Ổ rắn độc - Chương 05 - 06 - 07

Chương 5

Alistair Oh chẳng có vấn đề gì với vòng đeo tay bằng đồng thau, nhưng còng đeo tay lại để lại những dấu hiệu xấu xí trên da người ta.

Khi xe cảnh sát xóc nảy trên đường về phía tây của Jakarta, lão cẩn thận điều chỉnh cái còng kim loại vì thế nó đã nằm trên cổ tay chiếc áo vải bông Ai Cập của lão. Điều này hồ như là một sự phân tâm tốt khỏi đống hỗn loạn trong bộ não của lão. Chẳng có gì có lý nữa – làm sao Irina Spasky có thể chết? Tại sao cô ta lại cứu lão và bọn trẻ?

Lão chỉ có thể nhìn chằm chằm không tin được. Lão từng là một kẻ hèn nhát, chỉ như lão bảy năm trước… Đừng nghĩ về điều đó ngay bây giờ.

Lão phải giữ đầu óc mình thông suốt. Có nhiều vấn đề cấp bách hơn.

Chiếc xe bật lên trên một ổ gà, và Alistair nghe thấy một tiếng càu nhàu từ phía trước. Từ kẻ đã mưu hại lão. Người mà lão đã ngớ ngẩn cho rằng sẽ là Isabel Kabra.

Từ trước ghế ngồi hành khách, một gương mặt ông già hốc hác quen thuộc xoay lại một cách khó khăn. “Cháu đang trải nghiệm nỗi bực mình à, Alistair? Cháu dĩ nhiên trông ổn đối với người đã chết ở công viên Pukhansan.”

Những lời của Bae Oh cắt qua Alistair như một lưỡi dao rỉ sét. Lão nhìn chằm chằm ông chú của mình, cố gắng khám phá ra một chút cảm xúc trong đôi mắt lam pha xám.

Khi còn là một đứa nhỏ, Alistair đã sợ Bae, từ cái ngày ông ta nhận giám hộ lão. Điều này xảy ra ngay lập tức sau vụ Gordon Oh, cha của Alistair, bị giết chết một cách bí ẩn.

Bae đã ở vị trí thứ hai hội đồng lãnh đạo của chi Ekaterina. Tất cả những thứ nằm ngáng đường ông ta là người anh trai Gordon. Tại đám tang của Gordon, Bae xuất hiện khóc nức nở. Alistair chỉ mới năm tuổi, nhưng lão không bao giờ quên đã nhìn chằm chằm vào má ông chú mình và thấy chúng ráo hoảnh.

Sự khóc than vô tội. Tội lỗi giả vờ.

“Cháu thật khen ngợi chú, chú à, về khả năng diễn của chú,” Alistair nói. “Chúng đã tiến bộ kể từ khi cháu là một thằng bé. Chú đã thuyết phục cảnh sát là cháu gây ra trận hỏa hoạn à?”

“Ta thất bại trong việc thấu hiểu sự chống đối của cháu với ta, Alistair,” Bae nói. “Cháu biết, ta có một trái tim mà. Cáo phó của cháu trong những tờ tạp chí Seoul đã chuyển đến cho ta, và ta vui mừng khi ta biết cháu còn sống. Thậm chí sau màn kịch nho nhỏ đó trong văn phòng của ta, điều mà ta phải bổ sung là khá khó hiểu. Cháu có nhận ra rằng mình đang bất công với ta?”

“Một lời tuyên bố thú vị, với tôi ở đây trong ghế sau của một chiếc xe cảnh sát,” Alistair nói.

“Điều quan trọng trước,” Bae nói. “Có lẽ cháu sẽ nói ta biết làm sao cháu sống sót trong vụ sập hang.”

“Cuộc sống hẳn vẫn có vài điều bí ẩn của nó, chú không nghĩ vậy à?” Alistair nói. “Chú cũng chắc chắn có.”

Bae thở dài. “Ta đã cố gắng toàn bộ đời mình để rèn giũa cháu, Alistair. Cháu có rất nhiều tiềm năng. Ta đã nghĩ chúng ta có thể chia sẻ nhiệm vụ lãnh đạo Ekat – ta là trưởng chi, cháu là người kế vị của ta. Tại sao cháu không bao giờ nhận lấy trách nhiệm. Dành thời gian với những đứa trẻ Mỹ hèn mạt. Ta đã không dạy cháu được điều gì à, con trai ta?”

“Tôi không phải con trai chú,” Alistair nói qua hàm răng nghiến chặt. “Tôi là con trai của Gordon Oh.”

Bae cúi đầu. “Gordon, Gordon thân yêu…”

Nói với ông ta, Alistair nghĩ. Đương đầu với ông ta ngay bây giờ.

Tại sao quá khó để đối mặt với Bae? Alistair đã có cơ hội sau vụ sập hang. Lão đã lẻn vào văn phòng của Bae, dọa thư ký của ông bỏ đi.

Mình đã có chỉ một mình ông ta, nhưng mình lại bỏ đi. Mình đã không làm gì.

Ông. Ta. Không. Thể. Làm. Mình. Sợ. Nữa.

Alistair hít một hơi thở sâu. “Tôi đã tìm thấy lá thư,” lão nói điềm tĩnh. “Ông đã viết nó trên đồ dùng văn phòng Oh vào năm 1948. Một bức thư liên quan đến việc chi trả cho việc giết cha.”

Đôi mắt Bae mở to. “Đó là một khoản chi trả cho việc lái xe!

“Năm ngàn đô-la để lái qua thị trấn – ngay đúng ngày cha bị giết?” Alistair nói. “Với mệnh lệnh ‘tiêu hủy bức thư này ngay lập tức’?”

“Đó là một khoản thanh toán một lần cho công ty limo cho vài tháng phục vụ. Và cho cháu biết thêm, chúng ta có thói quen tiêu hủy tất cả thư từ của chúng ta!” Bae sốc nhìn chằm chằm người cháu trai, chầm chậm lắc đầu. “Thành thật, Alistair, cháu đã làm ta ngạc nhiên.”

Alistair, cháu làm ta ngạc nhiên… Alistair, cháu làm ta thất vọng…

Alistair, làm sao cháu có thể bị trục xuất khỏi đại học… MỘT LẦN NỮA?

Alistair giũ bỏ những ký ức dường như không bao giờ phai mờ đi, dù cho lão già như thế nào. Lão lại đang để Bae bước vào tâm hồn mình. Lão ta sẽ nói dối trước mặt mi vì lão biết mi sẽ mất bình tĩnh, Alistair tự bảo mình. Và sau đó, lại một lần nữa, lão sẽ sở hữu mi.

Alistair bắt gặp cái liếc qua của chú lão. “Sao tôi có thể tin tưởng ai đó nói dối với cảnh sát về chính đứa cháu của mình?” lão nói. “Ông biết là tôi không gây hỏa hoạn, và ông sẽ không bao giờ biến lời buộc tội đó hiệu quả được đâu.”

Mở chiếc áo khoác ngoài, Bae vỗ nhẹ một chiếc ví da dày lòi ra từ một túi trong. “Ta có những cách ảnh hưởng đến điều gì hiệu quả và điều gì không. Và ta có thể được thuyết phục để sự dụng sự ảnh hưởng đó cho lợi ích của cháu.”

Alistair cười. “Nói dối và mua chuộc, như thường lệ -”

“Không giống cháu, Alistair. Ta trân trọng sự thật,” Bae nói. “Cháu là một Ekaterina. Tuy nhiên cháu lại giấu sự thật với ta, người bảo vệ xưa kia và trưởng chi của cháu. Tất cả cháu cần làm là trao ra thứ cháu nợ ta – sự thật về điều đã xảy ra trên hòn đảo đó, và tất cả điều mà cháu đã biết về những khám phá của Robert Cahill Henderson.”

“Tôi… sẽ… không bao giờ…”

“Coi chừng huyết áp đấy, con trai ta,” Bae nói. “Những năm tháng của cháu là một ông trùm thức ăn-rác rưởi thất bại đã gây thiệt hại. Quá nhiều burrito pho-mát làm cho trái tim yếu đi.”

Alistair nhắm mắt một lúc và nhớ lại điều mà cha lão đã nói với lão, một cụm từ lão không bao giờ hiểu được khi là một đứa nhỏ: Im lặng là sức mạnh. Lão thở sâu và sau đó bình tĩnh nhìn chằm chằm Bae Oh. “Vậy?” Bae hỏi.

Alistair đột nhiên lảo đảo lùi lại trên ghế. Cơ thể lão co giật một lần, hai lần. Lão thở hổn hển để lấy không khí, vùng vẫy dữ dội, kéo mạnh cánh tay bị cảnh sát còng.

Chiếc xe giờ đã đổi hướng, tiến về bên vệ đường. Bánh xe rít lên. Khi cảnh sát ghế sau vẫn cố gắng giữ Alistair, lái xe lạng quanh.

“Tiếp tục chạy đi!” Bae hét lên. “Chúng ta không có thời gian!”

“ARGGHH… GLLLLLLURRRRGHH!” Alistair lắp bắp. Với một cú xóc nãy lên dữ dội của cơ thể trên của lão, lão cảm thấy đầu mình đụng phải mui xe và sau đó đổ sụp xuống, vô hồn, trên ghế sau.

Chương 6

Nấm mốc. Giấy mục nát. Amy mỉm cười. Không có gì làm say sưa hơn mùi thơm của những cuốn sách cũ.

Trong một phòng thư viện nhỏ có máy lạnh nhỏ ở Java, con bé đặt xuống một chồng sách âm nhạc từ kho lưu trữ thư viện. Những cuốn sách nặng trịch, và chúng tạo một tiếng thịch thoải mái trên bàn của nó. Ba lô của Amy nằm trên một vũng nước nhỏ trên sàn, và một thủ thư trẻ tuổi vội vàng chạy lại với một cái khăn để bảo vệ những chiếc ghế vải khỏi quần áo ẩm ướt của Amy. Cô ta cau mày, khiển trách Amy một cách nhỏ nhẹ bằng tiếng Indonesia.

“Cảm ơn,” Amy nói. “Xi-in lỗi.”

Ngượng ngùng, con bé tập trung vào những cuốn sách, mở cuốn sách trên cùng trước tiên: Glees, Shanties (Bài hò), Fight Songs (Những bài ca chiến đấu), Madrigals (Nhạc thơ Madigan), and Motets (Thánh ca). Ngay bên trong bìa là một con dấu – cuốn sách đã được tặng bởi một sinh viên tốt nghiệp Harvard ở địa phương.

Khi con bé mở cuốn sách, nó nghe thấy tiếng lộn xộn gần cửa. Thủ thư và Nellie đang đuổi theo Saladin vòng quanh căn phòng. Dan lỉnh phía sau họ. Nó nhún vai. “Xiiiiiiiin lỗi… Em đem nó ra để dùng bữa tối và tắm rửa. Bây giờ nó nô đùa.”

“Bắt được rồi!” Nellie nói, vồ lấy vòng cổ Saladin.

Khi Nellie lỉnh ra ngoài, Amy quay sang em trai nó. “Saladin đang cảm thấy thế nào?”

“Giận dữ,” Dan nói. “Sau khi tắm, bọn em đã tìm được một tiệm cà phê Internet. Em đã kiểm tra một email cho những thứ yêu thích của mèo Mau. Rõ tiếc, không có cá hồng ở vùng này. Nó phải ăn cá ngừ.”

Nhưng Amy không nghe lấy một từ. Con bé quá bận rộn nhìn chằm chằm vào một tựa đề bài hát ở trang 47.

***

Cách xa ít hơn vài trăm dặm, trên một con đường quốc lộ ngoài sân bay, Bae Oh quan sát cháu trai mình khổ sở với cơn đau tim.

“Eccckkk… Ch… Chú…” Alistair kêu lên.

Người lái xe đang quỳ lên Alistair, khẩn cấp nói chuyện qua điện thoại di động trong khi vẫn cố gắng giữ cháu trai của ông ta. Người sĩ quan đã còng tay mình với tay Alistair đang lóng ngóng với những chiếc chìa khóa để mở còng.

“Ôi trời, mọi người, làm gì đó đi!” Bae hét.

Alistair vươn hai bàn tay run rẩy. Lão đang nôn ọe, cơ thể lão vặn vẹo. Nhìn thấy lão như thế này làm Bae sốc. Alistair đã luôn luôn khoác lên người thái độ chững chạc. Lão đã sống sót qua những chất độc chết người và những trận đổ nát nghiêm trọng mà không mất một sợi tóc.

Thật mỉa mai làm sao khi chính trái tim của lão lại giết chết lão.

Và không có gì chứng minh điều đó, Bae nghĩ, ngoài một cuộc đời bị phung phí đi. Đại học, kinh doanh, và bây giờ sức khỏe – Alistair đã thất bại trong mọi thứ. Giá mà lão không quá mềm yếu như thế. Quá ngu ngốc để sử dụng sức mạnh. Rất sẵn sàng để đặt những người khác lên đầu tiên. Đại học không cần cạnh tranh, chú à… Cháu muốn công việc kinh doanh của mình cung cấp cho chon người với giá cả chấp nhận được, chú à… Cho đến bây giờ lão có thể là thứ gì đó trong chi Ekaterina. Thay vì một rắc rối liên miên.

À, ừm, Bae nghĩ, quan sát sự sống đang mất dần khỏi Alistair. Những vấn đề thường xuyên có những giải pháp không mong đợi.

Sĩ quan cuối cùng mở khóa được chiếc còng. Khi nó rơi ra, cánh tay Alistair rơi thịch nặng nề xuống nền đường. Đầu lão nằm qua một bên. Các sĩ quan chết điếng người.

“Mati?” một trong bọn họ lẩm bẩm.

Chết, Bae phiên dịch trong im lặng.

Lão giữ vững mình trên xe cảnh sát. Đôi mắt Alistair còn mở, nhìn chằm chằm. Buộc tội. Nằm chết yên tĩnh ở đó, lão trông giống cha mình. “Gordon…” Bae thì thầm.

Ngừng lại. Đó không phải là Gordon. Đó là thằng bé.

Cố gắng đứng dậy, Bae đi xa hơn về mé đường, tránh khỏi tiếng ồn của giao thông. Dựa vào cây gậy của mình, ông ta nói qua chiếc điện thoại của mình. “Xin chào… Tôi đang gọi để báo cáo một cái chết tự nhiên của Alistair Oh…”

“AAAAAAGHHHHH!” Bae vội vàng quay lại phía chiếc xe, nơi vọng ra tiếng hét của một sĩ quan.

Lão ngưng lại giữa chừng, đánh rơi điện thoại và cây gậy của mình.

Hai sĩ quan nằm trên mặt đất, quằn quại đau đớn. Alistair Oh đứng giữa họ, phủi mình. Lão quay sang Bae, gật đầu vui vẻ, sau đó nhấc cây gậy của Bae trên mặt đất. “Chú đánh rơi cái này, thưa chú?”

Bae vươn tới. “Nhưng… nhưng cháu đã…”

“Tôi có lẽ bị đuổi khỏi Harvard, nhưng tôi có điểm A môn diễn kịch.” Alistair nói, mở đầu cây gậy của Bae để lộ ra một bộ sưu tập những công tắc nhỏ màu đen. “Ôi, chúng ta có gì ở đây?”

Bae lảo đảo về phía trước. “Không, Alistair, cháu không biết cháu đang làm gì đâu!”

“Xem tôi này,” Alistair nói. Lão xoay đầu gậy về phía Bae, giải phóng một đám mây đen từ bình xịt hơi cay.

Bae gục xuống mặt đường trong một cơn ho. Hai chân ông ta oằn lại. Ông nghe thấy một tiếng gãy rắc dưới đầu gối. Cơn đau đớn phóng lên từ chân và lao xuống từ phổi ông, và ông cảm thấy như cơ thể mình đang phát nổ.

Ông ta hét lên, đấu tranh để giữ tỉnh táo.

Alistair tiến tới, cây gây giơ lên. “Chú thân yêu, chú trông thật đau khổ, ông chú đáng thương.”

Thở. Mở mắt. Tập trung. Bae nhìn chằm chằm cháu trai lão. Alistair có cơ hội hoàn hảo. Một cái gõ nhẹ lên đầu là tất cả cần làm.

“AAGHH!” Alistair giơ cây gậy qua đầu ông.

Bae nhắm mắt lại. Ông nghe thấy một tiếng thịch trên mặt đất. Ông cảm thấy tay mình bị kéo lên trên. Lưng ông trượt trên cỏ. Một bên còng tay kêu lách cách khóa lại trên cổ tay ông. Bên kia trên tay cầm cửa xe.

Qua tiếng thét của chính mình, ông đã mơ hồ nhận biết được tiếng còi cảnh sát ở xa xuyên qua không khí. Và giọng nói của cháu trai ông, trở nên mờ nhạt dần.

Alistair đang hát.

“I’m with you and you’re with me and so we are all together…”

Chương 7

Sân bay quốc tế Peoria có đủ những bà mẹ và những đứa trẻ buồn chán. Nhưng hiếm có những người với một kho vũ khí những chất độc được nhét vào những chai dầu gội mang theo, điều này làm Ian Kabra khá là tự hào.

Thực tế rằng những đứa trẻ Cahill nhỡ chuyến bay của tụi nó đã phá hỏng mọi việc một chút. Không đề cập đến những bộ đồng phục sân bay chúng đang mặc.

“Em không thể tin được chúng ta phải làm bản thân mình trông quá… quá…” Natalie Kabra lắp bắp.

“Giai cấp công nhân?” Ian nói, chiếc áo an ninh hàng không của nó đang làm nó ngứa ngáy rồi. “Hãy nhớ mẹ đã nói gì. Chẳng còn quá dễ dàng để thâm nhập vào cán bộ nhân viên hàng không nữa. Hãy cảm ơn những mối liên lạc của nhà Lucian chúng ta.”

“Đừng bắt em bắt đầu với những bảng tên hàng không nhỏ xíu,” Natalie càu nhàu.

“Cả hai đứa yên lặng được chứ?” Isabel Kabra nói khi họ vòng qua một góc, tiến về buồng đợi của nhân viên hàng không. Một chiếc mũ giám sát có vành không thể che giấu sự giận dữ trong đôi mắt bà ta khi bà rít nhẹ nhàng vào điện thoại của mình: “Arif, nói chậm thôi. Tiếng Indonesia của ta xuất chúng nhưng không hoàn hảo… phải, ta biết cậu đã đánh lừa được chúng… dĩ nhiên chúng không nghi ngờ cậu biết tiếng Anh, đó là lý do chúng ta trả cho cậu những món hời lớn… phải, ta đã thấy tên chúng trên danh sách hành khác đến Peoria, nhưng chúng đã không có ở trên ghế của mình, Arif!... À, cậu có thông tin cho chuyến bay tiếp theo… ba giờ? Tốt. Chúng ta hy vọng chúng trên đó. Và, Arif… cậu cũng nên hy vọng thế.” Gập điện thoại lại để cúp máy, mặt bà ta đỏ lên.

“Ừm, vậy, tin tốt! Hakuna matata và tất cả là vậy,” Ian vui vẻ nói. “Chúng ta sẽ nghỉ ngơi và có một bữa tối tuyệt vời chốc lát trong khi chờ đợi.” Nó nhìn quanh những chọn lựa đồ ăn nhanh sân bay đa dạng. “Ừm, ờ, chúng ta sẽ nghỉ ngơi…”

Ba giờ - ở đây?” Natalie kéo cái cổ áo bằng hồ cứng. “Hôm qua là Tokyo, Paris, Vienna, Seoul, Syney, và Java. Con đã có được sự tôn trọng như thế cho địa điểm hoạt động hướng đạo của nhà Cahill. Nhưng – ôi, thành thật, mẹ à, nhưng cái đoạn đường mấp mô đến… P-Peo -” Gương mặt nó chuyển xanh lè. “Xin lỗi, con đang cảm thấy không khỏe.”

Ian quan sát con bé chạy đi. “Con bé có lý.”

“Phàn nàn về một địa điểm?” Isabel xoay sang con trai mình. “Khi những đứa trẻ đó tránh khỏi chúng ta ở Indonesia – hai lần? Điều đó nói gì với con, Ian?”

“Rằng chúng may mắn?” Ian đoán.

“Những đứa trẻ đó,” mẹ nó nói. “là những đối thủ đáng giá duy nhất của chúng ta.”

Ian khạc một tiếng cười. “Được đấy, mẹ!”

“Con đang cười ta đấy à, Ian?”

“Không.” Ian đánh rơi nụ cười. “Vậy thì, mẹ liệu có thể rằng chúng nó đã lượn đi nơi nào đó khác?”

“Hãy nhớ ai đang hướng dẫn chúng,” Isabel trả lời. “Con bé vú em với khuyên mũi dính với một chiếc iPod đó. Thật là một điều kỳ diệu nếu chúng lên được chuyến bay đúng giờ. Không, Ian, chúng ta sẽ không hoảng loạn. Chúng sẽ ở trên chuyến bay tiếp theo mà chúng có thể cố gắng đặt vé. Nhớ là, bằng sự thỏa thuận nhỏ của chúng ta với Bae Oh, chúng ta đã loại bỏ Alistair. Ở đây tại Peoria, chúng nó sẽ cô độc. Để loại trừ chúng, phải không có thay đổi gì – đó là bài học ở Indonesia.”

Ian gật đầu. Không được hỏi mẹ, nó tự bảo mình. Không khi bà ấy đang trong một trạng thái như thế này.

Tuy nhiên, thật đáng tiếc khi tấn công chúng với sức mạnh như vậy. Đặc biệt con bé, Amy. Nó chưa bao giờ gặp bất cứ ai như con bé. Nhút nhát. Dịu dàng. Với một khía cạnh thú vị của sự thù địch. Rất khác những cô gái ở quê nhà, những kẻ cứ lao vào nó thường xuyên đến nỗi những tài xế của nó di chuyển với những bộ dụng cụ sơ cứu.

Nó phải hiểu chuyện này hơn chứ? Không phải nó đủ không minh để ngừng cuộc tìm kiếm ư?

Đó là thằng nhóc và cô nàng au pair. Nó là một thằng nhỏ nóng nảy. Cô nàng là một bộ sưu tập của những dụng cụ sắc nhọn và bẩn thỉu. Giá mà Amy và Dan cứ bị bẫy trong hang động ở Seoul, ít nhất đủ lâu để nản lòng. Tại sao chúng lại chống đối lại mẹ?

Chúng không biết sống với bà ấy là như thế nào.

“Mẹ nói đúng,” Ian nói. “Chúng tự chuốc lấy. Lạy trời cho chúng đừng lắng nghe người giỏi nhất trong đội.”

“Và đó sẽ là -?” Isabel nói.

Ian nhìn đi. “Ừm, con muốn nói, đứa chị. Amy.”

Nó cảm thấy một nụ cười di chuyển chậm trên mặt nó.

“Ian?” Mẹ nó tóm lấy cổ tay nó. “Nếu con đang có ý niệm mơ hồ về một hình bóng của một suy nghĩ…”

“Mẹ!” Ian có thể cảm thấy máu chảy lên mặt nó. “Làm sao mẹ có thể nghi ngờ chỉ một giây…?”

“Mẹ! Ian!” Natalie giờ đang chạy khỏi phòng tắm. Con bé thậm chí còn trông ốm yếu hơn trước đó. “Con vừa mới nhận được một tin nhắn từ Reagan Holt!”

Isabel Kabra trông kinh ngạc. “Con đã nhắn tin với một đứa nhà Tomas?”

“Không! Con bé đã xâm nhập vào điện thoại của con.” Mất tinh thần, Natalie nhìn vào màn hình trong tay nó và bắt đầu đọc. “Cảm ơn, Nat. Bọn này đã xoay xở để nhận được địa điễm tiếp theo của Dan và Amy từ điện thại của đằng ấy – ôi, thật ngạc nhiên, cách đánh vần! – ‘địa điểm từ điện thoại của đằng ấy. Bọn này đang theo đuôi chúng, và nếu bọn này đánh hơi thấy một người nhà Lucian, COI CHỪNG. bb, Reagan.’”

Ian rên rỉ. Nhà Holt là một trong những khía cạnh không thoải mái hơn của cuộc săn tìm này – bẩn thỉu, độc ác, và đần độn. “Rất nhiều cho đám Cahill cô độc.”

“Có lẽ chúng ta có thể đặt một cái biển ‘Tomas – Vùng Tự Do’ trên đường băng.” Natalie nói. “Điều đó sẽ làm những kẻ ngu đần lúng túng – xin lỗi, nhà Holt ­– trong một ngày gì đó.”

“Những kẻ ngu dốt đó,” Isabel nói với một nụ cười bình tĩnh, “có lẽ tốt với một chiếc dù lượn, nhưng chúng sẽ không ngăn cản được chúng ta cô lập Dan và Amy ở đây. Và một khi chúng ta có chúng, chúng ta sẽ có vài trò vui với thứ này.”

Bà lôi ra một lọ thủy tinh nhỏ màu xanh lá cây từ túi khoác vai của mình.

Ian nuốt một cách khó khăn.

“Đó là dung dịch chúng ta đã lấy từ những đứa trẻ Cahill ở Paris!” Natalie nói. “Mẹ, mẹ đang phạm một sai lầm đó!”

Isabel nhìn chằm chằm con gái mình. “Như Ian không nghi ngờ gì nhận ra, cái lọ này là giả. Bên trong nó là một chất độc. Sau khi chúng ta tiêm cái này, chúng nó sẽ trải nghiệm một sự hủy hoại chậm chức năng cơ thể, lên tới đỉnh điểm trong một thời gian dài ở bệnh viện và sau đó chết.” Isabel mở chiếc túi khoác vai của mình ra để lộ một bộ sưu tập những kim tiêm dưới da.

“Con hiểu,” Ian nói. “Chúng ta, ừm, buộc chúng uống, có thể nói như vậy.”

Gương mặt Natalie chuyển sang xanh. “Nếu chúng… có thuốc giải thì sao?” con bé kêu the thé.

“Một câu hỏi hay – bởi Chúa, Natalie đang lên tiếng à?” Isabel nói. “Ừm, phải, một trong những nhánh của gia đình chúng ta được đồn là đã phái triển thuốc giải với chất độc của nhà Kabra suốt những năm qua. Ta luôn nghi ngờ Grace đứng sau việc này. Nhưng ôi, con yêu, ta cho là hơi quá trễ cho bọn trẻ chạy đến chỗ bà ta kêu khóc, phải không?”

Ian do dự. Nó liếc nhìn về phía em gái để xem liệu con bé có đồng ý không, nhưng dường như con bé lại như thường lệ chăm chú vào chiếc điện thoại của nó.

“Được rồi, đổi chủ đề nhé?” Natalie nói, nhìn lên. “Ừm, có ai trong hai người có biết cá hồng là gì không?”

“Nó là thứ một vài người ăn khi không có tôm hùm hay trứng cá muối,” Ian đáp. “Tại sao?”

“RSS của em cung cấp dữ liệu tên hiển thị một yêu cầu của Dan Cahill vài giờ trước cho… cá hồng?” Natalie gãi đầu. “Cho con mèo của chúng!”

Isabel tóm lấy cái điện thoại nhanh đến nỗi mũ của bà ta lệch đi. “Natalie – cái yêu cầu đó đến từ đâu?”

***

“Chúng ta đang ở Báo động Đỏ.”

Giáo sư ngồi thẳng người. Ông nửa tỉnh nửa mê khi trả lời điện thoại.

Cuộc gọi có thể mang ý nghĩa một điều duy nhất. “Chúng ở đây?”

“Tôi không được phép nói,” một giọng nói nhát gừng tới. “Nhưng đây là yêu cầu cuối cùng của tôi đối với ông.”

Với chiếc điện thoại nhét vào tai, giáo sư nhanh chóng, im lặng mặc quần áo. “Anh biết tôi không thể làm như anh muốn. Tôi không phải là một trong những người của anh.”

“Ông đã rời nhà Tomas –”

“Tôi là một nhà giáo dục,” giáo sư nói. “Tôi tin tưởng vào việc dạy học. Không cần thiết để cắt cổ họng của nhau. Loại suy nghĩ này đã làm tổn thương đất nước của tôi, người của tôi – và gia đình.”

Ông quỳ bên cạnh laptop của mình và nhập vào mật khẩu hệ thống. Chạy con trỏ xuống phía bên trái, ông nhấp vào thanh chuyển động thông tin hành khách chuyến bay.

Ông cuộn qua một danh sách của lịch bay.

Đó. Như ông nghi ngờ.

Chạy khỏi chiếc xe, ông chỉ nửa chú ý đến giọng nói ở đầu bên kia. “… mục tiêu của ông chính xác giống như của chúng tôi,” nó nói.

“Nhưng phương pháp của chúng ta thật quá khác biệt.” Vị giáo sư nói lớn khi ông khởi động xe, để át đi tiếng ồn động cơ. “Tôi không thấy thích thú khi bị khiếp sợ. Như tôi nhớ, anh cũng không, vài năm trước!”

“Isabel Kabra đã giết Spasky,” giọng nói nói. “Bà ta đang trở nên giận dữ. Và tùy tiện. Tôi đã bắt được tín hiệu để nghe trộm điện thoại của bà ta. Chúng ta phải thu hẹp thứ hạng. Chúng tôi cần ông.”

Giáo sư phóng qua một cái đèn đỏ. Một tiếng còi om sòm trong tai ông và ông nhấn phanh. Khi ông lạng qua ngã tư, những tiếng chửi rủa của những người đi xe máy tăng lên sau ông như tiếng chó sủa. “Cái quái gì – Irina đã chết như thế nào?” ông hét lên.

“Trong khi cứu mạng những đứa trẻ!”

“Gì?”

“Ông ở đâu?” giọng nói hỏi.

Giáo sư tắt điện thoại. Có thể thế ư?

Ông tạt qua bên đường và để hơi thở của mình dễ dàng. Tập trung là cần thiết. Đối với sự an toàn của chính ông. Đối với sự an toàn của những người lái xe xung quanh. Và, có lẽ, đối với sự kết thúc hòa bình của một nửa thiên niên kỉ bạo lực không cần thiết.

Irina đã bắt đầu suy nghĩ một cách hợp lý. Irina chết rồi.

Cuộc rượt đuổi đang nóng lên. Lòng trung thành đang dần dần mai một.

Ông với tới ngăn chứa đồ và lấy ra một bức hình đóng khung nhỏ. Đó là một bức chân dung của một người đàn ông ăn mặc đầy đủ trang bị chiến tranh Zulu, những chiếc lông trắng ở cánh tay và bắp chân ông ta. Ông đội một chiếc mũ trắng đen và cầm một cái khiên toàn thân và một vũ khí có lưỡi không phải là kiếm hay dao. Gương mặt ông ta dữ tợn và nghiêm khắc, da ông ta gần như đen như than như dầu Macassar làm bóng mượt tóc ông ta.

Giáo sư đặt tấm hình chân dung lên chỗ ngồi của mình. Ông hát khi lái xe, như ông luôn làm để thông suốt đầu óc. Trong hai mươi phút ông tới được sân bay. Chiếu sáng huy hiệu của mình để bảo đảm, ông bước vào đường phục vụ đến phía sau của thiết bị đầu cuối.

Họ sẽ đến trong vài phút.