Chúa Tể Những Chiếc Nhẫn - Nhà Vua Trở Về - Quyển VI - Phụ Lục A - Phần 4

Vì thế chính vào triều đại Vua Eärnil, như sau này người ta hiểu, tên Vua phù thủy đã trốn từ miền Bắc xuống Mordor, triệu tập bọn Ma Nhẫn còn lại nhờ quyền thủ lĩnh. Nhưng phải đến năm 2000 chúng mới xuất quân khỏi Mordor, qua ngả Đèo Cirith Ungol mà vây hãm Minas Ithil. Tòa thành bị chúng hạ gục năm 2002, chiếm cả quả palantír trên đỉnh tháp. Cho tới hết Kỉ Đệ Tam chúng vẫn chưa bị khu trừ, khiến Minas Ithil biến thành một nơi đáng sợ, mang tên mới Minas Morgul. Rất nhiều người còn sống ở Ithilien bỏ đất ấy mà chạy.

“Eärnur sánh ngang cha mình về lòng quả cảm, nhưng trí thông thái lại chẳng bì. Ông có sức lực sung mãn và tính tình nóng nảy, nhưng ông không lấy vợ, vì hứng thú duy nhất của ông là chinh chiến hay trổ tài võ bị. Ông giỏi giang tới mức ở Gondor chẳng ai đấu lại nổi ông trong những trận thi thố dùng binh khí, niềm ham thích lớn của ông, giống như một vận động viên hơn là vị chủ tướng hay chúa tể, và ông còn gìn giữ được sức khỏe và tài nghệ tới tuổi cao hơn hẳn lệ thường.”

Khi Eärnur tiếp nhận ngai vàng năm 2043, tên Vua Minas Morgul thách thức ngài đấu tay đôi, nhạo rằng ngài đã chẳng vững chân trước mặt hắn nơi chiến địa miền Bắc. Lần đó Mardil Quốc Quản đã kìm giữ được cơn thịnh nộ của nhà vua. Minas Anor, vốn đã thành đô thành chính của vương quốc từ thời Vua Telemnar và là nơi cư ngụ của hoàng triều, thì nay đổi tên là Minas Tirith, thành phố vĩnh viễn đứng canh mưu đồ ác quỷ của Morgul.

Eärnur mới ngự trên ngai được bảy năm thì tên Chúa tể Morgul lặp lại lời thách thức, nhạo rằng tính nhút nhát ngày còn trẻ của ngài nay lại bồi thêm gân cốt yếu nhược lúc tuổi già. Tới đó Mardil không còn can ngăn nổi nữa; nhà vua dẫn một toán thị vệ nhỏ cưỡi ngựa tới trước cổng Minas Morgul. Đội kị binh ra đi lần đó không có tin tức báo về. Ở Gondor người ta tin rằng kẻ thù xảo trá đã dọn bẫy bắt nhà vua, và ngài đã chết vì bị tra tấn trong Minas Morgul; nhưng vì không có bằng chứng tận mắt nào là ngài đã chết, Mardil vị Quốc Quản Trung Thành đã cai trị Gondor dưới tên ngài suốt nhiều năm.

Tới lúc này dòng dõi hoàng gia chỉ còn rất ít. Hoàng tộc đã vơi bớt rất nhiều trong vạ Thân Tranh; thêm nữa từ độ đó, các vua ở ngôi trở nên nghi kị và dè chừng thân thích. Thường những kẻ thấy mình bị nghi ngờ lại trốn tới Umbar gia nhập quân phiến loạn; còn những người khác từ bỏ quyền thừa kế để kết hôn cùng những người vợ không thuộc nòi Númenor.

Chính đấy là nguyên cớ không còn ai khả dĩ tiếp nhận ngôi truyền, vừa thuần huyết lại vừa được người dân ủng hộ; và tất thảy đều kinh sợ vạ Thân Tranh trở lại, biết rằng thêm một cuộc huynh đệ tương tàn nữa là Gondor ắt sẽ tiêu tan. Vì thế dù năm tháng chảy dần, vị Quốc Quản vẫn nắm quyền cai trị, còn vương miện của Elendil nằm lại trong lòng Vua Eärnil trong Cung Tử, nơi Eärnur đặt nó lại trước khi ra đi.

Dòng Quốc Quản

Gia tộc Quốc Quản còn được gọi là Gia tộc Húrin, vì họ là hậu duệ vị Quốc Quản thời Vua Minardil (1621-1634), Húrin khu đồi Emyn Amen, một người thuộc dòng giống Númenor cao quý. Sau thời ngài các vua luôn chọn quốc quản trong số họ tộc ngài; và sau thời Pelendur, chức Quốc Quản trở thành cha truyền con nối, hoặc người thân gần nhất tiếp nối, cũng như vương vị.

Quả thực là mỗi Quốc Quản khi lên nhậm chức đều có lời thề “giữ roi và cai trị nhân danh Nhà Vua, cho tới khi người trở về.” Nhưng chẳng mấy lâu sau đó chỉ còn là những lời nghi thức chẳng được ai coi trọng, vì Quốc Quản vẫn nắm toàn bộ quyền hành ngang vua. Nhưng ở Gondor vẫn nhiều người còn tin quả thực sẽ có vị vua trở về vào một thời điểm tương lai nào đó; và nhiều người nhớ lại dòng Bắc từ cổ đại, mà nghe đồn vẫn còn tiếp nối trong bóng tối. Nhưng những Quốc Quản Chấp Chính sắt lòng lại khi nghe những lời đó.

Dù vậy, các Quốc Quản cũng không bao giờ ngồi lên ngai vàng cổ; họ cũng không đội miện, không cầm vương trượng. Họ chỉ cầm một cây roi trắng, biểu tượng của chức trách mình; họ giương cờ trắng tinh không biểu trưng; nhưng cờ hiệu hoàng tộc vẫn luôn là màu đen, vẽ hình thân cây trắng bừng nở hoa dưới bảy vì sao.

Sau Mardil Voronwë, vẫn được tính là thủy tổ dòng cai trị, là đến hai mươi tư Quốc Quản Chấp Chính ở Gondor, rồi tới Denethor II, đời thứ hai sáu và cũng là cuối cùng. Ban đầu họ được hưởng thái bình, vì đó là thời kì Hòa Bình Cảnh Giới, Sauron thu mình trước quyền lực Hội Đồng Trắng và bọn Ma Nhẫn ẩn kĩ trong Thung Lũng Morgul. Nhưng từ thời Denethor I trở đi, hòa bình tuyệt đối không bao giờ còn có lại, và cả những lúc Gondor không phải đối phó với chiến tranh tổng lực hay công khai thì biên giới vẫn bị quấy nhiễu thường xuyên.

Những năm cuối triều Denethor I cai trị, bọn uruk - một giống Orc đen lớn cực kì khỏe mạnh - lần đầu xuất hiện ngoài phạm vi Mordor và tới năm 2475 chúng tràn xuống qua Ithilien chiếm Osgiliath. Boromir con trai Denethor (sau này được lấy tên đặt cho Boromir thuộc Chín Bộ Hành) đánh bại chúng, lấy lại Ithilien; nhưng Osgiliath rốt cục cũng tàn lụi hẳn, cây cầu đá lớn giữa thành gãy gục. Từ đó về sau không còn ai sống ở đây. Boromir là một chỉ huy dũng mãnh, ngay cả Vua phù thủy cũng kiêng nể ngài. Ngài có khuôn mặt quý phái và đẹp đẽ, kiên cường cả về sức lực lẫn ý chí, nhưng trận chiến đó đã để lại vết thương Morgul rút ngắn tuổi thọ ngài, khiến ngài teo quắt vì đau đớn và qua đời chỉ sau cha mình mười hai năm.

Tiếp theo là thời kì cai trị dài lâu của Cirion. Ngài cảnh giác và thận trọng, nhưng phạm vi chế ngự của Gondor đã ngắn lại nhiều, và ngài chẳng làm được gì ngoài phòng thủ các đường biên giới, trong khi đám kẻ thù (hay thế lực điều khiển đằng sau) chuẩn bị nhiều cú đòn ngài không đủ sức chống đỡ. Lũ Hải Tặc phá phách miền duyên hải, nhưng chính phía Bắc mới là mối nguy lớn nhất của ngài. Trong những miền đất rộng ở Rhovanion giữa rừng Âm U và Sông Chảy, giờ sinh sống một tộc người hung dữ, toàn bộ quy hàng cái bóng ở Dol Guldur. Chúng thường xuyên đánh tràn qua rừng, tới khi toàn mạn đồng bằng sông Anduin phía dưới sông Diên Vĩ sạch bóng dân. Bọn Balchoth này liên tục được bổ sung thêm đồng loại từ phương Đông lại, trong khi người ở Calenardhon cứ thưa vắng dần. Cirion phải rất vất vả mới giữ được tuyến sông Anduin.

“Nhìn thấy trước cơn bão đến, Cirion bắn tin lên Bắc cầu viện, nhưng đã quá muộn; vì năm ấy (2510) sau khi đã đóng nhiều thuyền bè lớn bên bờ Đông Anduin, bọn Balchoth ùn ùn đổ qua sông mà quét sạch quân phòng thủ. Một đạo quân từ dưới Nam đi lên bị cắt đứt và xua về Bắc qua sông Lim Sáng, tới đó thì gặp bầy Orc từ trên dãy núi thình lình đổ xuống, đuổi họ chạy về phía Anduin. Rồi bỗng dưng từ Bắc xuống đoàn quân ứng cứu ngoài sức hi vọng, lần đầu tiên tiếng tù và người Rohirrim vang vọng ở Gondor. Eorl Trẻ Tuổi dẫn đoàn kị binh xuống quét sạch quân thù, săn đuổi bọn Balchoth đến chết trên đồng cỏ Calenardhon. Cirion ban tặng Eorl vùng đất đó làm nơi sinh sống, và ông thề với Cirion Lời Ước của Eorl, về tình bằng hữu khi cần thiết, hay khi nghe kêu gọi, dành cho các Chúa Gondor.”

Vào thời Beren, Quốc Quản đời thứ mười chín, mối nguy lớn hơn nữa lại đổ bóng xuống Gondor. Ba đội tàu lớn đã phục sẵn từ lâu nay lướt tới từ Umbar và Harad, ào ạt tấn công miền duyên hải; quân thù đổ bộ khắp nơi, tới tận cửa sông Isen về phía Bắc. Cùng lúc ấy người Rohirrim cũng bị tấn công từ cả Tây và Đông, địch quân càn quét khắp vùng đất, khiến họ phải náu trong các thung lũng Dãy Núi Trắng. Vào năm đó (2758) Mùa Đông Dài Dặc bắt đầu, những đợt lạnh và tuyết vần vũ từ Bắc và Đông kéo dài tới gần năm tháng. Helm đất Rohan cùng cả hai con trai tử trận trong cuộc chiến; cảnh khổ cực chết chóc trải khắp Eriador lẫn Rohan. Nhưng ở Gondor phía Nam dãy núi tình hình không nguy kịch bằng, và trước khi xuân sang Beregond con trai Beren đã đẩy lùi quân xâm lược. Lập tức ngài cử quân lên trợ giúp Rohan. Ngài là vị chỉ huy tài giỏi nhất từng xuất hiện ở Gondor sau thời Boromir; và khi ngài lên kế tục cha mình (2763) Gondor bắt đầu lấy lại sức mạnh cũ. Nhưng Rohan bình phục lâu hơn vì những thương tích nặng nề giáng lên họ. Chính vì thế mà Beren đã hoan nghênh Saruman, trao cho ông ta chìa khóa Orthanc và từ năm ấy (2759) Saruman bắt đầu ngụ tại Isengard.

Chính vào thời Beregond mà Cuộc Chiến giữa Người Lùn và Orc diễn ra trên Dãy Núi Mù Sương (2793-2799), nhưng chỉ có những tin tức nhạt nhòa truyền xuống phía Nam, cho tới khi lũ Orc chạy trốn từ Nanduhirion rắp tâm vượt qua Rohan tới lập đồn ở Dãy Núi Trắng. Các thung lũng đã thành nơi giành giật suốt nhiều năm trước khi hiểm họa này bị đánh tan.

Khi Quốc Quản thứ hai mươi mốt Belecthor II chết, Cây Trắng cũng chết theo ở Minas Tirith; nhưng nó vẫn được đứng đó “cho tới khi Nhà Vua trở về,” vì chẳng hạt giống nào được tìm thấy.

Vào thời Túrin II, kẻ thù của Gondor lại động binh trở lại; vì thế lực Sauron lại bắt đầu lớn mạnh, ngày trỗi dậy chẳng còn mấy nữa. Trừ những kẻ kiên cường nhất, tất cả dân cư đều bỏ chạy khỏi Ithilien mà chuyển về Tây sống bên kia bờ Anduin, vì cả dải đất đã bị lũ Orc Mordor xâm nhập. Túrin là người đã xây nhiều nơi trú ẩn bí mật cho quân sĩ khắp Ithilien, mà Henneth Annûn là nơi được canh phòng và cắt gác lâu dài nhất. Ngài cũng bổ sung phòng thủ cồn đảo Cair Andros[4] trở lại để bảo vệ Anórien. Nhưng mối nguy chủ yếu lại ở về phía Nam, nơi bọn người Haradrim đã chiếm cứ Nam Gondor, khiến dọc bờ Poros chiến sự không lúc nào ngớt. Khi Ithilien bị lực lượng đông đảo xâm chiếm, Vua Folcwine thực hiện Lời Ước của Eorl và trả món nợ Beregond cứu trợ khi xưa, gửi tới Gondor rất nhiều quân sĩ. Có họ trợ giúp, Turin giành thắng lợi ở đoạn vượt sông Poros; nhưng cả hai con trai Folcwine đều tử nạn trong trận này. Đội Kị Binh chôn cất họ theo tập quán dân mình, cả hai nằm chung một gò mộ, vì họ là anh em sinh đôi. Cho mãi đến sau này Haudh in Gwanur, tên gò mộ ấy, còn đứng rất cao trên bờ sông, khiến kẻ thù của Gondor sợ hãi không dám đi qua.

[4] Tên này có nghĩa là “Tàu bọt sóng dài,” vì hòn đảo có hình giống một con tàu lớn, mũi tàu vểnh cao chỉ về hướng Bắc, sóng Anduin vỗ vào phần đá nhọn này trắng xóa.

Turgon kế vị Túrin, nhưng triều đại ngài chỉ đánh dấu chủ yếu bằng việc Sauron tái xuất, hai năm trước khi ngài mất, và công khai ra mặt, rồi tiến vào Mordor từ lâu đã soạn sửa chờ đón hắn. Tháp Barad-dûr lại ngóc đầu lần nữa, Đỉnh Định Mệnh lại rùng rùng phụt lửa, và những người dân Ithilien cuối cùng cao chạy xa bay. Khi Turgon chết, Saruman chiếm Isengard làm của riêng, tăng cường binh lực.

“Ecthelion II con trai Turgon là một người thông thái. Chút quyền lực cuối cùng để lại được ông dùng củng cố vương quốc chống lại sự tấn công từ phía Mordor. Ông khích lệ mọi người tài trí dù gần hay xa tới phụng sự mình, và những người chứng tỏ được rằng mình đáng tin cẩn qua thử thách đều được tưởng thưởng và phong chức. Hầu như mọi việc ông làm đều có sự trợ giúp và cố vấn của một viên chỉ huy tài giỏi được ông yêu quý hơn hết thảy. Thorongil là tên dân Gondor gọi người ấy, Đại Bàng Sao, vì chàng vừa nhanh nhẹn vừa có con mắt tinh nhạy, và đeo vì sao bạc trên áo choàng; nhưng chẳng ai biết tên thật của chàng, hay chàng quê quán ở đâu. Chàng tới triều Ecthelion sau khi sống ở Rohan và phụng sự Vua Thengel, nhưng lại không phải người Rohirrim. Chàng là một chủ tướng tài ba dù trên đất liền hay biển cả, nhưng chàng đã ra đi vào vùng bóng tối nơi chàng từ đó tới đây trước khi thời của Ecthelion chấm dứt.

“Thorongil vẫn thường khuyên nhủ Ecthelion rằng đội quân phiến loạn ở Umbar là một mối nguy lớn với Gondor, đe dọa cả những thái ấp miền Nam và sẽ gây họa khôn lường, nếu Sauron tới lúc công khai tuyên chiến. Cuối cùng chàng cũng được Quốc Quản cho phép mà tập hợp đội thuyền nhỏ, xuất kì bất ý tới Umbar lúc đêm khuya và thiêu cháy một phần lớn đội tàu Hải Tặc. Bản thân chàng đã khuất phục tên Chỉ Huy Cảng khi giáp chiến trên bến thuyền, rồi rút quân về mà không mấy tổn thất. Nhưng khi về đến cảng Pelargir, chàng lại khiến tất cả sửng sốt và buồn bã vì nói không định trở về Minas Tirith, nơi vinh dự lớn đang đón chờ.

“Chàng gửi lời từ biệt cho Ecthelion mà nói: ‘Nay có những nhiệm vụ khác vẫy gọi tôi, thưa chúa thượng, và sẽ phải qua nhiều thời gian và nguy hiểm nữa mới đến lúc tôi trở lại Gondor, nếu đó là điều số phận dành cho tôi.’ Dù không ai đoán nổi những nhiệm vụ ấy là gì, hay chàng đã nhận lời triệu tập của ai, nhưng tất cả đều biết chàng đi lối nào. Vì chàng đã lên thuyền vượt sông Anduin, và tới đó giã từ đồng đội mà một mình đi tiếp; và lần cuối cùng người ta nhìn thấy, chàng đang ngoảnh mặt về Dãy Núi Bóng Đêm.

Khắp kinh thành đều phiền muộn vì sự ra đi của Thorongil, và ai nấy đều cho là một tổn thất sâu xa, chỉ trừ Denethor con trai Ecthelion, người nay đã đủ chín để nhận quyền Quốc Quản, và lên nắm quyền bốn năm sau, khi cha ông từ trần.

“Denethor II là một người kiêu hãnh, cao lớn và quả cảm, có khí chất đế vương hơn bất kì ai từng xuất hiện ở Gondor suốt nhiều thế hệ gần đây; và ông cũng thông tuệ, có mắt nhìn xa, và uyên thâm tích truyện. Thực tế là ông giống Thorongil tới mức như thể họ hàng gần gũi, nhưng trước nay vẫn bị coi là thứ yếu so với người lạ mặt kia, trong tình mến mộ của người dân và cả trong lòng trân trọng của cha mình. Vào lúc đó rất nhiều người đã nghĩ Thorongil ra đi trước khi kẻ kình địch trở thành chúa của mình; tuy thực tế là Thorongil chưa bao giờ có ý cạnh tranh với Denethor, hay đặt mình cao hơn địa vị người hầu của cha ông. Và chỉ duy nhất trong một việc này lời khuyên của hai người với vị Quốc Quản có điều khác biệt: Thorongil vẫn thường cảnh báo Ecthelion đừng quá tin cẩn Saruman Áo Trắng tại Isengard, mà hãy đón chào Gandalf Áo Xám. Nhưng giữa Denethor và Gandalf ít có tình hòa hảo, và sau thời Ecthelion Người Hành Hương Áo Xám càng ít được hoan nghênh ở Minas Tirith. Vì thế sau này, khi mọi sự đã tỏ tường, nhiều người tin rằng Denethor với đầu óc bén nhạy và con mắt thấu suốt hơn hẳn người khác cùng thời đã phát hiện ra kẻ lạ mặt Thorongil này thực chất là ai, và ngờ vực chàng cùng Mithrandir đang toan tính lật đổ mình.

“Khi Denethor lên nắm quyền Quốc Quản (2984), ông trở thành một vị chúa vô cùng quyết đoán, tự mình nắm quyền cai quản mọi việc trong tay. Ông ít khi nói ra lời. Ông lắng nghe mọi lời khuyên, rồi quyết định tự ý. Ông kết hôn muộn (2976), vợ là Finduilas con gái Adrahil chúa Dol Amroth. Bà là một Phu Nhân có sắc đẹp tuyệt vời và trái tim nhân hậu, nhưng cuộc hôn nhân chưa được mười hai năm thì bà đã qua đời. Denethor yêu bà, theo kiểu của ông, thắm thiết hơn yêu bất kì ai khác, chỉ thua có người con trai cả bà sinh hạ cho ông. Nhưng người ta cảm thấy dường như bà héo hon đi trong thành phố được canh gác mật, như bông hoa miền thung lũng biển mọc phải vách đá khô cằn. Bóng đen ở phương Đông làm bà kinh sợ, và luôn luôn bà ngoảnh về Nam, nhìn biển khơi bà rất đỗi nhớ nhung.

“Sau khi bà qua đời, Denethor còn lầm lì và im lặng hơn khi trước, và thường ngồi một mình hồi lâu trên tháp suy tư, đoán trước rằng bàn tay Mordor sẽ giáng xuống ngay trong thời mình. Sau này người ta đoán rằng vì cần lấy thêm tin tức, nhưng cũng vì kiêu hãnh và quá tin vào sức mạnh ý chí của mình, ông đã nhìn vào quả palantír trong tòa Tháp Trắng. Không vị Quốc Quản nào từng dám làm thế, kể cả các vua Eärnil và Eärnur, sau khi Minas Ithil thất thủ và quả palantír của Isildur rơi vào tay Kẻ Thù bởi Quả Cầu Minas Tirith là quả palantír của Anárion, gần gũi nhất với quả Sauron giờ nắm giữ.

“Nhờ thế Denethor đã có được hiểu biết quảng đại về những điều xảy ra trong vương quốc, cũng như vượt xa biên giới đất ông, khiến cho người đời khâm phục; nhưng ông đã phải trả giá đắt mới có được nó, già nua đi trước tuổi vì cuộc ganh đua với ý chí Sauron. Vì thế trong Denethor lớn dần niềm kiêu hãnh, song hành cùng nỗi tuyệt vọng, tới khi tất cả những biến cố thời đại ấy đối với ông chỉ còn thu gọn đơn thuần về cuộc đấu giữa Chúa tòa Tháp Trắng và Chúa tòa Barad-dûr, và ngờ vực tất cả những ai chống trả Sauron trừ khi người đó chỉ phụng sự mình ông.

“Cứ thế thời gian trôi đi cho tới cuộc Nhẫn Chiến, và các con trai Denethor lớn lên lới lúc thành niên. Boromir, hơn em trai năm tuổi và là đứa con được yêu hơn, giống cha như đúc về khuôn mặt và tính kiêu hãnh, nhưng phần còn lại thì không. Thực tế chàng có tính cách tựa như Vua Eärnur ngày trước, không lấy vợ mà tìm vui chủ yếu trong chiến trận; không biết sợ và mạnh mẽ, nhưng chẳng mấy để tâm tới tích truyện cổ, ngoài chuyện kể về các trận đánh xưa. Faramir, người con thứ, giống anh bề ngoài nhưng trong tâm lại khác. Chàng cũng rành rẽ trái tim con người không kém gì cha, nhưng những gì đọc thấy thường khiến chàng động lòng thương cảm hơn là khinh miệt. Tư thái chàng hiền hậu, yêu tích truyện và âm nhạc, và vì thế trong thời ấy bị rất nhiều người đánh giá thấp tính can trường so với người anh. Nhưng thực tế không phải vậy, chàng không kiếm tìm vinh quang trong nguy hiểm nếu việc đó không phục vụ điều gì. Chàng đón mừng Gandalf bất cứ lúc nào thầy phù thủy đến kinh thành, và say mê học hỏi trí thông thái của ông; và trong việc này, cũng như nhiều việc khác, chàng làm cha mình phật ý.

“Thế nhưng giữa hai anh em là một tình yêu sâu sắc, bắt nguồn từ thuở ấu thơ khi Boromir vẫn thường giúp đỡ và bênh vực Faramir. Từ đó trở về sau vẫn không hề có ganh tỵ hay kèn cựa giữa hai người, dù vì lòng thiên ái của cha hay vì sự tán thưởng của người dân. Faramir dường như không hề nghĩ ở Gondor lại có ai sánh nổi với Boromir, người kế tục Denethor Chỉ Huy tòa Tháp Trắng; và Boromir cũng nghĩ tương tự. Nhưng thời điểm thử thách lại đưa đến kết quả khác hoàn toàn. Song những gì xảy đến với ba người bọn họ trong cuộc Nhẫn Chiến đã được kể lại cặn kẽ ở nơi khác. Và sau cuộc chiến, thời kì Quốc Quản Chấp Chính cũng đến hồi kết; vì người kế vị Isildur và Anárion đã trở lại, dòng Vua được phục hồi, và lá cờ mang Cây Trắng lại kéo lên vẫy gió trên đỉnh Tháp Ecthelion.”

Hãy để lại chút cảm nghĩ khi đọc xong truyện để tác giả và nhóm dịch có động lực hơn bạn nhé <3

Tuyển Dịch giả/ Editor