Chúng ta là những Kẻ dối trá - Phần III - Chương 43 - 44 - 45 - 46

43

TÔI TÌM THẤY NHỮNG Kẻ dối trá ở sân nhà Cuddledown. Trên bãi cỏ vương vãi những vợt tennis và chai nước, giấy gói thức ăn và khăn tắm biển. Ba người họ nằm dài trên chiếc chăn bằng vải cotton, đeo kính râm và ăn snack khoai tây.

“Thấy tốt hơn rồi hả?” Mirren hỏi.

Tôi gật đầu.

“Tụi này nhớ cậu đấy.”

Người họ thoa đầy dầu em bé. Hai chai dầu ấy vất trên cỏ.

“Mọi người không sợ sẽ bị rám nắng sao?” tôi thắc mắc.

“Anh chẳng còn tin vào kem chống nắng nữa,” Johnny bảo.

“Anh ấy đã quyết định rằng các nhà khoa học là thối nát và toàn bộ nền công nghiệp kem chống nắng là thứ lừa đảo làm tiền,” Mirren nói.

“Mọi người đã thấy hiện tượng bỏng nắng[36] chưa?” tôi hỏi. “Da đúng nghĩa nổi bong bóng luôn đấy.”

[36] Bỏng nắng: nặng hơn cháy nắng, xảy ra do tia cực tím làm bỏng da.

“Đó là một quan niệm ngu ngốc,” Mirren nói. “Tụi này chỉ là đang cực kỳ phát chán, thế thôi.” Nhưng cô bạn bôi đầy dầu em bé lên hai cánh tay khi nói chuyện.

Tôi nằm xuống kế anh Johnny.

Tôi mở một gói snack khoai tây vị Barbecue.

Tôi nhìn chăm chăm vào ngực Gat.

Mirren đọc lớn một đoạn trong cuốn sách về Jane Goodall.

Chúng tôi nghe vài bài nhạc trong iPhone của tôi, loa nó nhỏ xíu.

“Sao anh không tin vào kem chống nắng nữa vậy?” tôi hỏi anh Johnny.

“Đó là một âm mưu,” anh nói. “Để bán nhiều thuốc xức mọi người cần.”

“Ừ hử.”

“Anh sẽ chẳng bị cháy nắng đâu,” anh nói. “Rồi em sẽ thấy.”

“Nhưng mà vì sao anh lại đi thoa dầu em bé?”

“Ồ, đó không phải là một phần của thí nghiệm đâu,” Johnny nói. “Anh chỉ là thích càng vấy mỡ càng tốt mọi lúc mọi nơi thôi.”

GAT CHỘP ĐƯỢC TÔI lúc này đang tìm thức ăn trong bếp. Chẳng có gì nhiều. “Lần trước tớ gặp cậu lại kém chuẩn một lần nữa,” cậu nói. “Trong hành lang hai đêm trước ấy.”

“Đúng thế đấy.” Tay tôi đang run rẩy.

“Xin lỗi.”

“Được rồi.”

“Ta bắt đầu lại nhé?”

“Chúng ta không thể bắt đầu lại mỗi ngày được đâu, Gat à.”

“Sao không?” Cậu nhảy lên ngồi trên quầy bếp. “Có lẽ đây là mùa hè của cơ hội thứ hai.”

“Thứ hai, chắc rồi. Nhưng sau đó nó trở lên lố bịch đấy.”

“Thế thì cứ cư xử bình thường đi,” cậu nói, “chí ít là trong ngày hôm nay. Hãy cứ vờ như tớ không phải là một đứa hỗn độn, hãy cứ vờ như cậu không hề bực tức. Hãy cứ cư xử như chúng ta là bạn bè và quên sạch những gì đã xảy ra đi.”

Tôi không muốn giả vờ.

Tôi không muốn làm bạn.

Tôi không muốn quên. Tôi đang cố nhớ.

“Chỉ trong một ngày hay hai thôi mà, cho đến khi mọi chuyện lại bắt đầu có vẻ ổn thỏa,” Gat nói khi thấy sự lưỡng lự của tôi. “Chúng ta sẽ chỉ chơi với nhau cho đến khi mọi thứ đều ngưng trở thành vấn đề hệ trọng.”

Tôi muốn biết mọi thứ, hiểu rõ mọi thứ; tôi muốn ôm chặt lấy Gat và rờ khắp người cậu và chẳng bao giờ buông cậu ra. Nhưng có lẽ đây là cách duy nhất chúng tôi có thể bắt đầu.

Bình thường lại, ngay. Ngay bây giờ.

Bởi vì con là thế. Bởi vì con có thể.

“Mình đã học cách làm thế,” tôi nói.

Tôi đưa cho cậu túi kẹo mềm Ông ngoại và tôi mua ở Edgartown, và cách gương mặt cậu bừng sáng lên khi thấy chocolate khiến tôi hết sức cảm động.

44

NGÀY HÔM SAU MIRREN
và tôi đi chiếc thuyền máy nhỏ đến Edgartown dù không được phép.

Cánh con trai không
muốn đi. Họ đi bơi xuồng kayak.

Tôi lái và Mirren vạch
tay lên đường rẽ nước.

Mirren chẳng mặc gì
nhiều: áo bikini hình hoa cúc và váy ngắn bằng vải jean. Cô bạn đi dọc xuống vỉa
hè rải đá cuội của Edgartown, miệng nói về Drake Loggerhead và cảm giác khi
“làm tình” với cậu ta. Đó là cách mà cô bạn gọi nó, lần nào cũng vậy; câu trả lời
của cô bạn về cảm giác khi làm nó liên quan tới hương hoa hồng biển trộn lẫn với
tàu lượn siêu tốc và pháo hoa. Mirren cũng nói về món quần áo mà cô bạn muốn
mua cho năm nhất ở Pomona và những bộ phim cô muốn xem và những dự án cô muốn
làm hè này, như là tìm một chỗ ở Vineyard để cưỡi ngựa và bắt đầu làm kem lại.
Thật tình mà nói thì, cô bạn không ngừng tám chuyện trong cả nửa giờ đồng hồ.

Tôi ước gì mình có
được cuộc sống của cô bạn. Một người bạn trai, những kế hoạch, đại học ở
California. Mirren đang tiến đến tương lai rạng nắng của mình, trong khi tôi
thì quay lại Học viện Dickinson để học một năm đầy tuyết và nghẹt thở nữa.

Tôi mua một túi kẹo
mềm nhỏ ở quán Murdick, thậm chí khi vẫn còn dư một chút hôm qua. Chúng tôi ngồi
trên chiếc ghế dài râm mát, Mirren vẫn còn chuyện trò.

Một ký ức nữa ùa tới.

MÙA HÈ THỨ MƯỜI
LĂM, MIRREN ngồi kế Taft và Will trên những bậc thang quán Clam Shack[37] yêu
thích của chúng tôi ở Edgartown.

[37] Clam Shack (Lán Trai): chuỗi quán hải sản ở
Mỹ.

Hai đứa nhóc có những
chiếc chong chóng nhựa màu cầu vồng. Gương mặt Taft lấm lem kẹo mềm mà nó ăn
trước đó. Chúng tôi đang chờ dì Bess bởi vì dì giữ giày của Mirren. Chúng tôi
không thể vào trong mà không có chúng.

Chân Mirren lấm bẩn
và móng chân cô bạn sơn màu xanh biển.

Chúng tôi đã đang
chờ được một lúc khi Gat bước ra khỏi cửa tiệm dưới tòa nhà. Cậu ấy ôm một chồng
sách dưới cánh tay. Gat phóng hết tốc lực về phía chúng tôi, như thể đang vội một
cách lố bịch để bắt kịp chúng tôi, dẫu rằng chúng tôi đang ngồi im tại chỗ. Cuốn
sách trên cùng là Tồn tại và Hư vô của
Sartre. Cậu vẫn có những từ viết trên mu bàn tay. Đề xuất của Ông ngoại.

Gat cúi mình, ngu
ngốc, làm trò hề, và cho tôi xem cuốn dưới cùng của chồng sách: đó là một cuốn
tiểu thuyết của Jaclyn Moriarty. Tôi đã đang đọc tác phẩm của bà cả hè này.

Tôi mở cuốn sách
đến trang tựa. Nó đã được đề từ. Dành
tặng Cady với mọi thứ
, mọi thứ. Gat.

“MÌNH NHỚ ĐÃ
NGỒI CHỜ giày của cậu để chúng ta có thể vào Clam Shack,” tôi bảo
Mirren. Cô bạn giờ đã ngừng nói và nhìn tôi đầy trông chờ. “Những
chiếc chong chóng,” tôi nói. “Gat tặng mình một quyển sách.”

“Thế là ký ức
của cậu đang trở về à,” Mirren nói. “Tuyệt đấy!”

“Các dì tranh
nhau khoản thừa kế.”

Cô bạn nhún vai.
“Một chút.”

“Và Ông ngoại và
mình, cả hai đã có cuộc tranh luận về những bức tượng ngà của ông.”

“Đúng thế. Lúc
đó chúng ta đã bàn luận về nó.”

“Kể mình nghe
chuyện này đi.”

“Chuyện gì?”

“Vì sao Gat lại
biến mất sau tai nạn của mình?”

Mirren xoắn một
cọng tóc. “Mình không biết.”

“Cậu ấy có quay
lại với Raquel không?”

“Mình không
biết.”

“Bọn mình đã gây
gổ? Mình đã làm gì sai à?”

“Mình không biết, Cady ạ.”

“Cậu ấy đã khó
chịu với mình vài đêm trước. Về việc không biết tên nhân viên. Về
việc không nhìn thấy căn hộ của cậu ấy ở New York.”

Một khoảng lặng.
“Cậu ấy có lý do chính đáng để tức giận,” cuối cùng Mirren lên
tiếng.

“Mình đã làm
gì?”

Mirren thở dài.
“Cậu không thể sửa nó.”

“Sao không?

Đột nhiên Mirren
bắt đầu ho khan. Ậm oẹ, như thể cô bạn có thể nôn mửa. Mirren gập
người lại, làn da ẩm ướt và nhợt nhạt.

“Cậu ổn chứ?”

“Không.”

“Mình có thể giúp
gì không?”

Cô bạn không trả
lời.

Tôi đưa cho Mirren
một chai nước. Cô bạn nhận lấy nó. Chậm rãi uống. “Mình làm quá
nhiều rồi. Mình cần phải quay lại Cuddledown. Ngay bây giờ.”

Đôi mắt Mirren
đẫn đờ, trống rỗng. Tôi đưa tay ra. Da cô bạn ẩm ướt và dường như cô
bạn đứng không vững. Chúng tôi bước đi trong im lặng đến cảng nơi đậu
chiếc thuyền máy nhỏ.

MẸ CHƯA TỪNG ĐỂ Ý
thấy sự mất tích của chiếc thuyền máy, nhưng mẹ thấy túi kẹo mềm khi tôi đưa nó
cho Taft và Will.

Liên tù tì, vân vân
và vân vân. Bài thuyết giáo của mẹ chẳng thú vị chút nào.

Tôi không được rời
đảo mà không có sự cho phép của mẹ.

Tôi không được rời
đảo mà không có sự giám sát của người lớn.

Tôi không được điều
khiển một thiết bị chạy bằng động cơ theo như đơn thuốc.

Tôi chẳng thể cư xử
ngu ngốc như mình đang làm, phải không?

Tôi nói câu “Xin lỗi”
mà mẹ muốn được nghe. Rồi tôi chạy xuống Windemere và viết lại mọi điều tôi nhớ
— quán Clam Shack, chiếc chong chóng, đôi chân lấm bẩn của Mirren trên những bậc
gỗ, cuốn sách Gat tặng cho tôi — lên miếng giấy kẻ ô vuông dán đầu giường.

45

KHỞI ĐẦU TUẦN
thứ hai của tôi ở Beechwood, chúng tôi đi khám phá mái nhà Cuddledown.
Khá dễ để trèo lên đó; chúng tôi chỉ là chưa từng làm việc này
trước kia bởi vì nó dính tới việc phải đi qua cửa sổ phòng ngủ dì
Bess.

Mái nhà lạnh tê
người vào buổi đêm, nhưng vào ban ngày từ đó nhìn ra là quang cảnh
tuyệt vời của hòn đảo và biển phía xa. Tôi có thể nhìn qua những
cái cây mọc thành cụm quanh Cuddledown tới Clairmont Mới và khu vườn
của nó. Tôi thậm chí có thể nhìn vào trong căn nhà, vốn có những
chiếc cửa sổ từ-sàn-đến trần ở những căn phòng tầng trệt. Bạn cũng
có thể nhìn thấy một chút Red Gate, và hướng khác, ngang tới
Windemere, rồi ra bãi vịnh.

Buổi chiều đầu tiên
ấy chúng tôi dàn thức ăn ra trên chiếc khăn picnic cũ. Bốn đứa ăn bánh mì ngọt
Bồ Đào Nha và phô mai lỏng trong những chiếc hộp gỗ nhỏ. Những quả mọng đựng
trong hộp các tông xanh lá cây. Những chai nước chanh có ga ướp lạnh.

Chúng tôi quyết tâm
đến đây mỗi ngày. Cả mùa hè. Mái nhà này là nơi tuyệt vời nhất trên thế gian.

“Nếu mình chết,”
tôi nói khi lũ chúng tôi ngắm nhìn quang cảnh, “ý mình là, khi mình chết, hãy ném tro cốt của mình xuống làn nước của bãi biển
nhỏ. Thế rồi khi các cậu nhớ mình, các cậu có thể trèo lên đây, nhìn xuống, và
nghĩ lại mình đã tuyệt vời như thế nào.”

“Hoặc tụi này có thể xuống dưới
đó và bơi trong em,” anh Johnny nói. “Nếu tụi này thật sự nhớ em da diết.”

“Eo.”

“Em mới là người muốn ở trong làn nước của bãi biển nhỏ mà.”

“Ý em là, em yêu nơi này. Nó sẽ
là một nơi tuyệt cú để có tro cốt của em.”

“Đúng thế,” Johnny nói. “Nó sẽ
là.”

Mirren và Gat vẫn giữ im lặng,
nhấm nháp hạt phỉ phủ chocolate đựng trong một cái tô gốm màu xanh biển.

“Cuộc nói chuyện này tệ thật đấy,”
Mirren lên tiếng.

“Nó ổn mà,” Johnny nói.

“Mình không muốn tro cốt mình ở
đây,” Gat bảo.

“Sao không?” tôi hỏi. “Tất cả
chúng ta có thể ở cùng nhau trong bãi biển nhỏ.”

“Và đám nhóc sẽ bơi trong chúng
ta!” Johnny la lên.

“Anh đang làm em phát kinh đi
được,” Mirren cắn cảu.

“Nó không thật sự khác biệt với
tất cả những lần anh mày tè trong nó đâu,” Johnny nói.

“Gớm quá!”

“Ôi, thôi nào, ai mà chẳng tè
trong đó.”

“Em không,” Mirren nói.

“Có, em có đấy,” anh nói. “Nếu
hiện giờ làn nước của bãi biển nhỏ mà không làm từ nước tiểu, sau bao năm chúng
ta tè trong nó, thì một chút tro cốt cũng sẽ chẳng làm hư nó đâu.”

“Mọi người có từng lên kế hoạch
cho đám tang của mình chưa?” tôi hỏi.

“Ý em là gì?” Johnny nhăn mũi.

“Mọi người biết đấy, trong Tom Sawyer, khi tất cả mọi đều nghĩ Tom
và Huck và tên-anh-ta-là-gì-ấy-nhỉ?”

“Joe Harper,” Gat nói.

“Ừ, họ nghĩ Tom, Huck, và Joe
Harper đã chết. Các chàng trai ấy đã đến đám tang của chính họ và nghe được tất
cả những ký ức tốt đẹp mà mọi người trong thị trấn có về họ. Sau khi đọc được
nó, mình đã luôn nghĩ về đám tang của bản thân. Kiểu như, loại hoa nào và nơi
mình muốn rải tro cốt. Và cả bài tán dương nữa, nói rằng mình tuyệt cú mèo và thắng
giải Nobel và Olympic.”

“Cậu đã thắng vì cái gì cơ?”
Gat hỏi.

“Có lẽ là môn bóng ném.”

“Có môn bóng ném trong thế vận
hội Olympic hả?”

“Có chứ.”

“Cậu thậm chí có chơi bóng ném
không đấy?”

“Chưa thôi.”

“Cậu nên bắt đầu đi thì hơn.”

“Hầu hết mọi người lên kế hoạch
cho đám cưới của họ,” Mirren nói. “Mình từng lên kế hoạch cho đám cưới của
mình.”

“Đám con trai không lên kế hoạch
cho đám cưới của họ đâu,” anh Johnny nói.

“Nếu mình cưới Drake mình sẽ có
tất cả bông hoa màu vàng,” Mirren nói. “Hoa vàng khắp nơi. Và chiếc váy vàng
mùa xuân, kiểu như một chiếc váy cưới thông thường chỉ có màu vàng ấy. Và cậu ấy
sẽ đeo khăn thắt lưng màu vàng.”

“Cậu ta sẽ phải yêu cậu rất, rất
nhiều để đeo chiếc khăn thắt lưng màu vàng đấy,” tôi bảo cô bạn.

“Đúng vậy,” Mirren nói. “Nhưng
Drake sẽ làm thế.”

“Đây sẽ kể cho mấy người nghe
cái mình không muốn ở đám cưới,” Johnny nói. “Anh không muốn một lũ mấy thằng
cha làm nghệ thuật người New York, cái lũ thậm chí chẳng biết anh mà cứ đứng
quanh trong cái phòng tiếp tân đần thối.”

“Mình không muốn những con người
sùng đạo nói về một vị Chúa mình không tin vào,” Gat nói.

“Hay một lũ những con nhỏ giả tạo
làm bộ buồn rầu và rồi thoa son bóng trong nhà tắm hay sửa sang tóc tai,”
Mirren nói.

“Chúa ơi,” tôi châm biến, “cậu
nói như kiểu mấy đám tang chẳng thú vị chút nào ấy.”

“Nghiêm túc đấy, Cady,” Mirren
nói. “Cậu nên lên kế hoạch cho đám cưới của mình, chứ không phải đám tang. Đừng
có suy nghĩ không lành mạnh thế.”

“Lỡ như mình chẳng bao giờ kết
hôn thì sao? Lỡ như mình không muốn kết hôn thì sao?”

“Thế thì lên kế hoạch cho tiệc
sách của cậu đi. Hay buổi triển lãm nghệ thuật.”

“Cậu ấy sẽ thắng giải Olympic
và Nobel,” Gat nói. “Cậu ấy có thể lên kế hoạch tiệc tùng cho mấy thứ ấy.”

“Được rồi, tốt thôi,” tôi nói.
“Hãy lên kế hoạch cho bữa tiệc bóng ném Olympic của mình nào. Nếu nó khiến các
cậu thấy vui.”

Thế là chúng tôi làm vậy. Bóng
ném bằng chocolate phủ kẹo mềm xanh. Một chiếc váy màu vàng cho tôi. Những ly uống
Champagne với những trái bóng vàng nhỏ tí hon trong nó. Chúng tôi bàn về việc
liệu người ta có đeo những chiếc kính bảo hộ quái dị cho môn bóng ném như với
môn quần vợt và quyết định rằng vì mục đích bữa tiệc của chúng tôi, người ta có
đeo. Mọi khách mời sẽ đeo kính bảo hộ bóng ném màu vàng trong khoảng thời gian
dự tiệc.

“Cậu chơi theo đội bóng ném à?” Gat hỏi. “Ý mình là, sẽ
có cả đội nữ thần bóng ném người Amazon ở đó, ăn mừng chiến thắng với cậu? Hay
chỉ độc mình cậu thắng nó cơ?”

“Mình không biết thật.”

“Cậu thật sự phải bắt đầu trang
bị kiến thức cho mình về cái này đi,” Gat nói. “Không thì cậu sẽ chẳng bao giờ
thắng được huy chương vàng đâu. Chúng ta sẽ phải nghĩ lại về toàn bộ bữa tiệc nếu
cậu chỉ thắng huy chương bạc đấy.”

NGÀY ẤY, CUỘC sống thật đẹp đẽ.

Bốn đứa những Kẻ dối trá chúng
tôi, chúng tôi đã luôn.

Chúng tôi sẽ luôn.

Mặc cho chuyện gì sẽ xảy ra khi
chúng tôi lên đại học, lớn khôn, tự xây dựng cuộc sống cho mình; mặc cho Gat và
tôi liệu có ở bên nhau hay không. Mặc cho chúng tôi sẽ về đâu, chúng tôi sẽ
luôn có thể xếp hàng trên mái nhà Cuddledown và chăm chăm nhìn vào biển.

Hòn đảo này là của chúng tôi. Tại
đây, theo cách nào đó, chúng tôi mãi luôn tươi trẻ.

46

NHỮNG NGÀY TIẾP SAU
ĐÓ tăm tối hơn. Hiếm khi những Kẻ dối trá muốn đi đâu cả. Mirren bị đau họng và
nhức người. Cô bạn chủ yếu ở lỳ trong Cuddledown. Cậu ấy vẽ những bức tranh để
treo ở hành lang và xếp những vỏ sò thành hàng dọc theo gờ mặt quầy bếp. Đĩa chất
đống trong chậu rửa và trên bàn cà phê. Những chiếc DVD và sách nằm thành những
chồng lộn xộn khắp căn phòng lớn. Những chiếc giường bừa bộn và những phòng tắm
sặc mùi ẩm ướt và nấm mốc.

Anh Johnny dùng tay
ăn bốc phô mai và xem chương trình hài của Anh trên tivi. Một ngày nọ anh thu
lượm được một dây những túi trà cũ, sũng nước, và ném chúng vào một cái ca đổ đầy
nước cam.

“Anh đang làm cái
gì thế?” tôi hỏi.

“Ai làm bắn nhiều
nước nhất được điểm cao nhất.”

“Nhưng tại sao?”

“Bộ óc anh mày hoạt
động theo một cách bí ẩn,” Johnny nói. “Anh nhận thấy lừa lọc thường là phương
pháp kỹ thuật tốt nhất.”

Tôi giúp anh hiểu
ra hệ thống tính điểm. Năm điểm cho một chút bắn ra, mười điểm cho một vũng nước
nhỏ, hai mươi điểm cho hình trang trí bắn trên bức tường đằng sau cái ca.

Chúng tôi dùng hết
nguyên một chai nước trái cây tươi vắt. Khi anh chơi xong, Johnny để mặc cái ca
và những túi trà rỉ nước, nát bét ở nguyên chỗ.

Tôi cũng chẳng buồn
dọn.

Gat đã lên danh
sách một trăm cuốn tiểu thuyết vĩ đại nhất từng được viết, và cậu đang đẩy mình
qua bất cứ cuốn gì cậu có thể tìm thấy trên đảo. Cậu đánh dấu chúng bằng những
mẩu giấy ghi chú dính và đọc lớn những đoạn văn. Người vô hình. Chuyến du hành
qua Ấn Độ
. Nhà Amberson cừ khôi.
Tôi chỉ nửa để tâm khi cậu đọc, bởi vì Gat đã không hôn tôi hay đưa tay chạm
vào tôi kể từ khi chúng tôi đồng ý cư xử bình thường.

Tôi nghĩ cậu tránh ở
một mình với tôi.

Tôi cũng tránh ở một
mình với cậu ấy, bởi vì cả người tôi reo ca muốn được gần cậu, bởi vì mỗi chuyển
động của cậu đều như được sạc điện. Tôi thường nghĩ đến việc vòng tay quanh người
cậu hay rờ ngón tay dọc môi cậu. Khi tôi để suy nghĩ của mình trôi đến đó — nếu
trong một khắc Johnny và Mirren khuất khỏi tầm nhìn, thậm chí nếu trong một
giây chỉ có mình hai đứa tôi — thì nỗi đau bất thình lình của tình yêu không được
hồi đáp sẽ mời mọc đến cơn đau nửa đầu.

Những ngày này ả là
một bà già khó tính, chạm đến phần thịt sống trong não tôi bằng những móng tay
bạo tàn. Ả chọc khoáy những dây thần kinh lộ rõ của tôi, khám phá xem liệu ả có
cư trú trong sọ tôi hay không. Nếu ả tiến vào, tôi liền giam mình trong phòng
ngủ một ngày hay có lẽ là hai.

Hầu hết các ngày
chúng tôi ăn trưa trên mái nhà.

Tôi cho là họ cũng
làm thế khi tôi bị bệnh.

Thi thoảng một chai
nước lăn ra khỏi mái nhà và vỡ tan. Sự thật là, có đầy những mảnh thủy tinh vỡ
vụn, nhớp nháp nước chanh, ở khắp hiên nhà. Những con ruồi bu quanh, bị thu hút
bởi mùi đường mật.