Chúng ta là những Kẻ dối trá - Phần I - Chương 09 - 10 - 11 - 12

9

BỮA SÁNG ngày hôm sau, Mẹ
bảo tôi đi kiểm tra một lượt những món đồ của Bố ở gác mái nhà Windemere và lấy
bất cứ món gì tôi cần. Mẹ muốn tống khứ đi những thứ còn lại.

Căn nhà Windemere có hình
đầu hồi và góc cạnh. Hai trong số năm căn phòng ngủ có mái nghiêng, và đó là
căn nhà duy nhất trên đảo có trọn một căn gác xép. Nó có một cái hiên lớn và
một căn bếp tối tân, hiện đại hóa với những viên gạch lát mặt bếp bằng đá cẩm
thạch trông có chút lạc lõng. Những phòng ngủ thì lộng gió và đầy chó.

Gat và tôi trèo lên căn gác
với những chai trà đá bằng thủy tinh và ngồi bệt trên sàn. Căn phòng có mùi của
gỗ. Một chùm ánh sáng hình vuông rọi ra từ khung cửa sổ.

Trước đây chúng tôi đã từng
vào căn gác mái.

Trước đây chúng tôi cũng
chưa từng ở trên tầng thượng.

Những cuốn sách là những
cuốn Bố mang khi đi nghỉ hè. Tất cả đều là những cuốn ký sự thể thao, truyện
trinh thám[10], và tuốt-tuồn-tuột những thứ về ngôi sao nhạc rock bởi những con
người thời xưa mà tôi chưa từng nghe nói đến. Gat không thật sự tìm kiếm. Cậu
chỉ xếp đám sách lại theo màu. Một chồng đỏ, xanh, nâu, trắng, và vàng.

[10] Cozy mysteries: thể
loại truyện mà trong đó yếu tố sex và bạo lực được miêu tả một cách nhẹ nhàng
và dí dỏm.

“Cậu không muốn đọc cái gì
đó sao?” tôi hỏi.

“Có thể.”

“Thế First Base and
Way Beyond[11]
thì sao?”

[11] Tạm dịch: Nền tảng
đầu tiên và xa hơn nữa.

Gat cười. Lắc đầu. Xếp cho
ngay lại chồng sách màu xanh.

Rock On with My Bad
Self
? Hero of the Dance Floor[12]?”

[12] Tạm dịch: Cuồng
nhiệt với mặt xấu của bản thân. Anh hùng sàn nhảy.

Cậu lại cười. Rồi nghiêm
mặt. “Cadence?”

“Gì cơ?”

“Im đi.”

Tôi để mình nhìn cậu một
lúc lâu. Mọi đường cong trên khuôn mặt cậu đều quen thuộc, và hơn nữa, tôi chưa
từng nhìn cậu trước đây.

Gat cười. Một nụ cười tỏa
nắng, rụt rè. Cậu quỳ gối làm đá đổ mấy chồng sách màu. Cậu đưa tay ra và vuốt
ve mái tóc tôi. “Tớ yêu cậu, Cady. Thật lòng.”

Tôi nhướn người ra và hôn
cậu.

Gat chạm tay vào mặt tôi,
rồi lướt xuống cổ và xương đòn. Ánh sáng từ cửa sổ căn gác mái chiếu rọi lên
chúng tôi. Nụ hôn của chúng tôi như có điện và mềm mại,

và ngập ngừng và quả quyết,

rùng mình và đúng như ý
muốn.

Tôi cảm thấy như tình yêu
đang chảy dồn từ tôi qua Gat và từ Gat qua tôi.

Chúng tôi ấm áp và run rẩy,

và trẻ và già,

và sống.

Tôi nghĩ, đúng thật. Chúng
tôi đã yêu nhau.

Chúng tôi đã.

10

ÔNG NGOẠI đột nhiên bước
vào. Gat đứng phắt dậy. Cậu luống cuống đạp lên những cuốn sách xếp theo màu
giờ đang nằm vương vãi khắp sàn gác.

“Ông phá đám hả,” ông ngoại
nói.

“Không, thưa ông.”

“Có, ông khá chắc đấy.”

“Cháu xin lỗi vì đám bụi
bặm,” tôi lúng túng nói.

“Penny nghĩ rằng có thể sẽ
có cuốn nào đó ông muốn đọc.” Ông ngoại lôi một chiếc ghế cũ kĩ bằng liễu gai
ra giữa phòng và ngồi xuống, cúi nhìn đám sách.

Gat vẫn đứng đó. Cậu phải
cúi thấp đầu xuống để tránh đụng chiếc mái nghiêng của căn gác.

“Cẩn thận đấy, chàng trai trẻ,”
thình lình Ông ngoại nói bằng giọng sắc bén.

“Sao cơ ạ?”

“Đầu của cậu. Cậu có thể bị
thương.”

“Ông nói đúng ạ,” Gat đáp.
“Ông nói đúng ạ, cháu có thể bị thương.”

“Thế nên hãy cẩn thận đấy,”
Ngoại lặp lại.

Gat quay người và leo xuống
cầu thang mà không nói một lời.

Ông ngoại và tôi ngồi trong
yên lặng một lúc lâu.

“Cậu ấy thích đọc sách,”
cuối cùng tôi lên tiếng. “Cháu nghĩ cậu ấy có thể muốn vài cuốn sách của Ba.”

“Ông rất quý cháu, Cady,”
Ông ngoại vỗ vai tôi nói. “Cháu là đứa cháu ngoại đầu tiên của ông.”

“Cháu cũng yêu ông, Ông
ngoại.”

“Có nhớ ông đã dẫn cháu đi
coi bóng chày như thế nào không? Lúc đó cháu mới có bốn tuổi.”

“Chắc rồi ạ.”

“Cháu chưa từng ăn Cracker
Jack[13],” ông ngoại nói.

[13] Thương hiệu gắn
liền với bóng chày đã được yêu thích của Mỹ trong hơn 105 năm. Nó là pha trộn
của bỏng ngô phủ caramel và đậu phộng.

“Cháu biết. Ông đã mua hai
hộp.”

“Ông đã phải bế cháu ngồi
vào lòng để cháu có thể nhìn thấy được. Cháu có nhớ chuyện đó không, Cady?”

Tôi có nhớ.

“Nói ông nghe xem nào.”

Tôi biết Ông ngoại muốn tôi
đưa ra câu trả lời kiểu nào. Ông hay thường đưa ra một yêu cầu như thế. Ông
thích kể lại những khoảnh khắc mấu chốt trong lịch sử nhà Sinclair, phóng đại
tầm quan trọng của chúng. Ông luôn hỏi cái gì đó có ý nghĩa gì đối với bạn, và
bạn có nhiệm vụ là phải trả lời thật chi tiết. Những hình ảnh. Hoặc có lẽ là
một bài học được rút ra.

Thường thì tôi rất thích
việc kể lại những câu chuyện và nghe người khác kể lại chúng. Nhà Sinclair
huyền thoại, những trò vui chúng ta từng có, chúng ta xinh đẹp như thế nào.
Nhưng hôm ấy, tôi không hề muốn nghe.

“Đó là trận bóng chày đầu
tiên của cháu,” Ông ngoại nhắc. “Sau đó ông đã mua cho cháu một chiếc gậy nhựa
màu đỏ. Cháu đã tập vung gậy trên bãi cỏ căn nhà ở Boston.”

Ông ngoại có biết là ông
vừa phá đám chuyện gì không vậy nhỉ? Nếu ông biết thì liệu ông có quan tâm hay
không?

Bao giờ tôi mới lại có thể
gặp được Gat?

Liệu cậu sẽ chia tay với
Raquel?

Chuyện gì sẽ xảy ra với hai
đứa tôi?

“Cháu muốn làm món Cracker
Jack ở nhà,” Ông ngoại tiếp tục, nghĩ rằng ông biết tôi biết câu chuyện ấy.

“Và Penny đã giúp cháu làm.
Nhưng cháu đã khóc toáng lên khi chẳng có chiếc hộp đỏ và trắng nào để bỏ chúng
vào. Cháu có nhớ chuyện đó không?”

“Dạ có, Ông ngoại,” tôi bỏ
cuộc. “Cùng ngày hôm đó ông đã phải lái cả một đoạn đường dài để quay lại sân
bóng chày và mua thêm hai hộp Cracker Jack nữa. Ông đã ăn chúng trên đường về
nhà chỉ để ông có thể đưa cho cháu hai chiếc hộp. Cháu nhớ.”

Hài lòng, ông đứa dậy và
chúng tôi cùng rời khỏi căn gác. Ông ngoại bước xuống cầu thang không vững, vậy
nên ông vịn tay vào vai tôi.

TÔI TÌM THẤY GAT trên con
đường vành quanh đảo và chạy tới chỗ cậu đang ngồi nhìn làn nước. Gió thổi mạnh
và tóc bay vào mắt tôi. Khi tôi hôn cậu, môi cậu có vị mặn của biển.

11

BÀ NGOẠI TIPPER CHẾT vì
bệnh suy tim tám tháng trước khi đến mùa hè thứ mười lăm ở Beechwood. Bà là một
người phụ nữ đẹp tuyệt vời, dẫu bà có già đi chăng nữa. Tóc trắng, đôi gò má
hồng hào; cao và gầy gộc. Bà là người khiến Mẹ tôi yêu lũ chó rất nhiều. Bà
ngoại luôn có ít nhất hai và thi thoảng là bốn chú chó săn khi những cô con gái
của ngoại còn nhỏ, luôn như vậy cho đến ngày ngoại mất.

Bà là người dễ phán xét và
hay thiên vị, nhưng cũng rất nồng hậu. Nếu bạn thức dậy sớm ở Beechwood, hồi
chúng tôi còn nhỏ, bạn có thể tới Clairmont và đánh thức Bà ngoại dậy. Ngoại có
sẵn bột làm muffin trong tủ lạnh, và sẽ đổ nó vào những cái hộp và để bạn ăn
bao nhiêu muffin tùy thích, trước khi những người còn lại trên đảo thức dậy. Bà
sẽ hái cho chúng tôi những quả mọng chín và giúp chúng tôi làm bánh hay thứ gì
đó gọi là slump[14] mà chúng tôi sẽ ăn vào tối hôm đó.

[14] Berry slump: trái cây mọng nước ninh nhỏ
lửa trong lò và thường cho kèm với bánh bao hấp.

Một trong những dự án từ
thiện của bà ngoại là một bữa tiệc gây quỹ tổ chức hàng năm cho Viện Nông trại
ở Martha’s Vineyard. Từng có thời tất cả chúng tôi đều tham dự. Nó được tổ chức
ở ngoài trời, trong những chiếc lều trắng xinh đẹp. Đám nhóc đi chân đất chạy
lăng quăng trong những bộ quần áo dành cho những bữa tiệc. Johnny, Mirren, Gat,
và tôi thì chôm lấy mấy ly rượu và thấy choáng váng và ngu ngốc. Bà ngoại nhảy
với Johnny và rồi bố tôi, rồi tới ông ngoại, một tay cầm gấu váy bà. Tôi từng
chụp một bức ảnh với Bà ngoại trong một bữa tiệc gây quỹ. Ngoại khoác chiếc áo
dài mặc buổi tối và tay ôm một chú lợn con.

Mùa hè thứ mười lăm ở,
Ngoại Tipper đã ra đi mãi mãi. Clairmont trở nên trống trải.

Căn nhà là một chiếc
Victoria ba tầng[15]. Nó có một tháp canh trên đỉnh và hiên nhà vây xung quanh.
Bên trong nó là đầy ắp những tranh biếm họa gốc của tờ New Yorker,
những bức ảnh gia đình, những chiếc gối thêu, những bức tượng nhỏ, những đồ
chặn giấy bằng ngà, những con cá nhồi bông gắn trên bảng. Nơi nơi đều có những
thứ đồ xinh đẹp được bà Tipper và Ông ngoại sưu tập và trưng bày. Trên bãi cỏ
là một chiếc bàn pinic khổng lồ, đủ lớn cho mười sáu người ngồi trên đó, và
cách đó không xa là một chiếc lốp xe đu treo lủng lẳng trên cây mộc lan lớn.

[15] Nhà Victoria: Ở
Vương quốc Anh, một căn nhà Victoria chỉ chung bất cứ căn nhà nào xây từ thời
cai trị của nữ hoàng Victoria (1837 – 1901).

Bà ngoại từng lăng xăng
trong phòng bếp và lên kế hoạch cho những cuộc đi chơi. Bà làm mền trong phòng
thủ công, và tiếng rền rền của chiếc máy may có thể nghe thấy từ lầu dưới. Bà
chỉ huy những người làm vườn trong chiếc găng tay làm vườn và chiếc quần jean
màu xanh biển.

Giờ đây căn nhà đã trở nên
tĩnh lặng. Không còn những cuốn sách nấu ăn để mở trên quầy, không còn những
bài nhạc cổ điển phát ra từ hệ thống âm thanh của phòng bếp. Nhưng vẫn còn loại
xà phòng yêu thích của ngoại trên khay đựng. Những cây hoa của ngoại mọc trong
vườn. Chiếc thìa gỗ, chiếc khăn ăn.

Một ngày nọ, khi không có
ai khác ở quanh, tôi lẻn vào căn phòng thủ công qua lối cửa sau ở tầng trệt.
Tôi chạm tay vào bộ sưu tập những tấm vải, những chiếc cúc sáng bóng, những sợi
chỉ màu của Ngoại.

Đầu và vai tôi tan chảy ra
trước tiên, tiếp sau là hông và đầu gối. Không lâu sau tôi đã là một vũng nước
nhỏ, ngấm dần vào miếng vải bông in hoa xinh đẹp. Tôi khiến chiếc mền bông
Ngoại chưa bao giờ hoàn thành ướt sũng, làm gỉ đi những phần bằng kim loại của
chiếc máy may của bà. Thế rồi, một hay hai giờ sau đó, tôi là thứ nước tinh
khiết sầu khổ. Bà ngoại của tôi. Bà ngoại của tôi. Ra đi mãi mãi, dẫu rằng tôi
có thể ngửi thấy mùi nước hoa Chanel của bà thoảng qua trên những tấm vải.

Mẹ tìm thấy tôi.

Mẹ buộc tôi cư xử bình
thường. Bởi vì tôi là thế. Bởi vì tôi có thể. Mẹ bảo tôi hãy thở đi
và ngồi dậy.

Và tôi làm như mẹ bảo.
Một lần nữa.

Mẹ thấy lo cho Ông ngoại.
Cái chết của bà ngoại khiến chân ông run rẩy và phải bám vào những cái ghế và
bàn để giữ thăng bằng. Ông ngoại là đầu tàu của cả gia đình. Mẹ không muốn ông
mất ổn định. Mẹ muốn ông biết rằng đám con cái và cháu chắt vẫn ở bên ông, khỏe
mạnh và vui vẻ như mọi ngày. Đó là việc quan trọng, mẹ nói; đó là tử tế; đó là
tốt nhất. Đừng dấy lên nỗi đau trong mọi người, mẹ nói. Đừng nhắc con người ta
nhớ về một mất mát. “Con có hiểu không, Cady? Sự im lặng là lớp áo bảo vệ che
phủ cho nỗi đau.”

Tôi hiểu, và tôi xoay sở
xóa đi hình ảnh ngoại Tipper trong các cuộc trò chuyện, cùng cái cách tôi dùng
để xóa bỏ đi hình ảnh của cha tôi. Không hạnh phúc, nhưng triệt để. Những bữa
ăn với các dì, trên thuyền với Ông, thậm chí một mình với mẹ — tôi cư xử như
thể hai người trí mạng ấy chưa từng tồn tại. Những người còn lại trong nhà
Sinclair cũng hành xử y như thế. Khi tất cả chúng tôi ở cùng nhau, chúng tôi
đều cười những nụ cười rộng mở. Chúng tôi đã hành xử y vậy khi dì Bess bỏ chú
Brody, khi chú Jonathan bỏ dì Carrie, chú chó Peppermill của Ông ngoại chết vì
căn bệnh ung thư.

Tuy nhiên, Gat chưa bao giờ
hiểu được điều đó. Cậu thoải mái nhắc về cha tôi — thật sự mà nói là khá thường
xuyên. Cha đã coi Gat vừa là một địch thủ chơi cờ tao nhã, vừa là một khán giả
chịu lắng nghe những câu chuyện tẻ nhạt về lịch sử quân đội của mình, thế nên
cả hai người họ thường dành thời gian cùng nhau. “Có nhớ khi bố cậu bắt con cua
bự chảng bằng một cái xô không?” Gat sẽ nói vậy. Hoặc với mẹ: “Năm ngoái chú
Sam bảo cháu là có một cái thùng câu cá bằng mồi ở trong nhà thuyền; cô có biết
nó nằm ở đâu không ạ?”

Những cuộc chuyện trò trong
bữa ăn tối đột ngột ngưng lại khi cậu đề cập đến Bà ngoại. Có lần Gat nói,
“Cháu nhớ cách bà đứng ở cuối bàn và phục vụ món tráng miệng, mọi người có nhớ
không? Nó thật là đậm phong cách Tipper.” Anh Johnny buộc phải bắt đầu lớn
tiếng nói về giải Wimbledon cho đến vẻ suy sụp mờ dần đi trên nét mặt mỗi người
trong gia đình.

Mỗi lần Gat nói về những
điều ấy, tình cờ, chân thật, và rõ ràng — tĩnh mạch trong người tôi như giãn
ra. Cổ tay tôi tách rời. Bàn tay tôi rỉ máu. Tôi trở nên mất tỉnh táo. Tôi
loạng choạng rời khỏi bàn hay suy sụp trong nỗi đau thầm lặng đáng hổ thẹn, hy
vọng không ai trong gia đình nhận thấy. Đặc biệt là Mẹ.

Dẫu vậy, Gat gần như luôn
nhìn ra. Khi những giọt máu nhỏ giọt trên đôi chân trần hay lan ra cuốn sách
tôi đang đọc, cậu ân cần với tôi. Cậu quấn cổ tay tôi trong miếng gạc trắng mềm
mại và hỏi tôi những câu hỏi về chuyện đã xảy ra. Cậu hỏi về Ba và bà ngoại—như
thể việc nói về một điều gì đó sẽ khiến nó trở nên tốt hơn. Như thể những vết
thương cần được quan tâm chú ý.

Thậm chí sau từng ấy năm,
với gia đình chúng tôi cậu vẫn là một người xa lạ.

KHI TÔI KHÔNG CÒN chảy máu,
và khi Mirren và Johnny đi lặn hay cãi nhau ầm ĩ với đám nhóc trong nhà, hay
khi mọi người nằm dài trên những chiếc trường kỷ coi phim trên chiếc tivi màn
hình phẳng ở nhà Clairmont, Gat và tôi lẻn đi. Chúng tôi ngồi trên chiếc lốp xe
đu giữa đêm hôm, tay chân hai đứa quấn quanh nhau, cặp môi ấm lướt trên làn da
mát lạnh vì cái lạnh của màn đêm. Vào những buổi sáng chúng tôi sẽ khúc khích
cười và trốn xuống tầng hầm nhà Clairmont, nơi những chai rượu và bách khoa
toàn thư sắp thành từng kệ. Rồi chúng tôi ở đó, hôn và kinh ngạc trước sự tồn
tại của nhau, cảm nhận sự riêng tư và may mắn. Lại có những hôm cậu viết những
mẩu giấy và để chúng cùng với những món quà nhỏ dưới gối tôi.

Có ai đó đã từng viết
rằng, một cuốn tiểu thuyết nên mang đến cho người đọc một chuỗi những bất ngờ
nho nhỏ. Tớ cũng đã nhận được điều tương tự khi ở bên cậu một giờ.

Ngoài ra, đây là chiếc
bàn chải màu xanh buộc ruy băng.

Nó bộc lộ cảm xúc của tớ
một cách không thỏa đáng.

Tuyệt hơn cả sô cô la,
khi được ở bên cậu tối qua.

Ngốc nghếch làm sao, tớ
đã nghĩ rằng không có gì tuyệt hơn sô cô la chứ.

Bằng động tác hình tượng
và sâu sắc, tớ tặng cậu thanh Vosges mà tớ mua khi tất cả chúng ta đến
Edgartown này. Cậu có thể ăn nó, hay chỉ đơn giản là ngồi kế nó và cảm thấy khá
hơn.

Tôi không viết thư đáp lại,
nhưng tôi lôi ra những bức phác chì ngốc nghếch của Gat vẽ hình hai đứa tôi.
Những hình nhân vật đứng vẫy tay trước Đấu trường La Mã[16], Tháp Eiffel, trên
đỉnh núi, trên lưng rồng. Cậu dán chúng khắp giường.

[16] Colosseum: Đấu
trường La Mã (hay Đại hý trường La Mã) được biết đến đầu tiên dưới cái tên
Amphitheatrum Flavium theo tiếng Latinh hoặc Anfitea Flavio - tiếng Ý, sau này
gọi là Colosseum hay Colosseo, là một đấu trường lớn ở thành phố Roma.

Gat chạm vào tôi bất cứ khi
nào cậu có thể. Dưới bàn ăn tối, trong căn bếp lúc vắng người. Sau lưng Ông
ngoại một cách lén lút và hài hước khi ông lái chiếc thuyền máy. Tôi cảm thấy
như giữa chúng tôi không hề có rào cản. Miễn là không có ai đang nhìn, tôi sẽ
rờ những ngón tay dọc theo xương gò má của Gat, xuống lưng cậu.

Tôi với nắm lấy tay Gat, ấn
ngón cái vào cổ tay và cảm nhận dòng máu đang chảy qua huyết mạch cậu.

12

VÀO MỘT ĐÊM CUỐI tháng Sáu
của mùa hè thứ mười lăm, tôi đi bơi ở bãi biển nhỏ. Một mình.

Gat, Johnny, và Mirren đâu?

Tôi không thật sự biết.

Chúng tôi đã chơi rất nhiều
ván Trò chơi ghép từ[17] tại Red Gate. Có thể là họ đang ở đó. Hoặc có thể là
họ đang ở Clairmont, nghe mấy dì tranh luận và ăn mứt mận biển phết trên bánh
quy nước.

[17] Scrabble: một Board
Games luyện từ vựng tiếng Anh nổi tiếng, được nhiều người yêu thích. Một bàn
Scrabble chơi được tối đa 4 người.

Dù có là trường hợp nào đi
nữa, tôi vẫn trầm mình xuống nước trong chiếc coóc-xê[18], áo ngực và quần lót.
Hiển nhiên là tôi bước xuống bãi biển mà không mặc thêm gì khác nữa. Chúng tôi
không bao giờ tìm thấy bất cứ đồ nào của tôi vất trên cát. Khăn tắm cũng không.

[18] Coóc-xê (corset):
trong tiếng Pháp chỉ áo nịt phụ nữ thường mặc để thắt eo lại cho thon, nhỏ.
Trong tiếng Anh chỉ áo nịt.

Tại sao vậy?

Một lần nữa, tôi không thật
sự biết.

Tôi hẳn đã bơi ra xa bờ.
Ngoài khơi đầy những tảng đá lớn đen ngòm và lởm chởm; trông chúng luôn hung ác
trong bóng tối của màn đêm. Tôi hẳn đã dìm mặt vào nước và rồi đập đầu vào một
trong những tảng đá này.

Như tôi đã nói rồi đấy, tôi
không biết nữa.

Tôi chỉ nhớ có điều này:
tôi lao mình xuống biển, xuống đến tầng đáy lởm chởm những đá là đá, và tôi có
thể thấy tận đáy đảo Beechwood và tay và chân tôi tê cóng nhưng mười ngón tay
tôi lạnh ngắt. Những dải tảo biển sượt qua khi tôi ngã xuống.

Mẹ tìm thấy tôi đang nằm
trên cát, cuộn mình lại như một trái banh và trầm nửa mình dưới nước. Tôi run
rẩy một cách không kiểm soát được. Những người lớn quấn chăn cho tôi. Họ cố làm
tôi ấm lên ở nhà Cuddledown. Họ cho tôi uống trà và đưa tôi quần áo, nhưng khi
tôi không chịu nói chuyện hay ngừng run rẩy, họ đưa tôi đến bệnh viện ở
Martha’s Vineyard, nơi tôi ở lại nhiều ngày trong khi chờ các bác sĩ làm xét
nghiệm. Hạ thân nhiệt, suy hô hấp, và rất có thể là chấn thương đầu kiểu gì đó,
dẫu rằng kết quả quét não chỉ ra là chẳng có vấn đề gì.

Mẹ kề cạnh bên tôi, thuê
một căn phòng khách sạn. Tôi nhớ đến vẻ buồn bã, xám xịt trên gương mặt dì
Carrie, dì Bess, và Ông ngoại. Tôi nhớ đến cảm giác thấy có cái gì đó đầy ắp
trong phổi lâu sau khi những bác sĩ xem xét nó kĩ càng. Tôi nhớ tôi đã cảm thấy
như mình sẽ không bao giờ ấm lên được, thậm chí khi họ bảo tôi rằng thân nhiệt
của tôi là bình thường. Tay tôi đau. Chân tôi đau.

Mẹ đưa tôi về nhà ở Vermont
để phục sức. Tôi nằm trên giường, chìm mình trong màn đêm và thấy hổ thẹn về
bản thân mình ghê gớm. Bởi vì tôi mắc bệnh, và hơn thế nữa vì Gat chưa từng gọi
cho tôi.

Cậu cũng không viết thư.

Chẳng phải chúng tôi đang
yêu sao?

Chẳng phải sao?

Tôi viết thư cho Johnny,
hai hay ba bức email tương tư ngu ngốc để nhờ anh tìm hiểu về Gat.

Johnny đã đúng đắn khi lờ
chúng đi. Sau cùng thì, chúng tôi là những người nhà Sinclair, và nhà Sinclair
không cư xử như tôi hiện giờ.

Tôi ngừng viết thư và xóa
tất cả những email khỏi hòm thư đã gửi. Chúng thật là yếu đuối và ngu ngốc.

Vấn đề chính ở đây là, Gat
né tránh khi tôi bị thương.

Vấn đề chính ở đây là, nó
chỉ là một cuộc ăn chơi xả láng của mùa hè.

Vấn đề chính ở đây là, có
lẽ cậu yêu Raquel.

Dù sao thì, chúng tôi cũng
sống ở hai nơi quá xa nhau.

Dù sao thì, gia đình của
chúng tôi cũng rất gần gũi thân thiết.

Tôi chưa bao giờ nhận được
một lời giải thích.

Tôi chỉ biết là cậu đã bỏ
tôi.