Mối tình của chàng nhạc sĩ - Chương 08 - Part 03

Chương 8

Anh ta đã làm nhiều điều khác nữa đã làm tôi đã nhận ra là anh đã nghĩ đến Gertrude một cách sâu xa và không ngớt như thế nào. Điều đó làm cho tôi có hia điều là sung sướng và buồn rầu để quan sát việc làm này. Vì nàng, anh ta không còn nuôi chó nữa và sống trơ trọi một mình, khi trước anh ta có thể chẳng bao giờ không có những người đàn bà lâu như vậy. Anh đã có bức chân dung được hoạ của nàng. Anh ta đã yêu cầu tôi mua những bông hoa mà nàng thích. Việc đó tuồng như anh ta đã cởi bỏ chiếc mặt nạ đi và tôi đã thấy một khuôn mặt trẻ con đằng sau cái diện mạo khắc khổ, vị kỷ đó.
- Nhưng – tôi chống chế - chúng ta phải được xem bức chân dung ngay hiện giờ hoặc chiều nay. Xem hình ảnh vào ban ngày bao giờ cũng tốt hơn.
- Có chuyện đó à? Anh có thể xem lại vào ngày mai. Tôi hy vọng là một hoạ phẩm đẹp, nhưng thực ra thì nó không quan trọng đến vậy, chúng ta chỉ muốn nhìn nàng thôi.
Sau bữa ăn, chúng tôi đi ra phố để làm một ít mua sắm, trước hết là bông hoa, một bó lớn hoa cúc, một giỏ hồng và hai bó tử đinh hưởng trắng. Anh ta cũng bất thần có cái ý kiến là có một số lượng to lớn bông hoa gởi cho Gertrude tại R.
- Có một cái gì đáng yêu về hoa – anh ta nói một cách thâm trầm – Tôi có thể hiểu việc Gertrude ưa thích nó. Tôi cũng thích bông hoa nữa, nhưng tôi không thể bỏ công săn sóc bất kỳ cái gì giống như thế. Khi không có đàn bà để săn sóc chúng, thì chúng luôn luôn có vẻ như không được quan tâm với tôi và không thực sự đem đến cho tôi thích thú.
Vào buổi tối, tôi nhận thấy bức chân dung đã được đặt vào phòng nhạc và được che phủ bằng một tấm vải lụa. Chúng tôi đã có một bữa ăn tuyệt ngon, sau đó Muoth ao ước trước hết được nghe dạo khúc lễ cưới. Khi tôi tấu lên, anh ta đã lấy tấm vải che bức chân dung đi và chúng tôi đứng đối diện nó một lúc trong im lặng. Gertrude đã được vẽ duỗi dài chân tay trong bộ y phục mùa hè của nàng, và cặp mắt tinh anh của nàng từ bức hoạ nhìn ra chúng tôi một cách đầy tin cậy. Một khoảng thời gian nào đó trước khi chúng tôi có thể nhìn nhau và bắt tay nhau. Heinrich rót đầy hai ly rượu vang vùng Rhine, cúi đầu trước bức chân dung, và chúng tôi đã uống cho người đàn bà mà cả hai chúng tôi đều nghĩ đến. Rồi một cách thận trọng anh ta lấy bức hoạ và đem ra khỏi phòng.
Tôi yêu cầu anh ta hát một cái gì đó nhưng anh ta không ước ao làm như vậy.
- Anh có nhớ - anh ta mỉm cười nói – chúng ta đã trở lại với nhau một tối ra sao trước lễ cưới của tôi không? Hiện tại thì tôi là một tên độc thân một lần nữa và chúng ta lại sẽ cố làm cho mình vui vẻ hơn một vài ly rượu và có được một ít vui thú. Ông Teiser bạn của anh phải có mặt ở đây, ông ta biết làm sao để vui vẻ hơn là anh và tôi. Hãy chuyển đến ông ta lời cầu chúc tốt đẹp của tôi khi anh trở lại nhà. Ông ta không thể chịu nổi tôi, nhưng cũng như nhau vậy thôi.
Với sự vui vẻ duy trì đều đặn đó vốn là đặc tính của những giờ tuyệt nhất của anh ta, anh ta bắt đầu tán gẫu và nhắc nhở tôi những việc đã xảy ra trong quá khứ, và tôi đã ngạc nhiên ở chỗ anh ta còn nhớ tới những việc đó nhiêu như thế nào. Cả đến những việc tình cờ nhỏ nhặt tôi nghĩ rằng anh ta đã quên từ lâu thế mà vẫn còn trong ký ức của anh ta. Anh ta còn không quên cả đến cái buổi tối đầu tiên tôi ở lại nhà anh ta, cùng với Marian và Kranzl, và cái cách thức mà chúng tôi đã cãi vã đó. Chỉ có về Gertrude là anh ta hoàn toàn im lặng. Anh ta không đề cập tới cái thời kỳ mà nàng đã đến trong cuộc sống của chúng tôi và tôi lấy làm vui mừng việc anh ta không làm như thế.
Tôi cảm thấy thích thú về cái buổi tối vui vẻ bất ngờ này và để cho anh ta thù tạc cho mình một cách thoải mái với rượu vang hảo hạng mà không khiển trách khuyến dụ anh ta. Tôi đã biết những sắc thái này đối với anh nó hiếm hoi là dường nào, và anh ta đã vui vẻ và bám sát vào nó khi nó đến với anh một cách ngẫu nhiên như thế nào, và những sắc thái đó không bao giờ nó đến mà không có sự hỗ trợ của rượu vang. Tôi cũng biết rằng cái sắc thái tính khí này sẽ không kéo dài và vào ngày mai anh ta lại sẽ cau có bực bội và khó làm thân được . Dầu vậy nó đã đem đến cho tôi một cảm giác hạnh phúc và gần như hoan hỉ để lắng nghe những nhận xét thông minh, thâm trầm, dù rằng có lẽ là mâu thuẫn của anh ta. Trong khi nói chuyện, một cách ngẫu nhiên anh hướng đến tôi một trong những cái thoáng nhìn quyến rũ của anh ta, mà anh ta chỉ làm thế vào những giờ như những giờ này mà thôi, và những cái thoáng nhìn ấy hệt như những cái thoáng nhìn của một người vừa mới thức giấc từ một giấc mơ.
Một lúc sau, khi anh ta ngồi im lặng và nghĩ ngợi, tôi bắt đầu nói với anh ta những gì mà ông bạn thông thiên học của tôi đã nói với tôi về sự bệnh hoạn của con người cô đơn.
- Ồ - anh ta nói trong trạng thái vui vẻ - và tôi thiết tưởng anh tin ở ông ta. Anh sẽ trở nên một nhà thần học.
- Do đâu anh nói đến điều đó? Dù sao, có thể có một cái gì trong câu nói ấy mà.
- Ồ, cố nhiên rồi. Những người minh triết cứ không ngớt đôi khi chứng minh rằng mọi sự chỉ là tưởng tượng. Anh biết không, tôi thường hay đọc những cuốn sách như thế trong quá khứ và tôi có thể nói với anh rằng chúng là vô ích, tuyệt đối vô ích. Tất cả các điều mà các triết gia này viết ra đó chỉ là một trò đùa, có lẽ họ an ủi mình với cái đó. Một triết gia giảng dạy về chủ nghĩa cá nhân bởi vì ông ta không thể chịu nổi các người đương thời với ông ta, và người khác thuyết giảng về chủ nghĩa xã hội bởi vì ông ta không thể chịu đựng sự cô đơn trơ trọi. Có thể rằng cảm giác của chúng ta về nỗi cô đơn là một bệnh hoạn, song ta không thể làm bất cứ điều gì về cái đó cả. Chứng thuỵ du cũng là một bệnh hoạn, và đó là do đâu một người khốn khổ ở chứng đó đang đứng thực sự trên mái ngói, và khi một người nào đó gọi y, thì y ngã nhào và gãy cổ.
- Việc đó hoàn toàn khác hẳn.
- Có thể. Tôi sẽ không nói là tôi đúng. Tôi chỉ định nói rằng ta không đạt được bất kỳ nơi nào với sự khôn ngoan đó. Chỉ có hai loại minh triết, tất cả cái còn lại chỉ là chuyện trà dư tửu hậu.
- Hai loại minh triết anh định nói đến là hai loại nào vậy?
- Vâng, đó là cuộc đời là xấu xa hoặc vô nghĩa, cũng như thuyết giáo của Phật giáo và Ki tô giáo, trong mỗi trường hợp ta phải khổ hạnh và chối bỏ tất cả mọi sự - tôi tin ta có thể đạt đến sự thanh thản trí óc trong phương thức này – các nhà khắc kỷ không có một cuộc sống khổ nhọc như thiên hạ tưởng đâu. Hoặc khác nữa là cuộc đời và đời sống là tốt đẹp và chí lý – bấy giờ ta có thể chỉ dự phần trong đó thôi và sau đấy vĩnh biệt trần gian một cách ung dung, thư thái, bởi vì nó đã chấm hết.
- Chính anh thì anh tin ở điều nào?
- Không ích gì đặt câu hỏi đó. Hầu hết thiên hạ đều tin cả hai, tuỳ thuộc vào thời tiết khí hậu, sức khoẻ của họ, và việc phải chăng họ có tiền trong bóp của họ hay không. Và đối với những người thực sự tin tưởng đó cũng không sống phù hợp với những tín ngưỡng của họ. Điều đó cũng có ra sao với tôi nữa. Chẳng hạn, tôi tin như Đức Phật rằng đời sống là phù du vô thường, nhưng tôi sống cho những điều mà nó hấp dẫn lương tri của tôi như thể đây là điều quan trọng nhất để làm nếu chỉ để được thoả mãn hơn thôi!
Lúc ấy hãy chưa khuya lắm khi chúng tôi chấm dứt câu chuyện. Khi chúng tôi đi sang phòng kế bên , nơi đây chỉ có một bóng đèn duy nhất được thắp lên, Muoth nắm lấy tay tôi và dừng tôi lại, vặn lên tất cả các ngọn đèn và lấy đi tấm màn che ở bức chân dung của Gertrude, dựng tại đấy. Một lần nữa chúng tôi nhìn vào cái gương mặt thân yêu dịu dàng đó, rồi anh ta lại phủ tấm màn lên bức chân dung và tắt hết các ngọn đèn. Anh ta đi với tôi về phòng tôi và để vài tờ tạp chí trên bàn trong trường hợp tôi sẽ cần đọc. Đoạn anh ta bắt tay tôi và nói một cách nhỏ nhẹ:
- Xin chúc ngủ ngon, ông bạn thân quý!
Tôi lên giường ngủ và nằm đó thức khoảng nửa giờ, nghĩ ngợi về anh. Điều làm tôi xúc động và khiến tôi cảm thấy hổ thẹn khi nghe anh ta nhớ lại một cách trung thành tất cả những biến cố nhỏ nhặt của tình bạn của chúng tôi như thế nào. Anh ta, người đã nhận thấy khó khăn để kéo dài mối tình bạn đó, đã bám vào những kẻ mà anh quan tâm đến một cách nồng nàn nhiệt thành hơn là tôi tưởng.
Sau đó tôi ngủ được và đã có những giấc mơ lẫn lộn về Muoth, về vở đại nhạc kịch của tôi và về ông Lohe. Khi tôi thức dậy, thì trời vẫn còn tối. Tôi đã thức giấc mơ của tôi. Tôi thấy cái buổi rạng đông xám xịt khô khan đang dần đến đóng khung bởi cánh cửa sổ và đã có một cảm giác thống khổ sâu đậm. Tôi ngồi dậy và cố phá tan giấc ngủ của tôi để nghĩ ngợi một cách rõ ràng hơn.
Lúc bấy giờ có những tiếng gõ mạnh khẩn cấp ở cánh cửa phòng tôi. Tôi nhảy ra khỏi giọng và mở cửa ra. Trời thì lạnh lẽo và tôi hãy chưa vặn đèn lên. Người giúp việc đứng bên ngoài, ăn mặc một cách cẩu thả, và trừng trừng nhìn tôi một cách đầy lo lắng ái ngại với cặp mắt đầy khủng khiếp.
- Ông sẽ vui lòng đến được chăng? – y thì thào, thở hổn hển – Có tai biến rồi.
Tôi khoác chiếc áo thụng vào và đi theo người thanh niên xuống cầu thang. Y mở cửa ra, đứng ở sau và để tôi bước vào. Trong phòng có một cái bàn mây nhỏ với cái giá cắm nến trên đó có ba ngọn nến lớn đang cháy. Bên cạnh bàn là một cái giọng bừa bãi hỗn độn và trên đó, một người đàn ông đang nằm sấp, đó là bạn tôi Heinrich Muoth.
- Chúng ta nên trở anh ta lại – tôi nói nho nhỏ.
Người giúp việc không tin cậy ở mình để làm việc đó.
- Tôi sẽ đi tìm bác sĩ ngay – hắn nói lắp bắp.
Nhưng tôi đã bắt buộc hắn lật anh ta lại và chúng tôi đã lật người đàn ông nằm sấp đó lại. Tôi nhìn vào gương mặt bạn tôi, nó trắng bệch và méo mó. Áo sơ mi anh ta ướt đẫm máu, và khi chúng tôi để anh ta nằm xuống và đắp anh ta lại thì cái miệng anh ta giựt giựt và cặp mắt anh ta không còn nhìn thấy nữa.
Bấy giờ người giúp việc bắt đầu kể với tôi cách kích thích những gì đã xảy ra nhưng tôi không muốn biết bất kỳ điều gì nữa. Khi viên bác sĩ đến thì Muoth đã chết. Buổi sáng tôi đi đánh điện tín cho Imthor. Rồi trở về với ngôi nhà im lặng đó, ngồi bên giường người quá cố, lắng nghe gió thổi trên hàng cây bên ngoài, và chỉ lúc đó tôi mới nhận ra tôi đã yêu quý con người bất hạnh này biết chừng nào. Tôi không thể nào khóc than cho anh ta, cái chết của anh ta dễ chịu hơn là đời sống của anh.
Buổi tối tôi đứng ở nhà ga và thấy ông cụ Imthor bước ra khỏi chiếc xe lửa, tiếp theo là một người đàn bà cao ráo vận y phục đen. Tôi đưa họ trở về với tôi tới nhà người quá cố, hiện giờ đã được tẩm liệm và chiếc quan tài của anh ta được đặt giữa những bông hoa của ngày hôm trước. Gertrude đã cúi xuống và hôn lên đôi môi nhợt nhạt của anh ta.
Khi chúng tôi đứng bên cạnh mộ chí của anh ta, tôi thấy một người đàn bà cao ráo quyến rũ với một gương mặt đầm đìa nước mắt, nàng cầm mấy cái hoa hồng trong tay và đứng trơ trọi một mình, và khi tôi nhìn ngang qua nàng một cách hiếu kỳ tôi tôi nhận ra đó là Lottie. Nàng gật đầu với tôi và mỉm cười. Nhưng Gertrude thì không khóc than gì cả, nàng đứng nhìn thẳng trước mặt nàng, một cách chăm chú và quả quyết, và giữ cho mình giống như một thân cây trẻ trung được chống đỡ bởi những cái rễ rắn chắc. nhưng đấy chỉ là sự tự chế mà thôi, hai ngày sau đó, khi nàng tháo mở những bó hoa của Muoth ra, nó đã đến nhà nàng giữa khi ấy, thì nàng đã ngã quỵ và chúng tôi đã không gặp nàng trong một thời gian dài.