Chiến hữu - Chương 19.1

Chương 19

ôi đang đứng chờ ở bến tắc xi. Gustav lái đến, đậu ngay đàng sau xe tôi.
"Con cún ra sao rồi, Robert?" anh hỏi.
"Nó khỏe lắm," tôi nói.
"Còn cậu thì sao?"
Tôi chán nản phẩy tay. "Tớ cũng khỏe, nếu có thể kiếm thêm chút ít tiền. Cậu nghĩ xem, cả ngày nay chỉ thu vào hai đồng năm mươi xu thôi."
Anh gật đầu. "Càng lúc càng tệ. Tất cả mọi thứ càng lúc càng tệ. Nhưng nào đã hết đâu."
"Vâng, và tớ lại cần một số tiền lớn," tôi nói. "Cần gấp. Thật nhiều."
Gustav gãi cầm.
"Một số tiền lớn." Rồi anh nhìn tôi."Thực tình không còn chỗ nào để kiếm tiền dễ dàng. Ngoại trừ cá độ. Cậu nghĩ sao về cá ngựa? Hôm nay có mấy trận đua. Tớ biết một tiệm đánh cá được lắm. Tớ vừa thắng độ con Aida, hai mươi tám ăn một, ở chỗ ấy."
"Tớ chả cần biết cá kiếc là gì cả. Quan trọng ở chỗ là tớ có dịp may không?"
"Cậu đã bao giờ chơi cá ngựa chưa?"
"Chưa bao giờ."
"Vậy cậu sẽ may mắn, bởi Tổ thường đãi người mới -- chúng ta cần làm một cái gì đó." Anh nhìn đồng hồ. "Ta đi ngay nhé? Hy vọng còn kịp."
"Vâng." Sau vụ con chó, tôi rất tin tưởng vào Gustav.
Chỗ cá độ là một gian phòng khá rộng; nửa bên phải là quầy bán xì gà, nửa bên trái đặt máy tổng hợp. Cửa kính treo đầy tin tức thể thao, tin cá độ màu xanh lá cây và hồng. Dọc theo vách, có một quầy trên đó bày la liệt giấy bút. Ba người đàn ông đứng sau quầy, bận tíu tít. Một người nói như quát vào điện thoại, một người chạy tới chạy lui với một cọc phiếu trên tay, người thứ ba, mũ quả dưa đội lệch ra sau đầu, một điếu xì gà Ba Tây tròn đen nhấm nhá trong miệng, không mặc áo lớn, tay áo xắn cao, đứng sau quầy ghi chép số tiền cá. Áo sơ mi của ông ta có màu tím chói chang nhất.
Trước sự ngạc nhiên của tôi, nơi đây rất đông khách. Hầu hết họ là những người thuộc giai cấp bình dân, thợ thủ công, thợ thuyền công xưởng, thơ ký, vài cô gái điếm và đủ loại ma cô.
Một gã đàn ông, áo mưa xám bẩn, mũ quả dưa xám, áo lớn màu xám kiểu thể thao đã sờn chỉ, chặn chúng tôi tại cửa. "Von Bieling. Các ông mua tin đặc biệt không? Bảo đảm trúng."
"Kêu bà ngoại ông mua đi," Gustav trả lời, vẻ mặt thay đổi khá bất ngờ.
"Chỉ năm mươi pfennigs thôi," Bieling nài nỉ. "Tôi quen với một người huấn luyện. Từ khi còn bé," anh ta vừa nói vừa liếc tôi.
Gustav đã nghiên cứu kỹ danh sách ngựa đua. "Khi nào đến lượt Auteuil?" Anh réo mấy người đàng sau quầy.
"Năm giờ," người phụ tá réo lại.
"Philomene, cùng một duộc," Gustav gầm lên. "Thứ ngựa kéo xe trong thời tiết nóng ẩm. Anh vã mồ hôi vì kích động. "Kế đến là con nào nhỉ?" Anh hỏi.
"Hoppegarten," có ai đó sau lưng anh lên tiếng.
Gustav nghiên cứu thêm. "Để bắt đầu, mỗi đứa chúng ta đặt hai đồng cho con Tristan nhé," anh nói. "Chắc ăn lắm."
"Mà cậu có biết gì về nó không?" tôi hỏi.
"Biết gì à?" Gustav trả lời. "Tớ biết rõ từng cái móng chân của chúng."
"Thế mà anh lại đi cá con Tristan?" một người bên cạnh chúng tôi nói. "Cá con Slippery Liz đi, ông ơi, cơ hội duy nhất của ông đấy. Tôi là bạn của Johnny Burns."
"Còn tôi," Gustav nói móc," tôi là ông chủ chuồng Slippery Liz. Tôi biết nhiều hơn anh."
Anh réo người đàn ông ở quầy để đặt cược. Chúng tôi nhận biên lai và đến ngồi ở tiền sảnh, nơi bày lơ thơ dăm ba bộ bàn ghế. Mọi người rôm rả kháo chuyện với nhau, nêu lên đủ thứ tên của những con ngựa đua. Mấy ông thợ bàn thảo về cuộc đua ở Nice, hai ông phát thư xem xét bản tin thời tiết của Paris, một người trước kia hành nghề đánh xe ngựa nhớ lại thời gian đã tham gia các cuộc thi nước kiệu. Chỉ có một người đàn ông béo mập, râu ria lởm chởm, dửng dưng ngồi ở một bàn riêng, tì tì ăn hết ổ bánh mì nhỏ này đến ổ bánh mì nhỏ kia. Hai người đàn ông khác đứng dựa vách, thèm thuồng nhìn ông ta. Mỗi người cầm một mẩu biên lai trong tay, nhưng gương mặt của họ hốc hác tiều tụy như nhiều ngày không có chút thức ăn nào dằn bụng.
Chuông điện thoại reo inh ỏi. Mọi người dỏng tai nghe. Người phụ tá xướng lên nhiều cái tên ngựa đua. Chẳng hề nghe nhắc đến Tristan.
"Mẹ kiếp," Gustav nói, mặt đỏ bừng. "Solomon thắng. Ai mà ngờ được, anh à?" anh hỏi người bắt con Slippery Liz. "Anh cũng thua đậm như ai."
Von Bieling chen vào giữa chúng tôi. "Nếu các ông chịu nghe tôi -- có lẽ tôi đã đưa tên Solomon. Một mình Solomon mà thôi. Nếu các ông muốn, trận tới --"
Gustav chẳng thèm nghe. Anh đã bớt buồn và bàn bạc về kỹ thuật với anh chàng Slippery Liz.
"Ông có sành ngựa không?" Bieling hỏi tôi.
"Chả biết một tí gì, " tôi nói.
"Vậy ông hãy đánh cá. Đánh cá. Nhưng chỉ ngày hôm nay mà thôi," ông ta thầm thì nói tiếp, "và sau đó, đừng bao giờ chơi nữa. Nghe tôi nè. Ông cứ cá bừa đi --con gì cũng được --con King Lear hay Silver Moth -- hay L'Heure Bleue, cũng thế. Tôi không lấy tiền của ông đâu. Nhưng nếu thắng, xin thưởng cho tôi một ít, vậy thôi." Càm của hắn rung lên trong nỗi đam mê của một tay nghiền cờ bạc. Đã từng chơi Xì phé, tôi biết quy tắc cũ xưa này: người mới đánh bạc thường thắng cuộc.
"Được rồi," tôi nói. "Cá con gì đây?"
"Bất cứ con nào ông muốn -- bất cứ con nào --"
"Tên L'Heure Bleue nghe cũng không tệ lắm," tôi nói, "vậy đặt mười marks cho con L'Heure Bleue."
"Cậu có điên không?" Gustav hỏi.
"Không," tôi nói.
"Cá mười đồng mồ hôi nước mắt cho cái con ngựa già yếu ấy? Đáng lẽ nó phải thành xúc xích từ lâu."
Slippery Liz, người mà Gustav gọi là thằng khờ tội nghiệp, nhảy vào, huênh hoang nói: "Cái gì thế? Anh ấy cá con Laura Blaue hở? Thưa ngài, nó không phải là ngựa đâu, nó là bò đấy. May Dream, nếu muốn, có thể thắng nó dễ dàng chỉ bằng hai chân thôi. Compris?"
Bieling nhìn tôi cầu khẩn, tay ra dấu. "Compris," tôi nói.
"Ach, cậu ơi." Gustav nhìn tôi như thể tôi đã biến thành Hottentot, một chú mọi Phi châu. "Gypsy II, con nít chưa đẻ cũng biết thế."
"Tôi nhất định bắt cá con L'Heure Bleue," tôi nói. Và nếu lúc này đổi ý, tôi phải chống trả lại tất cả những quy luật huyền bí của cờ bạc.
Người đàn ông áo sơ mi màu oải hương đưa tôi biên nhận. Gustav và Slippery Liz nhìn tôi như tôi mắc dịch hạch. Họ bỏ rơi tôi, chen vai thích cánh đi tới quầy, ở đó với những tiếng cười nhạo báng cho nhau, tuy vẫn ẩn chứa một niềm tương kính, họ đặt cược cho Gypsy II và May Dream.
Ngay lúc ấy, một người đột ngột ngã quỵ. Đó là một trong hai người đàn ông gầy gò, vừa mới đây còn đứng cạnh mấy cái bàn. Ông ta chùi theo vách rồi ngã đùng xuống đất. Hai người phát thư đỡ ông ta dậy, đặt lên ghế. Mặt ông ta trắng bạch. Mồm há hốc.
"Lạy Chúa!" một cô gái điếm, thân hình đầy đặn, nước da sậm, tóc óng mượt và trán thấp, kêu to. "Ai đó làm ơn đem lại một ly nước."
Tôi ngỡ ngàng, chẳng mấy ai quan tâm đến người ngất xỉu. Phần lớn họ chỉ liếc mắt nhìn qua, rồi quay về chuyện cá cược của họ.
"Xảy ra thường lắm," Gustav nói. "Thất nghiệp. Đánh đến xu cuối cùng. Luôn luôn cá với tỉ lệ cao nhất. Một trăm trên một."
Người lái xe ngựa từ quầy bán xì gà đi ra với một cốc nước. Cô điếm tóc đen nhúng khăn tay của mình vào đó rồi lau lên trán và thái dương của người bệnh. Ông ta thở dài và thình lình mở mắt. Có một điều bí ẩn nào đó, cách chúng đột nhiên trở lại, không một tiếng động, trên gương mặt mờ mịt chìm sâu -- như có một sinh vật nào, xa lạ, ghé mắt nhìn, tò mò và tìm hiểu, qua những kẻ nứt của cái mặt nạ cứng đờ, trắng bệch.
Cô gái cầm ly nước và cho ông ta uống. Cô ôm ông ta trong tay như một đứa trẻ. Rồi cô với lấy một miếng sandwich trên bàn của người khách vô tình, râu ria lởm chởm. "Nào, ăn đi -- nhưng từ từ, từ từ nhé. Đừng cắn ngón tay của tôi chứ -- đúng rồi, và bây giờ, uống nước đi."
Người đàn ông ngồi ở bàn đưa mắt nhìn miếng sandwich, nhưng không nói gì. Màu hồng dần dà trở lại trên gương mặt của người đàn ông kia. Ông ta ăn thêm một chập, rồi loạng choạng đứng dậy. Cô gái dìu ông ta, đẩy ra cửa. Rồi, liếc thật nhanh ra sau, cô nàng mở ví. "Đây nè -- chuồn đi, và mua cái gì ăn, đừng đánh cá nữa."
Một trong những tay ma cô, tự nãy giờ vẫn giả lơ, nay quay lại. Hắn có gương mặt của một con chim săn mồi, đôi tai vểnh ngược, mang giày da bóng và đội nón kết.
"Mày cho nó bao nhiêu?" hắn hỏi.
"Mấy xu thôi."
Hắn thúc cùi chỏ vào ngực cô. "Phải nhiều hơn thế chứ. Lần sau nhớ xin phép tao."
"Thôi mà, Ede," gã kia nói. Cô gái điếm lấy hộp phấn ra, và tô lại son môi. "Nhưng tôi đúng," Ede nói. Cô gái không trả lời.
Điện thoại reo. Tôi nhìn Ede, và không tài nào hiểu hắn. "Đó chính là thứ mà ta gọi là con lợn," thình lình tôi nghe Gustav nói. "Thưa quý ông quý bà, còn hơn là lợn, đó là một con heo nái xồ xề với hai mươi đứa con ủn ỉn." Anh vỗ bình bịch lên vai tôi. "Vớ được một trăm tám mươi marks rồi, con trai ơi. Con lạc đà với cái tên buồn cười của cậu đã thắng đậm."
"Cái gì, thiệt hả?" tôi hỏi.
Người đàn ông ngậm xì gà và mặc áo sơ mi chói gắt, gật đầu cay đắng và đưa tay nhận tấm biên lai của tôi. "Ai mách cho cậu vậy?"
"Tôi," Bieling nói, với nụ cười nhẫn nhục và hy vọng, tiến ra, cúi rạp mình chào. "Chính tôi, tôi dám nói rằng --sự quen biết của tôi --"
"Ach, bạn ơi --" Rồi chẳng buồn nhìn hắn, ông ta phát tiền cho tôi. Trong phút chốc, cả phòng im phăng phắc. Mọi người chăm chú theo dõi.. Ngay cả người khách vốn hết sức thờ ơ cũng phải ngước mắt nhìn.
Tôi nhét tiền vào túi. "Thôi chứ," Bieling thầm thì. "Đủ rồi." Có nhiều đốm đỏ trên gò má anh ta. Tôi dúi mười marks vào tay hắn.
Gustav cười toe, đấm vào cạnh sườn tôi. "Thấy chưa, tớ đã nói với cậu những gì? Cậu chỉ cần nghe lời Gustav này là đủ đào được một đống tiền"
Tôi cố nhịn, không nhắc tới cựu trung sĩ tải thương của Gypsy II. Dường như anh cũng đang tự vấn về chuyện ấy. "Ta đi thôi," anh nói. "Hôm nay không phải là ngày tốt cho những người nghệ sĩ."
Ở cửa, có ai nắm tay áo tôi kéo lại. Đó là Slippery Liz. "Anh sẽ cá con nào trong trận Maslowski Benefit?" anh ta hỏi, giọng kính cẩn, ao ước.
"O Tannenbaum*," tôi nói, và đi với Gustav tới quán rượu gần nhất, uống một ly mừng sức khỏe L'Heure Bleue.
Một giờ sau, tôi thua ba mươi marks. Tôi không thể giữ trọn số tiền thắng. Nhưng rồi tôi cũng dừng lại được. Khi tôi ra về, Bieling ấn một tấm thiệp vào tay tôi. "Nếu anh cần bất cứ chuyện gì ... Hay bạn anh. Tôi là người đại diện của họ." Đó là mẩu quảng cáo các trang thiết bị chiếu phim tư gia. "Tôi cũng thương thảo giá bán quần áo cũ," anh ta nói theo. "Trả tiền mặt."
Chú của LH: * O Tannenbaum: Ôi Cây Giáng Sinh, tên một bài hát.
Bẩy giờ chiều, tôi quay lại xưởng sửa xe. Karl đậu trong sân, máy nổ ầm ỉ.
"May quá cậu đã về, Bob," Koster nói. "Tụi tớ sắp sửa chạy thử. Đến đây."
Cả xưởng đang ở tư thế chuẩn bị. Otto đã thay và sửa nhiều chi tiết cho Karl, anh muốn đưa Karl dự cuộc thi leo núi trong hai tuần tới. Sắp sửa có cuộc tập dợt lần thứ nhất.
Chúng tôi leo vào xe. Jupp ngồi cạnh Koster, cặp kính đua ngoại khổ choán trọn gương mặt. Nó sẽ tan nát cõi lòng nếu không được đi theo. Lenz và tôi ngồi ở băng sau.
Karl lao vun vút. Chúng tôi ra đến vành đai xa lộ và chạy với tốc độ một trăm bốn mươi kí lô mét. Lenz và tôi rạp mình sau lưng hàng ghế trước; gió mạnh như thổi bay đầu. Hai hàng bạch dương bên đường lao ngược về sau và tiếng nổ tuyệt vời của máy xe làm chúng tôi đê mê như lời réo gọi thống thiết của tự do.
Mười lăm phút sau, chúng tôi nhìn thấy ở phía trước một chấm đen đang lớn thật nhanh. Đó là một chiếc xe khá nặng, vận tốc từ tám mươi đến một trăm khí lô mét. Nó không chạy thẳng mà hơi sàng qua sàng lại trên đường. Đường khá hẹp. Koster giảm tốc độ cho thích hợp. Khi còn cách một trăm mét và sắp sửa bóp còi, thình lình chúng tôi thấy bên tay phải, một người cưỡi mô tô từ một đường nhánh phóng tới; hắn lập tức biến mất sau một ụ rơm ngay tại giao lộ. "Lạy Chúa! chết mất thôi," Lenz kêu.
Cùng lúc ấy, người cưỡi mô tô xuất hiện trên đường, hai mươi mét đàng trước xe hơi. Rõ ràng hắn đánh giá sai vận tốc của xe và đang cố gắng vượt qua bằng cách lạng ngay trước đầu xe. Xe lách qua trái để tránh, nhưng chiếc mô tô cũng nháng sang bên trái. Một lần nữa, xe bẻ gắt qua phải, và tấm chắn bùn của nó quệt trúng và hất tung chiếc mô tô. Người cưỡi mô tô văng ra, đầu đập xuống đất. Xe hơi trượt về bên phải, bẽ gãy cột chỉ đường, cột đèn đường và cuối cùng đâm sầm vào một gốc cây.
Tất cả chỉ xảy ra trong tíc tắc. Còn chúng tôi, với tốc độ cao, trờ tới ngay sau đó; bánh xe nghiến rào rạo, Koster lái Karl như cưỡi ngựa lách qua người lái mô tô, mô tô, và chiếc xe còn nổ máy hồng hộc chắn ngang đường; bên trái, anh tránh được cánh tay của người cưỡi mô tô, bên phải, tránh được khung ràng hành lý của xe hơi; rồi động cơ gầm lên, Karl chạy thẳng, thắng rít ken két, và đứng chựng lại. "Lái cừ quá, Otto," Lenz nói.
Chúng tôi chạy ngược lại và mở cửa xe. Máy vẫn nổ. Koster thò vào bảng đồng hồ, rút chìa khóa. Động cơ tắt ngúm và chúng tôi nghe tiếng người rên rỉ.
Tất cả kính cửa sổ của chiếc limousine đều vỡ nát. Dưới ánh sáng lờ mờ trong lòng xe, chúng tôi thấy một gương mặt phụ nữ máu chảy thành dòng. Bên cạnh bà, một người đàn ông, kẹt giữa tay lái và ghế ngồi. Việc đầu tiên là chúng tôi khiêng người đàn bà ra khỏi xe, đặt trên đường. Mặt bà đầy vết cắt, vài mảnh kính vụn còn ghim trên đó, nhưng máu chảy đều. Cánh tay mặt của bà tệ hơn. Tay áo trắng sũng máu đỏ thắm và nhỏ giọt. Lenz xé toạt tay áo. Một dòng máu phụt ra, rồi phun từng ngụm. Động mạch bị đứt. Lenz xoắn khăn tay của anh thành một vòng cầm máu. "Khênh ông ấy ra, một phút nữa tớ sẽ xong," anh nói. "Chúng ta phải chở họ tới bệnh viện ngay tức thì."
Để đem người đàn ông ra, chúng tôi phải vặn ốc vít của ghế xe. May mắn thay, chúng tôi có đủ dụng cụ và tháo gỡ thật nhanh. Người đàn ông cũng chảy máu như bà kia, và có lẽ bị gẩy vài cái xương sườn. Khi chúng tôi dìu ra, ông quỵ xuống với một tiếng kêu đau đớn. Đầu gối của ông cũng bị thương thì phải. Nhưng trong lúc này, chúng tôi không thể giúp gì hơn.
Koster lùi Karl về gần chỗ tai nạn. Người đàn ba gào thét vì khiếp sợ khi thấy Koster lui đến, dù anh lái chậm như đi bộ. Chúng tôi hạ chỗ dựa của một cái ghế trước và có thể đặt người đàn ông vào đó. Chúng tôi cho người đàn bà ngồi ở băng sau. Tôi ngồi ở bục bước lên xe cạnh bà, còn Lenz ôm người đàn ông, phía bên kia.
"Cháu ở lại trông xe, Jupp nhé," Lenz nói.
"Nhân tiện, người cưỡi mô tô đâu rồi?" tôi hỏi.
"Chuồn mất, khi chúng ta đang bận," Jupp đáp.
Chúng tôi lái thật chậm. Cách ngôi làng kế tiếp không xa mấy là một dưỡng đường nhỏ. Chúng tôi thường nhìn thấy nó mỗi khi đi ngang. Nó thấp và trắng, nằm dưới chân đồi. Chúng tôi biết nó là chỗ an dưỡng dành cho những người khá giả, bệnh tương đối không nặng-- nhưng thế nào ở đó cũng có bác sĩ và một căn phòng có thể dùng làm trạm băng bó.
Chúng tôi lái lên đồi và bấm chuông. Một nữ y tá xinh đẹp đi ra. Cô tái mặt khi nhìn thấy máu và chạy trở vào. Lập tức một người khác, lớn tuổi hơn, xuất hiện.
"Rất tiếc, nhưng chúng tôi không được trang bị cho tai nạn. Các ông cần đi đến Bệnh viện Virchow. Cách đây không xa."
"Cách đây cả tiếng đồng hồ," Koster nói.
Bà y tá khăng khăng từ chối. "Chúng tôi không có dụng cụ dành cho những trường hợp như thế. Ngoài ra, không có bác sĩ --"
"Vậy bà đang phạm luật," Lenz nói. "Dưỡng đường tư nhân kiểu này phải có bác sĩ thường trực. Bà cho phép tôi dùng điện thoại chứ? Tôi muốn gọi cảnh sát và một trong những tòa báo."
Người nữ y tá bắt đầu nao núng. "Bà không cần lo lắng," Koster lạnh lùng nói. "Những việc bà làm sẽ được đền đáp hậu hĩnh. Chúng tôi cần một cái cáng. Tôi nghĩ bà có thể liên lạc với bác sĩ được mà."
Nữ y tá vẫn do dự. "Một cái cáng," Lenz giải thích, "cũng là quy định pháp lý, và là dụng cụ sơ cứu cần thiết --"
"Vâng, phải rồi," bà hấp tấp trả lời, rõ ràng bối rối vì quá nhiều tin tức. "Tôi sẽ cho người đem ra ngay."
Bà biến mất.
"Hơi dữ dằn," tôi nói.
"Tớ đã gặp những thứ tương tự ở bệnh viện công," Lenz ôn tồn nói. "Trước hết là tiền, kế đến là thủ tục hành chánh, sau đó mới được giúp đỡ."
Chúng tôi trở lại xe, dìu người đàn bà vào. Bà không nói gì, chỉ nhìn xuống đôi tay mình. Chúng tôi đưa bà vào một phòng khám bệnh nhỏ gần cửa ra vào. Rồi cáng được đem ra cho người đàn ông. Chúng tôi nhấc ông lên.
Ông rên. "Khoan đã --"
Chúng tôi nhìn ông. Ông nhắm mắt lại.
"Tôi không muốn gặp khó khăn nào," ông khó nhọc nói.
"Ông không có lỗi," Koster đáp. "Chúng tôi đã chứng kiến tai nạn và sẳn sàng làm chứng cho ông."
"Không phải thế," người đàn ông nói. "Vì lý do khác, tôi không muốn ai biết chuyện. Cậu hiểu chứ --"ông ta liếc nhìn cánh cửa, nơi người đàn bà được mang vào.
"Vậy ông đang ở đúng nơi," Lenz giải thích. "Một cuộc trình diễn riêng tư. Chỉ cần phi tang xe của ông trước khi cảnh sát tới."
Người đàn ông gượng dậy."Cậu giúp tôi nhé. Điện thoại cho ga ra xe hơi nào đó. Và làm ơn cho tôi xin địa chỉ của cậu -- tôi muốn -- tôi rất mang ơn cậu --"
Koster khoát tay từ chối.
"Nhưng mà," người đàn ông nói, "tôi muốn."
"Khá đơn giản," Lenz đáp. "Chúng tôi có một ga ra sửa xe, và chuyên môn về loại xe của ông. Chúng tôi sẽ mang nó về, nếu ông đồng ý, sửa lại tốt như xưa. Như thế hai bên đều có lợi."
"Tốt lắm," người đàn ông nói. "Các cậu cần địa chỉ của tôi không -- tôi sẽ đến nhận xe. Hoặc nhờ ai đấy."