Chúng ta là những Kẻ dối trá - Phần II - Chương 19 - 20 - 21 - 22

19

BỐ DỰ ĐỊNH sẽ đưa tôi đến Úc và New Zealand trong suốt mùa hè thứ mười bảy.

Tôi không muốn đi.

Tôi muốn quay về Beechwood. Tôi muốn gặp Mirren và nằm ườn ra dưới ánh nắng mặt trời, lên kế hoạch cho tương lai của chúng tôi. Tôi muốn tranh luận với Johnny và đi lặn và làm kem. Tôi muốn dựng lửa trại bên bờ bãi biển nhỏ. Tôi muốn nằm trên võng bên hiên nhà Clairmont và một lần nữa lại là những Kẻ dối trá, nếu có thể.

Tôi muốn nhớ ra về tai nạn của mình.

Tôi muốn biết lý do vì sao Gat lại biến mất. Tôi không biết vì sao cậu không ở cùng tôi, bơi lội. Tôi không biết vì sao tôi lại đến bãi biển nhỏ một mình. Vì sao tôi bơi trong bộ đồ lót và không để lại quần áo trên bãi cát. Và vì sao cậu né tránh khi tôi bị thương.

Tôi tự hỏi liệu có phải cậu ấy có yêu mình. Tôi tự hỏi liệu có phải cậu ấy có yêu Raquel.

Lẽ ra năm ngày nữa là bố và tôi đã phải rời tới Úc.

Tôi không bao giờ nên đồng ý đi mới phải.

Tôi tự khiến mình khổ sở, thổn thức. Tôi nói Mẹ rằng tôi không muốn nhìn thấy thế giới. Tôi muốn nhìn thấy gia đình.

Tôi nhớ Ông ngoại.

Không.

Tôi sẽ phát bệnh nếu đến Úc mất. Chứng đau đầu sẽ bùng phát, tôi không nên lên máy bay. Tôi không nên ăn thức ăn lạ. Tôi không nên bị mệt mỏi sau một chuyến bay dài. Lỡ như chúng tôi làm mất đơn thuốc thì sao?

Ngừng tranh luận đi. Chuyến đi này được chi trả cho rồi.

Tôi đi dạo với những chú chó vào sáng sớm. Tôi nhét đầy đĩa vào máy rửa rồi sau đó lấy chúng ra. Tôi mặc váy và dặm lên má chút phấn. Tôi ăn sạch mọi thứ có trên đĩa của mình. Tôi để Mẹ vòng tay ôm tôi và xoa đầu. Tôi nói mẹ tôi muốn dành trọn mùa hè bên mẹ, không phải bên Bố.

Làm ơn.

Ngày hôm sau, Ông ngoại đến Burlington và ở phòng dành cho khách. Ông đã ở trên đảo từ giữa tháng Năm và phải bắt một chuyến tàu biển, một chuyến xe, một chuyến máy bay để đến được đây. Ông vẫn chưa từng đến thăm chúng tôi kể từ sau khi Bà ngoại Tipper mất.

Mẹ đi đón Ông ở sân bay trong khi tôi ở nhà và dọn bàn ăn tối. Mẹ tôi đã mua gà nướng và đồ ăn kèm tại một cửa hàng dành cho người sành ăn ở trong thị trấn.

Ông nội đã sụt mất vài ký lô kể từ lần gặp mặt cuối. Mái tóc trắng của ông nổi bật giữa mớ tóc bồng quanh tai, rậm rạp; ông trông giống như một chú chim non. Da ông phì ra so với thân hình, và ông có một cái bụng phệ không như tôi đã nhớ. Dường như ông luôn bất khả chiến bại với bờ vai rộng cứng cáp và rất nhiều răng.

Ông ngoại là kiểu người có phương châm sống. “Đừng chấp nhận câu từ chối,” ông luôn nói với chúng tôi như vậy. Và “Đừng bao giờ nhận lấy chiếc ghế ngồi ở cuối căn phòng. Những kẻ thắng cuộc phải ngồi ở phía trước.”

Bọn Những kẻ dối trá chúng tôi từng đảo tròn mắt khi nghe những tuyên bố này — “Hãy quyết đoán; không ai thích một kẻ dông dài cả”; “Không bao giờ phàn nàn, không bao giờ giải thích” — nhưng chúng tôi vẫn xem ông như một người đầy thông thái về những chủ đề dành cho người lớn.

Ông ngoại đang mặc quần đùi bằng vải mùng và đi đôi giày lưới. Chân ông cao và gầy guộc như chân người già. Ông vỗ lưng và đòi một ly scotch và soda.

Chúng tôi ăn và ông ngoại kể về những người bạn của ông ở Boston. Về căn bếp mới của ông ở ngôi nhà tại Beechwood.

Chẳng có gì quan trọng cả. Sau đó, trong lúc Mẹ tôi dọn dẹp, tôi dẫn ông đi thăm quan khu vườn sau nhà. Ánh mặt trời buổi chiều vẫn còn hiện hữu.

Ông ngoại hái một bông mẫu đơn và đưa cho tôi. “Tặng cho đứa cháu đầu của ta.”

“Ông đừng có hái hoa chứ, được không ạ?”

“Penny sẽ không để ý đâu.”

“Mẹ cháu có đấy.”

“Cadence là đứa đầu tiên,” ông nói, mắt không nhìn vào mắt tôi mà nhìn lên trời. “Ta nhớ khi mẹ con đến viếng thăm bọn ta ở Boston. Nó diện một chiếc quần yếm màu hồng và tóc tai trên đầu thì dựng đứng. Johnny vẫn chưa được sinh ra cho đến ba tuần sau đó.”

“Cháu ở ngay đây, Ông ngoại.”

“Cadence là đứa đầu tiên, và việc nó là một bé gái cũng chẳng hề gì. Ta sẽ trao cho nó mọi thứ. Như một đứa cháu trai vậy. Ta ôm nó trong vòng tay và nhảy nhót. Nó là tương lai của gia đình ta.”

Tôi gật đầu.

“Bọn ta có thể thấy nó là một đứa nhà Sinclair. Nó mang cái màu tóc đó, nhưng không chỉ có thế. Là chiếc cằm, đôi bàn tay bé nhỏ. Bọn ta biết nó sẽ cao lên. Tất cả bọn ta đều cao ráo cho đến khi Bess đi lấy cái thằng lùn xủn đó, và Carrie cũng mắc lỗi y chang.”

“Ý ông là chú Brody và chú Jonathan.”

“Thật là rảnh nợ, hở?” Ông ngoại cười. “Tất cả người của ta đều cao. Con có biết là gia đình bên ngoại của ta di cư đến đây trên chiếc tàu Mayflower[24] không? Để lập cư ở đất Mỹ này.”

[24] Mayflower là tên một con tàu từ Anh đến Bắc Mỹ. Một sự kiện đặc biệt đã xảy ra khi con tàu không đến được cửa sông Hudson, trong lãnh thổ thuộc địa Virginia. Vì thời tiết xấu, con tàu đã thả neo ở mũi Cape Cod thuộc Provincetown Harbor ngày nay. Do có một số người đòi li khai, một hiệp ước gọi là the Mayflower Compact đã được ký trên tàu bởi đa số là tu sĩ đạo Chúa mà sau này người ta hay gọi là ông tổ của người hành hương (the Pilgrim Fathers). Ngày kí hiệp ước là ngày 11 tháng 11 năm 1620 theo lịch lúc đó nhưng sau này lịch mới sửa lại là 21 tháng 11 năm 1621 vì lấy năm 1 là năm đầu tiên.

Tôi biết việc người ta có đến đây trên chuyến tàu Mayflower cũng chẳng quan trọng gì. Cũng chẳng quan trọng việc người ta có cao ráo.

Hay tóc vàng. Đó là lý do vì sao tôi nhuộm tóc: tôi không muốn là đứa lớn nhất. Người thừa kế hòn đảo, gia tài, và những kỳ vọng.

Nhưng rồi một lần nữa, có lẽ tôi muốn,

Ông ngoại đã uống quá nhiều sau một ngày dài đi lại. “Ta vào trong ông nhé?” tôi hỏi. “Ông có muốn ngồi xuống không?”

Ông bứt lấy một bông mẫu đơn thứ hai và đưa cho tôi. “Thứ lỗi cho ta, cháu yêu quý.”

Tôi vỗ lên tấm lưng còng của ông. “Ông đừng có bứt nữa được không?”

Ông ngoại cúi xuống và chạm vào đóa tulip trắng.

“Cháu nghiêm túc đấy, đừng,” tôi nói.

Ông thình lình bứt bông mẫu đơn thứ ba, đầy ngang ngược. Đưa nó cho tôi. “Cháu là Cadence của ta. Đứa đầu tiên.”

“Vâng.”

“Chuyện gì xảy ra với mái tóc của cháu vậy?”

“Cháu nhuộm nó rồi.”

“Ta không nhận ra cháu.”

“Chuyện đó cũng ổn thôi.”

Ông ngoại chỉ vào đám mẫu đơn, tất cả giờ đều đã nằm gọn trong tay tôi. “Ba đóa hoa cho cháu. Cháu nên có ba đóa hoa.”

Trông ông thật đáng thương xót. Trông ông thật quyền lực.

Tôi yêu ông, nhưng tôi không chắc là mình có thích ông.

Tôi nắm lấy tay ông và dẫn ông vào trong nhà.

20

NGÀY XỬA ngày xưa có một vì vua và ba người con gái xinh đẹp. Ông yêu quý mỗi đứa con của mình rất nhiều. Một ngày nọ, khi những cô gái trẻ ấy đến tuổi cập kê, một con rồng ba đầu khủng khiếp đã vây hãm vương quốc, thiêu rụi làng mạc bằng hơi thở nóng như thiêu đốt của mình. Nó hủy hoại mùa màng và đốt sạch chùa chiền. Nó cướp đi mạng sống của những đứa bé, những cụ già, và tất cả những người nằm giữa hai độ tuổi đó.

Nhà vua hứa sẽ gả một nàng công chúa cho bất cứ ai diệt được con rồng. Những vị anh hùng và những người chiến binh đã đến trong những bộ giáp, cưỡi trên lưng những con ngựa dũng cảm và mang trên tay những kiếm và cung.

Những người ấy, từng người một, tất cả đều bị giết và ăn thịt.

Cuối cùng, nhà vua kết luận rằng một trinh nữ có thể sẽ làm tan chảy được trái tim của con rồng và thành công nơi những chiến binh đã thất bại. Ngài điều người con gái cả đi cầu xin lòng thương hại của con rồng, nhưng con rồng không thèm lắng nghe dù chỉ một lời khẩn thiết cầu xin của cô gái. Nó nuốt trọn cô vào bụng.

Rồi nhà vua điều người con gái thứ đi cầu xin lòng thương hại của con rồng, nhưng con rồng cũng làm như cũ. Nuốt cô vào bụng trước khi cô có thể nói nổi một lời.

Rồi nhà vua điều người con gái út đi cầu xin lòng thương hại của con rồng, và người con gái ấy đáng yêu và thông minh đến nỗi ông chắc rằng cô sẽ thành công nơi những người khác đã bỏ mình.

Thật sự là không. Con rồng chỉ đơn giản là ăn luôn cô gái út.

Nhà vua bị bỏ lại, đớn đau với sự nuối tiếc. Lúc này đây ông chỉ còn lại một mình trong thế giới.

Giờ thì, hãy để tôi hỏi bạn điều này. Ai đã giết những cô gái ấy?

Con rồng? Hay người cha?

SAU KHI ÔNG NGOẠI RỜI ĐI vào ngày hôm sau, Mẹ tôi gọi cho Bố và hủy chuyến đi Úc. Có tiếng la hét. Có sự thương lượng.

Cuối cùng thì họ quyết định rằng tôi sẽ tới Beechwood trong bốn tuần của mùa hè, rồi đến thăm bố ở căn nhà của ông tại Colorado, nơi tôi chưa từng đặt chân đến. Ông cứ khăng khăng. Ông sẽ không mất đi cả mùa hè với tôi, không thì sẽ có luật sư dính líu vào trong chuyện này.

Mẹ tôi gọi cho các dì. Bà có những cuộc nói chuyện dài và riêng tư với họ bên hiên nhà. Tôi chẳng nghe được bất cứ điều gì trừ vài câu lõm bõm: Cadence rất yếu ớt, cần nghỉ ngơi nhiều. Chỉ có bốn tuần, đâu phải là trọn mùa hè. Không nên có chuyện gì làm quấy rầy con bé, việc phục hồi phải diễn ra từng bước từng bước một. Còn nữa, rượu nho trắng của Ý, Sancerre, có lẽ là một ít Riesling nữa; dứt khoát không được có nho da xanh.

21

Giờ thì phòng tôi gần
như là trống trơn. Có tấm khăn trải và một chiếc chăn bông trên giường
tôi. Một chiếc laptop trên bàn học, vài cây bút. Một cái ghế.

Tôi có một cặp quần
jean và quần short. Tôi có áo thun và áo bằng vải flannel, vài chiếc
áo ấm bằng len; một bộ đồ bơi, một đôi sneaker, một đôi Croc, và một
đôi bốt. Hai chiếc váy và vài đôi cao gót.

Áo khoác, áo da đi săn
và chiếc túi du lịch bằng vải bạt.

Những chiếc kệ trống
rỗng. Không ảnh ọt, không poster. Không đồ chơi cũ.

CHO ĐI: Bộ bàn chải
đánh răng dành khi đi du lịch Mẹ mua cho tôi hôm qua.

Tôi đã có một chiếc
bàn chải rồi. Tôi không biết tại sao mẹ lại đi mua cho tôi một cái
khác nữa. Người phụ nữ đó cứ đi mua sắm để cho có việc mà làm.
Thật kinh tởm.

Tôi đi ngang qua thư viện
và thấy cô gái từng nhận lấy chiếc gối của tôi. Cô ấy vẫn đang dựa vào bức
tường bên ngoài thư viện. Tôi bèn đặt bộ bàn chải đánh răng vào trong chiếc
cốc của cô gái.

CHO ĐI: Áo đi săn màu Ôliu
của Gat. Chiếc áo tôi mặc vào cái đêm chúng tôi nắm tay nhau và ngắm
nhìn những vì sao và bàn về Chúa. Tôi chưa từng trả lại nó.

Lẽ ra tôi nên cho nó đi
trước nhất mới phải. Tôi biết chứ. Nhưng tôi không thể khiến bản thân
mình làm việc đó. Đó là tất cả những gì còn lại của cậu mà tôi
có.

Nhưng điều đó thật yếu
đuối và ngu ngốc. Gat không yêu tôi.

Tôi cũng chẳng yêu cậu,
và có lẽ tôi chưa từng yêu cậu.

Tôi sẽ gặp lại Gat vào
ngày kia, và tôi không yêu cậu và tôi không muốn chiếc áo khoác của
cậu.

22

ĐIỆN THOẠI ĐỔ CHUÔNG
lúc mười giờ tối vào cái đêm trước khi chúng tôi rời đến Beechwood.
Mẹ đang ở trong buồng tắm. Tôi nhấc máy.

Có tiếng thở nặng nề.
Rồi một tiếng cười.

“Ai vậy?”

“Cady?”

Tôi nhận ra đó là một
đứa nhóc. “Ừ.”

“Taft đây.” Em trai Mirren.
Thằng nhóc thật chẳng có tí gì gọi là lịch sự.

“Sao mà nhóc vẫn còn
thức vậy hả?”

“Có đúng là chị nghiện
thuốc không?” Taft hỏi.

“Không.”

“Chị chắc đấy chứ?”

“Nhóc gọi để hỏi coi
chị có nghiện thuốc không ấy hả?” Tôi vẫn chưa trò chuyện với Taft kể
từ sau vụ tai nạn.

“Tụi em đang ở
Beechwood,” nó nói. “Tụi em mới tới sáng nay.”

Thật mừng vì nó đã
chuyển chủ đề. Tôi cao giọng. “Ngày mai bọn chị sẽ tới. Có tuyệt
không? Nhóc đã đi bơi chưa?”

“Chưa.”

“Thế nhóc đã chơi chiếc
lốp xe đu chưa?”

“Chưa,” Taft nói. “Chị
có chắc là chị không nghiện thuốc không?”

“Nhóc thậm chí đã mò
đâu ra cái ý tưởng đó vậy hả?”

“Bonnie. Chị ấy nói em
nên trông chừng chị.”

“Đừng có nghe Bonnie,”
tôi bảo. “Nghe Mirren kìa.”

“Đó là những gì em đang
nói đến đấy. Nhưng Bonnie là người duy nhất tin em về vụ Cuddledown,”
nó nói. “Và em muốn gọi cho chị. Em chỉ không làm thế nếu chị
nghiện thuốc bởi mấy kẻ nghiện ngập thì chẳng còn biết chuyện gì
đang xảy ra cả.”

“Chị không có nghiện
ngập, thằng oắt con,” tôi nói. Dẫu rằng rất có thể là tôi đang nói
dối.

“Cuddledown đang bị ám,”
Taft nói. “Em đến ngủ chung với chị ở Windemere nhé?”

Tôi thích Taft. Thật đấy.
Thằng nhóc có hơi chút tưng tửng và mặt đầy tàn nhang và Mirren yêu nó hơn hai
đứa sinh đôi rất nhiều. “Nó không có bị ám. Chỉ là gió thổi qua căn nhà thôi,”
tôi nói. “Gió cũng thổi qua Windemere mà. Mấy cánh cửa sổ cứ kêu lạch cạch.”

“Nơi đó cũng bị ám luôn,”
Taft nói. “Mẹ không có thèm tin em và Liberty cũng thế.”

Ngày bé thằng nhỏ luôn là
đứa nghĩ rằng có quái vật trong cái tủ áo. Sau nó lại tin rằng dưới chân cảng
tàu có quái vật biển.

“Nhờ chị Mirren giúp nhóc
ấy,” tôi nói nó. “Cậu ấy sẽ kể truyện[25] hay hát cho nhóc nghe.”

[25] Nguyên gốc: bedtime
stories: những câu truyện kể cho trẻ con nhằm ru chúng ngủ.

“Chị nghĩ vậy hả?”

“Cậu ấy sẽ làm vậy. Và khi
tới đó rồi chị sẽ dẫn nhóc đi chèo xuồng và đi lặn và đó sẽ là một mùa hè tuyệt
vời, Taft ạ.”

“Được,” nó nói.

“Đừng có sợ cái tòa nhà
Cuddledown cũ kỹ ngu ngốc đấy nhé,” tôi nói nó. “Hãy cho nó biết ai mới là ông
chủ và chị sẽ gặp nhóc vào ngày mai.”

Nó cúp máy mà không thèm
chào tạm biệt lấy một lời.