Chúng ta là những Kẻ dối trá - Phần I - Chương 12 - 14 - 15

13

CHÀO MỪNG ĐẾN VỚI đầu óc tôi.

Một chiếc xe tải đang cán qua xương cổ và đầu tôi. Xương sống gẫy nát, óc phọt ra. Một ngàn ánh đèn chớp rọi vào mắt. Thế giới ngả nghiêng chao đảo.

Tôi ói mửa. Tôi ngất đi trong giây chốc.

Chuyện ấy cứ xảy ra suốt. Nó chẳng khác gì ngày thường.

Sáu tuần sau tai nạn của tôi, những cơn đau bắt đầu. Không ai chắc được là chúng có liên hệ gì với nhau không, nhưng không thể tránh được việc nôn mửa và sụt cân và những cơn rùng mình.

Mẹ đem tôi đi chụp MRI[19] và CT[20]. Những cây kim, những máy móc. Thêm nhiều kim, nhiều máy móc. Họ khám nghiệm để tìm ra những khối u não, viêm màng não,... Tất tần tật. Để làm dịu cơn đau, họ kê cho tôi hết thuốc này tới thuốc kia và thuốc khác, bởi vì loại đầu tiên không có hiểu quả và loại thứ hai cũng không.

[19] MRI (Magnetic Resonance Imaging): chụp cộng hưởng từ, sử dụng từ trường để tạo hình ảnh các bộ phận của cơ thể theo nhiều mặt phẳng khác nhau.

[20] CT (Computed Tomography): chụp cắt lớp vi tính có sự trợ giúp của máy tính. Là kỹ thuật dùng nhiều tia X-quang quét lên một vùng theo từng lát cắt ngang trục của cơ thể. Phối hợp với xử lý bằng máy vi tính để tạo được một hình ảnh hai chiều theo mặt phẳng cắt ngang trục cơ thể hoặc phối hợp nhiều lát cắt sẽ tái tạo được hình ảnh theo mặt phẳng khác hay hình ảnh ba chiều của bộ phận cần chụp.

Họ cứ kê đơn và kê đơn khi mà họ thậm chí còn không biết tôi bị gì. Chỉ cố để chế ngự cơn đau.

Cadence, các bác sĩ nói, đừng chụp quá nhiều.

Cadence, các bác sĩ nói, coi chừng cháu sẽ bị nghiện.

Và lại nữa, Cadence, hãy chắc rằng cháu sẽ uống thuốc.

Có quá nhiều cuộc hẹn đến nỗi tôi thậm chí chẳng thể nhớ nổi nữa. Cuối cùng các bác sĩ bằng lòng với một chẩn đoán. Cadence Sinclair Eastman: chứng nhức đầu sau sang trấn, hay còn biết đến với tên gọi là bệnh PTHA[21].

[21] PTHA: post-traumatic headaches.

Những cơn đau nửa đầu sau chấn thương não bộ.

Tôi sẽ ổn thôi, họ bảo.

Tôi sẽ không chết.

Chỉ là nó rất đau.

14

SAU MỘT NĂM ở Colorado, Bố muốn gặp lại tôi. Sự thật là, ông đã nài nỉ được đưa tôi đi Ý, Pháp, Đức, Tây Ban Nha và Scotland — một chuyến đi mười tuần vào giữa tháng Sáu, có nghĩa là tôi sẽ không hề đến Beechwood vào mùa hè thứ mười sáu

“Chuyến đi khéo chọn thời gian đấy nhỉ,” Mẹ rạng rỡ nói khi bà đóng gói hành lý cho tôi.

“Tại sao vậy ạ?” Tôi nằm trên sàn phòng ngủ và để mẹ làm việc của bà. Đầu tôi đau nhói.

“Ông ngoại đang tu sửa lại Clairmont.” Mẹ cuốn đám vớ thành những cục tròn. “Mẹ đã nói với con điều đó đến cả triệu lần rồi mà.”

Tôi không nhớ. “Sao thế ạ?”

“Ý tưởng của ông. Ông sẽ nghỉ hè ở Windemere.”

“Với mẹ phục vụ ông?”

Mẹ gật đầu. “Ông không thể ở với dì Bess hay dì Carrie được. Và con biết ông cần được chăm nom. Sao cũng được. Con sẽ có một chuyến đi tuyệt vời ở Luân Đôn đây.”

“Con thà tới Beechwood còn hơn.”

“Không, con sẽ không đâu,” mẹ nói đầy chắc chắn.

Ở CHÂU ÂU, tôi nôn mửa vào những cái xô và chà răng liên tục bằng kem đánh răng Anh quốc. Tôi nằm sấp trên sàn nhà tắm của nhiều bảo tàng, cảm nhận lớp gạch lạnh lẽo bên dưới cằm khi não tôi hóa lỏng và rỉ qua tai, nổi bọt. Chứng đau nửa đầu khiến máu tôi lan ra khắp tấm khăn trải giường xa lạ của khách sạn, nhỏ giọt trên sàn nhà, rỉ ra những tấm thảm, thấm vào trong những chiếc bánh sừng bò và bánh quy ren Ý còn sót lại.

Tôi có thể nghe thấy tiếng Bố gọi tên mình, nhưng tôi không bao giờ trả lời cho đến khi thuốc bắt đầu phát huy tác dụng.

Mùa hè năm đó, tôi thấy nhớ những Kẻ dối trá.

Chúng tôi chưa từng giữ liên lạc với nhau trong năm học. Dẫu sao cũng không nhiều, mặc dù hồi còn nhỏ hơn chúng tôi đã cố. Chúng tôi sẽ nhắn tin, hay tag nhau vào những tấm ảnh mùa hè, đặc biệt là vào tháng Chín, nhưng chắc chắn là chừng một tháng sau đó chúng tôi sẽ dần ngưng việc đó lại. Vì một lý do nào đó, phép màu của Beechwood chưa từng ứng nghiệm vào cuộc sống thường nhật của chúng tôi. Chúng tôi không muốn nghe về đám bạn ở trường và những câu lạc bộ và những đội nhóm thể thao. Thay vào đó, chúng tôi biết rằng tình cảm của mình sẽ lại được khôi phục một khi chúng tôi nhìn thấy nhau trên bến cảng vào Tháng Sáu tới, trong bầu không khí đượm mùi muối biển và ánh mặt trời lờ mờ phản chiếu lấp lánh trên mặt nước.

Nhưng vào năm sau khi tai nạn của tôi xảy ra, tôi nhớ những ngày và thậm chí là những tuần ở trường. Tôi rớt kì thi lên lớp, và hiệu trưởng thông báo rằng tôi sẽ phải học lại năm lớp 11. Tôi ngừng chơi bóng đá và tennis. Tôi không thể trông trẻ. Tôi không thể lái xe. Những người bạn tôi có dần chỉ còn là những người tôi quen.

Tôi có nhắn tin cho Mirren vài lần. Gọi và để lại những lời nhắn mà sau khiến tôi thấy phát ngượng. Chúng thật cô đơn và nghèo túng.

Tôi cũng gọi cho Johnny, nhưng giọng anh nghe thật sôi nổi.

Tôi quyết định không gọi nữa. Tôi không muốn nói những điều khiến tôi cảm thấy yếu đuối.

Khi Bố đưa tôi đến Châu Âu, tôi biết rằng những Kẻ dối trá đang ở trên đảo. Ông ngoại vẫn chưa mắc dây điện thoại cho Beechwood và ở đó không bắt được tín hiệu di động, thế nên tôi bắt đầu viết email. Khác với những bức thư mang giọng điệu đáng thương của tôi, đây là những lời nhắn đáng yêu, đầy quyến rũ từ một người không bị đau đầu.

Phần lớn là vậy.

Mirren!

Vẫy chào cậu từ Barcelona, nơi bố tớ ăn ốc sên luộc.

Mọi thứ trong khách sạn của bố con tớ đều có màu vàng. Kể cả lọ muối. Nó khó chịu một cách thú vị.

Hãy viết và kể cho tớnghe đám nhóc quậy phá như thế nào và trường đại học cậu sẽ đăng ký và liệu cậu đã tìm thấy tình yêu đích thực chưa nhé.

/Cadence

· · ·

Anh Johnny!

Bonjour từ Paris, nơi bố em ăn một con ếch.

Em đã nhìn thấy Tượng thn chiến thng Samothracey. Cơ thể phi thường. Không có tay.

Nhớ mọi người. Gat thế nào rồi?

/Cadence

· · ·

Mirren!

Lời chào từ một thành trì ở Scotland, nơi bố tớăn món haghi. Đó là, bố tớăn tim, gan, và phổi của một con cừu trộn với bột yến mạch và nấu sôi trong dạ dày cừu.

Thế nên, cậu biết đấy, ông là loại người ăn tim.

/Cadence.

· · ·

Anh Johnny!

Em đang ở Berlin, nơi bố em ăn dồi.

Ống thở cho em. Ăn bánh việt quất. Chơi tennis. Đốt lửa mừng. Rồi báo cáo lại. Em đang cực kỳ buồn chán và sẽ nghĩ ra những hình phạt nếu anh không tuân theo.

/Cadence

TÔI KHÔNG HOÀN TOÀN ngạc nhiên khi họ không trả lời. Ngoài sự thật rằng để lên mạng bạn phải tới Vineyard, Beechwood gần như là một thế giới riêng. Một khi bạn đã đến đó, phần còn lại của vũ trụ dường như chẳng là gì ngoài một giấc mơ không dễ chịu. Châu Âu có lẽ thậm chí còn không tồn tại.

15

CHÀO MỪNG, MỘT LẦN NỮA, đến với nhà Sinclair xinh đẹp.

Chúng tôi tin vào sự rèn luyện ngoài trời. Chúng tôi tin rằng thời gian chữa lành mọi thứ.

Chúng tôi tin, dẫu rằng chúng tôi sẽ không nói rõ ra, vào những đơn thuốc và những giờ uống cocktail.

Chúng tôi không bàn luận về những vấn đề của mình trong nhà hàng. Chúng tôi không tin vào việc phơi bày một cách rõ ràng nỗi buồn khổ.

Chúng tôi kín miệng, và có thể người ta tò mò về chúng tôi vì chúng tôi không bày tỏ lòng mình.

Có thể chúng tôi thích cách người ta tò mò về mình.

Hiện giờ, ở đây, tại Burlington, chỉ có tôi, mẹ và những chú chó. Ông ngoại ở Boston hay sức ảnh hưởng của cả gia đình ở Beechwood chẳng có ký lô nào ở đây cả, nhưng dù sao tôi cũng biết người ta xem xét chúng tôi như thế nào.

Mẹ và tôi là độc nhất vô nhị, ở trong căn nhà lớn với hành lang ở trên đỉnh đồi. Người mẹ thướt tha và cô con gái bệnh tật. Chúng tôi có gò má cao, có đôi vai rộng. Chúng tôi cười và để lộ hàm răng khi chạy việc vặt trong thị trấn.

Cô con gái bệnh tật không nói nhiều. Những người biết cô ở trường thường có khuynh hướng né xa cô. Dù sao họ cũng không biết rõ về cô trước khi cô mắc bệnh. Thậm chí hồi đó cô cũng đã trầm lặng rồi.

Giờ thì thi thoảng cô lại nghỉ học. Khi cô ở đó, làn da nhợt nhạt và cặp mắt mọng nước khiến cô trông thảm thương một cách quyến rũ, như một nữ chính trong truyện đang chết dần chết mòn vì bệnh. Thi thoảng cô suy sụp ở trường, khóc lóc. Cô khiến những học sinh khác khiếp sợ. Thậm chí cả những người tử tế nhất cũng phát ốm vì cứ phải đưa cô đến phòng y tế.

Tuy thế, ở cô vẫn tỏa ra một nét bí ẩn khiến cô không bị trêu ghẹo hay tách biệt ra như một điển hình cho nỗi khó chịu ở trường. Mẹ cô là một Sinclair.

Dĩ nhiên, tôi chẳng ý thức được nét bí ẩn của mình ở chỗ nào khi cứ phải ăn một lon súp gà vào tối khuya, hay nằm dài dưới ánh đèn huỳnh quang của phòng y tế. Cái cách mà hiện giờ tôi với mẹ đang cãi nhau về việc bố đã bỏ đi gần như không hào hứng chút nào.

Tôi thức dậy và thấy mẹ đang đứng nhìn tôi chằm chằm ở cửa phòng ngủ.

“Đừng lảng vảng nữa.”

“Mẹ yêu con. Mẹ đang chăm sóc cho con,” bà nói, tay áp lên tim.

“Chà, ngừng lại đi.”

Nếu tôi có thể đóng sầm cánh cửa vào mặt mẹ, tôi sẽ làm. Nhưng tôi không thể đứng dậy được.

Tôi thường tìm thấy những mẩu giấy ghi chú nằm rải rác mà hóa ra là chứa những ghi chép về thức ăn tôi đã ăn trong một ngày cụ thể: Bánh mì nướng và mứt, nhưng chỉ 1/2; táo và bỏng ngô; salad nho khô; thanh sô cô la; mì pasta.

Mất nước? Protein? Quá nhiều bia gừng?

Nó không quyến rũ khi tôi chẳng thể lái xe. Nó không bí ẩn khi về nhà vào tới thứ Bảy, đọc sách giữa một đám chó săn bốc mùi. Tuy vậy, tôi không bị miễn nhiễm với cảm giác được xem như là một điều bí ẩn, một Sinclair, một phần của gia tộc giàu sang với những con người đặc biệt, và một phần của một câu truyện lôi cuốn, quan trọng, chỉ bởi vì tôi là một phần của gia tộc này.

Mẹ tôi cũng không bị miễn nhiễm với nó.

Đây là người mà chúng tôi đã được nuôi dạy để trở thành.

Những Sinclair. Những Sinclair.