Chúa Tể Những Chiếc Nhẫn - Nhà Vua Trở Về - Quyển VI - Phụ Lục A - Phần 2

(iii)

Eriador, Arnor, và những Người Kế Vị Isildur

“Eriador xưa kia là tên gọi trọn vùng đất nằm giữa dãy núi Mù Sương và Dãy Núi Lam; địa giới phía Nam là dòng Lũ Xám cùng dòng Glanduin đổ vào đó ngay trên Tharbad.

“Vào giai đoạn hùng cường nhất, Arnor mở rộng tới toàn Eriador chỉ trừ các vùng bên kia sông Lune, hay nằm về phía Đông sông Lũ Xám và Nước Ồn là nơi có Thung Đáy Khe và Đất Nhựa Ruồi. Bên kia sông Lune là đất của Tiên xanh tươi yên ả, Con Người chưa hề đặt chân tới; nhưng Người Lùn từng sống ở mạn Đông Dãy Núi Lam cho mãi đến bây giờ, nhất là phía Nam Vịnh Lune có những mỏ khai khoáng nay vẫn còn hoạt động. Chính vì thế họ vẫn thường đi lại trên Đường Cái về phía Đông, một thói quen từ thời xa thẳm trước khi chúng ta tới định cư ở Quận. Cảng Xám là nơi ở của Círdan Người Đóng Tàu, có kẻ nói giờ ông vẫn còn ở đó chờ Chuyến Cuối căng buồm về Tây, Vào thời Các Vua, phần lớn các Thượng Tiên nào còn chưa rời Trung Địa đều sống cùng Círdan hoặc ở dải đất Lindon ven biển. Nếu giờ vẫn còn lại ai, thì cũng chỉ còn rất ít.”

Vương quốc Bắc và người Dúnedain

Tiếp sau Elendil và Isildur còn tám Đại Vương cai trị Arnor. Sau thời Eärendur, các con trai ngài rơi vào tranh chấp, dẫn đến việc vương quốc bị chia ba: Arthedain, Rhudaur, Cardolan. Arthedain nằm góc Tây Bắc, là phần lãnh thổ nằm giữa các sông Bia Rum Đun và Lune, thêm cả miền đất phía Bắc Đường Đông kéo dài tới tận Khu Đồi Gió. Rhudaur ở góc Đông Bắc, nằm giữa vùng Truông Etten, Khu Đồi Gió và dãy núi Mù Sương, lại bao gồm cả Mũi Đất nằm giữa hai sông Nguồn Xám và Nước Ồn. Cardolan chiếm nửa Nam, mốc phân giới là hai sông Bia Rum Đun, Lũ Xám và Đường Cái.

Ở Arthedain dòng tộc Isildur vẫn còn được giữ gìn và nối tiếp, nhưng Cardolan và Rhudaur thì chẳng mấy đã lụi tàn. Ba vương quốc thường lâm vào xung đột, càng đẩy nhanh sự suy vong của người Dúnedain. Đối tượng tranh giành chính là Khu Đồi Gió và khoảnh đất ở về phía Tây đồi cho mãi đến Bree. Cả Rhudaur và Cardolan đều muốn đoạt được Amon Sûl (Đỉnh Gió) nằm trên biên giới cả ba nước, vì Tháp Amon Sûl là nơi đặt quả Palantír chính yếu của miền Bắc, mà cả hai quả còn lại đều nằm trong tay Arthedain.

“Chính vào buổi đầu triều đại Malvegil vua Arthedain là khi cái ác đến Arnor. Vì vào khoảng đó, vương quốc Angmar mọc lên ở phương Bắc bên kia Truông Etten. Lãnh địa nó trải ra cả hai bên dãy núi, tới đó tụ lại vô số con người hiểm ác, cùng Orc và các sinh vật tàn độc khác. [Chúa tể vùng đất đó được gọi là Vua phù thủy, nhưng mãi về sau này người ta mới biết hắn cũng chính là thủ lĩnh bọn Ma Nhẫn, lên phía Bắc chẳng với mục đích gì khác ngoài tiêu diệt hết người Dúnedain ở Arnor, vì thấy cơ hội trong cảnh tam phân, trong lúc Gondor còn mạnh.]”

Tới thời Argeleb con trai Malvegil, vì không còn lại hậu duệ Isildur nào trong hai vương quốc còn lại, các vua Arthedain lần nữa lại xưng vương trên toàn cõi Arnor. Nhưng Rhudaur kháng lại. Ở đó người Dúnedain không còn mấy, quyền lực đã rơi vào tay tên thủ lĩnh gian ác của đám Người Đồi, vốn giao kết bí mật với Angmar. Argeleb củng cố lại Khu Đồi Gió, nhưng ngã xuống khi giao chiến với Rhudaur và Angmar.

Arveleg con trai Argeleb, có Cardolan và Lindon hợp sức, đã đánh đuổi kẻ thù khỏi Khu Đồi; và suốt nhiều năm Arthedain cùng Cardolan duy trì một phòng tuyến mạnh dọc Khu Đồi Gió, Đường Cái và hạ lưu sông Nguồn Xám. Nghe nói chính vào thời gian này Thung Đáy Khe đã bị bao vây.

Nẳm 1409, Angmar cử đi một đạo quân lớn, vượt sông tiến vào Cardolan vây Đỉnh Gió. Người Dúnedain thất trận, Arveleg bị giết. Tháp Amon Sûl bị đốt phá san phẳng, nhưng quả palantír được cứu thoát, đoàn quân rút chạy mang về Fornost. Rhudaur trở thành địa bàn của Con Người phe ác dưới quyền Angmar, và những người Dúnedain nào còn ở lại đều bị truy sát hoặc bỏ chạy về Tây. Cardolan bị tàn phá. Araphor con trai Arveleg, chưa tới tuổi trưởng thành nhưng có tinh thần anh dũng, được Círdan trợ giúp đánh đuổi hết quân thù khỏi Fornost và Khu Đồi Bắc. Một toán nhỏ người Dúnedain trung tín nước Cardolan cũng cầm cự tại Tym Gorthad (vệt đồi Mộ Đá), hoặc lánh nạn trong khu Rừng sau vệt đồi.

Tương truyền có một thời gian Angmar bị áp chế nhờ người Tiên từ Lindon đến; cả từ Thung Đáy Khe, vì Elrond đã vời được người Lórien vượt dãy núi qua hỗ trợ. Chính vào khoảng đó mà chi Đại Cồ vốn từng sống trong Mũi Đất (giữa Nguồn Xám và Nước Ồn) chạy về phía Tây và Nam, tránh chiến tranh và mối đe dọa từ phía Angmar, và cũng vì thung thổ Eriador, nhất là ở nửa Đông, càng lúc càng trở nên hà khắc khó sống. Một số trở về Vùng Đất Hoang cắm lại bên dòng Diên Vĩ, lâu dài thành dân đánh cá sống bên sông.

Đến thời Argeleb II, trận dịch hạch từ Đông Nam lan tới Eriador khiến dân cư Cardolan hụt đi không còn mấy, nhất là dưới mạn Minhiriath. Dân Hobbit cũng như mọi giống dân khác sống qua một giai đoạn hãi hùng, nhưng bệnh dịch càng lên Bắc thì càng yếu, những vùng phía Bắc Arthedain không bị tổn thất nhiều. Đó là thời người Dúnedain ở Cardolan tiêu biến hẳn, và các loại ác hồn Angmar và Rhudaur tới chiếm các trụ mộ bỏ hoang làm nơi trú thân.

“Nghe đồn các cột mộ ở Tym Gorthad, tên gọi vệt đồi Mộ Đá ngày xưa, đã có từ thượng cổ, rất nhiều cột xây từ thuở thế giới mới bước vào Kỉ Đệ Nhất, nhờ công các tổ phụ Edain trước khi vượt Dãy Núi Lam đi vào Beleriand (mà nay chỉ còn lại dải Lindon ven bờ). Vì thế sau khi trở lại, người Dúnedain coi những đồi đó là đất thiêng và lấy làm nơi mai táng nhiều bậc vua chúa. [Có người bảo trụ mộ đã giam cầm Người Mang Nhẫn chính là mộ táng vị hoàng tử Cardolan cuối cùng, chết trận năm 1409.]”

“Năm 1974 thế lực Angmar lại mạnh lên lần nữa, tên Vua phù thủy kéo quân xuống đánh Arthedain khi mùa đông còn chưa qua. Chiếm được Fornost, hắn truy đuổi phần lớn dân Dúnedain còn lại chạy quá dòng Lune, trong số đó có cả các con trai nhà vua. Nhưng Vua Arvedui vẫn chống trả đến cùng trên Khu Đồi Bắc, rồi sau đó cùng vài cận vệ chạy lên mạn Bắc; đàn ngựa chân nhanh đưa họ chạy thoát quân thù.

“Suốt một thời gian Arvedui ẩn náu trong các hầm mỏ xưa của Người Lùn ở đầu xa dãy núi, nhưng cuối cùng cơn đói buộc ông phải cầu viện người Lossoth, Người Tuyết vịnh Forochel[1]. Ông bắt gặp vài người dựng trại bên bờ biển; nhưng họ không sẵn lòng giúp đỡ, vì ông chẳng có gì đánh đổi trừ ít châu báu chẳng có giá trị gì với họ, và họ lại sợ tên Vua phù thủy, kẻ có khả năng (theo họ nói) tùy ý làm băng đóng hay tan. Nhưng phần vì thương hại ông vua và đoàn người hốc hác, phần vì sợ vũ khí họ mang theo, những người này cho đoàn ít thức ăn và xây cho họ vài túp nhà trong tuyết. Arvedui buộc phải ở lại đây chờ đợi, mong có hỗ trợ từ phương Nam tới; vì ngựa của họ đã chết cả.

[1] Đây là một tộc người lạ lùng không hiếu khách, tàn dư dòng giống Forodwaith, Con Người từ thuở xa xưa, quen sống trong cái lạnh giá băng ở vương quốc Morgoth. Thực tế là đến nay ở vùng đó vẫn còn lạnh giá, dù nằm về phía Bắc Quận chỉ chừng trăm lí. Người Lossoth xây nhà trong tuyết, nghe đồn còn có thể chạy trên băng nhờ buộc xương vào chân và chở xe thồ không có bánh. Họ sống chủ yếu ở nơi kẻ thù không tài nào đến được, trên Mũi Forochel rộng lớn chắn đầu Tây Bắc vịnh nước khổng lồ cùng tên, nhưng cũng thường cắm trại ở bờ Nam vịnh dưới chân Dãy Núi Lam.

“Khi Círdan nhờ Aranarth con trai Arvedui mà biết nhà vua đã chạy trốn lên phía Bắc, ông lập tức cho tàu lên Forochel tìm kiếm nhà vua. Con tàu tới nơi sau rất nhiều ngày vì gặp nhiều luồng gió ngược, và thủy thù đoàn từ xa nhìn thấy đống lửa nhỏ nhóm bằng gỗ dạt được đoàn người gặp nạn chăm chút nuôi cho cháy. Nhưng mùa đông năm ấy ương bướng không chịu sớm nhả gọng kìm, dù đã tháng ba nhưng băng mới bắt đầu tan, trải xa bờ trên mặt vịnh.

“Khi nhìn thấy con tàu Người Tuyết rất lạ lùng sợ hãi, vì từ thuở còn nhớ được họ chưa từng nhìn thấy tàu trên biển bao giờ; nhưng tới lúc này họ đã thân thiện hơn, cho xe trượt đưa nhà vua và những người còn sống trong đoàn qua mặt băng xa tới chừng nào họ dám. Nhờ thế tàu có thể thả thuyền nhỏ vào đón họ.

“Nhưng những Người Tuyết có vẻ không yên: họ nói mình ngửi thấy nguy hiểm trong hơi gió. Và thủ lĩnh người Lossoth bảo với Arvedui: ‘Đừng lên con quái vật biển này! Hãy nói những người biển mang đồ ăn và đồ cần thiết cho chúng ta, nếu họ có, còn ông thì ở lại đây tới lúc Vua phù thủy về nhà. Vì tới mùa hè hắn yếu đi, nhưng lúc này hơi thở hắn mang lại chết chóc, còn cánh tay lạnh toát thì dài.’

“Nhưng Arvedui không nghe lời khuyên ấy. Ông cảm ơn viên thủ lĩnh, và tặng lại chiếc nhẫn trên tay khi ra đi mà nói: ‘Đây là một vật có giá trị vượt xa những gì các người hiểu được. Chỉ nhờ dòng dõi của nó mà thôi. Nó chẳng có quyền lực gì, ngoài tình trân trọng của những ai yêu mến gia tộc ta. Nó không giúp gì được các người, nhưng nếu có lúc nào các người gặp nạn, họ hàng ta sẽ đồng ý chuộc bằng tất cả những gì các người mong có.’[2]

[2] Chính nhờ thế mà chiếc nhẫn của Gia tộc Isildur còn giữ được, vì sau này được người Dúnedain chuộc lại. Tương truyền đó chính là chiếc nhẫn đã được Felagund ở Nargothrond tặng Barahir, mà sau này Beren đã trải bao hiểm nguy giành lại.

“Nhưng rồi ra, không biết vì tình cờ hay vì hiểu biết, lời khuyên của người Lossoth lại xác đáng vô cùng; vì con tàu chưa ra được biển khơi đã gặp một cơn bão lốc nổi lên, từ phương Bắc quất từng vốc tuyết lóa mắt; nó xua con tàu trở lại mặt băng và chồng chất băng táp lên tàu. Cả những thủy thủ nhà Círdan cũng bất lực xuôi tay, và tới đêm đó băng đập vỡ thân, làm con tàu chìm nghỉm. Đấy là đoạn kết của Arvedui Vua Cuối, cả những quả palantír cũng theo ông chôn vùi đáy nước[3]. Phải mãi về sau qua Người Tuyết người ta mới biết tin về vụ đắm tàu Forochel.”

[3] Đây là hai Quả Cầu Annúminas và Amon Sûl. Quả cầu duy nhất còn lại trên Bắc là quả trên Tháp ở Emyn Beraid nhìn ra Vịnh Lune. Quả này được người Tiên canh giữ, và dù chúng ta không biết nhưng nó vẫn còn lại đó, tới khi Círdan đặt lên tàu cùng Elrond khi ông ra đi. Nhưng theo chúng tôi biết, không giống như những quả khác và cũng không đáp lại chúng, quả cầu này chỉ nhìn ra đại dương. Elendil đặt trên Tháp để có thể ngoảnh lại nhìn theo “đường thẳng” về Eressëa ở phương Tây đã biến mất; nhưng mặt biển cong bên dưới đã trùm lấp Númenor vĩnh viễn.

Chúng dân Quận vẫn sống sót, dù có bị chiến tranh quét qua khiến phần lớn phải bỏ chạy và ẩn nấp. Họ có cử vài tay cung đi hỗ trợ nhà vua nhưng chẳng thấy trở về; lại còn những người khác tham chiến trong trận đánh đã tiêu diệt Angmar (được chép kĩ hơn trong sử kí vương quốc Nam). Trong thời kì thanh bình tiếp đó, dân Quận sống tự trị và hưng thịnh. Họ chọn ra vị Thain nắm quyền thay nhà vua, lấy đó làm thỏa mãn; dù qua nhiều năm vẫn còn nhiều người trông đợi nhà vua trở về. Nhưng cuối cùng cả hi vọng ấy cũng bị quên đi, chỉ còn lưu lại trong câu thành ngữ Khi nào Nhà Vua quay lại, nghĩa là điều lành khó mà đạt được, mà cũng có khi là điều dữ khó mà chữa được. Vị Thain đầu tiên ở Quận là một người họ Bucca ở Chằm Lớn, mà nhà Lão Hươu tự nhận là ông tổ họ mình. Ngài được phong Thain năm 379 theo Niên lịch Quận (1979).

Sau thời Arvedui là chấm dứt vương quốc Bắc, vì bây giờ người Dúnedain chỉ còn lác đác, còn mọi dân tộc sống trên Eriador đã vãn nhiều. Nhưng dòng vương hệ vẫn được duy trì, trở thành Thủ Lĩnh người Dúnedain, bắt đầu từ Aranarth con trai Arvedui. Arahael con trai ông chào đời ở Thung Đáy Khe, cũng như mọi con trai các thủ lĩnh đời sau đó; đây cũng là nơi cất giấu các bảo vật truyền gia của dòng họ: nhẫn của Barahir, những mảnh gãy thanh Narsil, ngôi sao Elendil, vương trượng thành Annúminas[4].

[4] Vương trượng là chứng vật chính của hoàng gia ở Númenor, như Nhà Vua cho chúng tôi biết; và tới Arnor cũng vậy, vua nước này không đội miện mà mang một viên ngọc trắng duy nhất, Elendilmir, Ngôi Sao Elendil, đeo trên trán đính vào băng vải trắng. Khi nói đến vương miện, hiển nhiên Bilbo đang nghĩ đến Gondor; có vẻ ông đã trở nên rất uyên bác về các vấn đề liên quan đến dòng dõi Aragorn. Vương trượng của Númenor nghe đồn đã bị phá hủy khi Ar-Pharazôn chết, vương trượng của Annúminas chính là cây gậy trắng của các Lãnh Chúa Andúnië, có lẽ là thành tạo lâu đời nhất dưới bàn tay Con Người nay còn được giữ gìn ở Trung Địa. Cây gậy đã hơn năm nghìn tuổi khi Elrond trao trả lại cho Aragorn. Vương miện Gondor tạo hình dựa theo mũ đầu mâu ở Númenor. Ban đầu nó chỉ là một chiếc mũ trụ đơn giản, nghe đồn chính là mũ Isildur đội vào Trận Dagorlad (vì mũ trụ của Anárion đã bị nghiến nát khi hòn đạn đá từ Barad-dûr sát hại ngài). Nhưng tới thời Atanatar Alcarin nó đã thay bằng chiếc mũ đính ngọc quý dùng trong lễ đăng quang của Aragorn.

“Khi vương quốc chấm dứt, người Dúnedain lẩn vào bóng đêm, trở thành một tộc dân lang bạt trong bí mật, những chiến tích và công sức của họ ít khi được ghi chép hay ca tụng. Ngày nay chẳng còn mấy điều được biết về họ kể từ ngày Elrond ra khơi. Dù ngay từ trước khi chấm dứt thời Hòa Bình Cảnh Giới, nhiều mối ác họa đã lại bắt đầu tấn công hoặc ngầm xâm nhập Eriador, nhưng các Thủ Lĩnh Dúnedain phần lớn vẫn sống trọn tuổi trời cho rất thọ. Aragorn I, theo lời đồn, bị lũ sói kết liễu; chúng vẫn là mối nguy lớn ở Eriador và đến giờ vẫn chưa dứt hẳn. Tới thời Arahad I, bọn Orc vốn từ lâu chiếm cứ những thành lũy mặt trong dãy núi Mù Sương để chặn mọi ngả đèo đi vào Eriador, như sau này người ta biết, bỗng đột ngột ra mặt. Năm 2509, Celebrían phu nhân của Elrond trên đường tới Lórien bị phục kích ở Đèo Sừng Đỏ, đoàn hộ tống trước đội Orc tấn công bất ngờ bị đánh tản mát, còn Phu Nhân bị bắt lấy đưa đi xa. Elladan và Elrohir lùng theo cứu được mẹ mình, nhưng bà đã phải chịu hành hạ khủng khiếp và trúng độc từ vết thương. Bà được đưa lại về Imladris, nhưng dù được Elrond chữa trị cho lành thể xác, bà đã mất hết lòng vui sống ở Trung Địa; tới năm sau bà ra Cảng và đi về bên kia đại dương. Rồi đến sau này vào thời Arassuil, bọn Orc đã lần nữa nảy nở sinh sôi trong dãy núi Mù Sương bắt đầu tràn ra phá phách miền đất, khiến người Dúnedain và các con trai Elrond phải đối đầu. Chính thời điểm đó là lúc một nhóm Orc lớn đánh về Tây xa đến mức vào tận Quận, rồi bị Bandobras Took đánh đuổi đi.”

Có tất cả mười lăm Thủ Lĩnh trước khi ra đời người cuối cùng thứ mười sáu là Aragorn II, về sau lại trở thành Vua của cả Gondor lẫn Arnor. “Nhà Vua của chúng ta, như chúng tôi vẫn gọi; và khi ngài lên Bắc tới sống ở cung điện Annúminas đã xây lại và nghỉ lại ít lâu bên Hồ Bóng Tà, mọi người trong Quận đều mừng rỡ. Nhưng ngài không tới thăm Quận, tự ràng buộc mình bằng luật chính ngài đã ban ra, rằng Dân To Lớn không ai được quyền vào ranh giới Quận. Nhưng ngài rất nhiều lần cùng đoàn người đẹp đẽ phi ngựa tới Cầu Lớn, ở đó đón tiếp các bạn bè mình cùng tất cả những ai muốn diện kiến ngài; một số cùng đi từ đó với ngài, về sống trong cung điện tới chừng nào họ thích. Vị Thain Peregrin đã nhiều lần viếng thăm nơi đó, và cả Thầy Samwise tức Thị trưởng nữa. Con gái ông, Elanor Xinh Đẹp, là một trong những thị nữ của Hoàng Hậu Sao Hôm.”

Niềm tự hào và thần kì của Dòng Bắc là ở việc, dù quyền lực đã suy giảm và dân số đã bớt nhiều, nhưng qua từng ấy thế hệ dòng trực hệ từ cha tới con vẫn không đứt đoạn. Và dù cho tuổi đời người Dúnedain càng lúc càng rút ngắn khi sống ở Trung Địa, thì sau khi dòng vua chấm dứt ở Gondor, sự suy tàn dưới miền Nam còn chóng vánh hơn; trên miền Bắc rất nhiều Thủ Lĩnh vẫn còn sống tới gấp đôi tuổi thọ thông thường Con Người, tức là vượt xa cả những lão trượng dân chúng ta. Aragorn thực tế sống đến hai trăm mười tuổi, lâu hơn bất kì ai thuộc dòng dõi ngài từ sau Vua Arvegil; nhưng ở Aragorn Elessar, danh giá của các vua xưa đã trở lại.

______________

(iv)

Gondor và những Người Kế Vị Anárion

Có tất cả ba mươi mốt vị vua Gondor nối tiếp Anárion đã hi sinh trước cổng Barad-dûr. Dù biên giới không bao giờ ngớt động binh, trong suốt hơn một nghìn năm người Dúnedain miền Nam vẫn ngày càng giàu có và quyền thế trên đất liền và biển cả, mãi đến triều Atanatar II, đế hiệu Alcarin tức Vinh Hoa. Nhưng những dấu hiệu suy tàn lúc này đã chớm; vì chủng người cao quý miền Nam kết hôn muộn, đường tử tức cũng hiếm hoi. Falastur là vị vua đầu tiên không con, tiếp đến Narmacil I, con trai Atanatar Alcarin.

Ostoher vị vua thứ bảy là người cho xây lại Minas Anor, biến nơi đó thành hành cung mùa hè thay thế Osgiliath từ đó về sau. Trong thời ngài, Gondor lần đầu bị người hoang phương Đông tấn công. Nhưng Tarostar con trai ngài đánh bại và xua đuổi chúng, rồi lấy hiệu Rómendacil, “kẻ chinh phục miền Đông.” Tuy thế sau này ngài tử trận khi bọn phương Đông lại đổ quân đợt mới. Turambar con trai ngài đã báo thù cho cha, mở thêm lãnh thổ rất xa về phía đó.

Tới Tarannon đời thứ mười hai bắt đầu dòng các vị Vua Tàu; họ tổ chức thủy binh và bành trướng uy quyền của Gondor dọc bờ biển phía Tây và Nam Cửa Sông Anduin. Kỉ niệm các chiến thắng khi còn là Chỉ Huy Thủy Đội, Tarannon lên ngôi lấy hiệu Falastur, “Chúa miền Duyên hải.”

Eärnil I, cháu trai và là người nối ngôi ngài, cho sửa chữa cảng Pelargir có từ cổ đại, lập nên đội thủy quân hùng mạnh. Bằng cả đường biển và đường bộ ngài bao vây và chiếm được Umbar, biến nơi này thành khu cảng và thành trì lớn thêm vào uy vũ Gondor[1]. Nhưng Eärnil chẳng sống được lâu để tận hưởng chiến thắng. Ngài chết cùng rất nhiều quân sĩ và tàu chiến trong trận bão lớn ngay ngoài khơi Umbar. Ciryandil con trai ngài tiếp tục đóng tàu bè; nhưng Con Người Harad, dẫn đầu là những lãnh chúa bị đánh đuổi khỏi Umbar, kéo quân đông đảo về tấn công thành, và Ciryandil tử trận ở Haradwaith.

[1] Mũi Umbar cùng vụng biển lớn nằm sâu trong nội địa từ lâu đã là lãnh thổ của người Númenor, nhưng là thành trì của những Người dưới quyền Nhà Vua, sau gọi là người Númenor Đen, đã bị Sauron dụ dỗ và căm ghét hơn hết thảy những người ủng hộ Elendil. Sau khi Sauron sụp đổ, nòi giống chúng nhanh chóng suy giảm hoặc pha trộn với Con Người ở Trung Địa, nhưng vẫn kế thừa không phai nhạt lòng thù ghét Gondor. Vì thế Umbar chỉ chiếm lại được sau nhiều tổn thất nặng nề.

Suốt nhiều năm Umbar vẫn bị quấy nhiễu nhưng không bị mất nhờ sức mạnh của hải đội Gondor. Ciryaher con trai Ciryandil kiên nhẫn chờ đợi, rồi khi cuối cùng cũng tập trung đủ lực lượng, ngài từ Bắc đánh xuống cả đường bộ và đường biển, và sau khi vượt sông Hamen đoàn quân đánh bại tan tành bọn Người Harad, bắt vua của chúng xưng thần với Gondor (1050). Ciryaher sau đó lấy tên hi armendacil, “kẻ chinh phục miền Nam.”

Uy dũng của hi armendacil không bị kẻ thù nào thách thức suốt từ đó tới hết triều đại. Ngài làm vua suốt một trăm ba mươi tư năm, triều đại dài nhất lịch sử Dòng Anárion chỉ thua có một. Chính trong thời ngài Gondor đạt đến đỉnh cao quyền lực. Vương quốc mở rộng về phía Bắc tới đồng Celebrant và hiên Nam rừng Âm U; phía Tây đến sông Lũ Xám; phía Đông đến Biển nội địa Rhûn; phía Nam tới sông Hamen, rồi từ đó dọc bờ biển tới bán đảo và cảng Umbar. Con Người ở đồng bằng sông Anduin suy tôn nó; các vua Harad sùng phục nó, con trai họ sống trong triều để làm tin. Mordor trở thành xứ hoang tàn, nhưng họ vẫn đặt những thành trì lớn canh phòng, đứng chặn đầu các đèo núi.

Đến đó là hết dòng các Vua Tàu. Atanatar Alcarin con trai hi armendacil sống trong nhung lụa xa hoa, đến mức người ta bảo ở Gondor đá quý là sỏi cuội làm đồ chơi con trẻ. Nhưng Atanatar ưa cuộc đời dễ chịu, chẳng hoài công bảo vệ quyền lực đã truyền đến tay mình, và hai con trai ngài cũng cùng tính khí. Sự xuống dốc của Gondor đã bắt đầu từ trước khi ngài mất, và hiển nhiên không lọt ra ngoài mắt kẻ thù. Sự canh gác Mordor lơi lỏng. Tuy thế cũng phải mãi đến thời Valacar mới có ác họa lớn đầu tiên ập đến Gondor: cuộc nội chiến vẫn gọi là vạ Thân Tranh, gây ra những mất mát tổn hại khủng khiếp, không bao giờ hoàn toàn hồi phục.

Minalcar con trai Calmacil là một người có sức lực phi thường, và vào năm 1240, để khỏi vướng bận vì việc nước, Narmacil phong ngài làm Nhiếp chính toàn vương quốc. Từ năm đó ngài cai trị Gondor nhân danh các vua, tới khi lên nối ngôi cha mình. Mối lo chủ yếu của ngài là người miền Bắc.

Tộc người này đã lớn mạnh nhanh chóng trong cảnh hòa bình dưới bóng uy quyền Gondor. Các vua vẫn ưu ái họ, vì họ là họ hàng gần cận nhất với người Dúnedain tuy thuộc về chủng thấp kém hơn (phần lớn có gốc gác là họ hàng tổ tiên các gia tộc Edain khi trước), và trao cho họ những vùng đất rộng bên kia bờ Anduin, phía Nam Rừng Xanh Lớn, làm tuyến phòng thủ trước giống dân phương Đông. Vì trước đó hướng tấn công chủ yếu của bọn người phương Đông vẫn là từ phía đồng bằng nằm giữa Biển Nội Địa và Dãy Núi Tro.

Trong thời Narmacil I chúng lại bắt đầu gây hấn, dù mới đầu chỉ từng toán nhỏ; nhưng rồi vị nhiếp chính nhận ra người miền Bắc không phải lúc nào cũng trung thành với Gondor; một số nhập bọn cúng đám phươngĐông, vì tham món lợi do cướp bóc, hay vì sự chia bè kết phái giữa các hoàng thân của chính họ. Vì vậy năm 1248 Minalcar đích thân dẫn lực lượng mạnh tới đánh bại đội quân phương Đông đông đảo giữa Rhovanion và Biển Nội Địa, tiêu hủy hết mọi vị trí dựng trại hay định cư của chúng phía Đông đại dương. Sau đó ngài lấy hiệu Rómendacil.

Khi trở về, Rómendacil cho củng cố thêm bờ Tây sông Anduin mãi đến tận nơi Lim Sáng hòa vào, và cấm mọi kẻ lạ mặt xuôi dòng sông đi quá khu đồi Emyn Muil. Chính ngài là người đã xây đôi cột Argonath tại miệng vào Nen Hithoel. Nhưng vì vẫn cần người, và vẫn muốn thắt chặt tình đoàn kết giữa Gondor với người miền Bắc, ngài đã nhận vào triều rất nhiều người trong số họ, thậm chí phong cho họ nhiều chức tước cao trong quân đội mình.

Hãy để lại chút cảm nghĩ khi đọc xong truyện để tác giả và nhóm dịch có động lực hơn bạn nhé <3

Tuyển Dịch giả/ Editor