Bùa may mắn – Phần 3:Luôn có mặt bên nhau trong lúc khó khăn-P3

6.Uống trà nhé?

Tôi quen với Jenny kể từ cái ngày tôi theo học dương cầm với mẹ của cô ấy. Jenny tóc vàng, còn tóc tôi nâu. Là người Mỹ gốc nên Jenny cao to và lanh lợi. Còn tôi lại nhỏ bé và ít nói. Nhà Jenny có anh có em đông đúc, vui vầy; còn tôi là con độc nhất trong gia đình. Hương thơm cô ấy yêu thích nhất là hương vani; còn tôi lại mê mùi sôcôla hơn. Jenny học đàn dương cầm là bởi vì khi còn nhỏ, các cô gái đều phải học môn đó. Trong khi tôi xem âm nhạc là một cái nghề để kiếm sống.

Thời đó, thú giải trí yêu thích của chúng tôi là những bữa tiệc trà chiều. Bộ ấm trà đầu tiên tôi có là một món quà Giáng sinh vào năm tôi lên bảy. Những chiếc tách bé tí được trang trí bằng những vòng hoa hồng và hoa violet tinh tế viền xung quanh. Bộ ấm trà đi kèm với một chiếc rương cũ rất quyến rũ, chứa đủ loại quần áo cải trang mà Mẹ đã phát hiện được ở một tiệm bán đồ đã qua sử dụng. Jenny và tôi lục tung cái rương lên. Hai đứa thi nhau thay tới thay lui những cái mũ đỏm dáng, những vòng hạt bẹt và mấy cái áo len chui đầu màu nâu nhạt đính những cái khuy áo mạ vàng, mãi cho đến khi chúng tôi hài lòng với diện mạo như công tước vương hầu của mình. Rồi chúng tôi ngồi đối diện nhau nơi cái bàn kích cỡ dành cho trẻ con của tôi, nhâm nhi nước táo và ăn nhỏ nhẻ từng chiếc bánh quy giòn để trong mấy cái đĩa bé tí.

Mỗi năm, dưới gốc cây thông Giáng sinhà một gói quà dành cho chiếc rương đựng trang phục cải trang. Những đồ vật yêu thích được giữ trong bộ sưu tập đồ dành cho người thuộc hoàng tộc này; những món đồ khác được thay thế bằng những bộ đồ theo khuynh hướng thời trang mới. Khi chúng tôi lên mười, Jenny và tôi tạo kiểu tóc cho nhau xong rồi mới sục sạo cái rương để kiếm mấy đôi giày cao gót. Cổ chân vẹo qua vẹo lại, chúng tôi loạng choạng đi xuống bàn sửa soạn đồ ăn trong bếp để rót côca nóng từ ấm trà của Mẹ vào mấy cái ca cỡ dành cho người lớn, và nhấm nháp bánh quy sôcôla. Và chúng tôi luôn nói về những hy vọng, những mơ ước âm nhạc của chúng tôi.

Ở tuổi mười ba, Jenny và tôi sơn móng tay và trang điểm gương mặt của mình bằng những vật dụng có trong chiếc rương. Nhỏ một giọt nước hoa vào sau vành tai, chúng tôi tưởng tượng mình là Abigail Adams và Martha Washington đang đàm đạo về đất nước Hoa Kỳ mới tạo lập, hay mấy tác gia Beatrix Potter và Louisa May Alcott tranh cãi về những tư tưởng trong sách.

Đến sinh nhật thứ mười sáu, Jenny và tôi đi xỏ lỗ tai. Cái rương cũ cất giữ trong đó đủ loại hoa tai lòe loẹt, toòng teng mà chúng tôi sẽ chẳng đời nào dám đeo ra phố, nhưng chúng hoàn toàn thích hợp với buổi uống trà. Mấy tấm khăn ăn bằng vải linen được đặt vắt qua đùi, chúng tôi ngồi thưởng thức món trà đích thực từ bộ tách trà bằng sứ thật sự của Mẹ, và món trà ấy càng thêm ngon hơn với những miếng bánh chuối. Chúng tôi lên kế hoạch đi thăm thú thế giới. Rồi tôi sẽ là phù dâu cho cô ấy, cô ấy cũng hứa sẽ làm phù dâu cho tôi.

Tuổi mười tám tìm thấy chúng tôi trên chiếc tàu lượn siêu tốc ở đại học. Sau khi tốt nghiệp trung học, chúng tôi bị ném với tốc độ của gió lốc vào thế giới người lớn với nào chuyện học hành và nghề nghiệp, xe cộ và bảo hiểm, bọn con trai và chuyện tình cảm. Cuộc sống của Jenny đi theo chiều này, cuộc sống của tôi đi theo chiều nọ. Trong khu ký túc xá đại học bao la ở Nam California, được vận hành với tốc độ chóng mặt, chúng tôi hiếm khi gặp nhau.

Ngoại trừ vào một ngày đặc biệt. Chúng tôi chạy từ chỗ đứa này sang chỗ đứa kia trong khu ký túc xá và phát hiện chúng tôi chỉ còn có ba mươi phút với nhau trước khi phải đi đâu đó. Với sự vô tư lự chợt có, chúng tôi vội chạy đến quán cà phê gần đó để uống trà với nhau… trà hương cam cho Jenny và hương dâu tằm cho tôi. Có quá nhiều chuyện để kể cho nhau. Jenny đã gặp một người đàn ông có mái tóc sậm. Công việc tại phòng trưng bày nghệ thuật và việc học nghệ thuật đã chiếm hếtảnh rỗi của cô ấy. Còn tôi đồng thời theo đuổi hai bằng thạc sĩ âm nhạc và ép mình vào những giờ làm việc ít ỏi. Và cũng có một người đàn ông đi vào đời tôi.

Những phút tự do quý báu biến thành bốn giờ bị đánh cắp, và chúng tôi chợt nhận ra rằng những giờ học buổi chiều sao quá dài. Ở giữa chúng tôi, trên bàn, là chiếc bình trà mà cô phục vụ ý tứ đã kín đáo đặt xuống trước khi bước đi để tiếp tục công việc của mình. Tấm hóa đơn có ghi dòng “Miễn phí.”

Tôi kết hôn với người đàn ông đặc biệt của đời tôi. Như đã hứa, Jenny trở thành phù dâu của tôi. Chồng tôi và tôi gầy dựng gia đình trong một ngôi nhà kiểu cổ điển gần trường đại học, kề cận gia đình, bạn bè và tất cả những gì thân thuộc đối với tôi. Jenny và tôi có cơ hội thi thoảng lại uống trà với nhau.

Rồi mọi việc lại thay đổi. Chồng tôi tìm được một công việc tuyệt vời với một tương lai đầy hứa hẹn, những khoản bổng lộc hấp dẫn và đồng lương rất xứng đáng, tuyệt hơn nữa là công việc ấy lại thuộc lĩnh vực mà anh ấy rất muốn làm. Anh cực kỳ sung sướng. Anh nói, “Chuyến dời nhà đi năm trăm dặm về phương Bắc sẽ là một cuộc phiêu lưu rất thú đây.”

Phiêu lưu ư? Tôi choáng váng. Tất cả những gì tôi biết và thân thương, quen thuộc với tôi đều ở đây cơ mà. Tôi cần thêm sáu tháng nữa để hoàn tất chương trình học của tôi. Tôi không biết phải làm gì để tìm lấy một người bạn ở cái thành phố mới xa tít tắp ấy. Tôi đâu phải là kẻ kết bạn dễ dàng. Tôi sẽ làm gì ở đó cơ chứ?

Phải xa cách người thân là điều cực kỳ khó khăn. Mấy ngày đầu tôi khóc suốt khi ngồi trong ngôi nhà mới xinh đẹp, dỡ đồ đạc ra. Mọi thứ trông thật ảm đạm.

Rồi có tiếng gõ đầu tiên vào cánh cửa nhà mới của tôi. Đứng nơi hiên cửa trước là ông bưu tá, trên tay cầm một gói bưu phẩm thật to. Tôi nhận ra địa chỉ người gửi là của Jenny. Bạn Jenny thân thiết lâu năm của tôi. Bao dặm đường xa cách giữa hai chúng tôi bỗng chốc biến mất khi tôi mở giấy gói quà ra.

Tói mở để lộ ra một chiếc bình trà được trang trí bằng đường viền hoa hồng và hoa violet tinh xảo. Bên cạnh chiếc bình bằng sứ xinh đẹp ấy là những chiếc tách trà rất đồng bộ và những chiếc thìa để dọc theo một hộp trà hương dâu tằm. Tờ giấy đính kèm ghi, “Tớ biết cậu sẽ cần có một người bạn thân nơi nhà mới của cậu. Tớ cho phép cậu được tìm một người bạn thân mới. Như thế cậu sẽ có được hai người bạn thân.”

Chủ nhật nọ tôi cùng chồng đi lễ ở ngôi nhà thờ gần nhà. Renee, một phụ nữ sôi nổi có mái tóc nâu đỏ, đã ôm lấy tôi. “Chúng tôi chuyển nhà đến sống ở đây cách nay một năm, và tôi có thể hiểu được cảm giác cô đơn mà chị đang cảm thấy.”

“Chị ghé nhà chúng tôi dùng trà nhé?” Tôi mời.

“Rất vui vì chị đã có lời mời,” Renne mỉm cười đáp.

Vài tháng sau Jenny gửi đến một cái gói quà nhỏ hơn, một hộp trà vị cam. Tờ giấy đính kèm ghi, “Tớ sẽ đến cậu uống trà vào thứ Bảy!” Và thế là lần đầu tiên Jenny đến thăm gia đình nơi phương Bắc của tôi, mở đầu cho rất nhiều cuộc viếng thăm sau này.

Khi tôi gọi cho Jenny để báo tin tôi sắp có đứa con đầu lòng, cô liền gửi đến cho tôi một gói trà bạc hà, để làm dịu đi chứng buồn nôn do ốm nghén của tôi.

Đã mười lăm năm rồi kể từ ngày tôi và chồng chuyển đến sống ở miền Bắc. Renee mang cho tôi một gói quà kết nơ, bên trong là một cái ca có hình một thiên thần và dòng chữ, “Mong rằng thiên thần hộ mệnh cho bạn sẽ chăm sóc bạn khi chúng ta chia xa.” Renee và gia đình cô ấy sắp chuyển nhà sang bang khác.

Tôi ôm hôn tạm biệt Renee và tặng cô ấy một gói quà để mở ra trên đường đến với ngôi nhà mới. Trong gói quà là một cặp tách trà và một mẩu giấy ghi, “Bạn sẽ cần đến một người bạn thân ở khu nhà mới của bạn. Mình cho phép bạn được tìm một người bạn mới. Như thế bạn sẽ có được hai

Jenny và tôi hầu như chỉ liên lạc với nhau qua điện thoại. Và chúng tôi vẫn cứ khác biệt nhau một cách đáng ngạc nhiên. Cuộc sống của Jenny đưa cô ấy đến toàn những nơi đầy quyến rũ và làm cho con người ta luôn phấn khích. Còn thế giới của tôi quanh quẩn là ba nhóc tì nhà tôi, là nhà thờ, là âm nhạc.

Mới tuần rồi Jenny gọi điện.

“Tớ rất thích được nghe tiếng cậu,” tôi giải thích. “Nhưng bây giờ tớ đang bận dạy học đàn. Tớ gọi lại cho cậu sau được không?”

“Tớ nghĩ là không được,” cô ấy phì cười trả lời. “Tớ đang quá cảnh ở phi trường New York và thế là gọi điện cho cậu. Tớ đang gói một gói quà gửi đi cho cậu đây, một ít trà thảo dược rất tuyệt ở một cửa hiệu nhỏ. Tớ nghĩ ngay đến cậu. Đó là một trong những loại hương dâu tằm mà cậu yêu thích…”

PEGGYSUE WELL

 

7.Những chi tiết

Thời điểm tốt nhất để kết bạn là trước khi bạn cần đến họ.

Ethel Barrymore

Mỗi phút của tuần kế tiếp đã được lên kế hoạch đâu ra đó. Ngay khi tôi quay về sau khi đã thả Summer, Emerald, Jesse và bạn bè của chúng xuống khu cắm trại thuộc nhà thờ trên một bãi biển ở Tillamook, là đã đến lúc chuẩn bị chỉnh đốn lại nhà cửa và sân vườn cho chuyến đi thăm Realtor vào cuối tuần tới.

Dù đã có sự giúp đỡ của con trai cả và con trai út nhưng danh sách các việc phải làm vẫn làm tôi nản lòng. Mọi cây cỏ trong vườn đang đua tranh mọc trong một cuộc tranh tài về chiều cao. Bãi cỏ trong vườn giờ đã như một cánh đồng hoang, đám cây bụi đã mọc lan đến khu rừng lân cận, còn lối đi đã biến mất từ vài tháng trước. Trong nhà chẳng khá gì hơn. Giữa những thời khóa biểu và mỗi tuần đi cả năm trăm dặm chở hết đứa này đến đứa kia đến các lớp học và những cuộc hẹn khác nhau, thời gian được nhín ra cho việc nhà teo lại nhỏ xíu cho đến lúc mất hẳn.

Mặc dù vậy, đây là cơ hội cuối cùng để bán nhà và đối mặt với chuyện xiết nợ, vì thế chúng tôi có ý định phải giải quyết gọn đám hổ lốn và các bụi cây trong vài ngày tới và làm cho nơi ở thật đẹp đẽ.

Ba tiếng đồng hồ ngắn ngủi sau chuyến đi lòng vòng cả bốn tiếng đồng hồ, chuông điện thoại reng. Jesse bị ốm, và người lãnh đạo chuyến đi chơi của bọn trẻ rất lo lắng bởi vì thằng bé trông có vẻ mỗi lúc một nóng nhiều hơn. Với niềm hy vọng là chẳng qua do thằng bé nghịch ngợm quá nên mệt, tôi yêu cầu cho nói chuyện với Jesse. “Mẹ ơi, con thật sự không khỏe,” nó thì thào. “Mẹ đến ngay đây,” tôi bảo với nó.

Réo, thằng con đang tuổi thiếu niên, đổ bình cà phê espresso tôi mới pha vào một cái bình thủy, tôi mặc vội một chiếc áo sạch, quơ lấy chùm chìa khóa, cái ví và cái bình thủy, tôi quay xe lại.

Jesse rất nóng khi tôi lái xe vào trong trại lúc mười giờ đêm hôm đó. Quay trở lại con đường núi ngoằn ngoèo ven biển, tôi tự hỏi không biết mình có nên dừng lại ở một thị trấn nhỏ nào đó để nhờ giúp đỡ không. Nhưng không được, nếu như chẳng có cái bệnh viện nào, chúng tôi lại phải chờ một xe cứu thương hay một chiếc trực thăng đến. Chiếc Suburnban bám lấy mặt đường, mấy chiếc bánh xe muốn bắn ra ngoài sau mỗi cú ngoặt cua quá nhanh. Ở băng ghế giữa, Jesse ngã dụi qua một bên, nóng phừng phừng và chẳng còn biết g

Nhân viên trực phòng cấp cứu chạy ngay ra xe, liếc nhìn thằng bé thật nhanh và gọi đem giường chuyển bệnh nhân đến. Họ bỏ qua công đoạn làm thủ tục và đẩy thằng bé qua mấy cái cửa trước khi đi vào phòng phẫu thuật, bỏ tôi đứng lục tìm thẻ bảo hiểm ở chỗ tiếp nhận bệnh.

Trong vòng vài phút Jesse được gắn ống truyền dịch, thuốc kháng sinh và dịch truyền chảy vào mạch máu của nó. Mười phút sau bác sĩ phẫu thuật đến, bà vừa đi vừa cởi áo khoác ra, giải thích cho tôi – đang rảo bước sát bên, “Ruột thừa của thằng nhỏ có thể đã thủng. Tôi sẽ cho chị biết ngay khi tôi xong.” Cánh cửa sập lại ngay sau bà.

Lúc ấy là 1g15 sáng. Phòng chờ bên ngoài phòng phẫu thuật không một bóng người.

Cuối cùng thì cánh cửa cũng mở ra, và bác sĩ phẫu thuật trông kiệt sức như tôi, xuất hiện. Vâng, Jesse bình an, nhưng thằng bé cần phải ở lại bệnh viện vài ngày. Tôi được phép ở lại trong phòng nó.

Mặt trời đang nhú dần trên nền trời khi Jesse được đẩy vào một cái phòng. Tôi ngồi cạnh nó, nhìn ánh dương đang bừng sáng bên ngoài, và chờ nó thức dậy.

Đến bảy giờ thì nó thức và mặc dù trông còn mệt mỏi nhưng có thể thấy được là nó đã khá hơn. Những nút thắt quanh trái tim tôi lỏng ra. Và khi thằng bé xin phép tôi được ăn điểm tâm bằng món kem lạnh, nỗi lo sợ trong tôi mới hoàn toàn được cởi bỏ.

Trong vòng một tiếng đồng hồ, bác sĩ đến. Mọi thứ đều ổn cả. Jesse đã làm cho cô y tá phì cười khi nó hỏi xin kem, dù lẽ ra nó phải bằng lòng với mấy thứ dịch truyền và thức ăn lỏng thêm vài giờ nữa.

Khi Jesse bắt đầu ngủ trở lại, đầu óc tôi lúc này đã thoát khỏi những nỗi lo sợ về nó, bắt đầu nhớ lại mọi thứ ở nhà vẫn đang đợi được hoàn tất. Chết rồi, ai sẽ chở mấy đứa con gái về nhà đây? Trước khi đầu óc tôi kịp chuyển sang trạng thái hoảng sợ thì cửa phòng bật mở, v viên trong nhà thờ của chúng tôi đến, tay cầm nào là bong bóng cho Jesse và cà phê sữa cùng bánh nướng nhân mứt cho hai mẹ con chúng tôi.

Khi cô ấy ra về, những căng thẳng và sự mất ngủ bắt đầu tác động, và tôi nằm co trên chiếc giường xếp, cạnh bên giường của Jesse. Trước khi tôi bắt đầu thiếp đi, tôi thầm cầu khẩn cao xanh phù hộ, chăm lo mọi thứ cần phải làm cho tôi. “Xin Thượng đế vui lòng coi sóc mọi chi tiết cho con. Con quá mệt mỏi rồi.”

Đến chiều, chuông điện thoại bắt đầu reng, và mọi người bắt đầu gọi đến để hỏi thăm người bệnh và đề nghị giúp đỡ hai mẹ con. Có ai đó báo cho những người chỉ huy chuyến dã ngoại ở Tillamook, và một vị phụ huynh khác đưa các con gái của tôi về nhà.

Summer và Emerald đến bệnh viện vào cuối chiều hôm ấy, vừa kịp lúc một người bạn của tôi đến đưa bọn trẻ, cùng với thằng em út Larkin của chúng, đi ăn pizza và kem. Bạn bè cứ như xuất hiện từ những nơi nào chẳng rõ lăng xăng giúp đỡ chúng tôi, ngồi chơi với chúng tôi đủ lâu để tôi có thời giờ tắm táp và thay đồ.

Những ngày ở bệnh viện trôi qua nhanh chóng, nhờ Jesse sớm hồi phục và nhờ có sự hỗ trợ liên tục của bạn bè và hàng xóm láng giềng.

Vào thứ Sáu, Jesse xuất viện và chúng tôi lên đường về nhà. Tôi khiếp hãi khi nhận ra mình đã quên hủy bữa tiệc sẽ diễn ra vào ngày hôm sau, và tôi bắt đầu nhẩm trong đầu danh sách mọi việc cần làm để bù vào cho cả một tuần vắng nhà.

Khi chúng tôi de xe nơi lối vào nhà, phải mất cả một phút mới nhận ra chuyện gì đang xảy ra. Xe cộ đậu khắp mọi nơi.

Dụng cụ làm vườn và xô chậu được xếp gọn trong nhà xe. Từ quanh khu vườn cất lên tiếng rì rì của máy cắt cỏ, của máy xén cây và tiếng người nói chuyện, có rất nhiều tiếng người nói chuyện.

Tiếng ồn ào đột nhiên ngừng lại, và bạn bè chạy đến chào đón Jesse trước khi quay trở lạiông việc của mình. Trong nhà mức độ ồn ào có thấp hơn nhưng mức độ hăng say làm việc cũng tương tự. Con cái của bạn bè đang làm việc với mấy đứa con của tôi, lau chùi lò, cọ rửa bếp, quét dọn, hút bụi và sắp xếp lại tủ chén bát.

Sau khi Jesse đã ngồi yên vị trên một chiếc xô pha với một quyển sách và một ly nước trái cây, tôi lững thững đi ra đi vào, mệt mỏi và choáng ngợp. Nơi nào tôi đi qua cũng có một gương mặt thân quen, thường là rất nhọ nhem, lấm bẩn, đang tươi cười với tôi, và những cánh tay phủ đầy bụi bặm, cỏ rác chìa ra ôm lấy tôi.

Nước mắt tôi chợt trào ra đầy biết ơn, tôi nhớ lại cái lời cầu nguyện nhờ Thượng đế giúp đỡ trước khi thiếp ngủ của mình. Thượng đế đã đáp lại, đặt những chi tiết an toàn vào những bàn tay thương yêu của bạn bè thân hữu.

LIZANNE SOUTHGATE

 

8.Biết được khi nào

Chúng ta rất giàu có nếu như chúng ta biết đợc một ít người theo cách mà chúng ta chẳng biết được ai.

Catherine Bramwell-Booth

 

 

Sau khi dời nhà đến một bang mới, tôi kiếm cách gặp gỡ những người mới. Thế rồi trước sự vui mừng của tôi, người hàng xóm sống trong khu nhà phía sau khu nhà của tôi đã đi về hướng của tôi. Cô ấy nở một nụ cười thân thiện, cất tiếng chào ấm áp, và cho tôi biết tên cô ấy là Evelyn, rồi cô ấy chuyện trò với tôi rất thân tình. Chẳng có nghi lễ nào, hoặc chẳng ai trong chúng tôi nhận ra điều đó, chúng tôi đã nhanh chóng trở thành bạn của nhau.

Khả năng canh thời gian một cách chính xác của Evelyn không bao giờ ngừng làm tôi kinh ngạc.

Cô ấy luôn biết khi nào...

Vào những lúc vui vẻ, hạnh phúc, cô ấy biết khi nào để cười và chia sẻ niềm vui với tôi.

Nếu tôi có chuyện bực bội, cô ấy biết khi nào mang sôcôla đến và lắng nghe trong khi tôi trút nỗi bực trong mình.

Suốt những phút giây đau buồn, cô ấy biết khi nào đưa khăn cho tôi để chúng tôi có thể khóc cùng nhau.

Nếu tôi có do dự, trù trừ trước một chuyện gì, cô ấy biết khi nào đến khích lệ tinh thần tôi đừng bỏ cuộc.

Sự hỗ trợ của cô ấy, dù qua điện thoại, đến thăm hay qua vài dòng trong thư, luôn đến chính xác lúc tôi cần nó.

Một lần nọ việc cô ấy biết khi nào cần làm điều gì đó cứu đời tôi…

Cái ngày tôi sinh đứa con thứ năm trễ hơn dự báo. Những người thân trong gia đình đang chờ đợi cú gọi điện thoại cầu cứu của chúng tôi để họ có thể giúp chăm sóc bốn đứa con đầu của chúng tôi. Vì thời gian và lịch làm việc cho phép nên Eddie, chồng tôi, sẽ chăm lo cho ba đứa con trai đang tuổi đi học của chúng tôi, nhưng do lịch làm việc không đều, anh ấy không thể xoay xở cách nào để lo được cho con gái một tuổi của chúng tôi.

Evelyn, bạn tôi, đã không chần chừ đề nghị, “Tớ sẽ trông con bé cho cậu bao lâu tùy cậu.

Tôi nhẹ hết cả người khi con cái đứa nào cũng sẽ được chăm lo. Mọi việc tôi phải làm là sinh đứa nhỏ này và quay về nhà với người thân càng sớm càng tốt.

Tôi vào phòng sinh và kế hoạch của chúng tôi bắt đầu được thực hiện.

Nhưng đau đớn thay, bé sơ sinh của chúng tôi đã chết do biến chứng.

Chẳng ai có thể làm được gì để giúp tôi nguôi được nỗi đau đớn, tan nát cõi lòng, trước sự mất mát này.

Bốn ngày sau, khi tôi từ bệnh viện trở về nhà, tôi không biết làm cách nào để giải thích cho ba đứa con trai của chúng tôi biết những gì đã xảy ra. Tôi không biết làm cách nào để an ủi chúng, hoặc an ủi chính tôi. Trước sự ngạc nhiên của tôi, bọn trẻ còn an ủi tôi hơn những gì tôi có thể làm cho chúng. Chúng ngồi bên cạnh tôi và kể cho tôi nghe những hoạt động trong trường. Tôi biết ơn biết bao những giây phút ấy. Thế nhưng tôi biết mình phải bắt đầu giải quyết nỗi buồn, cú sốc, sự đau đớn của tôi.

Ngày hôm ấy chầm chậm trôi qua, trước sự khiếp hãi tiếp theo của tôi, chồng tôi ngã bệnh rất nặng và được đưa ngay vào khu chăm sóc đặc biệt của bệnh viện địa phương. Sự đe dọa có một mất mát thứ hai lớn quá sức tôi có thể chịu đựng. Tôi phải làm gì đây nếu như cả Eddie cũng mất?

Mẹ tôi lên đường đến ngay trong ngày hôm ấy và nhận lấy việc chăm sóc mấy đứa con trai.

Tôi không gọi điện cho bất kỳ ai để thông báo tình trạng của Eddie, kể cả cho Evelyn, người vẫn đang chăm lo cho con gái chúng tôi tại nhà của cô ấy. Tôi chỉ có thể rút vào phòng ngủ – để được ở một mình, để suy nghĩ, để chuẩn bị tinh thần cho chính mình trước điều tồi tệ nhất có thể xảy đến, để đánh vật với những câu hỏi đầy đe dọa như: Mình sẽ bình phục ra sao sau việc mất đi đứa con trai sơ sinh của mình? Mình có thể sẽ trở thành bà mẹ đơn thân nuôi bốn con nhỏ không? Mì sẽ xoay xở ra sao để có đủ tiền cho những nhu cầu thiết yếu của gia đình? Mình sẽ phải kiếm một công việc làm ư? Ai sẽ chăm sóc cho bọn trẻ, dịch vụ chăm sóc ư? Tôi buông mình xuống giường và nức nở khóc, không thể nào dứt khỏi được nỗi buồn đau của mình.

Sáng sớm ngày hôm sau, trước khi bố mẹ anh Eddie đến, một con trai của chúng tôi vào phòng ngủ của tôi lúc tôi vẫn còn đang đắm mình trong nỗi thương thân và vô vọng. “Mẹ ơi, cô Evelyn đến. Cô ấy đang trong xe của cô ấy. Cô ấy nói, cô ấy không biết chắc lúc nào nên vào. Nhưng cô ấy nói với con là cô ấy có cái gì đó mà cô ấy nghĩ là sẽ giúp cho mẹ cảm thấy dễ chịu hơn.”

Chẳng biết bằng cách nào mà tôi lê được mình ra ngoài cửa.

Ở đó, nơi cuối lối xe vào, Evelyn đang ngồi trong xe ôm đứa con gái bé bỏng một tuổi của tôi mà tôi đã không gặp hơn một tuần nay.

Khi tiến về phía Evelyn, tôi nhìn thấy gương mặt của cô con gái nhỏ bừng lên sung sướng. Con bé vươn hai cánh tay ra phía tôi. Tôi bật khóc, lòng tự nhủ chắc con bé nghĩ là nó sẽ mất tôi.

Evelyn mở cửa trao cho tôi con gái của chúng tôi và nói, “Tớ nghĩ đây là phương thuốc tốt nhất dành cho cậu lúc này.”

Tôi ôm lấy con gái, giữ chặt nó trong lòng và nhìn vào mắt cô bạn thân, “Sao cậu biết?”

“Bọn trẻ gọi điện và cho tớ biết tình hình của Eddie. Tớ biết đây là lúc cậu cần cả gia đình ở đây.”

Biết được khi nào nên làm gì là một nghệ thuật mà cô bạn Evelyn của tôi thực hiện rất hoàn hảo.

Nhưng là kiểu bạn bè thế này thì lại là nghệ thuật chỉ có Chúa mới làm nên hoàn hảo.>

HELEN COLELLA.