Điểm tựa của niềm tin - Phần 01a

 

Phần 01.1: Điểm tựa của tinh thần

“Hình
ảnh một người tử tế, luôn quan tâm

đến mọi
người và cũng là người

thầy
dạy tôi rất nhiều về cuộc sống,

sẽ còn
mãi trong tâm trí tôi,

không
bao giờ phai nhạt.”

Khi
tôi còn nhỏ, có lẽ năm tôi tám hay chín tuổi gì đó có một cặp vợ chồng già đến ở đối diện nhà tôi. Họ sống
thanh bình và trung thành với tổ tiên gốc Ý của họ trong cách ăn mặc cũng như
trong cách trang trí nhà cửa.

Vào
những năm 30 của thế kỷ XX, nhắc đến người Ý là nhiều người liên tưởng đến
những tay mafia khét tiếng. Tôi đã rất sợ hãi khi gặp người vợ. Bà có đôi mắt
đen tuyền, lạnh như băng. Bà luôn mặc bộ váy đen dài với một chiếc vòng cổ
trắng, đôi giày da tinh xảo đen bóng được viền vải và đính một hạt ngọc lớn.

Trông bà ấy
có vẻ rất lạnh lùng và khó gần. Có lẽ cũng vì thế mà bà không được người trong
lành chào đón.

Vừa sợ hãi,
vừa tò mò, tôi thường hay nấp dưới cây sung trước nhà và lén nhìn bà đi đi lại
lại trong sân. Bà ấy rất yêu chim. Ngày nào bà cũng dành thời gian ra vườn,
chậm rãi vãi từng nắm thóc khắp các góc sân rộng lớn để cho chim ăn. Đôi mắt
đáng sợ của bà nhìn chằm chằm xuống phía dưới khi bà thì thầm với những người
bạn lông vũ của mình.

Điều đó
càng khiến tôi sợ bà chết khiếp. Hoàn toàn ngược lại với vợ mình, ông Conti
chồng bà lại là một người rất thân thiện. Lúc nào thấy tôi, ông cũng giơ tay
lên vẫy vẫy. Môi ông nở nụ cười để lộ la hàm răng trắng và rất đều đặn.

Mái tóc
bồng bềnh của ông làm tội liên tưởng đến một nhà soạn nhạc, còn cái bụng to ẩn
sau chiếc áo măng tô lại khiến tôi nghĩ đến ông già Noel. Trông ông rất hiền và
vui tính.

Một điều
đặc biệt nữa ở ông là ông có một chiếc Buick 1928. Một buổi sáng, khi ông lái
chiếc xe tuyệt vời ấy ra ngoài nắng, tôi không thể nào không trầm trồ thán phục.
Nó mới lộng lẫy và oai vệ làm sao! Nước sơn đen bóng trông thật sắc sảo. Theo
phản xạ tự nhiên, tôi chạy băng qua đường để đóng chiếc cửa gỗ khá nặng trước
ga-ra giùm ông.

Ông mỉm
cười:

"Chào
cậu bé cháu tên gì?"

"Dạ,
Jack ạ!"- Tôi trả lời.

“A, Jack dễ
thương, cảm ơn cháu. Ta cho cháu vài thanh kẹo này.”

Bàn tay mập
mạp và đầy đồi mồi rủa ông đưa ra 5 thanh kẹo xô -cô-la hạnh nhân mà tôi thích
mê.

Vào năm 1932, món quà đó rủa ông khá giá trị, nhất là đối với một đứa trẻ như tôi! Từ hôn
đó trở đi, khi nào thấy ông Conti lái xe ra ngoài, tôi đều chạy qua đóng cửa
ga-ra giùm ông, và như thông lệ, lần nào ông cũng trò chuyện và cho tôi kẹo.
Khi tôi "kết bạn" với ông Conti được vài tháng thì một xáo trộn đã
sảy đến với gia đình ông. Bà Conti bị bệnh. Lũ chim đó. Chúng kêu chiêm chíp
gọi người bạn rủa chúng. Ông Conti không còn lái xe ra ngoài như trước nữa.

Nấp sau gốc
sung nhìn sang, tôi thấy ông cứ đi đi lại lại trong nhà, vẻ rất lo lắng, Nỗi lo
đã làm cho tóc ông bạc nhiều. Một ngày, tôi thấy cờ tang bên nhà ông. Rồi sau
đó những chiếc xe màu đen xếp hàng dài trước nhà ông để đưa bà đi. Ông Conti
mặc đồ đen, lưng còng xuống như đang phải gánh một gánh nặng vô hình nào đó.
Trông ông buồn không thể tả. Chiếc Buick nằm im lìm trong cái không khí ẩm ướt
của ga-ra nhà ông Conti. Ông gần như không bước ra khỏi cửa. Vì còn quá nhỏ tôi
không biết phải an ủi ông như thế nào cả. Tôi chỉ biết chờ đợi.

Thời gian
cứ trôi qua. Cuối cùng cánh cửa ga-ra cũng mở và ông Conti lại vẫy tôi sang.
Một giải băng to màu đen quấn trên tay áo của ông. Sợ ông không còn muốn trò
chuyện với mình, nên tôi không chạy đến như mọi lần.

"Đến
đây nào, Jack dễ thương, ông có mấy cây kẹo cho cháu đây." – Ông vẫn dịu
dàng gọi tôi.

Tôi rụt rè
băng ca con đường lót gạch vàng. Tôi biết có một nỗi buồn ẩn sâu trong lòng
người bạn lớn của tôi, một nỗi buồn mà tôi không thể hiểu thấu được.

"Jack
à, ông sẽ đi đến nghĩa trang để chăm sóc những cây hoa quanh mộ bà.

Nếu cháu
muốn đi theo thì hãy vào xin phép mẹ đi."

Ngồi trên
chiếc Buick là mơ ước từ trước đến giờ của tôi, nên tôi vội vàng vào nhà xin
mẹ. Không những đồng ý, mẹ còn kéo tôi lại, thì thầm vào tai:"Con hãy làm
cho ông vui nhé!"

Tôi chờ
chiếc xe màu đen bóng loáng mà mình đã ngưỡng mộ từ bấy lâu ấy ra khỏi ga-ra mi
đóng cửa lại, nhanh nhẹn trèo lên. Ối chao, chiếc ghế nhưng mới êm làm sao!
Chiếc vô- lăn bằng gỗ thật nhẵn và bóng loáng, khiến tôi chỉ ao ước được nắm
lấy. Tiếng động cơ xe kêu nhẹ nhàng, êm ái khi chúng tôi chạy xuống đường phố.
Ông Conti thì buồn nhưng tôi thì không thể nào vui hơn được nữa!

Chúng tôi
đỗ xe trong con đường nhỏ của nghĩa trang rồi cùng đi lên ngọn đồi đầy những
bông hoa khô héo và úa tàn. Ông lặng lẽ đi lấy nước, tưới cho nhưng cây hoa
trên ngôi mộ đơn sơ của vợ mình rồi ngồi xuống, im lặng. Ông ngồi như thế rất
lâu.

Hình ảnh
người bạn lớn rủa tôi in trên nền trời u ám, vàng vọt rủa ngày hôm đó mới đơn
độc và buồn bã làm sao!

"Jack,
bây giờ ông cháu mình đi giải trí một chút nhé'! Chúng ta cùng ghé qua sân gôn
và cùng chơi một lát, cháu thấy thế nào?" - Ông nói khi chúng tôi quay ra
xe.

Còn gì vui
sướng bằng nữa chứ! Mắt tôi sáng lên đồng ý. Bánh xe kêu lạo xạo khi chúng tôi
đi qua con đường sỏi đá rời khỏi nghĩa trang - một nỗi buồn kinh khủng. Đến sân
gôn, ông Conti mua một giỏ banh và lựa ra 2 cây gậy tốt nhất. Đó cũng là lần
đầu tiên tôi khám phá ra ông quả là một người đánh gôn cừ khôi. Chiếc gậy trong
tay ông vùng lên theo một vòng tròn lớn, đập vào quả bóng nhỏ màu trắng làm nó
bay qua cột mốc 200 mét, 250 mét và cuối cùng rớt xuống mặt cỏ mượt ở cột mốc
300 mét trước con mắt kinh ngạc lẫm ngưỡng mộ của tôi.

"Được
rồi, Jack, bây giờ đến lượt cháu đấy!"

Tôi cố đánh
quả bóng đi xa nhưng không thể. Thế là thời gian còn lại của buổi chơi, ông
nhẫn nại chỉ cho tôi thế đứng hợp lý và cách cầm cây gậy gôn đúng cách. Những
giây phút ấy thật tuyệt vời. Các cuộc viếng mộ và ghé lại sân gôn diễn ra hàng
tuần sau đó. Tôi luôn chờ đợi những chuyến đi thú vị ấy và đếm lùi từng ngày
cho đến chủ nhật.

Ông Conti
có dăm ba mỏ đá. Ông đã ký hợp đồng với chính phủ và nhưng con đường được rải
nhựa hay lát sỏi thường là bằng đá từ những mỏ này. Suốt mùa hè, tôi là vị
khách thường xuyên trong những chuyến công đu đây đó của ông. Ống chỉ dạy cho
tôi nhiều điều, cả bằng lời nói và bằng chính cách sống của mình. Tôi thấy ông
ôm hôn người đàn ông bị mất con. Tôi thấy ông đặt 200 đô la vào
lòng bàn tay của một thanh niên trẻ không có tiền để tổ chức lễ cưới với người
mình yêu. Ông giảng giải lẫn khuyên nhủ một người công nhân già đang bất mãn
nên chăm lo cho người vợ đang chết dần chết mòn vì bệnh lang y của mình. Thấy
một đứa trẻ chơi trước lều của những người công nhân, ông Conti, với thân hình
nặng nề, củng cố đi bộ đến tận nơi chỉ để xoa đầu âu yếm và cho nó gói kẹo. Mọi
người đều rất yêu mến và kính trọng ông. Còn với tôi, ông vừa như một người
bạn, một người thầy lại vừa là một người ông đáng kính.

Tôi biết
thế nào là nỗi đau mất đi người mình yêu quý khi ông Conti đột ngột qua đời.
Khi đó, tôi vẫn còn rất nhỏ. Đó là cú sốt tinh thần đầu tiên trong đời tôi. Quá
buồn bã và suy sụp, tôi nằm cuộn tròn trên gác xép, khóc như mưa khi đoàn xe
tang đưa tiễn ông chuyển bánh. Từ đó căn nhà của ông trở nên lạnh lẽo và buồn
thảm. Lũ chim cũng đã bay đi chốn khác.

Lời tạm
biệt cuối cùng của tôi với người bạn lớn thân thiết của mình là khi một người
con của ông từ phương xa về mở cửa ga-ra và lái chiếc Buick đi mất.

Nhìn chiếc
xe đen bóng, oai vệ khuất dần trong ánh nắng, mắt tôi đẫm lệ. Tôi nhớ ông biết
bao.

Những tháng
ngày thơ ấu được sống bên ông Conti thực sự đà trở thành điểm tựa tinh thần lớn
lao trong suốt hành trình xa thẳm của cuộc đời tôi sau này.

- Nguyễn Vũ Hưng -
Theo A Neighbor I’ll
Never Forget

 

Phần 01.2: Những vết cắn trong đời

Mẹ tôi bỏ
đi năm tôi 15 tuổi. Đó quả là một cú sốc lớn trong đời tôi nhưng tôi vẫn trụ
vững, mặc cho nỗi đau âm ỉ cháy trong tim, không lúc nào nguôi. Nhưng khi bị
bạn trai phản bội, tôi không còn trụ được nữa. Nhìn bề ngoài, không ai có thể
biết được trái tim tôi đang rỉ máu.

Tôi vẫn là
một học sinh trung học gương mẫu, như đã luôn luôn như thế rồi luôn ở trong tốp
dẫn đầu lớp. Mấy tên con trai lóp trên thường gửi thư làm quen với tôi và tôi
dễ dàng đạt điểm xuất sắc trong hầu hết các môn học ở lớp. Ai cũng cho rằng tôi
là một người may mắn, chẳng phải kiếm việc làm thêm sau giờ học và tôi có thể
theo học một trường đại học danh tiếng sau khi tốt nghiệp trung học. Nhưng liệu
có đứa bạn nào của tôi phải chịu cảnh đơn độc như tôi không? Có ai thèm để tâm
xem tôi suy nghĩ như thế nào? Cha tôi chỉ biết có công việc. Cha luôn mỉm cười
và xoa đầu tôi nhưng tất cả chỉ dừng lại ở đó.

Cha không
hề biết tôi cần nhiều hơn thế, cần được cha hỏi thăm, được cha lắng nghe, để
tôi có thể trút hết nỗi lòng...

Cha
nói với tôi rằng mọi việc đều tốt. Cha muốn tôi luôn tươi tắn và bình thản,
đừng suy nghĩ gì nhiều về chuyện của mẹ. Cha báo tôi rằng tôi đừng quan tâm đến
chuyện gì cả. Nhưng vấn đề là tôi vẫn cứ bận tâm đến những chuyện quanh tôi. Tôi hay nghĩ về chuyện mẹ bỏ đi, việc bị bạn
trai phản bội, và tôi chẳng thể chia
sẻ cùng ai nhưng chuyện ấy. Tôi quan tâm đến mọi chuyện - và thấy. Tôi không
bao giờ chia sẻ những cảm giác này với bạn bè, vì thật tình, tôi cũng chẳng có
ai là bạn thân. Các bạn cùng lớp luôn nghĩ tôi là một đứa thật hạnh phúc và
được mến mộ ở trường. Tôi lớn lên trong một khu phố mà ở đó những bãi cỏ luôn
được cắt tỉa gọn gàng và quà tặng cho tuổi 16 của những đứa trẻ như tôi luôn là
một chiếc xe hơi bóng loáng.

Vào những
đêm khuya, nằm một mình trong bóng tối, tôi thích thú cảm nhận nỗi đau và sự
lạnh lẽo lan dần trên da thịt mình. Tôi muốn sắp xếp lại những cảm xúc đang vỡ
nát lộn xộn trong lòng thành một đường dài gọn gàng trên cánh tay phải, một
đường vòng quanh mắt cá chân, để giải phóng những hình bóng kỳ dị đang la hét
bên trong tôi.

Tôi cần đến
sự trợ giúp rủa một cái kéo. Tôi dùng nó như một cái tuốt no vít, vặn chặt
những con đinh ốc là những đau đớn trong tôi và giữ cho chúng nằm im để trước
đám đông, tôi sẽ không phải khóc hay nói về những nỗi đau và sự đơn độc mà tôi
đang phải gánh chịu.

Với mỗi vết
cắt ấn sâu vào da, tôi cảm thấy nhẹ lòng vô cùng. Tôi không khóc mỗi khi tôi
đau đớn hay tuyệt vọng. Thay vào đó, tôi tự cắt vào cơ thể

mình. Những
cảm giác phức tạp, lộn xộn trong tôi được giải tỏa bằng cảm giác đau đớn trên
da thịt chứ không phải bằng những giọt lệ từ mắt. Bất cứ khi nào tôi cảm thấy
trống trải, mỏi mệt và bất cứ khi nào nhìn thấy bộ mặt đáng ghét rủa mình trong
gương tôi lấy kéo cắt vào da thịt mình. Tôi ấn mạnh mũi kéo cho đến khi da thịt
bầm tím, để biết rằng tôi vẫn đang thở tim tôi đang đập và tôi vẫn đang sống.

Việc này giúp
tôi cảm thấy an toàn. Tôi không thể thoát khởi sự mong muốn được trải qua cái
cám giác đau đớn về thể xác. Thực vậy nó không làm tội đau, mà ngược lại tôi
cảm thấy bình an. Tôi như tìm thấy chỗ trú cho tâm hồn mình với những nhát kéo
thâm bầm trên da. Thế giới dường như chậm lại, và những vết cắt giúp tôi trấn
tĩnh và cảm thấy bình yên lạ lùng:

Tôi mặc áo
tay dài để che giấu những vết bầm, nhưng thỉnh thoảng tôi vô tình để lộ chúng
ra ngoài. Nếu có ai đó hỏi, tôi sẽ nói là bị vấp ngã, và phải đồ gỗ trong nhà
hay đơn giản là ''mèo cào'' đối với những vết rướm máu.

Tôi làm
việc này trong suốt thời trung học. Chẳng ai biết rằng đang có một cuộc chiến
xảy ra trong lòng tôi. Tôi rất giỏi che giấu nó.

Sau bốn năm
che đậy những nỗi đau và hai cánh tay đầy vết thương, cuối cùng cha tôi cũng
biết được những chuyện đang xảy ra với tôi. Với cha thì tôi không thể biện hộ
rằng đấy là nhưng vết mèo cào vì nhà tôi hoàn toàn không có nuôi mèo.

Tôi lúng
túng đưa ra tro cha xem những vết bầm. Tôi không muốn cha thấy tôi trong tình
trạng như vậy.Tôi giận vì cha chẳng quan tâm đến tôi, vì cha đã để mẹ ra đi và
vì cha đa cho rằng tôi còn quá bé bỏng để có thể đau buồn vì chuyện tình cảm.
Ông kiểm tra những vết đỏ dưới tay áo và rồi ông khóc. Trước đây cha tôi chưa
bao giờ khóc. Tôi cùng khóc và ngay trong giây phút ấy, tôi thấy như vừa được
giải thoát. Tôi nhận ra rằng mình thật bất hạnh biết bao. Tôi chẳng thể có được
hạnh phúc sau mỗi lần cắt vào da thịt mình. Đó đã từng là một sự giải tỏa, là
một niềm hy vọng nhỏ nhoi rằng mỗi khi chịu nỗi đau về thể xác thì nỗi đau ương
lòng tôi được giải thoát, để tôi lại có thể mỉm cười. Tôi muốn làm mình đau và
muốn nhìn thấy những vết thương của mình trở nên lành lặn. Nhưng khi đối diện
với những giọt nước mắt của cha, tôi như đang cảm nhận những nỗi đau trong lòng
mình, những nỗi đau mà tôi đã cố che giấu trong suốt thời gian qua.

Tôi bắt đầu
đến bác sĩ đề điều trị và học cách biểu lộ cảm xúc để làm cho những nỗi đau trở
nên nhẹ nhàng hơn. Tôi viết nhật ký và chơi ghitar. Tôi bắt đầu trò chuyện với
chà và bạn bè ở trường. Tôi cũng gặp gỡ với một cậu bạn trai mới. Tôi cố gắng
ra khỏi nhà khi không còn việc gì để làm, để khám phá thiên nhiên và cuộc sống
bên ngoài, Tôi thấy thoải mái khi được tận hưởng bầu không khí trong lành. Dần
dần, mọi thứ dường như dễ dàng hơn. Thật là khó khi phải đối mặt với những nỗi
đau, nhưng mỗi lần như thế tôi thấy mình lớn hơn.

Tôi nhận ra
rằng trong suốt bốn năm qua tôi cứ đi lầm lũi dưới bóng cây mà không hề ngẩng
đầu nhìn để thấy tán lá rộng đang che chở và tỏa bóng mát trên cuộc đời mình.

- Bích Chi -

Theo Cuttier-CutHand

 

Phần 01.3: Cô tin ở các em

“Không có niềm hạnh phúc nào êm

dịu bằng lòng yêu thương giúp đỡ những

người mà hoàn cảnh đã đưa họ đến gần với trái tim ta.”

Chẳng bao lâu sau ngày tốt nghiệp đại học, tôi được nhận vào giảng dạy tại một
trường trung học. Thế là vào buổi sáng thứ Hai dịu mát của một ngày đầu thú,
tôi đến lớp, mang trong tim cả một bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ.

Nhưng những gì tôi thấy ở lớp tôi chủ nhiệm ngày hôm đó đà thật sự dội một
gáo nước lạnh lên tôi. Đón chào tôi không phải là những khuôn mặt hiền lành,
tươi tắn như tôi vẫn mong đợi, mà là một cảnh đánh nhau.

Một cậu bé tay cầm một khúc gỗ gãy dí vào mặt một cậu bạn khác, bộ dạng hung
tợn:

- Mày mà còn đụng tới tao lần nữa thì đừng có trách nghe chưa?

- Mày tưởng tao sợ mày à? - Cậu bé kia cũng không chịu thua, đỏ mặt tía tai
sấn sổ bước tới.

Tôi vội vàng chạy đến ngăn không cho cuộc chiến xảy ra. Giờ thì cả lớp không
còn quan tâm đến chuyện đánh nhau nữa, mà cả 14 cặp mắt đổ dồn về phía tôi.

- Cô là cô giáo mới các em hãy giải thích chuyện gì xảy ra đi! - Tôi nói, cố giấu vẻ bối rối, không tự tin của mình.

- Chúng em chỉ đùa thôi mà! - Thằng bé vứt thanh gỗ gãy xuống cuối lớp, nhìn
tôi với nụ cười. Tất cả học sinh của lớp đều giương mắt nhìn tôi ánh mắt không
chút thân thiện. Đang lúc bối rối không biết phải xử lý thế nào thì một thầy
giáo bước vào. Một cách đầy quyền uy, anh bảo bọn trẻ hãy ngồi xuống, im lặng
và làm theo những gì mà cô giáo mới của chúng - là tôi - yêu cầu. Tôi cảm thấy
mình bất lực.

Tôi cố lấy hết nhiệt tình dạy cho kịp giáo án, nhưng đáp lại là những đôi
mắt hoặc hờ hững, không chú ý đến bài học, hoặc nghi ngờ,dò xét. Suốt buổi học gần
như chỉ có một mình tôi nói. Bọn trẻ không hề hưởng ứng chút gì với bài giảng
của tôi.

Khi tiết học kết thúc, tôi yêu cầu hai đứa trẻ đánh nhau ở lại. Nhẹ nhàng
khuyên bảo và hỏi nguyên do, chúng cũng chỉ lặng yên mà không nói gì. Đến khi
biết mình không thể làm gì hơn, tôi đành bảo chứng về.

Mark, một trong hai cậu bé, tần ngần một lát nơi của ra vào rồi chợt chạy
vào bảo tôi:

-Thưa cô, cô đừng lãng phí thời gian vô ích bởi chúng em là những học sinh
cá biệt. Nói rồi, nó co giò chạy biến.

Thất vọng, tôi ngồi phịch xuống ghế mà nước mắt tủi thân cứ chực chảy la.

Tại sao tôi lại phải đương đầu với những chuyện thế này? Lẽ nào chúng không thể
tiếp nhận tôi, và cách giải quyết duy nhất cho vấn đề này là bỏ nghề?

Không, tôi chỉ cần chịu đựng trong một năm thôi. Mùa hè tới, tôi sẽ kết hôn
và chuyến đi sinh sống ở nơi khác. Hy vọng sau đó tôi có thể tìm cho mình một
công việc khác tốt hơn.

- Chúng nó gây rắc rối cho cô phải không? Anh bạn đồng nghiệp vừa "cứu"

tôi lúc nãy hỏi. Tôi gật đầu,

- Đừng lo. Tôi đã từng dạy chúng hồi năm ngoái. Chỉ có 14 đứa và dù sao đi
nữa, đa số chúng cũng không thể tốt nghiệp được. Cô đừng suy nghĩ gì nhiều!

- Anh nói thế nghĩa là sao? - Tôi ngạc nhiên.

- À, cũng không có gì quan trọng đâu. Phần lớn các em trong
lớp này đều Là con em của những người thợ gặt nhập Cư, sống trong những túp lều
ngoài đồng.

Chứng chỉ đến trường khi không phải phụ cha mẹ làm vụ mùa, nên làm sao theo được
chương trình. Cô chỉ cần làm cho chúng bận rộn và im lặng là được rồi, chứ muốn
chúng ngoan ngoãn và hiểu bài là quá sức đấy. Nếu ngày mai mà chúng vẫn tiếp
tục gây rối, cô hãy bảo tôi.

Khi thu dọn sách vở, tôi lại nhớ đến khuôn mặt Mark và câu nói: "Chúng
em là những học sinh cá biệt". "Cá biệt" - hai tiếng đó cứ lởn
vởn trong đầu tôi. Tôi thấy mình cần phải làm một cái gì đó.

Sáng hôm sau, tôi cảm ơn anh bạn đồng nghiệp và nói rằng anh không cần đến
lớp tôi nữa. Tôi sẽ riêng mình cách xoay xở với bọn trẻ theo cách của riêng
mình.

Tôi đầu tiết học bằng việc viết lên bảng từ:

- Đây là các chữ cái của tên cô. Các em có tìm ra được một thứ tự sắp xếp
nào cho hợp lý không?

Tôi nghe loáng thoáng từ phía cuối lớp có tiếng xì xào rằng tên tôi phải là

"Weird"(có nghĩa là "kỳ quặc" ND) mới đúng, chứ còn
"ECINAJ"thì chúng chưa nghe đến bao giờ. Dù sao, tôi cũng hài lòng
nhất thì tôi cũng đã khiến bọn trẻ quan tâm. Một lúc sau, một cô bé nói lớn.

- Em biết rồi, chỉ cần viết ngược lại sẽ thành tên JANlCE phải không cô?

- Em thông minh lắm! - Tôi khen ngợi khiến mặt cô bé đỏ ửng lên.

Nhìn khắp một lượt những khuôn mặt non nớt, tôi nhẹ nhàng nói:

- Các em nói đúng. Tên cô là Janice. Khi cô mới đi học, cô không thể nào viết
đúng được tên mình. Cô không biết đánh vần, và các chữ cái cứ như đang bơi
trong đầu cô. Cô được gọi là "học sinh cá biệt". Đúng vậy, cô đã từng
là một học sinh cá biệt. Giờ đây thỉnh thoảng cô như vẫn nghe văng vẳng cái từ
không lấy gì làm tốt đẹp đó trong đầu mình, và cô vẫn còn cảm thấy xấu hổ.

Một cậu bé hỏi:

- Vậy làm thế nào mà cô trở thành một giáo viên!

Bởi vì cô ghét cái biệt danh đó. Cô muốn chứng tỏ rằng mình không hề ngu ngốc.
Đó cũng chính là vấn đề của lớp chúng ta. Các em hãy chứng tỏ bản thân mình.
Nếu các em thích biệt danh "học sinh cá biệt" thì các em không phải
là thành viên của lớp. Hãy thay đổi cách suy nghĩ của mình.

Không có ai là học sinh cá biệt trong lớp này cả. Thấy các em có chăm chú
lắng nghe, tôi tiếp tục:

- Cô sẽ không dễ dãi với các em. Chúng ta sẽ học, học cho đến khi nào các em
hiểu. Cô sẽ giúp các em đủ sức để đương đầu với kỳ thi tốt nghiệp trong tương
lai nó sẽ là nền tảng để các em bước tiếp vào đại học. Đó không phải là lời nói
suông.

Đó là một lời hứa. Cô không muốn nghe từ "học sinh cá biệt" trong
lớp này nữa. Và cô tin các em sẽ bọn trẻ dường như ngồi thẳng lên một tí.

Từ đó, có một sự chuyển biến trong tập thể lớp tôi. Các em bắt đầu chịu học,
cố gắng để chứng tỏ mình. Cô và trò đã phải làm việc cật lực, và đến giữa năm
học, tôi đã tự tin rằng lời hứa của mình sẽ được hoàn thành một cách tốt đẹp -
tôi biết các em đều đủ sức vượt qua kỳ thi tốt nghiệp trung học sắp tới anh đặc
biệt rất thông minh. Cả trường đã phải nhìn nhận lại tập thể lớp tôi. Các em
không hề là những học sinh cá biệt.

Thời gian dần trôi. Tôi vui vì các em tiến bộ bao nhiêu thì càng thấy nuối
tiếc khi nghĩ đến lúc phải xa chúng bấy nhiêu. Dù tôi không nói, nhưng rồi cả
lớp cũng biết rằng tôi sắp kết hôn và sẽ chuyển đến sống tại một tiểu bang
khác.

Vì đã trở nên quyến luyến và yêu quý cô giáo của mình nên không em học sinh
nào muốn tôi ra đi. Nhưng chúng tôi đều biết rằng không thể thay đổi được gì.

Ngày cuối cùng đến lớp, vừa bước vào văn phòng, thầy giám thị đã thông báo
với tôi:

Bọn trẻ lớp cô đang định làm một cái gì đó hay sao ấy. Chúng đã đến lớp từ
rất sớm!

- Chuyện gì vậy nhỉ? Tôi lo lắng tự hỏi, rồi vội vàng cùng chạy ngay về lớp,
thầm mong không phải là một vụ đánh nhau nữa.

- Thật ngạc nhiên! Lớp tôi đầy những hoa Hoa ở góc phòng hoa trên bàn bọn trẻ,
hoa khắp trên tường, và cả một lẵng hoa thật lớn trên bàn giáo viên.

- Ở đâu ra mà nhiều hoa thế này? - Tôi thốt lên kinh ngạc:

Hầu hết các em đều rất nghèo. Chúng sống nhờ vào chương trình trợ giúp của trường
mới có được quần áo ấm và những bữa cơm tươm tất làm sao chúng có thể có đủ
tiền để mua ngần ấy hoa?

Nhưng, tất cả hoa đều là của tôi, dành cho tôi. Các em đã chuẩn bị lễ chia
tay với tôi như thế đấy.

- Tôi bật khóc. Và bọn trẻ cũng òa khóc theo.

Cuối cùng rồi tôi cũng biết được sự thật Mark làm thêm tại một cửa hàng hoa
ở địa phương. Vào cuối tuần, cậu bé đã xin người chủ tiệm tất cả những bông hoa
bán còn dư. Vào dịp đó, cách trường học của chúng tôi không xa cũng có một công
ty tổ chức lễ khánh thành. Các em học sinh không bỏ lỡ dịp may hiếm có, đã kéo
nhau đến văn phòng, trình bày và năn nỉ họ cho chúng tất cả các lẵng hoa đã
dùng trong buổi lễ. Sau một hồi thuyết phục và gặp cả người quản lý, cuối cùng
các em đã đạt được mục đích.

Tuy nhiên, đó không phải là món quà duy nhất mà các em đã dành cho tôi.

Cả 14 học sinh của tôi đều vượt qua kỳ thi tốt nghiệp vào năm cuối cấp trong
đó có sáu em được học bổng vào đại học.

Hai mươi tám năm sau, tôi vẫn là một cô giáo, dạy tại một trường đại học.

Trong tim tôi vẫn luôn giữ những kỷ niệm về các em học sinh đáng yêu của
ngày đầu tiên tôi chập chững bước vào nghề. Tôi biết rằng Mark đã kết hôn với
cô bạn cùng học tại trường đại học và đã trở thành một doanh nhân thành đạt.

Các em học sinh khác cũng thành công trên đường đời thoát thỏi cuộc sống cực
khổ của những người thợ gặt mướn như cha mẹ mình trước kia. Chúng vẫn thường
đến thăm tôi và nhắc lại chuyện ngày xưa. Và một điều trùng hợp đã xảy ra, giờ
thì con trai của Mark lại là sinh viên lớp tôi. Thỉnh thoảng, tôi mỉm cười khi
nhớ lại buổi lên lớp đầu tiên của mình. Tôi nhớ là mình đã có ý định bỏ nghề ngay trong buổi sáng hôm ấy. Chỉ cần thiếu một chút tự tin và kiên trì
thôi thì có lẽ tôi đã đánh mất một điều quý giá trong cuộc đời-

-
Thùy Mai -

Theo
We're TheRetards