảng như thế thì chú nghĩ mình khó vô Đảng được. Bởi vậy chú lấy làm đau khổ.Vì chú chưa rút được cái này nhưng lại muốn với tới cái kia.
Lời nói của anh Ba Rèn vừa rồi tự nhiên khơi lại nỗi khổ tâm đó của chú, chớ chú không giận anh Ba Rèn. Tánh chú không giận ai đâu. Lát sau, chú đã mò mẫm vào trong hang, thắp nến đi lấy mo cau. Rồi đến sau phiến đá mà mọi đêm mẹ con Sứ vẫn ngủ, chú lựa chỗ cắm nến, và bắt đầu hì hục gò mo cau lại để làm thành những cái loa.
... Bên trên phiến đá đó, Quyên vừa đặt lưng xuống cạnh con Thúy. Con bé đã ngủ. Nó vẫn chưa hay biết gì về cái chết của mẹ nó. Nằm bên cháu, Quyên mở mắt nhìn lên vòm hang tối đen. Đôi mắt Quyên ráo hoảng cay nóng. Cô lăn qua, ôm cháu vào lòng. Trên người con Thúy đêm nay vẫn đắp thêm chiếc áo của mẹ nó. Và dưới lần tay ve vuốt của mình, Quyên thấy mớ tóc xấp xõa trên đầu đứa cháu chừng như cũng đã mọc dày, mườn mượt, hệt như mái tóc chị Sứ ở một ngày xa xôi mà cô mang máng nhớ.
3.
Nhà vợ chồng Hai Thép có một cái hầm bí mật. Hầm này nguyên đã sẵn có hồi mấy năm đen tối. Sau khi đồng khởi lên rồi, anh Hai Thép chẳng những không lấp mà còn ra sức củng cố. Hầm trổ miệng ngay giữa nhà, nhưng có còn có tới ba bốn nhánh ăn thông ra ruộng. Nếu địch có khui miệng, cũng không dễ gì phăng ra được. Mấy hôm nay anh Tám Chấn ở dưới hầm, đêm đêm anh mới lên thở hít không khí cho khỏe rồi cũng trở xuống đốt nến làm việc. Chiều hôm ấy, vừa lúc trời vừa tắt nắng, chị Hai Thép từ ngoài xóm về giậm khẽ mấy gót chân xuống miệng hầm, và dở hầm. Anh Tám Chấn mới trồi lên, chị nghẹn ngào nói:
- Cô Ba Sứ chết rồi!
Anh Tám đau đớn lặng đi giây lát. Lát sau, anh mới khẻ hỏi:
- Chết hồi giấc nào?
- Mới chết hồi nãy, cách đây gần non một tiếng Thằng Xăm chém cô ấy. Tụi tôi đã cùng bà con giành được xác cô. Cô Sứ chết làm cả xóm đều khóc, bà con kéo ra đường ùn ùn. Lúc giành giật xác cô Sứ, đã xảy ra một cuộc ẩu đã giữa tụi tôi và lính.
- Hiện thi thể của Sứ để ở đâu?
- ở nhà má Sáu. Bà con bây giờ đã kéo tới đó đông lắm! Anh Tám Chấm đứng thẳng lên, hai tay choàng qua hai mé miệng hầm, ngó đăm đăm vào khoảng không trước mặt. Chốc sau, anh nói:
- Bây giờ thím phải ra đó ngay. Tổ chức hàng ngũ bà con lại cho chặt chẽ để đưa đám Sứ. Cần phải biến đám tang thành một cuộc biểu tình, đi khắp xóm, nhơn đó mà làm cho bà con căm thù thêm.
chị Hai Thép đáp:
- Tụi tôi cũng tính vậy. Để tôi trở ra ngoài liền...
Nói rồi, chí đứng nhổm lên định sửa soạn đậy nắm hầm. Chợt nghe anh Tám chấn lại bảo:
- Khoan đã!... Thím Hai, theo tính, liệu có thể nào điều động đám tang cô Sứ đi qua cận cửa hang Hòn được không?
Chị Hai Thép tỏ vẻ ngạc nhiên?
- Chi vậy anh?
Anh Tám Chấn không đáp, kéo áo chị ngồi xuống. Và anh dặn điều gì rất khẽ, rồi hỏi:
- Sao, thím nhắm liệu bề có được không, nếu được thì rất tốt!
Chị Hai Thép im đi một lát mới nói:
- Để tôi bàn với chị em coi, hễ có cơ hội thì kết hợp làm luôn. Thôi, tôi đi nghen anh?
- Thím Hai, thím phải cân nhắc cho kỹ, không nhường bước và cũng không để căng quá, đừng để xảy ra tình trạng ẩu đã với binh sĩ nữa... Phải tranh thủ lôi kéo họ là chánh... Mà thím nè, mấy đứa nhỏ đi đâu mất hết rồi.
- Tôi gửi tụi nó ở nhà bên rồi.
Chị Hai Thép đáp, và khi anh Tám tụt xuống, chị lẹ làng đậy nắp hầm lại, rồi lấy chổi quét qua mấy nhát. Chị Hai Thép ngắm nghía coi lại nắp hầm lượt nữa rồi dựng chổi, bươn bả đi tới nhà mẹ Sáu.
Bây giờ trời đã chập choạng. Trước sân và quanh nhà mẹ Sáu, bà con lối xóm đến đông nghịt.
Chị Hai Thép đến một lúc thì cuộc tẩm liệm bắt đầu. Khi chị và chị Ba Rèn sắo sửa đặt Sứ vào hòm, mẹ Sáu gác nhẹ đầu Sứ trên đùi, rồi cầm cái lược chải tóc cho con. Mẹ chải kỹ lưỡng, như mọi bữa mẹ vẫn chải cho Sứ. Cũng với chiệc lược thưa bằng sừng trâu đen huyền ấy! Nhưng lần này, mẹ chải rất lâu, chải mãi. Vừa chảy mẹ vừa lần gỡ hết các món tóc rối. Chải xong, mẹ bảo chị Hai Thép với giọng tỉnh hắn:
- Vợ Hai Thép coi phía sau tủ thờ có chai dầu bông bưởi, lấy dùm tao! Con Sứ nó ưa xức thứ dầu đó lắm. Hôm rồi nó kiếm ở đâu đem về để đó, chắc tính xức mà chưa kịp xức...

Mua sách giấy (nếu có) để ủng hộ tác giả và đọc bản có chất lượng tốt hơn <3

Tìm Mua Sách Này

Hãy để lại chút cảm nghĩ khi đọc xong truyện để tác giả và nhóm dịch có động lực hơn bạn nhé <3