Ổ rắn độc - Chương 17 - 18

Chương 17

“Em mất trí à?”

Dan quay lại. Trong ánh mặt trời đang lặn, nó thấy bóng Nellie. Với phong cách tóc hiện tại của mình, cô nàng trông giống như một một con khủng long stegosaurus[1] nhỏ cưỡi trên một cơ thể con người. “Anh ta đã nháy mắt,” Dan nói. “Có nghĩa là làm điều này sẽ không sao.”

“Em bị mất trí rồi,” Nellie nói. “Cậu ta nháy mắt bởi vì cậu ta thích chị em. Amy bị một kẻ độc ác nghiện cờ của Nam Phi bắt giữ.”

Dan nhìn qua vai cô nàng. Qua cánh cửa sổ nó có thể thấy ông già đang nói chuyện, sửa chữa thứ gì đó trên một bếp lò, trong khi Amy và Kurt ngồi chơi cờ. Khi họ không nhìn vào bàn cờ, họ lén lút liếc nhìn nhau.

“Họ hoàn hảo bên nhau,” Dan nói. “Và anh ta đang cường điệu về hầm mỏ này. Những gã này đều lo lắng về vấn đề này vì những lý do bảo hiểm.”

“Thậm chí em có hiểu điều đó nghĩa là gì không?” Nellie hỏi.

“Không,” Dan nói. “Nhưng này, nó đã ở đây từ thế kỉ mười chín, đúng chứ?”

Nellie suy nghĩ một lúc. Sau đó cô nàng với quanh, mở khóa ba lô của mình, và lôi ra một cái đèn pin. “Cầm lấy cái này. Nếu chị nghe thấy một viên sỏi nào rơi xuống, chị sẽ kéo em lên vì những lý do an toàn. Xuống hầm thật nhanh. Đừng có ngã. Nếu em tìm thấy thứ gì đó viết trên tường, chị sẽ giúp em viết nó ra. Nếu em không tìm thấy, thì thôi. Chúng ta rời khỏi đây. Hiểu chưa?”

Dan tóm lấy cái đèn pin. “Chị thật tuyệt vời.”

“Chị biết. Giờ nhanh lên.”

Dan chạy về phía cái lều và lao ra phía sau. Ở giữa chỗ được rào chắn là một cái hố lớn với đầu của một cái thang dây sờn đóng vào mép. Nó nuốt ực. “Cái thang này trông hơi cổ điển.”

Nellie nhìn săm soi. “Được rồi, phương án B. Em cúi xuống và xem. Vậy đấy. Chị sẽ giữ chân em. Nhanh lên!”

“Đúng.” Trong một lúc Dan đông cứng. Lần cuối cùng nó ở trong một hầm mỏ, ở Coober Pedy, Úc, nó đã chạm trán những con nhện độc và một con rắn chết người. Không nhắc đến bệnh hen suyễn. Mày không thực sự vào trong, nó tự nói với mình. Chỉ cúi xuống một chút.

Nuốt ực một cách khó khăn, Dan bò bằng cả hai tay và hai đầu gối trên mép hố. Nó có thể cảm thấy hai bàn tay Nellie đang giữ chặt hai mắt cá chân của mình khi nó bật đèn pin.

Cái hố rộng đủ cho một người. Những bức tường trơn bóng, như thể được đánh véc-ni. Cái thang dây rũ xuống, biến mất vào hư vô và đu đưa chậm rãi bởi cơn gió vô hình nào đó. Một mùi hôi thối, cay xè thoang thoảng dâng lên.

Chỗ ẩn náu hôi thối của tôi ở những hầm mỏ Witbank… Churchill đã viết.

“Em thấy gì?” Nellie rít. “Giữ chặt,” Dan nói.

Bức tường đá thô ráp và lỗ chỗ, và một vết nứt lởm chởm chạy xuống phía đối diện. Dan nghĩ nó có thể phát hiện ra chữ viết nào đó, nhưng đó chỉ là chỗ tích tụ của đất đá trên một mép hẹp.

“Chị nghe thấy gì đó!” Nellie nói. “Làm nhanh lên!”

Nada[2].

Dan thở ra. Quá tối, quá nhiều áp lực. “Beam me up, Scotty[3],” nó nói.

Những lời đó kẹt lại trong miệng nó. Đèn pin của nó giờ bị xoay vào bên trong, soi sáng bức tường ngay dưới nó.

Và ở đó, được khắc cẩn thận vào đá ngay dưới nó tầm một mét hai, là vài dòng chữ. “Đợi đã! Em tìm ra rồi!” Dan kêu lên. “Hạ em xuống thấp hơn một chút! Em thấy thứ gì đó!”

Nellie dịch dần tới. Dan chìm xuống thấp hơn vào hầm mỏ. Đá sỏi lung lay từ trên mép và trút xuống hố – rơi vào im lặng. Dan không bao giờ nghe thấy chúng chạm đáy.

Dan liếc mắt, với cái đèn pin xuống các chữ viết trên tường. Quá khó để đọc được.

Một vật chà xát. Cái đó sẽ làm điều phải làm.

“Kéo em lên!” Dan nói.

Trong một lát, Dan đã ở ngoài mép của cái hố. “Được rồi, Nellie, em cần xuống lại, lần này với một tờ giấy và bút chì. Có chữ viết dưới đó, và em có thể lấy được bằng cách chà xát nó.”

“Giờ thì chị biết em đang điên,” cô nàng nói.

“Chiếu!” Giọng Amy vang lại từ cái lều, theo bởi một tiếng cười từ ông già và một tiếng rên rỉ khôi hài từ Kurt.

“Chúng ta có thêm vài phút,” Dan nói. “Anh ta sẽ yêu cầu tái đấu.”

“Sao em biết?”

“Đó là vấn đề nam nhi!”

Nellie thở dài. Lục lọi trong ba lô của Dan, cô nàng lôi ra một cây bút chì và một cuốn sổ, xé ra một tờ giấy. “Được rồi, nhưng nhanh lên.”

Điều động ánh sáng, bút chì, và giấy sẽ không dễ dàng gì. “Em sẽ cần thêm dự phòng,” nó nói. “Trong trường hợp em đánh rơi thứ gì đó.”

Với một cái nhìn cáu tiết, Nellie xé thêm vài tờ giấy và tìm thấy hai cây bút chì khác. Dan nhét chúng vào túi quần của mình và nắm chặt bản chính.

Siết chặt đèn pin trong miệng nó, nó nói. “Ược ồi, i ôi!”

Dan nằm dài sấp người trên mép hố. Nó cảm thấy một cơn rùng mình và nghe thấy âm thanh của những viên sỏi trượt xuống bức tường bên dưới nó. Nó di chuyển sang trái, đến khi nó nắm chặt thứ gì đó có cảm giác như đá rắn.

“Ââyyy!” Dan nói, dịch qua mép hố.

“Chỉ một phút, nhóc, em có thứ gì đó dính dính trong ba lô của em,” Nellie nói. “Chị đang tống khứ nó ra khỏi –”

Đột nhiên, mặt đất phía dưới Dan đất đen ồ ạt đổ xuống. Nó cảm thấy bản thân mình đột ngột rơi. Và khi nó đang lao vút xuống vào trong bóng tối, miệng nó mở ra trong một tiếng kêu im lặng.

***

“BẮT ĐƯỢC RỒI!”

“YAAAGH!” Dan nghĩ chân trái nó đang bị kéo ra khỏi cái hốc của nó. Nó đang bị treo, với tay của Nellie siết chặt quanh mắt cá chân nó.

Hai cánh tay nó khua. Bút và giấy rơi. Cái đèn pin bị ném đi, phóng ra một ánh sáng ngắn, lộn xộn chiếu quanh nó.

“Chị đang kéo em lên!” Nellie gọi.

Dan theo bản năng ấn hai bàn tay mình vào bức tường, tìm kiếm một rễ cây, thứ gì đó để hỗ trợ nó, chỉ đề phòng.

Bức tường ở đây đặc, được lấp đầy với những vết nứt nhỏ.

Không. Không phải những vết nứt.

Những vết chạm khắc.

“Em tìm thấy rồi!” Dan nói. “Em thấy tin nhắn rồi!”

“Em nặng quá!” Nellie phàn nàn.

“Một phút, Nellie! Chỉ một phút!”

Nhanh chóng, nó lôi ra giấy và bút thay thế từ túi mình. Nó đặt tờ giấy trên nó và bắt đầu phác họa.

Khi nó khá chắc mình đã hoàn thành, nó gấp tờ giấy và nhét nó lại vào túi mình. “Được rồi – bây giờ!

“Arrgghhh…” Nellie kéo. Dan cảm thấy bản thân nó bắt đầu đi lên. Từ từ.

Nó cảm thấy điếng người. Đất đổ xuống quanh nó, bám vào tóc nó, trượt vào ống quần lộn ngược của nó. “Kéo mạnh lên!” nó hét. “Nó đang sập!”

“Chị đang kéo hết sức!”

Giờ Dan có thể nghe thấy một sự rung chuyển. Những giọng nói khác – của Amy, Kurt, ông già.

Nó cảm thấy bản thân đang dần dần đi lên. Nó cố gắng tóm vào bức tường, nhưng nó đang trượt khỏi dưới những ngón tay nó bất cứ chỗ nào nó chạm tới, trượt xuống trong thác đất.

“Yeee-ahhh!” giọng của Kurt tới – và Dan đang lên khỏi miệng hầm, ho.

“Hhhhh… hhhh…” Hơi thở của nó lên cơn khò khè, âm thanh mỏng như giấy vang lên trong màn đêm.

“Đem thằng bé vào trong!” giọng ông già nói.

Bệnh hen suyễn. Thỉnh thoảng, trong những trường hợp khẩn cấp, adrenaline tăng lên và ngăn ngừa các triệu chứng. Cái cách mà nó đã xảy ra ở Seoul. Nhưng bệnh hen suyễn không dự đoán được. Và giờ nó cảm thấy như thể ai đó đã nhét một miếng vải vào mũi và miệng nó.

Nó cảm thấy bản thân mình được đưa vào trong và đặt xuống trên một chiếc sofa. “Nhai cái này,” Kurt nói, đưa nó một vật có dạng ống, như xương rồng, vỡ ra giải phóng một chất lỏng màu trắng.

Nó có vị nhạt và bùn. Lúc đầu Dan đầu bịt miệng để buộc mình nuốt. Amy ngồi bên cạnh nó đến khi nó hít thở dễ dàng trở lại.

sau đó con bé kinh hãi.

“Sao em có thể làm điều đó?” nó nói, sau đó nhìn chằm chằm Nellie. “Và chị – chị nên trông nom bọn em, chứ không khuyến thích những ý tưởng ngu ngốc của Dan!”

“Nhưng –” Dan nói lắp bắp.

Amy không để nó nói một lời. “Em không hiểu à? Chúng ta là tất cả những gì chúng ta có, Dan! Chỉ em và chị!”

“Em – em đã tìm được tin nhắn của Churchill!” nói nói.

“Cậu ?” Kurt nói.

“Em ?” Amy lặp lại.

Dan với tới túi sau và lấy ra tấm giấy chà xát. “Nó ở trên bức tường của hầm mỏ!”

“Hầm mỏ,” Kurt nói. “Bây giờ là một cái hố sụt đá và đất.”

“Một cái hố sụt!” Amy lặp lại.

Kurt nhấc một cái đèn pin lớn từ mép cửa sổ và chiếu nó qua phần đất lún.

“Em – em sẽ bị chôn vùi trong đó à?” Dan nói.

“Đừng nghĩ về điều đó, anh bạn,” Kurt nói. “Cùng xem nào.”

Dan liếc nhìn chị gái nó. “Chị sẽ không định lặp lại điều bạn trai mới của chị nói chứ?” Trước khi con bé có thể phản ứng lại, nó trải mảnh giấy cọ xát trên tường của nó lên bàn:

Dan nhìn chằm chằm nó trong im lặng, đọc đi đọc lại. “WLSC…” Kurt nói.

“Winston Leonard Spencer-Churchill!” Amy bổ sung.

“Các anh chị tạo nên một đội tuyệt vời,” Dan nhận xét. Lại một lần nữa, Amy đỏ mặt.

Ông già đang cười rạng rỡ. “Cháu thấy cái đó chứ! Chúng ta chẳng bao giờ biết ông ấy đã giấu nó trong hầm mỏ đó!

“Ừm, một vài người chúng ta đã,” Kurt lẩm bẩm. “Nhưng… văn bản này có nghĩa gì? Nó hoàn toàn ngớ ngẩn. Giống như sự say mê của một gã điên.”

“Từ ngữ,” Nellie đồng ý. “Gã này đã phải im miệng hàng tuần trong một hầm mỏ. Ai không bực bội một chút chứ?”

Kurt cười lớn. “‘Chúng tôi đã đánh một con cá mập’?”

Churchill bực bội. Gã điên. Sự say mê ngớ ngẩn.

Dan làm điều đúng đắn duy nhất.

“Phải, anh đúng,” nó nói, cầm tờ giấy lên. “Hoàn toàn vô nghĩa. Hãy quên việc mọi người chúng ta từng thấy nó.”

Khi Amy và Nellie nhìn chằm chằm, há miệng, nó xé tin nhắn bí mật thành những mảnh nhỏ.

***

Chú thích:

[1] Stegosaurus là một chi khủng long phiến sừng thuộc cận bộ Stegosauria, sống từ Jura muộn ở miền Tây Bắc Mỹ ngày nay. Loài khủng long dài 9 mét này có hai bộ não lớn bằng quả táo. Một ở trên đầu và một nằm ở phần chính của đuôi.

[2] Tiếng Tây Ban Nha, nghĩa là không có gì.

[3] Câu nói đến từ series phim Star Trek có nghĩa là Đưa em ra khỏi đây.


Chương 18

Amy không thể tin điều đó.

Có điều gì đó đã xảy ra giữa nó và Kurt. Con bé thực sự không thể giải thích điều đó. Phải, chúng đã chơi cờ. Nhưng đã có nhiều hơn thế. Giống như tất cả các giác quan của nó đã đột nhiên được cắm phích.

Lần đầu tiên trong nhiều tuần, nó đã có thể nghĩ về thứ gì đó khác cuộc săn tìm.

Sau đó, chỉ như là, nó phải đi.

Chỉ có đủ thời gian cho một lời tạm biệt.

“Chúc may mắn,” Kurt đã nói với nó.

Nhưng tất cả nó cảm nhận được là sự không may của khoảnh khắc.

Và sau đó có việc hủy hoại tin nhắn Churchill của Dan.

“Sao em có thể làm thế?” nó hỏi khi Nellie đưa chúng đi khỏi mỏ Witbank… và Kurt.

Em trai nó nhìn nó hoài nghi. “Thôi nào, Amy. Chị không nghĩ rằng chỉ bởi vì em xé nó đi –”

“Chị biết, chị biết, em đã nhớ nó!” Amy nói. “Đó là Chương trình Thể dục Tâm trí Dan Cahill. Nhưng đó không phải là lý do! Sao em có thể làm trò liều lĩnh ngu ngốc không thể tin được đó trong hầm mỏ? Em có thể đã chết! Một lần nữa!”

“Em đã tìm thấy thứ mà không ai khác đã tìm được trong hàng trăm năm,” Dan nói, “vậy có lẽ chị nói, như là, cảm ơn?”

“Thằng bé cũng lừa hai người kia nghĩ rằng tờ giấy không có nghĩa gì,” Nellie nói.

“Chị cũng chỉ xấu xa như nó!” Amy phản lại.

Dan giơ một ngón tay ra. “Winston Churchill từng nói, ‘Trong thời gian chiến tranh, sự thật đáng giá đến nỗi nó phải luôn được chăm sóc bởi một đội bảo vệ những lời nói dối.’”

“Sao em biết điều đó?” Amy hỏi.

“Nó ở ngay đó, trên trang mà cuốn sách của chị mở,” Dan nói, chỉ về cuốn tiểu sử trên ghế xe. “Churchill là về tất cả những tin nhắn bị ẩn giấu đi. Ông làm việc với những nội gián. Em đã nhốt nhóc này vào đầu em rồi, chị gái.”

Trên trang trống khác mà Nellie đã đưa cho nó nó viết ra thứ mà nó đã tìm thấy trong hầm mỏ:

AM LOST,

TIRED, GONE IN,

DRIVEN NOUGHT.

WE HIT

A SHARK

– O CONFUSED LETTERS

FLEE, LOVER, FROM THESE LINES!

WLSC -29.086341/ 31.32817

“Churchill không hề điên khùng,” Dan nói. “Và ông ấy không say xỉn. Em cá tất cả những thứ này có nghĩa gì đó.”

Amy nhìn chằm chằm các từ. “‘Chúng tôi đã đánh một con cá mập’?”

“Chị sẽ mua cái kịch bản ngớ ngẩn,” Nellie nói.

“Được rồi, được rồi, nó nghe hơi lạ lùng, nhưng hãy nghĩ đi,” Dan nói. “Đó không phải là điều chị làm khi chị bị một con cá mập tấn công – đập vào mũi nó ư?”

“Churchill chỉ vừa thoát khỏi nhà tù, đúng chứ?” Nellie nói. “Vì vậy nó là biểu hiện người Anh gì đó cho chiến thắng. Giống như, ‘Hô hô, chúng ta thực sự đánh một con cá mập ở đó, phải không, ông tướng?’ Rất Kabra, em không nghĩ vậy à?”

“Dan?” Amy nói. “Nhớ mật mã chúng ta đã phải giải ở chỗ của chú Alistair, để mở cửa sập ở sân sau của ông ấy chứ? Nơi mà gợi ý thực sự là một trò chơi với các từ? Điều gì nếu cái này thực sự là hai phần – phần trên là mật mã, và phần dưới là hướng dẫn để giải mã nó?”

“Hmm…” Dan nhìn vào dòng cuối cùng của tin nhắn. “Vậy, “O những chữ cái lộn xộn’ sẽ là phần của gợi ý.”

“Phải, và ‘lộn xộn’ có thể là một mật mã cho ‘bị làm rối lên.’ Những chữ cái bị làm rối lên có nghĩa là một phép đảo chữ,” Any nói. “Và ‘flee’ (bỏ đi) – nó có cùng nghĩa với ‘leave’ trong câu đố của chú Alistair. Em phải lấy gì đó đi, như là một chữ cái hay từ…”

“Lover (Người yêu)!” Dan nói. “Là nó. Ông ấy không có ý là người yêu thực sự. Ông ấy có ý là từ l-o-v-e-r! Và ‘từ những dòng này’ – năm chữ cái, năm dòng! – đợi đã, em nghĩ em biết…”

AM LOST, - L = AMOST

TIRED, GONE IN, - O = TIRENDGNEIN

DRIVEN NOUGHT. - V = DRIENNOUGHT

WE HIT - E = WHIT

A SHARK - R = ASHAK

Dan gõ đầu. “Agggh, nó là tiếng Hà Lan.”

“Chị không nghĩ vậy,” Amy nói. “Churchill là một người Anh, không phải Boer. Vì vậy giờ chúng ta phục hồi trật tự các từ. Được rồi, từ cuối cùng thứ hai đơn giản – with.”

“Shaka!” Dan thốt ra. “Đó là từ cuối cùng! Vậy những từ cuối là with Shaka! Được rồi, em sẽ hiểu phần còn lại của nó trong hai phút. Tính giờ cho em. Tới nào.”

Nhưng Amy đang nhìn chằm chằm vào từ đầu tiên rồi. “Dan, chị nghĩ chúng ta vớ bở rồi.”

Gương mặt Dan sáng lên, cái cách nó sáng lên bất cứ khi nào siêu thị trữ kem Red Sox. Chậm chạp, nó tấn công câu đố và không dừng lại đến khi nó hoàn thành:

AMOST = TOMAS

TIREDGNEIN = INGREDIENT

DRENNOUGHT = IN THE GROUND

WHIT = WITH

ASHAK = SHAKA

“Tomas ingredient in the ground with Shaka (Thành phần Tomas ở trong đất với Shaka)!” Dan thốt lên.

“Đó là ba phút bảy giây,” Nellie nhận xét.

“Ông ấy đã biết!” Amy nói. “Churchill đã biết vị trí của manh mối Tomas!”

“Ông ấy hẳn đã tìm ra trong khi ở tù,” Dan nói. “Hoặc có lẽ có một Cahill điều hành mỏ.”

“Vậy… manh mối hẳn được chôn với xác của Shaka,” Amy nói.

Giờ chúng ta đang nói chuyện!” Dan trả lời.

“Ôi,” Nellie gọi từ ghế trước. “Chúng ta phải đào một cơ thể lên?”

“Dan?” Amy hỏi. “Shaka được chôn ở đâu?”

Dan lôi cuốn sách Shaka của nó ra và đọc lướt tới cuối. “Ừm, không ai chắc chắn một trăm phần trăm. Nhưng truyền thuyết nói là ông ấy đã bị giết ở một nơi gọi là Durban, nó ở tỉnh KwaZulu-Natal.”

“Nó ở, ừm, ở đâu?” Nellie nói.

“Đi qua tỉnh Mpumalanga,” Dan đáp.

“Cảm ơn rất nhiều.”

Nhưng Dan đang nhìn vào dòng cuối của tờ mật mã. “Một điều thôi. Những con số xổ số này thì sao?”

Amy nhìn sát chúng. “Chúng trông như tọa độ kinh độ/vĩ độ. Chúng ta có thể tìm ra nó ở đâu không?”

Dan bắt đầu nghịch vớ vẩn với GPS. “Có Carlos, sẽ di chuyển.”

***

Điện thoại reo ngay khi giáo khi Robert Bardsley đang nghe đoạn cuối của bản giao hưởng của Mahler “Resurrection”. “Ôi, Winifred thân yêu?” ông nói, lau đi một giọt nước mắt khi ông cầm ống nghe lên. “Bà đã bắt được tôi trong lúc xúc động.”

Khi ông nghe giọng nói ở đầu bên kia, những giọt nước mắt của ông ráo hoảnh. Ông tắt nhạc. “Bà đã gặp ai? Phải, tôi biết bà ấy có cháu ngoại – bao nhiêu tuổi? – thật tuyệt. Buồn làm sao việc bà ấy đã ra đi. Vậy bà đã cho chúng xem bức thư của Churchill à? Aha… phải, tôi cũng không biết tại sao phải giữ bí mật. Đúng hơn là một bài thơ tình nhạt nhẽo, nếu bà hỏi tôi. Ồ, tôi chắc chúng là những đứa trẻ xuất sắc. Pah, không phải lo lắng, việc sao lãnh để đưa chúng thông tin liên lạc của tôi ổn cả. Tại sao chúng muốn gặp một viện sĩ già nhàm chán như tôi chứ? Cảm ơn vì cuộc gọi… phải đó tiệc trà, có lẽ khi tôi ở Joburg vào tháng Bảy. Phải, chúc ngủ ngon.”

Treo điện thoại lên, giáo sư Bardsley gói lại vài đĩa CD, một cái kính thiên văn, một ống sáo chỉnh âm điệu, và một bộ kính hồng ngoại trong một túi vải và nhìn ra cửa trước. Đường phố vắng vẻ, như ông có thể thấy. Nhưng ông sẽ cần cảnh giác.

Ông cúi vào lại, gọi một số, và gặp giọng thư thoại. “Xin chào, Nsizwa, Bardsley đây. Tôi sẽ cần anh tiếp quản buổi diễn tập sáng mai, bởi vì tôi bị gọi đi cả ngày.” Ngừng lại một lúc, ông thêm vào, “Hãy nghĩ về điều đó, tôi sẽ cần nhóm. Anh sẽ sớm nghe từ tôi…”

Trên đường rời khỏi, ông cầm lên một chiếc mũ mềm trên đầu tủ quần áo của mình, và một con dao đi săn.