Chúng ta là những Kẻ dối trá - Phần III - Chương 39 - 40 - 41 - 42

39

TÔI BƯỚC THEO GAT
khi cậu lên lầu. Tôi đuổi theo cậu dọc dãy hành lang dài, nắm lấy tay cậu và áp
môi cậu vào môi tôi.

Đó là điều tôi sợ
làm, và tôi thực hiện nó.

Cậu hôn lại tôi.
Ngón tay hai đứa lồng vào nhau và tôi thấy choáng váng và cậu nâng người tôi
lên và một lần nữa, mọi thứ thật trong trẻo và mọi thứ thật tuyệt vời. Nụ hôn của
chúng tôi biến thế giới thành cát bụi. Chỉ còn chúng tôi và chẳng còn gì là
quan trọng nữa.

Rồi Gat giật ra. “Tớ
không nên làm chuyện này.”

“Sao không?” Tay cậu
vẫn nắm tay tôi.

“Đó không phải là
điều tớ muốn, đó là…”

“Tớ nghĩ chúng ta
đã bắt đầu lại. Đây không phải là bắt đầu lại sao?”

“Tớ đang thấy rối bời.”
Gat bước lui lại và dựa lưng vào tường. “Đây thật là một cuộc nói chuyện sáo rỗng.
Tớ không biết nói gì khác.”

“Giải thích đi.”

Một khoảng lặng. Và
rồi: “Cậu không hiểu tớ.”

“Giải thích đi,”
tôi lặp lại.

Gat vùi đầu vào bàn
tay. Chúng tôi đứng đó, lưng cả hai đều dựa vào tường trong bóng tối. “Được rồi.
Phần là đây,” cuối cùng cậu thầm thì. “Cậu chưa từng gặp mẹ tớ. Cậu chưa từng đến
căn hộ tớ ở.”

Đúng là thế. Tôi
chưa từng gặp Gat ở bất kỳ đâu ngoài Beechwood.

“Cậu cảm thấy như cậu
biết tớ, Cady ạ, nhưng cậu chỉ biết cái phần tớ khi đến đây thôi,” cậu nói.
“Nó… chỉ là nó không phải là tổng thể. Cậu không biết căn phòng ngủ của tớ với
cửa sổ trên đường thông khí, món cà ri mẹ tớ làm, mấy thằng bạn ở trường, cách
tụi tớ tổ chức tiệc tùng ngày lễ. Cậu chỉ biết cái phần tớ khi ở trên hòn đảo
này, nơi mọi người đều giàu có trừ tớ và nhân viên. Nơi mọi người đều da trắng
trừ tớ, Ginny, và Paulo.”

“Ginny và Paulo là
ai cơ?”

Gat giộng nắm đấm
vào lòng bàn tay. “Ginny là quản gia. Paulo là người làm vườn. Cậu không biết
tên họ và họ đã làm ở đây hè này qua hè khác. Đó là một phần trong vấn đề của tớ
đấy.”

Mặt tôi nóng lên vì
xấu hổ. “Mình xin lỗi.”

“Nhưng cậu thậm chí
có muốn nhìn tổng thể bức tranh không?” Gat hỏi. “Thậm chí cậu có thể hiểu nó
không?”

“Cậu sẽ chẳng biết
được nếu cậu không để tớ thử sức,” tôi nói. “Lâu lắm rồi tớ chẳng nghe được tin
gì từ cậu.”

“Cậu biết tớ là ai
với ông cậu không? Tớ đã luôn là ai ấy?”

“Ai?”

“Heathcliff. Trong Đồi gió hú. Cậu từng đọc nó chưa?”

Tôi lắc đầu.

“Heathcliff là một
cậu bé Gipsy được nhận và nuôi nấng bởi cái gia đình không chút tì vết ấy, nhà
Earnshaw. Heathcliff đem lòng yêu người con gái, Catherine. Cô cũng yêu anh…
nhưng cô cũng nghĩ rằng anh thật dơ bẩn, vì xuất thân của anh. Và những người
còn lại trong gia đình đều đồng tình.”

“Đó không phải là
điều tớ cảm thấy.”

“Heathcliff chẳng
thể làm điều gì để khiến những người nhà Earnshaw này nghĩ rằng anh đủ tốt. Và
anh gắng sức. Anh rời đi, tự rèn luyện mình, trở thành một quý ông. Tuy thế, họ
vẫn nghĩ anh là một con súc vật.”

“Và?”

“Thế rồi, bởi vì cuốn
sách là một bi kịch, Heathcliff trở thành cái mà người ta nghĩ về anh, cậu biết
đấy? Anh trở nên tàn bạo. Con quỷ trong anh lộ ra.”

“Tớ nghe nói nó là
một câu chuyện lãng mạn mà.”

Gat lắc đầu. “Những
người ấy đối xử tệ bạc với nhau.”

“Cậu đang nói là
Ông ngoại nghĩ cậu là Heathcliff à?”

“Mình cam đoan với
cậu là ông nghĩ thế,” Gat nói. “Một tên hung tàn ẩn dưới bề mặt của một kẻ dễ
thương, phản bội lại lòng tốt cho tớ đến hòn đảo được bảo vệ khỏi gió bão này mỗi
năm của ông — tớ đã phản bội bằng cách quyến rũ Catherine của ông, Cadence của
ông. Và sự ăn năn của tớ là trở thành con quỷ ông luôn nhìn thấy trong tớ.”

Tôi im lặng.

Gat im lặng.

Tôi với tay ra và
chạm và cậu. Chỉ cần cảm nhận cẳng tay của cậu bên dưới lớp áo sơ mi mỏng đã
khiến tôi da diết muốn hôn cậu một lần nữa.

“Cậu biết điều gì
là đáng sợ không?” Gat nói mà không nhìn vào tôi. “Điều đáng sợ là hóa ra ông
đã đúng.”

“Không, ông không.”

“Ồ có đấy, ông đã đấy.”

“Gat, chờ đã.”

Nhưng cậu đã bước
vào phòng và sầm cửa lại.

Chỉ còn mình tôi giữa
hành lang tăm tối.

40

NGÀY XỬA ngày xưa có một vì vua và ba người con
gái xinh đẹp. Ngày dài trôi qua và những cô con gái lớn lên đầy duyên dáng. Họ
cũng có những cuộc hôn nhân hoa lệ, nhưng sự ra đời của đứa cháu ngoại đầu tiên
đã mang đến sự thất vọng. Người công chúa út sinh ra một cô con gái nhỏ xíu đến
nỗi mẹ cô đã quen với việc giữ cô trong túi áo, nơi cô bị bỏ quên không ai ngó
ngàng tới. Cuối cùng thì đứa cháu ngoại mang kích cỡ bình thường cũng ra đời,
và nhà vua và nữ hoàng đã gần như hoàn toàn bẵng quên đi sự tồn tại của nàng
công chúa tí hon.

Khi nàng công chúa nhỏ xíu lớn lên, cô gần như
dành hầu hết ngày và đêm không rời khỏi chiếc giường tí hon của mình. Có rất ít
lý do để cô ngồi dậy, cô thật cô độc xiết bao.

Một ngày nọ, cô đánh bạo đi đến thư viện của lâu
đài và vui mừng nhận ra sách có thể là người đồng hành tốt ra sao. Cô bắt đầu
thường xuyên đến đó. Một buổi sáng nọ, khi cô đang đọc sách, một chú chuộc xuất
hiện trên bàn.

Chú đứng thẳng người và khoác một chiếc vét tông
nhỏ bằng vải nhung. Ria chú sạch sẽ và lông chú màu nâu.

“Cô đọc y như tôi vậy,” chú nói, “bước lên rồi lui
xuống ngang những trang sách.” Chú tiến tới và cúi thấp mình chào.

Chú chuột đã mê hoặc nàng công chúa tí hon bằng
những câu chuyện phiêu lưu của mình. Chú kể cô nghe về những tên Quỷ khổng lồ
ăn cắp chân người khác và những vị thần bỏ mặc những kẻ nghèo khổ. Chú thắc mắc
về vũ trụ và không ngớt tìm kiếm câu trả lời. Chú nghĩ những vết thương cần được
chú ý tới. Đổi lại, nàng công chúa kể cho chú chuột nghe về những câu chuyện thần
tiên, vẽ tặng chú những bức chân dung ảnh điểm, và làm cho chú những bức họa
chì màu tí hon. Cô cười và tranh luận với chú. Cô thấy thức tỉnh lần đầu tiên
trong đời. Chẳng lâu sau họ liền đem lòng yêu nhau say đắm.

Tuy vậy, khi cô giới thiệu người cầu hôn mình với
gia đình, nàng công chúa đã vấp phải khó khăn. “Nó chỉ là một con chuột!” nhà
vua kêu lên đầy khinh miệt, trong khi nữ hoàng la hét và chạy khỏi phòng ngai
trong sợ sệt. Quả thực là toàn vương quốc, từ hoàng gia cho đến kẻ hầu, đều
quan sát chú chuột cầu hôn với sự ngờ vực và lo lắng. “Nó thật quái dị,” người
ta nói với chú. “Một con vật giả trang thành con người.”

Nàng công chúa tí hon không do dự. Nàng và chú
chuột rời khỏi lâu đài và chu du đi rất xa khỏi đó.

Ở một vùng đất xa lạ, họ làm đám cưới, dựng nhà
cho mình, lấp đầy nó bằng những quyển sách và chocolate, và sống hạnh phúc mãi
tận về sau.

Nếu bạn muốn sống nơi người ta không sợ chuột, bạn
phải từ bỏ việc sống trong những tòa lâu đài.

41

MỘT GÃ KHỔNG LỒ CẦM
một chiếc cưa gỉ. Gã hau háu nhìn và ngân nga khi cắt xuyên qua trán tôi và vào
trí óc đằng sau nó.

Tôi có ít hơn bốn
tuần để tìm ra sự thật.

Ông ngoại gọi tôi
là Mirren.

Hai đứa sinh đôi
đang trộm thuốc ngủ và đôi khuyên tai bằng kim cương.

Mẹ tranh cãi với
các dì về căn nhà Boston.

Dì Bess ghét
Cuddledown.

Dì Carrie lang
thang quanh đảo vào ban đêm.

Will gặp ác mộng.

Gat là Heathcliff.

Gat nghĩ tôi không
hiểu cậu.

Và có lẽ cậu nói
đúng.

Tôi uống thuốc. Uống
nước. Căn phòng tối đen.

Mẹ đứng ở cửa nhìn
tôi. Tôi không nói chuyện với mẹ.

Tôi nằm trên giường
hai ngày trời. Thi thoảng những cơn buốt nhói dần trở thành những cơn đau nhức.
Thế rồi, nếu chỉ có mình tôi, tôi liền ngồi dậy và viết lên mớ giấy ghi chú đầu
giường. Nhiều những câu hỏi hơn là lời giải đáp.

Vào buổi sáng tôi
thấy khỏe hơn, Ông ngoại ghé thăm Windemere từ sớm. Ông khoác trên người chiếc
quần dài màu trắng và áo vét tông xanh biển. Tôi thì đang mặc quần short và áo
thun, tay đang ném banh cho lũ chó trong sân nhà.

Mẹ đã thức dậy ở
Clairmont Mới rồi.

“Ông tính tới
Edgartown đây,” Ông ngoại nói, tay gãi gãi tai con Bosh. “Cháu muốn đi chứ hả?
Nếu cháu không bận tâm việc đồng hành cùng một lão già.”

“Cháu không biết nữa,”
tôi đùa. “Cháu đang bận bù đầu với những trái banh tennis nhễu đầy nước bọt
đây. Có thể tốn cả ngày đấy.”

“Ông sẽ dẫn cháu tới
tiệm sách, Cady. Mua quà cho cháu như ông đã từng hay làm.”

“Thế còn kẹo mềm
thì sao ạ?”

Ông ngoại cười. “Chắc
rồi, kẹo mềm.”

“Mẹ bảo ông làm việc
này à?”

“Không.” Ông gãi
mái đầu tóc trắng mọc thành từng búi của mình. “Nhưng Bess không muốn ông một
mình lái thuyền máy. Nó nói ông có thể bị lạc mất phương hướng.”

“Cháu cũng không được
phép lái thuyền máy đây.”

“Ông biết chứ,” ông
nói, tay giơ chiếc chìa khóa lên. “Nhưng Bess và Penny chẳng phải là chủ ở đây.
Mà là ông.”

Chúng tôi quyết định
ăn sáng trong thị trấn. Chúng tôi muốn đem thuyền ra xa khỏi cầu cảng Beechwood
trước khi các dì bắt được.

EDGARTOWN LÀ MỘT ngôi làng ven
biển được ưa chuộng ở Martha’s Vineyard. Tới đó mất khoảng hai mươi phút. Ở đó
có toàn những hàng rào trắng và những căn nhà gỗ trắng với khoảng sân đầy hoa.
Những cửa hàng bán đồ cho du khách, kem, quần áo đắt tiền, trang sức cổ. Những
con thuyền rời đi từ cảng để tiến hành những chuyến đánh bắt cá và thăm thú cảnh
quan.

Ông ngoại dường như trở lại với
con người cũ của mình. Ông vung tiền khắp chốn. Đãi tôi cà phê espresso và bánh
Croissant tại một tiệm bánh nhỏ có những chiếc ghế đẩu đặt cảnh cửa sổ, rồi cố
mua cho tôi những cuốn sách tại tiệm sách Edgartown.

Khi tôi từ chối món quà, ông lắc
đầu khi nghe dự án tặng đồ đi của tôi nhưng không thuyết giáo gì. Thay vào đó
ông nhờ tôi giúp lựa quà cho đám nhóc và một cuốn dạy tỉa hoa cỏ cho cô Ginny,
viên quản gia.

Chúng tôi đặt một đơn hàng lớn ở
Tiệm kẹo mềm của Murdick: sô cô la, sô cô la với quả óc chó, bơ đậu phộng, và kẹo
penuche.

Khi đang lướt qua một trong những
khu triển lãm nghệ thuật, chúng tôi tình cờ gặp được luật sư của Ông ngoại, một
người đàn ông tỉ mỉ, lớn tuổi tên là Richard Thatcher. “Thế đây là Cadence đệ
nhất à,” ông Thatcher bắt tay tôi nói. “Tôi đã nghe nhiều về cô đấy.”

“Ông ấy thực hiện phần thừa kế,”
Ông ngoại giải thích.

“Đứa cháu đầu lòng,” ông
Thatcher nói. “Chẳng bao giờ có điều gì sánh được với cảm giác ấy.”

“Con bé cũng cực kỳ sáng dạ nữa,”
Ông ngoại nói. “Dòng máu Sinclair từ trong ra ngoài.”

Ông vẫn luôn nói những câu cửa
miệng như này. “Không bao giờ phàn nàn, không bao giờ giải thích.”, “Đừng chấp
nhận câu từ chối.” Nhưng thật khó chịu khi ông nói về tôi. Sáng dạ ư?[35]

Đầu tôi đang bị thương tổn theo
vô số cách chẩn bệnh khác nhau – và phân nửa trong tôi đến từ phía Eastman phản
bội của gia đình. Năm tới tôi sẽ không lên đại học, tôi đã bỏ chơi tất cả những
môn thể thao mình từng làm và rút khỏi những câu lạc bộ tôi từng tham dự; phân
nửa thời gian tôi phê Percocet và thậm chí chẳng tử tế với mấy đứa nhóc em họ của
mình.

[35] A good head on my shoulders (Cái đầu tốt trên vai):
Thành ngữ tiếng Anh có nghĩa là Sáng dạ.

Tuy thế, gương mặt Ông ngoại bừng
sáng khi nói về tôi, và chí ít hôm nay ông biết tôi không phải Mirren.

“Cô ấy trông giống ông quá,”
ông Thatcher nói.

“Đúng chứ hả? Trừ việc con bé đẹp.”

“Cháu cảm ơn,” tôi nói. “Nhưng
nếu mà ông muốn có sự tương đồng hoàn toàn thì cháu phải túm tóc lên thành từng
búi mới được.”

Điều đấy làm ông ngoại mỉm cười.
“Do chiếc thuyền đấy,” ông ngoại nói với ông Thatcher. “Ta đã không mang nón.”

“Nó luôn thành từng búi,” tôi
nói với ông Thatcher.

“Tôi biết mà,” ông nói.

Hai ông bắt tay nhau và Ông ngoại
khoác tay tôi khi chúng tôi rời khu triển lãm. “Ông ấy đã chăm sóc cháu tốt,”
ông ngoại nói với tôi.

“Ông Thatcher ấy ạ?”

Ông ngoại gật đầu. “Nhưng đừng
có kể cho mẹ cháu. Nó sẽ lại làm dấy lên rắc rối thôi.”

42

TRÊN ĐƯỜNG VỀ nhà,
một ký ức ùa đến.

Mùa hè thứ mười
lăm, một buổi sớm đầu tháng Bảy. Ông ngoại đang pha cà phê espresso trong căn bếp
nhà Clairmont. Tôi thì đang chén bánh mì que nướng với mứt ở bàn ăn. Chỉ có hai
chúng tôi ở đó.

“Cháu thích con ngỗng
đó,” tôi chỉ tay nói. Có một bức tượng ngỗng màu kem được đặt trên tủ ly.

“Nó đã ở đó kể từ
khi cháu, Johnny, và Mirren mới lên ba kìa,” Ông ngoại bảo. “Đó là năm mà
Tipper và ông làm chuyến đi đấy đến Trung Quốc.” Ông khúc khích. “Bà ấy đã mua
rất nhiều tranh ở đó. Bọn ta có một hướng dẫn viên, một chuyên gia nghệ thuật.”
Ông tiến đến chỗ chiếc lò nướng và nhấn lấy miếng bánh mì tôi bỏ vào đó cho
mình.

“Ô!” tôi phản đối.

“Im lặng, ông là
ông ngoại. Ông có thể giành lấy miếng bánh mì nướng khi ông muốn.” Ông ngoại ngồi
xuống với ly espresso và trét bơ lên miếng bánh mì. “Cô chuyên viên nghệ thuật ấy
đã dẫn bọn ông tới những cửa hàng đồ cổ và giúp ông bà lái xe đến những nhà đấu
giá,” ông kể. “Cô ta nói được bốn thứ tiếng. Cháu sẽ chẳng nghĩ đến chuyện nhìn
cô ta. Một cô gái Trung Hoa gầy gò nhỏ bé.”

“Ông đừng có nói cô gái Trung Hoa chứ. Ơ này?”

Ông lờ tôi đi.
“Tipper đã mua trang sức và nảy ra ý mua tượng hình động vật cho những căn nhà ở
đây.”

“Nó có bao gồm cả
con cóc ở Cuddledown không ạ?”

“Chắc rồi, con cóc
bằng ngà,” Ông nói. “Và bọn ông đã mua hai con voi, ông biết.”

“Chúng ở
Windemere.”

“Và những chú khỉ
cho Red Gate. Có bốn con.”

“Chẳng phải đồ bằng
ngà là bất hợp pháp sao ạ?” tôi thắc mắc.

“Ồ, vài chỗ. Nhưng
cháu có thể lấy được nó. Bà ngoại của cháu yêu đồ bằng ngà. Bà ấy đã đến Trung
Quốc hồi còn nhỏ.”

“Nó là ngà voi ạ?”

“Voi hoặc tê giác.”

Ông ngoại đấy. Mái
tóc trắng của ông vẫn dày, đường nét trên khuôn mặt hằn sâu sau những ngày trên
thuyền buồm. Quai hàm bạnh như một ngôi sao phim ảnh ngày trước.

Cháu có thể lấy được
nó, ông nói về đồ ngà.

Một trong những
châm ngôn của ông: Đừng chấp
nhận câu từ chối.

Nó dường như đã
luôn là một cách sống anh hùng. Ông sẽ nói thế khi khuyên bảo chúng tôi đeo đuổi
hoài bão của mình. Khi ông động viên anh Johnny cố luyện tập cho một cuộc
marathon, hay khi tôi không giành được giải đọc sách vào năm lớp bảy. Đó là điều
ông nói khi kể về chiến lược kinh doanh của mình, và cách ông khiến Bà ngoại cưới
ông. “Ông đã cầu hôn bà bốn lần trước khi bà chấp thuận,” ông đã luôn nói thế
khi kể về một trong những huyền thoại gia đình Sinclair yêu thích của mình.
“Ông khiến bà phát mệt. Bà chấp thuận để ông im mồm.”

Giờ đây, ở bàn ăn
sáng, ngắm nhìn ông ăn miếng bánh mì của tôi, dường như “Đừng chấp nhận câu từ chối” giống như quan điểm của một người có đặc quyền chẳng buồn
bận tâm xem có ai bị tổn thương không miễn là vợ người đó có được những bức tượng
dễ thương bà ấy muốn để trưng bày trong những căn nhà mùa hè của mình.

Tôi bước qua và cầm
con ngỗng lên. “Người ta không nên mua đồ ngà,” tôi nói. “Nó bất hợp pháp là có
lý do. Bữa trước Gat đang đọc về…”

“Đừng có kể với ta
thằng nhóc đó đang đọc cái gì,” Ông ngoại cáu kỉnh ngắt lời. “Ta có cập nhật
tin tức. Ta có mọi tờ báo.”

“Cháu xin lỗi.
Nhưng cậu ấy khiến cháu nghĩ về…”

“Cadence.”

“Ông có thể đem
những bức tượng ấy đi đấu giá và rồi quyên tiền cho quỹ bảo tồn
cuộc sống hoang dã.”

“Để rồi ta sẽ
chẳng có lấy một bức tượng nào sao. Chúng rất quý đối với bà
Tipper đấy.”

“Nhưng mà…”

Ông ngoại quát,
“Đừng có mà bảo ta phải làm gì với tiền của mình cả, Cady ạ. Số
tiền đó chẳng phải là của cháu đâu.”

“Được rồi.”

“Cháu không được
bảo ta cách sử dụng đồ của mình, rõ chưa hả?”

“Vâng.”

“Đừng bao giờ
đấy.”

“Vâng, Ông ngoại.”

Tôi có thôi thúc muốn
túm lấy con ngỗng mà liệng nó bay ngang phòng.

Nó sẽ bể khi đập
vào lò sưởi chứ? Nó sẽ vỡ tan ra thành từng mảnh chăng?

Tôi nắm tay lại
thành nắm đấm.

Đó là lần đầu
tiên chúng tôi nói về Ngoại Tipper kể từ sau cái chết của bà.

ÔNG NGOẠI CẬP
THUYỀN vào cảng và cột dây lại.

“Ông vẫn nhớ bà
ngoại chứ?” tôi hỏi ông khi chúng tôi tiến về Clairmont Mới. “Vì cháu
nhớ bà. Chúng ta chưa từng nói về Ngoại.”

“Một phần trong
ta đã chết đi,” ông nói. “Và đó là phần tuyệt nhất.”

“Ông nghĩ vậy
ạ?” tôi hỏi.

“Đó là tất cả
những gì để nói về điều ấy,” Ông ngoại đáp.