Ổ rắn độc - Chương 19 - 20

Chương 19

“Kết thúc một câu với một giới từ,” nhân viên ở bảo tàng Shaka ở Durban nói, “là điều mà tôi sẽ không tha thứ!”

“Nói gì ạ?” Dan không có tâm trạng cho điều này. Chuyến đi tối hôm trước đã mất hàng tiếng đồng hồ. Và giờ, sau vài giờ ngủ ở Durban, trung tâm của tỉnh KwaZulu-Natal, và một chuyến đi đến bảo tàng, tất cả nó hỏi là phòng tắm. Không phải là một bài học ngữ pháp.

Người hướng dẫn mỉm cười. “Cậu là những người Churchill, không à? Cậu không nhận ra câu trích dẫn của anh hùng của cậu ư? Ông ấy nổi tiếng vì nói điều đó với ai đó giống cậu. Cậu đã nói, ‘Where is the bathroom at (Phòng tắm ở?)?’ Đây là kết thúc một câu với một giới từ! Rất tệ!”

“Ừm, cháu phải đi, thưa ngài…” Dan nói.

“Cole,” người đàn ông nói. “Cửa đầu tiên bên phải cậu.”

Trên đường vào, Dan suýt nữa đụng phải một ông lão có gương mặt gần như xương xẩu. “Xin lỗi, ông.”

Cuối cùng khi nó nhẹ nhõm đi, Dan nhảy lùi ra ngoài. Ông lão, di chuyển rất chậm, thậm chí không băng qua căn phòng.

“Qua nhiều năm, thỉnh thoảng,” ông Cole đang nói với Nellie và Amy, “một vài người đã hỏi thăm về mối quan hệ giữa Churchill và Shaka Zulu. Cha tôi không thích những khách viếng thăm này lắm.” Ông chỉ về phía ông lão.

“Ừm, Churchill không thể có quan hệ với Shaka,” Amy chỉ ra. “Ông ấy sinh ra sau gần năm mươi năm Shaka chết.”

“Thật vậy,” ông Cole nói. “Chúng tôi đã nói đi nói lại điều này với các vị khách. Sau đó, một ngày, sau một chuyến viếng thăm, một trong những tài sản quý giá của chúng tôi biến mất – một cái khiên rất lớn thuộc về Shaka. Cha tôi đã trực vào lúc đó, và ông ấy đã không bao giờ tha thứ cho bản thân.”

“Tấm khiên những gã này đã lấy đi?” Dan nói, lôi tấm thẻ Shaka của nó ra khỏi túi và xoay nó về phía người đàn ông. “Nó trông giống vậy à?”

Ông Cole gật đầu. “Rất giống.”

“Và nhóm này – chúng có tình cờ, như là, đông không ạ?” Dan nỏi. “Và, như là, ồn ào và hống hách?”

Nó không nhận thấy ông lão đã gần như tới chỗ chúng. Ông ta đang cau có, và khi ông nói, giọng ông là một tiếng the thé thì thầm. “Tại sao cậu muốn biết về Churchill?” ông hỏi.

“Cha, làm ơn, đây là những đứa trẻ, không phải những kẻ trộm.” Ông Cole mỉm cười xin lỗi. “Ông cố của tôi – ông nội của cha tôi – biết Churchill.”

“Churchill là kẻ lén lút,” ông lão nói. “Bị ám ảnh với Shaka. Đó là lý do ông ta đi đến Nam Phi. Không phải để báo cáo. Không phải để chiến đấu. Để tìm ra isipho.”

Dan thận trọng liếc nhìn chị gái nó, sau đó trở lại nhìn ông lão, đôi mắt ông đang đỏ lên. “Isipho?”

là thứ gì đó Shaka đã đưa cho những người châu Âu,” ông lão nói. “Họ đã cứu mạng ông ta với thuốc của họ, và ông ta nghĩ họ có sức mạnh ma thuật. Nhưng họ cũng đang tìm kiếm thứ gì đó. Thứ gì đó Zulu có. Thứ gì đó người châu Âu đã lấy và biến đổi thành một loại thuốc. Người ta nói nó để khuếch trương sức mạnh của ông ta.”

Đôi mắt Amy đang nói chính xác điều Dan đang nghĩ. Nghe như Cahill.

“Một lo-oại thuốc?” Amy hỏi.

“Dĩ nhiên, vô lý!” ông lão đáp lại. “Nhưng họ nói Shaka có thể là một trong bọn họ - gia đình của họ. Shaka đã tin tưởng họ! Ông ấy không nên tin tưởng ai cả! Shaka nên đưa aniklwal cho Fynn.

“Cha, làm ơn, đừng để chúng ta lại bắt đầu,” ông Cole nói. Khi ông dẫn cha mình trở về lại phòng trưng bày, ông ấy trao cho Dan một cái nhún vai xin lỗi. “Cứ tự nhiên khám khá.”

***

“Nhà Tomas!” Amy nói khi Nellie lên xa lộ. “Đó là người mà ông Cole đang nói tới.”

“Những gã cơ bắp hỏi về Shaka và Churchill,” Nellie nói. “Điều đó có lý.”

“Và đánh cắp một cái khiên chỉ tình cờ có huy chương của Tomas trên nó,” Dan nhận xét, mũi nó chúi vào cuốn tiểu sử Shaka của mình.

“Nhớ điều mà ông Holt đã rên rỉ về,” Amy nói. “Các Tomas khác đang tìm manh mối, vân vân? Chị đã nghĩ ông ấy đang bị hoang tưởng, nhưng có lẽ ông ấy đúng. Có lẽ những tên trộm đến bảo tàng này là những người cuối cùng tìm thấy manh mối.”

“Fynn – được rồi, ông ta đây!” Dan nói, chỉ vào một trang trong cuốn tiểu sử Shaka. “Đây là kẻ mà ông lão đã nói đến – Henry Francis Fynn. Sau một trận chiến, ông ta đã cung cấp cho Shaka trợ giúp y tế và vũ khí. Shaka rất biết ơn ông ta cho phép những người Anh đi lại ở vương quốc Zulu. Sau đó mọi chuyện bắt đầu trở nên xấu đi. Chiều hướng tồi tệ. Vài năm sau, Fynn trỉ trích Shaka trong cuốn sách nào đó. Nói ông ấy là một con quái vật.”

Amy gật đầu. “Nước Anh đã cố gắng chiếm Nam Phi làm thuộc địa, hầu như vì kim cương.”

“Đúng!” Dan nói. “Và, dù sao, thậm chí không có những cuộc vơ vét của người châu Âu Shaka vẫn là một siêu sao. Trước ông ấy, các bộ lạc sẽ ném những cây giáo dài vào nhau và chờ đợi. Như là, hừm, mũi tên trong không trung, này, muốn ít cà phê không? Shaka nói không, Jose - ừm, có lẽ không phải Jose mà là từ Zulu tương đương – giáo ngắn tốt hơn! Sau đó chị có thể tiến thẳng tới bộ mặt xấu xí của kẻ thù và đánh! Đâm! Arrrgghh!

“Em đã cân nhắc một công việc viết lách chưa?” Nellie nói.

“Cuốn sách của em có nói một isipho là cái gì không?” Amy hỏi.

“Từ chối,” Dan nói, lắc đầu mình.

“Dan…” Amy nói. “Fynn và những người châu Âu khác… họ đã nói Shaka là người của gia đình. Đó là điều ông lão đã nói. Có lẽ sau tất cả Shaka đã là một Cahill. Không phải do dòng dõi, mà bởi thứ gì đó họ đã trao đổi. Isipho.”

***

Theo sự hướng dẫn của Carlos, Nellie lái khỏi Durban đi về hướng tây bắc -29.086341/31.32817. Những ngôi làng nhỏ rải rác miền quê, mỗi một cụm những túp lều gạch bùn vòng quanh với những mái nhà lớp tranh san sát. Trong một ngôi làng, một nhóm người dồn gia súc vào một bãi quây bằng gỗ ọp ẹp. Trong một làng khác, Dan vẫy nhau với một nhóm làm gạch từ bùn, chất chúng thành những chồng đỏ nâu hoàn hảo. Nellie phải ngoặt để tránh một nhóm phụ nữ đi qua đường, mỗi người thăng bằng với thứ trông như toàn bộ những cành cây có giá trị trên đầu họ. Và một lớp học ngoài trời của những đứa nhỏ lười biếng nhìn lên khi chiếc Yugo chạy qua, buồn tẻ như những đứa trẻ Mỹ.

“Đường không dò được,” Carlos giờ đang nói. “Rẽ phải khi có thể.”

Nellie dừng lại. Bên phải họ là một đám người dàn ra giữa những tấm chăn có quần áo, bánh mì, đồ thử công, và những hộp đồ ăn. Quanh vòng ngoài người ta hát hò và nhảy múa, trẻ con chạy chơi quanh, và những người già hơn ngồi như vua và hoàng hậu khi những người khác dồn đến giải trí và đút cho họ ăn. Hầu hết các dân làng mặc quần áo kiểu phương tây thường ngày, nhưng một số mặc những chiếc lông vũ sặc sỡ, da dê, và đeo chuỗi hạt.

“Một lễ hội đường phố,” Dan nói, “mà không có đường.”

Sawubona! Chào mừng!” một trong những người bán dạo gọi lớn, một chàng trai trẻ mặc đồ trông như da báo, hoàn toàn với một dải buộc đầu da báo. Anh ta chỉ về những tặng vật quanh mình và nói bằng một giọng nặng, nuốt chữ nghe chừng ang áng giọng Anh. “Chúng tôi có bánh mì, tượng, thức ăn! Tham gia với chúng tôi! Tôi là Mondli – Mondli­, từ Zulu chỉ người đút thức ăn! Và cậu?”

“Dan,” Dan nói. “Từ Mỹ cho người ăn. Dịp gì vậy?”

“Ngày trợ cấp! Trưởng lão trong cộng đồng của chúng tôi được nhận tiền mỗi tháng. Và chúng tôi tôn trọng trưởng lão của mình. Vì vậy chúng tôi tổ chức, và họ mua!” Mondli cười một tiếng và giơ ra một chiếc váy đính hạt công phu cho Amy. “Cho quý cô trẻ?”

“Nó… là phong cách của Nellie hơn,” Amy nói.

Nhưng Nellie đang nhìn vào xa xăm. “Ừm, các em? Theo Carlos, chúng ta sẽ đến đó.”

Dan theo cái nhìn chằm chằm của cô nàng. Phía ngoài hội chợ, một cánh đồng nghiêng dốc đứng lên, rải rác với những sự hình thành đá lởm chởm. Ở trên đỉnh, một đàn linh dương sừng dài ở xa lặng lẽ gặp cỏ. Một khu rừng kéo dài xuống một bên sườn về bên trái. Nhưng Nellie đang nhìn vào một tòa nhà trắng thấp ở trên đỉnh đồi.

“Đó?” Mondli nói. “Cô chắc chứ? Tôi có thể hỏi, cô có việc gì vậy?”

“Chúng tôi… ừm, đang nghiên cứu văn hóa Zulu,” Dan nói. Amy bắn cho nó một cái nhìn ngớ ngẩn.

“À, ừm, trong trường hợp đó, hãy ở đây với chúng tôi,” Mondli nói. Anh ta chỉ về ngọn đồi và cau mày. “Những người đã xây dựng nơi này không phải là người Zulu.”

“Họ là ai?” Dan hỏi.

Mondli nhún vai. “Người da trắng, người da vàng, người da đen – một nhà máy. Họ đã nói với chúng tôi họ sẽ mang lại việc làm. Nhưng những người đến đó làm việc – họ đã thay đổi.”

“Thay đổi?” Nellie nói. “Theo cách nào?”

“Bí mật,” Mondli nói với sự ghê tởm. “Họ sẽ không bao giờ nói với chúng tôi. Rất quan trọng. Họ đã nói những người chúng tôi sẽ có lợi, nhưng chúng tôi không thấy điều đó. Một vài nam giới và phụ nữ trẻ của chúng tôi biến mất. Công ty nói rằng họ đã được dịch chuyển. Đến những chỗ bí mật.”

Một trong những trưởng lão, người đang ngồi gần trên một chiếc ghế dài bãi biển, giờ đi về phía chúng. Ông ta đi chân trần và mặc đồ trơn, rộng thùng thình. “Tokoloshe!” ông nói, một ngón tay run run chỉ lên ngọn đồi. “Tokoloshe!”

“Xin lỗi.” Mondli gật đầu lễ phép và hộ tống người đàn ông trở lại ghế của mình, nói với ông ta bằng tiếng Zulu. Khi anh ta trở lại, anh ra hiệu cho Dan và Amy đi theo xa hơn một chút. Dưới bóng của một cái cây với một mái che trông giống như ai đó đã đập bẹp nó bằng một bàn tay khổng lồ, Mondli nói, “Chúng tôi đang cố gắng đưa những người này ra khỏi cộng đồng. Tôi là một cựu sinh viên, và một nhóm của chúng tôi đang làm việc với vài người ở đó. Chúng tôi đã không thành công.” Anh ta nhìn lên đồi. “Chúng tôi có một nội gián bên trong, nhưng để đạt được bất cứ điều gì chống lại những người này, mọi người gần như cần một đội quân.”

Dan không thích lý lẽ này. Nó nhìn chằm chằm lên tòa nhà bệ vệ và nuốt khó khăn. “Nếu chúng em, ừm, quyết định đi lên đó, cách tốt nhất là gì?”

Mondli chỉ ra một đường đi lên qua sườn đá dốc đứng. “Tôi không gợi ý nó, nhưng… hãy ở trên lối đi. Dù cho cậu làm bất cứ gì, tránh những cái cây. Có bẫy đi săn.” Anh ta lùi lại, lôi ra một xấp giấy từ dưới áo choàng của mình. “Tôi là một người vẽ bản đồ để bán. Công ty tôi liên quan đến việc vẽ bản đồ vùng này. Chúng tôi chưa hoàn thiện, nhưng đây là một bản sao. Một món quà lưu niệm.”

“Cảm ơn.” Dan gật đầu. “Một câu hỏi. Ông lão đã nói gì với chúng em?”

“Ông ấy là một sangoma, một người chữa bệnh truyền thống,” Mondli nói. “Hầu hết mọi người nhìn lên ngọn đồi và thấy một công ty lớn. Ông ấy thấy thứ gì đó khác. Tokoloshe.

“Toko…?” Amy nói.

“Không có một từ trong tiếng Anh cho nó,” Mondli nói với một tiếng thở dài. “Có lẽ em tin vào một linh hồn? The tokoloshe mang linh hồn đi. Chúng đánh cắp nó, và nó không bao giờ trở lại.”


Chương 20

CHÓ CANH GÁC

DÒNG ĐIỆN HOẠT ĐỘNG

BÁO ĐỘNG! TRÁNH XA!

Dan há hốc trước tấm biển trên cái cổng khóa. Phía sau nó là một lối đi bằng đá vòng qua đám cây bụi. Nó dẫn đến một tòa nhà sáu mặt không có cửa sổ, được xây dựng bằng đá cẩm thạch nhạt dường như đổi màu khi bạn đi qua. Ở một bên, một cái máy lạnh cỡ đại kêu rền rền, và ở trên cửa trước treo một tấm biển với một logo công ty: ĐIỆN TỬ UBUHLALU.

“Ừm, thật vui,” Nellie nói.

“Chị - chị nghĩ Mondli đã đúng,” Amy nói. “Chúng ta có lẽ không nên làm điều này.”

“Chúng ta sẽ vào trong như thế nào?” Nellie nói.

“Chúng ta muốn vào trong à?” Amy hỏi. “Đây có thể là một cuộc săn đuổi ngỗng hoang dã. Ý em là, Churchill đã viết những tọa độ đó hơn một trăm năm trước. Chúng ta không biết liệu Tomas thực sự ở đây. Ra sao nếu họ đã chuyển đi?”

Nellie nghi ngờ liếc nhìn tòa nhà. “Nơi này không trông giống phong cách nhà Tomas,” Nellie nói.

Dan nghĩ một lúc. Churchill đã đưa những tọa độ này cho một manh mối Tomas. Miêu tả của Mondli khiến nó nghe như những người này có thể là Tomas. Nhưng những nhóm người này cũng có thể không thân thiện. “Lẻn vào nơi này nào,” nó gợi ý, vòng tới mặt bên của tòa nhà, “và cẩn thận trong bụi rậm.”

“Tại sao?” Amy nói.

“Nơi này là Nam Phi, chị gái,” Dan đáp. “Quê hương của những con rắn hổ mang. Và không phải những con quyến rũ, như Ian.”

Nó theo tòa nhà đến phía đối diện, nơi một ngọn đồi nghiêng thoai thoải xuống dưới. Kéo dài từ phía sau của tòa nhà là một công trình kim loại xấu xí, gỉ sắt trông như phần còn lại của một nhà kho cũ. Phía trên nó đặt những tấm năng lượng mặt trời bóng màu xanh da trời. Một hàng rào cọc trắng gọn gàng bao quanh nhà kho, kéo dài từ bức tường lớn hơn của tòa nhà xuống đồi. Một người làm vườn trông mệt mỏi đang mở một cánh cửa trong nhà kho. Ông ta cau có, vẫy xua chúng đi. Sau đó biến mất vào bên trong.

“Tái chế xanh,” Amy nhận xét. “Tòa nhà cũ ở cuối, bộ thu thập năng lượng mặt trời ở trên.”

Gắn vào hàng rào là một tấm biển với một tin nhắn bằng những ngôn ngữ khác nhau. Bằng tiếng Anh nó nói KHÔNG ĐƯỢC TIẾN VÀO NGOÀI KHU VỰC NÀY/ NĂNG LƯỢNG THU THẬP.

“Được rồi, là vậy đấy,” Nellie nói. “Chị nói chúng ta trở lại dưới đồi, mua vài ổ bánh mì từ dân địa phương, nói vài câu chuyện đùa về linh dương…”

Nhưng Dan nhìn chằm chằm thứ gì đó. Một cột gỗ thẳng đứng được gắn vào tòa nhà lớn hơn, với một tấm kính chạy suốt chiều dài của nó. Một loạt những cột như vậy, giống như những cây xương rồng rải rác, đã được đặt trong vùng kính giữa cọc hàng rào và bộ thu thập năng lượng mặt trời – giống như phần còn lại của một hàng rào cũ hơn bên trong phần mới hơn. “Amy, chị có đồng tiền nào không?”

Amy lôi ra vài đồng rupiah Indonesia từ túi, đưa cho Dan. Lùi lại, nó ném chúng về phía tòa nhà cũ.

Dzzzit! Dzzzit! Dzzzit! Dzzzit!

Từng đồng xu một, chúng lóe lên và rơi xuống mặt đất, những làn khói mỏng trượt dài.

“Ô-i ch-a-o,” Nellie thở hổn hển. “Em đã làm gì vậy?”

“Nó là một con mắt điện tử vô hình,” Dan nói. “Di vượt qua nó, và chị tan xác. Người làm vườn hẳn bật tắt nó.”

“Làm người ta tan xác để bảo vệ những tấm năng lượng mặt trời à?” Amy nói.

“Đi nào, cùng trả cho những gã này một chuyến viếng thăm.” Dan bắt đầu chạy nhanh lại tới lối vào chính.

Amy bắt kịp Dan trước tấm biển cảnh báo. “‘Chó canh gác… dòng điện hoạt động.’ Ai đi trước?”

“Có lẽ có một cái chuông cửa,” Nelli nói.

“Này, điều này có thể tệ hơn,” Dan nói. “Ít nhất nó không nói…” Ngoài khóe mắt mình, nó nhận ra một chuyển động trơn tuột trong cỏ. “RẮN!”

Amy đảo mắt. “Rất buồn cười.”

“Không, Amy, nhìn kìa!”

“Ghhh… gchhh…” Từ ngữ kẹt lại trong cổ họng Amy. Con bé cảm thấy sức nặng phía trên chiếc giày của nó thậm chí trước khi nhìn xuống. Khi nó nhìn, hai chân nó đang dưới một cơ thể màu xanh đang trườn đi của một con rắn ít nhất dài mét tám. Nó trượt nhanh, đôi mắt nó mở to.

“Mamba,” Dan nói, nhớ lại nó từ lớp khoa học. Rắn là một trong những chủ đề duy nhất giữ nó tỉnh táo ở trường. “Đừng. Di. Chuyển. Miễn là đầu nó gần mặt đất, chị sẽ bình an vô sự.”

Hai tay Amy run run. Gương mặt nó trắng toát. Phần chính của cơ thể con rắn giờ đã trườn qua con bé… cái đuôi… gần biến mất…

THWACK!

Cánh cửa toà nhà bật mở. Amy nhảy lên. Với một tiếng rít giận dữ và một cái mang trên người nó, con rắn ngẩn lên khỏi bãi cỏ. “Dan!” Amy hét lên.

Một người đàn ông lao tới chỗ chúng, đi xuống lối đi lát đá. Ông ta da đen và cao gần hai mét mốt, với một cái bụng phệ làm căng những cái nút của chiếc áo sơ mi đen của ông. Một vết sẹo tách lông mày bên trái của ông ta ra, chạy xuống má đến xương hàm của ông. Ông nhìn chằm chằm chúng với đôi mắt đỏ ngầu. Trong tay phải của ông là một cây súng trường.

Con rắn vươn dậy cao hơn, đôi mắt giờ đang cảnh giác. Khi ông ta tiến lại, nó nhào tới.

Với một chuyển động linh hoạt, người đàn ông cầm một que củi từ mặt đất bằng tay không. Con mamba kẹp chặt răng của nó xuống que củi. Bình tĩnh, người đàn ông ném que củi xuống sườn đồi, con rắn vụt đi với nó.

Ông ta nhìn chằm chằm Dan, Amy và Nellie. Cơn giận dữ trong mặt ông ta đã biến thành sự hoang mang. “Ta có thể giúp gì cho các cô cậu?”

Trên huy hiệu của ông là cái tên A. Bhekisisa.

“Th-thật tuyệt vời,” Dan nói.

Người canh gác mỉm cười. “Cảm ơn. Ta bối rối. Một còi báo động đã kêu. Đó là cháu à?”

“Có lẽ,” Dan nói. “Chúng cháu đại loại là bị lạc.”

“Chúng cháu đang… t-i-ì-m ch-h-a m-e-ẹ của chúng cháu,” Amy lắp bắp.

Dan làu bàu phản đối trong bụng.

Ông Bhekisisa cười. “Ta xin lỗi. Cây súng làm cháu lo lắng. Ta mang nó bởi vì mệnh lệnh. Chúng ta có vài dụng cụ dễ hư hỏng và rất đắt tiền ở đây. Mọi người luôn cố gắng đánh cắp. Vào đi!”

***

Amy ghét nơi này. Nó rộng lớn và sạch sẽ, với sàn nhà được đánh bóng và những bánh xe cao su trượt tới lui. Xung quanh bên ngoài là những phòng ngủ nhỏ nơi những người trông kỳ quặc đang cuộn lên cuộn xuống những bảng tính.

Ông Bhekisisa yêu cầu chúng bỏ hết đồ trong túi ra vì sự an toàn, xin lỗi mọi lúc. Ông đề nghị vứt những vỏ kẹo của Dan đi. Ông nhìn vào những ghi chú được xếp lại riêng rẽ và đồ lưu niệm. Ông nghịch vớ vẩn với iPod của Nellie. Sau đó ông mở ba lô của chúng ta.

Ví của Irina.

Amy đóng băng. Nếu ông ấy nhìn vào trong, ông ây sẽ nghi ngờ điều gì đó.

Nhưng tất cả những điều ông làm là đảo mọi thứ bên trong và đưa trả những chiếc ba lô. “Rất xin lỗi, chúng khá là hoang tưởng ở đây,” ông Bhekisisa nói. “Vậy. Cha mẹ các cháu ở đâu?”

“Chúng cháu, ừm, ban sớm,” Dan thốt lên. “Họ nên ở đây trong một giờ gì đó.”

“Vậy thì ta sẽ đưa các cháu lại tua,” ông Bhekisisa nói.

Khi ông ấy đi trước, Dan lẩm bẩm, “Những con mắt điện tử giết người, vì điều này ư?”

“Chị nghĩ chị biết sangoma nghĩa là gì,” Nellie nói. “Nơi này hẳn mang linh hồn của em đi mất. Khiếp quá.”

Amy vượt qua một bức tường được xếp bởi những thùng các-tông che đi một phần một cánh cửa được đánh dầu với một tấm biển nhỏ:

PHÓNG XẠ: CHỈ NHỮNG NGƯỜI CÓ THẨM QUYỀN

Đôi mắt nó dừng lại. Cánh cửa dẫn đến đâu? Con bé lên một bản đồ của căn phòng bằng tâm trí. Khu vực lưu trữ năng lượng mặt trời. Nhà kho cũ. Cánh cửa ở tại vị trí nơi của những tòa nhà bên ngoài. Con bé kiểm tra tấm biển. Phóng xạ.

Điều đó thật lạ. Năng lượng mặt trời không phải là phóng xạ.

Lại một lần nữa, năng lượng mặt trời không thường được bảo vệ bởi một hàng rào vô hình điện thế cao.

Con bé rón rén lại gần hơn. Cánh cửa có một ô nhỏ hình chữ nhật, phát sáng, gần chốt cửa. Theo linh cảm, con bé lôi ví của Irina từ ba lô của mình. Con bé lướt qua những chứng minh nhựa đén khi nó gặp tấm thẻ của Reagan Holt. Cẩn thận, con bé giơ nó lên cái ô nhỏ.

Một màn hình LED nhỏ sáng lên:

HOLT, R.

HÃY ĐẶT NGÓN TAY LÊN MÀN HÌNH CẢM ỨNG