Chúng ta là những Kẻ dối trá - Phần III - Chương 26 - 27 - 28 - 29 - 30

26

MIRREN VÀ JOHNNY đeo ống
thở và chân vịt rồi tiến xuống nước. Họ đi lung tung tìm kiếm tôm hùm.

Có lẽ chỉ có sứa và mấy con
cua nhỏ, nhưng thậm chí dù cho có thu hoạch ít ỏi thì chúng tôi vẫn đã luôn đi
lặn ở bãi biển nhỏ này.

Gat ngồi cùng tôi trên
chiếc chăn batik. Chúng tôi nhìn ngắm những người còn lại trong im lặng.

Tôi không biết làm thế nào
để trò chuyện với cậu nữa.

Tôi yêu cậu.

Cậu là một tên đần.

Tôi không nên yêu cậu. Tôi
thật ngu ngốc vì vẫn yêu cậu. Tôi phải quên đi.

Có lẽ cậu vẫn nghĩ rằng tôi
thật xinh. Thậm chí với mái tóc và quầng thâm dưới mắt này của tôi. Có lẽ vậy.

Đám cơ bắp nơi lưng cậu nổi
cuồn cuộn dưới lớp áo thun. Đường cong nơi chiếc cổ, vòng cung mềm mại của đôi
tai. Nốt ruồi nhỏ màu nâu ở một bên cổ. Những chiếc móng tay hình trăng non.
Tôi ngấu nghiến nhìn cậu sau bao lâu xa cách.

“Cậu đang nhìn cái chân
khổng lồ của tớ à?” Gat hỏi. “Chúa ơi, đừng làm thế.”

“Gì cơ?”

“Một gã quỷ khổng lồ đã lẻn
vào phòng tớ vào giữa đêm hôm khuya khoắt, lấy đi đôi chân bình thường và để
lại cho tớ đôi chân ác ôn khổng lồ của gã.” Gat thọt chân vào dưới một chiếc
khăn để tôi không thể thấy chúng. “Được chưa? Giờ cậu đã biết sự thật rồi đấy.”

Tôi thấy nhẹ cả người khi
hai chúng tôi đang nói về thứ chẳng quan trọng. “Đi giày vào đi.”

“Tớ sẽ không đi giày trên
bãi biển.” Cậu ngọ nguậy thò đôi bàn chân ra khỏi lớp khăn tắm. Trông chúng
cũng ổn. “Tớ phải cư xử như thể mọi thứ đều ổn cho đến khi tớ có
thể tìm thấy gã khổng lồ đó và giết chết gã và lấy lại đôi chân bình thường của
mình. Cậu có vũ khí chưa?”

“Có một cây gầy lửa ở
Windemere.”

“Được. Cậu sẽ giúp tớ. Ngay
khi chúng ta nhìn thấy gã khổng lồ đó, chúng ta sẽ giết chết gã bằng cây gầy
lửa.”

“Nếu cậu cứ nhất định là
vậy.”

Tôi ngả mình lên chiếc chăn
và đưa cánh tay lên che mắt. Chúng tôi không nói không rằng trong một lúc.

“Khổng lồ là loài sống về
đêm,” tôi nói thêm.

“Cady này?” Gat thì thầm.

Tôi quay mặt sang nhìn vào
mắt cậu. “Ừ?”

“Tớ cứ nghĩ là có lẽ mình
sẽ không bao giờ được gặp lại cậu nữa.”

“Gì cơ?” Cậu gần đến mức
chúng tôi có thể hôn nhau.

“Tớ cứ nghĩ là có lẽ mình
sẽ không bao giờ được gặp lại cậu nữa. Sau mọi chuyện xảy ra, rồi mùa hè trước
cậu không ở đây.”

Sao cậu không viết thư cho
tớ? Tôi muốn nói vậy. Sao cậu không gọi cho tớ, trong suốt quãng thời gian ấy?

Cậu chạm vào mặt tôi. “Tớ
mừng vì cậu đã ở đây,” cậu nói. “Tớ mừng vì mình đã có cơ hội.”

Tôi không biết giữa chúng
tôi có gì nữa. Tôi thật sự không biết. Cậu ấy thật là một tên đần.

“Đưa tay cậu đây,” Gat nói.

Tôi không chắc là mình có
muốn làm thế hay không.

Nhưng rồi dĩ nhiên là tôi
muốn.

Da cậu ấm áp và đầy cát.
Ngón tay chúng tôi đan vào nhau và chúng tôi nhắm mắt lại để tránh ánh mặt
trời.

Chúng tôi chỉ nằm đó. Nắm
tay nhau. Cậu chà ngón cái vào lòng bàn tay tôi như cậu đã từng làm hai mùa hè
trước dưới những ánh sao.

Và tôi tan chảy.

27

CĂN PHÒNG Ở Windemere của
tôi được lát bằng gỗ với sơn màu kem. Có một chiếc mền bông chắp vá màu xanh
trên giường. Tấm thảm là một trong những tấm thảm trải sàn rách rưới mà bạn
nhìn thấy trong các nhà trọ.

Hai mùa hè trước mày đã ở
đây, tôi tự nhủ. Trong căn phòng này, mỗi tối. Trong căn phòng này, mỗi sáng.

Có lẽ mày đang đọc sách,
chơi game trên iPad, lựa đồ. Mày nhớ gì nào?

Không gì cả.

Những bức tranh hoa cỏ
trang nhã xếp dọc trên tường phòng tôi, cộng thêm vài bức họa tôi tự vẽ: một
bức mộc lan bằng màu nước để làm mờ đi bãi cỏ nhà Clairmont và hai bức tranh
chì màu: một bức vẽ Ngoại Tipper cùng hai chú chó Prince Philip và Fatima của
bà; một bức vẽ cha tôi. Tôi lôi chiếc giỏ đựng đồ giặt bằng liễu gai từ trong
nhà kho ra, gỡ hết những bức tranh xuống và chất chúng vào trong giỏ.

Có một chiếc kệ với những
cuốn sách bìa mềm xếp hàng dài, những cuốn sách dành cho thanh thiếu niên và
sách viễn tưởng tôi từng ghiền đọc vài năm trước. Những truyện kể dành cho con
nít tôi đã đọc cả trăm lần. Tôi lôi hết chúng xuống và chất đống ở hành lang.

“Con đang đem sách đi tặng
đấy à? Con yêu sách mà,” Mẹ nói. Bà đang bước ra khỏi phòng với bộ đồ mới cho
bữa tối. Thoa son.

“Ta có thể đem chúng tới
một trong những thư viện của Vineyard,” tôi nói. “Hay tới Goodwill.”

Mẹ nghiêng người và nhìn
lướt qua đống sách. “Chúng ta từng đọc Quý nhân phù trợ cùng
nhau, con còn nhớ chứ?”

Tôi gật đầu.

“Và cả cuốn này nữa. Chín
mạng sống của Christopher Chant.
Đó là năm con lên tám. Con muốn đọc
mọi thứ nhưng con vẫn chưa đọc sõi lắm, thế nên mẹ đã đọc cho con và Gat nghe
hàng giờ liền.”

“Thế còn Johnny và Mirren?”

“Hai đứa nó không ngồi yên
được,” Mẹ nói. “Bộ con không muốn giữ lại chúng sao?”

Mẹ đưa tay ra và sờ má tôi.
Tôi bước lui lại. “Con muốn những thứ này tìm được một căn nhà tốt hơn,” tôi
bảo.

“Mẹ đã hy vọng con sẽ cảm
thấy khác đi khi chúng ta trở lại hòn đảo, có vậy thôi.”

“Mẹ tống khứ đi tất cả
những món đồ của Bố. Mẹ đã mua bộ đi văn mới, chén đĩa mới, trang sức mới.”

“Cady à.”

“Trong cả căn nhà của chúng
ta, chẳng còn có thứ gì nói rằng bố từng sống với chúng ta cả, trừ con. Sao mẹ
được phép xóa bỏ đi bố còn con thì không được phép...”

“Xóa bỏ chính mình?” Mẹ
nói.

“Những người khác có thể sẽ
sử dụng những thứ này,” tôi cáu kỉnh nói, chỉ vào đống sách. “Những người thật
sự có nhu cầu. Bộ mẹ không nghĩ đến chuyện làm việc tốt cho thế giới sao?”

Vào lúc đó, Poppy, Bosh, và
Grendel lăn mạnh trên lầu và đứng nghẹt hành lang nơi chúng tôi đang đứng, liếm
láp tay chúng tôi, quật quật chiếc đuôi đầy lông của chúng lên đầu gối chúng
tôi.

Mẹ và tôi giữ im lặng.

Cuối cùng bà nói: “Con muốn
đi lang thang ở bãi biển nhỏ, hay làm cái trò gì đó mà con đã làm chiều nay
cũng được. Con cho đi những cuốn sách của mình nếu con thấy kiên quyết thế cũng
được. Nhưng mẹ mong là sẽ thấy con ở Clairmont sau một tiếng nữa để dùng bữa
tối với nụ cười trên mặt vì Ông ngoại. Không tranh cãi. Không viện cớ. Con hiểu
mẹ chứ?”

Tôi gật đầu.

28

MỘT TẬP GIẤY VẼ còn sót lại
từ nhiều mùa hè trước khi Gat và tôi bị ám ảnh với giấy kẻ ô vuông. Chúng tôi
cứ vẽ hết bức này đến bức khác bằng cách dùng bút chì màu tô kín những ô vuông
nhỏ để tạo thành những chân dung điên khùng.

Tôi tìm một cây bút và ghi
chép lại tất cả những hồi ức về mùa hè thứ mười lăm.

Những chiếc s’mores, chuyến
đi bơi. Căn gác, sự cắt ngang.

Tay của Mirren, lớp gel làm
bóng móng tay màu vàng của cô bạn, tay cầm một bình ga dành cho những chiếc
thuyền máy.

Mẹ, khuôn mặt cứng đờ, hỏi
dò, “Những viên ngọc trai đen?”

Chân của anh
Johnny, từ Clairmont chạy nhào xuống cầu thang đến nhà thuyền.

Ông ngoại, tay vịn vào một
cái cây, khuôn mặt được ánh sáng rực rỡ từ ngọn lửa mừng chiếu sáng.

Và cả bốn Kẻ Dối Trá chúng
tôi, cười như điên đến choáng váng và phát bệnh.

Tôi dành một trang riêng
cho vụ tai nạn. Những gì Mẹ đã kể tôi nghe và những gì tôi phỏng đoán. Tôi hẳn
đã đi bơi ở bãi biển nhỏ một mình. Tôi đã va đầu vào một tảng đá. Tôi hẳn đã
vật lộn để quay lại bờ.

Dì Bess và Mẹ đưa tôi trà.
Tôi đã được chuẩn đoán mắc chứng hạ thân nhiệt, suy hô hấp, và một chấn thương
não chưa từng hiển thị khi rọi hình.

Tôi đính những tờ giấy lên
khoảng tường đầu giường. Tôi thêm vào đó những mẩu giấy ghi nhớ với những câu
hỏi.

Tại sao tôi lại một mình
xuống nước trong đêm?

Quần áo tôi đâu?

Liệu thật sự là tôi đã bị
tổn thương đầu từ vụ bơi lội, hay có chuyện gì khác đã xảy ra? Có thể là trước
đó có ai đó đã đánh tôi chăng? Liệu tôi có phải là nạn nhân của một tội ác nào
đó?

Và chuyện gì đã xảy ra giữa
tôi và Gat? Chúng tôi đã cãi nhau? Tôi đã làm gì xấu với cậu?

Cậu đã ngừng yêu tôi và
quay lại với Raquel?

Tôi quyết định rằng mọi
điều tôi trải qua trong bốn tuần kế sẽ nằm ở đầu giường tôi ở Windemere. Tôi sẽ
ngủ bên dưới những tờ giấy ghi chú và nghiền ngẫm chúng mỗi sáng.

Có lẽ một bức tranh sẽ hiện
lên trên những ảnh điểm.

MỘT MỤ PHÙ THỦY đã đứng đó,
đằng sau tôi được một lúc, đợi chờ một phút giây yếu mềm. Mụ cầm một bức tượng
ngỗng xinh đẹp bằng ngà voi. Nó được tạo khắc một cách cầu kỳ phức tạp. Tôi
ngưỡng mộ ngắm nhìn nó chỉ một chốc trước khi mụ vung vẩy bức tượng với sức lực
đáng kinh ngạc. Nó đập vào tôi, làm lủng một lỗ trên trán. Tôi có thể cảm thấy
xương cốt mình như long ra. Mụ phù thủy lại vung vẩy bức tượng và đập nó vào
phần phía trên tai phải tôi, làm sọ tôi vỡ ra từng mảnh. Mụ cứ giáng hết cú này
đến cú khác, cho đến khi những mảnh xương nhỏ tí vương vãi khắp giường và trộn
lẫn với những mảnh nhỏ của thứ từng là một con ngỗng xinh đẹp.

Tôi tìm thấy mấy viên thuốc
và tắt đèn.

“Cadence?” Mẹ từ dưới lầu
gọi vọng lên. “Bữa tối ở Clairmont Mới sẵn sàng rồi này.”

Tôi không thể đi.

Tôi không thể. Sẽ không.

Mẹ tôi hứa rằng sẽ cho tôi
uống cà phê để giúp tôi tỉnh táo khi thuốc ngấm. Mẹ nói rằng đã lâu lắm rồi kể
từ lần cuối mấy dì gặp tôi, rằng sau cùng thì đám nhóc cũng là em họ của tôi.
Tôi có những nghĩa vụ gia đình.

Tôi chỉ có thể cảm thấy vết
gãy trong sọ và cơn đau nhói khắp đầu. Những thứ khác là một tấm màn mờ nhạt so
với nó.

Cuối cùng mẹ rời đi mà
không có tôi.

29

ĐÊM KHUYA, căn nhà kêu lên
lách cách — đúng như điều mà Taft đã sợ ở Cuddledown. Mọi căn nhà ở đây đều như
thế. Chúng đã cũ, và hòn đảo thì phải chống chọi những cơn gió biển.

Tôi cố chìm lại vào giấc
ngủ.

Không.

Tôi xuống lầu và ra hiên
nhà. Giờ thì đầu tôi thấy ổn rồi.

Dì Carrie đang ở chỗ lối đi
bộ, hướng về phía xa khỏi chỗ tôi trong chiếc áo ngủ và đôi bốt lông cừu. Dì trông
thật gầy gò, với phần xương ngực nhô lên và gò má hõm xuống.

Dì quẹo sang phía lỗi đi
bằng gỗ dẫn vào Red Gate.

Tôi ngồi đó nhìn dì không
rời mắt. Hít thở bầu không khí buổi đêm và lắng nghe tiếng sóng biển. Vài phút
sau dì lại tiến lên chỗ lối đi dẫn từ Cuddledown.

“Cady này,” dì nói, ngừng
lại và khoanh tay trước ngực. “Cháu thấy ổn hơn chưa?”

“Cháu xin lỗi vì đã bỏ lỡ
mất bữa tối,” tôi nói. “Cháu bị nhức đầu.”

“Sẽ có những bữa tối mỗi
tối, cả mùa hè mà.”

“Dì không ngủ được ạ?”

“Ồ, cháu biết đấy.” Dì
Carrie gãi cổ. “Thiếu chú Ed dì không thể ngủ được. Chuyện đó có ngu ngốc
không?”

“Không ạ.”

“Dì bắt đầu đi lang thang.
Đó là một dạng luyện tập tốt đấy. Cháu có gặp Johnny không?”

“Không phải giữa đêm hôm.”

“Thi thoảng nó cũng tỉnh
giấc khi dì dậy. Cháu có gặp nó không?”

“Dì có thể xem coi phòng
anh ấy có mở đèn không mà.”

“Will gặp những ác mộng tồi
tệ,” Carrie nói. “Nó thức giấc với những tiếng la hét và rồi dì không thể ngủ
lại được.”

Tôi run rẩy trong chiếc áo
ấm. “Dì có cần đèn chớp không?” tôi hỏi. “Trong nhà có một chiếc đấy ạ.”

“Ồ, không đâu. Dì thích
bóng tối.”

Dì lại một lần nữa lê bước
lên đồi.

30

MẸ TÔI ĐANG Ở TRONG căn bếp
nhà Clairmont Mới với Ông ngoại. Tôi nhìn thấy họ qua cánh cửa kéo bằng kính.

“Con dậy sớm thế,” mẹ nói
khi tôi bước vào. “Thấy đỡ hơn chưa?”

Ông ngoại đang mặc
chiếcáo choàng tắm bằng vải len sọc ô vuông. Mẹ thì khoác lên mình chiếc
váy dây in hình những con tôm hùm nhỏ màu hồng.

Mẹ đang pha cà phê
espresso. “Con muốn ăn bánh nướng không? Đầu bếp cũng làm cả thịt xông khói nữa
đấy. Cả hai món đều ở trong ngăn làm ấm.” Mẹ băng ngang căn bếp và để cho lũ
chó vào nhà. Bosh, Grendel, và Poppy vẫy vẫy đuôi và chảy dãi. Mẹ cúi người
xuống và lau chân chúng bằng một miếng vải ướt, rồi lơ đãng đập mạnh vào sàn
nhà nơi có những dấu chân đầy bùn đất của lũ chó. Chúng ngồi xuống, ngốc nghếch
và duyên dáng.

“Fatima đâu ạ?” tôi hỏi.
“Hoàng tử Philip nữa?”

“Chúng đi rồi,” Mẹ nói.

“Gì cơ?”

“Hãy tế nhị với con bé,”
Ông ngoại nói. Rồi quay sang tôi. “Chúng đã qua đời cách đây cũng lâu rồi.”

“Cả hai?”

Ông ngoại gật đầu.

“Cháu rất tiếc.” Tôi ngồi
xuống kế ông ở cạnh bàn. “Chúng có chịu đau đớn gì không ạ?”

“Không lâu lắm.”

Mẹ bưng ra bàn một đĩa bánh
nướng việt quất và một miếng thịt muối. Tôi lấy một chiếc bánh nướng và trét bơ
và rưới mật ong lên nó.

“Con bé từng là một đứa nhỏ
tóc vàng. Một người nhà Sinclair từ đầu đến chân,” Ông ngoại phàn nàn với Mẹ.

“Chúng ta đã nói về tóc của
cháu khi ông ghé thăm rồi mà,” tôi nhắc ông. “Cháu cũng chẳng mong ông thích
nó. Ông chưa từng thích tóc nhuộm.”

“Con là mẹ nó. Con nên bắt
Mirren đổi kiểu tóc về lại như trước,” Ông ngoại nói với mẹ tôi. “Chuyện gì đã
xảy ra với những đứa bé gái tóc vàng từng hay chạy quanh nơi này rồi?”

Mẹ thở dài. “Chúng con đã
lớn lên rồi, Ba ạ,” bà nói. “Chúng con đã lớn lên.”