Chúng ta là những Kẻ dối trá - Phần I - Chương 05 - 06 - 07 - 08

5

MÙA HÈ THỨ MƯỜI BỐN, GAT và
tôi một mình điều khiển chiếc thuyền máy nhỏ. Lúc đó là mới sau bữa sáng. Dì
Bess bắt Mirren chơi tennis với hai đứa sinh đôi và Taft. Năm đó Johnny bắt đầu
chạy và anh đang chạy quanh đường vòng ngoài. Gat tìm thấy tôi trong bếp
Clairmont và hỏi xem liệu tôi có muốn đi lái thuyền không?

“Không hẳn.” Tôi muốn lên
giường nằm đọc sách.

“Đi mà?” Gat gần như chưa
bao giờ nói “đi mà”.

“Cậu tự đi đi.”

“Tớ không thể mượn nó,” cậu
nói. “Tớ thấy không đúng lắm.”

“Dĩ nhiên cậu có thể mượn
nó rồi.”

“Nếu không có một trong số
các cậu thì không.”

Cậu ấy đang trở nên lố bịch
đấy. “Cậu muốn đi đâu?” tôi hỏi.

“Tớ chỉ muốn đi khỏi đảo
thôi. Thi thoảng tớ chẳng chịu đựng nổi việc ở đây.”

Lúc ấy tôi chẳng thể tưởng
tượng nổi đó là cái gì mà cậu ấy không thể chịu đựng được, nhưng tôi nói được
rồi. Chúng tôi lái ra biển với áo gió và đồ bơi. Chút sau Gat tắt máy. Chúng
tôi ngồi ăn quả hồ trăn và hít thở bầu không khí đượm vị mặn của muối biển. Ánh
mặt trời chiếu trên mặt nước.

“Bơi nào,” tôi nói.

Gat nhảy xuống và tôi theo
sau, nhưng làn nước lạnh hơn nhiều so với ở bãi biển, nó khiến chúng tôi hụt
hơi. Mặt trời chui vào sau những đám mây. Chúng tôi cười những nụ cười hoảng sợ
và hét nhau rằng nhảy xuống nước thiệt là ý tưởng ngu ngốc nhất trần đời. Chúng
ta đã nghĩ gì vậy hả trời? Ai cũng biết là ngoài khơi có cá mập. Đừng có nói về
mấy con cá mập chứ, Chúa ơi! Chúng tôi giành giựt và xô đẩy nhau, vật lộn để là
đứa đầu tiên theo lên chiếc thang treo phía sau thuyền.

Một phút sau đó, Gat ngả
người ra đằng sau và để cho tôi trèo lên trước. “Không phải là vì cậu là con
gái đâu mà là vì tớ là một người tốt,” cậu nói với tôi thế.

“Cảm ơn nhé.” tôi cứng
họng.

“Nhưng khi cá mập cắn đứt
chân tớ, hứa là cậu sẽ viết một bài phát biểu về việc tớ tuyệt vời như thế nào
nhé.”

“Được luôn,” tôi nói.
“Gatwick Matthew Patil là một bữa ngon miệng đấy.”

Lạnh như vầy dường như có
vẻ hài hước một cách cuồng loạn. Chúng tôi không có khăn tắm. Chúng tôi túm tụm
vào nhau dưới chiếc chăn lông cừu hai đứa tìm thấy dưới ghế ngồi, tựa đôi vai
trần vào nhau. Những chiếc chân lạnh cóng, chiếc này chồng lên chiếc kia.

“Đây chỉ là để chúng ta
không bị giảm nhiệt thôi,” Gat nói. “Đừng có nghĩ là do tớ thấy cậu xinh hay gì
đấy nhé.”

“Tớ biết là cậu không thấy
vậy mà.”

“Cậu đang lấn hết cái chăn
đấy.”

“Xin lỗi.”

Một khoảng lặng.

“Tớ có thấy cậu xinh, Cady
ạ.” Gat nói. “Tớ không có ý nói xấu gì đâu. Thật sự là, cậu trở nên xinh vậy từ
khi nào thế? Thật khiến tâm trí tớ rối bời.”

“Tớ luôn trông y một vẻ
mà.”

“Cậu thay đổi năm qua các
năm học. Nó làm tớ xao lãng khỏi cuộc chơi của mình.”

“Cậu có một cuộc chơi à?”

Cậu ấy gật đầu một cách
trang nghiêm.

“Đó là điều ngớ ngẩn nhất
mà tớ từng được nghe đấy. Thế cuộc chơi của cậu là gì nào”

“Không gì có thể xuyên
thủng được lớp giáp thép của tớ. Cậu vẫn chưa để ý thấy à?”

Câu đó khiến tôi bật cười.
“Không.”

“Chết tiệt. Tớ cứ nghĩ là
nó đang có tác dụng chứ.”

Chúng tôi chuyển chủ đề.
Nói về việc dẫn đám nhóc đến Edgartown để xem một bộ phim vào buổi chiều, về
những con cá mập và liệu chúng có thật sự ăn thịt người hay không, về Plants
Versus Zombies.

Rồi chúng tôi quay trở lại
đảo.

Không lâu sau đó, Gat bắt
đầu cho tôi mượn những cuốn sách của cậu và tìm tôi ở bãi biển nhỏ vào những
lúc xế tà. Cậu kiếm tôi khi tôi đang nằm trên bãi cỏ Windemere với những chú
chó.

Chúng tôi bắt đầu cùng nhau
dạo bước trên con đường vòng quanh đảo, Gat đi trước và tôi theo sau. Chúng tôi
nói về những cuốn sách hay tạo dựng ra những thế giới ảo. Thi thoảng chúng tôi
kết thúc bằng việc dạo nhiều lần quanh bờ trước khi thấy đói hoặc mệt.

Những đóa Hồng Nhật[6] mọc
quanh lối đi trên biển. Chúng có màu hồng sậm và trắng, và tỏa ra mùi hương nhẹ
và ngọt ngào.

[6] Beach Rose (Rosa
rugosa): là loài thực vật có hoa trong họ Hoa hồng. Tên thường gọi là Hồng
Nhật, Mai Khôi. Loài này được Thunb miêu tả khoa học đầu tiên năm 1784.

Một ngày nọ tôi nhìn Gat,
lúc ấy đang nằm dài trên chiếc võng nhà Clairmont với một cuốn sách, và cậu
trông có vẻ, chà, có vẻ như cậu là của tôi vậy. Như cậu là một người đặc biệt
đối với tôi.

Tôi lẳng lặng leo lên chiếc
võng kế cậu. Tôi lấy chiếc bút ra khỏi tay cậu — cậu ấy luôn đọc sách với
một cây bút — và viết Gat lên mu bàn tay trái của cậu,
Cadence lên mu bàn tay phải.

Cậu giành lấy chiếc bút.
Viết Gat lên mu bàn tay trái của tôi, và Cadence lên
mu bàn tay phải.

Tôi không nói về số phận.
Tôi không tin vào định mệnh hay tâm giao hay siêu nhiên hay bất cứ thứ gì giống
thế. Ý tôi là chúng tôi hiểu nhau. Tường tận.

Nhưng chúng tôi mới chỉ
mười bốn tuổi. Tôi chưa từng hôn một chàng trai, dẫu rằng năm tới ở trường tôi
sẽ hôn vài người, và không biết vì sao chúng tôi không cho đó là tình yêu.

6

MÙA HÈ THỨ MƯỜI LĂM, tôi
đến muộn một tuần so với những người khác. Cha đã bỏ chúng tôi, và Mẹ và tôi
còn phải đi mua sắm, tham khảo người trang trí nội thất và đủ thứ khác.

Johnny và Mirren gặp chúng
tôi ở bến tàu, gò má hồng hào và đầy ắp trong đầu những kế hoạch cho mùa hè.
Hai đứa đang dàn dựng một giải đấu tennis cho gia đình và đã đánh dấu công thức
làm kem. Chúng tôi sẽ đi chèo thuyền, đốt lửa mừng.

Đám nhóc túm tụm với nhau
và la hét như mọi khi. Hai dì cười những nụ cười lạnh nhạt. Sau chuyến đi đến
ồn ào, mọi người liền tới Clairmont nhấm nháp cocktail.

Tôi tới căn nhà Red Gate
tìm Gat. Căn Red Gate nhỏ hơn nhiều so với căn Clairmont, nhưng nó vẫn có bốn
phòng ngủ trên lầu. Đó là nơi Johnny, Gat, và Will sống với Dì Carrie — tính
luôn cả chú Ed, khi chú ấy ở đó, dù không thường xuyên.

Tôi đi tới cửa bếp và nhìn
qua tấm kính. Ban đầu Gat không nhìn thấy tôi. Cậu ấy đang đứng ở quầy bếp
trong chiếc áo T-shirt xám và chiếc quần jean. Vai cậu rộng hơn so với trong
trí nhớ của tôi.

Cậu tháo dây buộc một đóa
hoa khô khỏi nơi treo ngược nó trên một chiếc ruy băng bên cửa sổ phía trên bồn
rửa.

Đó là một đóa Hồng Nhật có
màu hồng sẫm với những cánh hoa mọc thưa thớt, loại hồng mọc trên những bụi cây
thấp mọc quanh vành Beechwood.

Gat, Gat của tôi. Cậu ấy đã
hái cho tôi một đóa hồng từ nơi tản bộ yêu thích của chúng tôi. Cậu ấy đã treo
nó lên để cho nó khô đi và chờ tôi đến đảo để cậu có thể đưa nó cho tôi.

Tính tới lúc này thì tôi đã
hôn một hay ba chàng trai không hề quan trọng với mình.

Tôi đã mất bố.

Tôi đã đến hòn đảo này từ
căn nhà thấm đẫm nước mắt và sự lừa gạt,

và tôi đã thấy Gat,

và tôi đã thấy bông hồng đó
trong tay cậu,

và trong khoảnh khắc đó,
với ánh mặt trời rọi từ khung cửa sổ chiếu lên người cậu,

những quả táo trên quầy
bếp,

mùi hương của gỗ và biển
thoảng trong không khí,

Tôi đã gọi đó là tình yêu.

Đó tình
yêu, và nó tác động lên tôi mạnh đến nỗi tôi đã phải dựa vào tấm cửa kính vẫn
đang đứng chắn giữa hai chúng tôi mới có thể đứng vững. Tôi muốn chạm vào cậu
như cậu là một chú thỏ con, một con mèo nhỏ, thứ gì đó đặc biệt và mềm mại đến
nỗi bạn không thể để nó rời khỏi đầu ngón tay. Vũ trụ thật tuyệt vì có cậu tồn
tại trong đó. Tôi yêu cái lỗ thủng trên chiếc quần jean, vết bẩn trên đôi chân
trần, lớp vảy trên khuỷu tay và vết sẹo vắt ngang chân mày cậu. Gat, Gat của
tôi.

Khi tôi đứng đó, nhìn chằm
chằm, cậu đặt đóa hồng vào một chiếc bì thư. Cậu lục tìm bút, cứ kéo mở rồi lại
đóng hết ngăn kéo này đến ngăn kéo nọ, tìm thấy một chiếc trong túi mình, và
viết.

Tôi đã không nhận ra cậu
đang viết một địa chỉ cho đến khi cậu lôi ra một cuộn tem từ ngăn kéo tủ bếp.

Gat dán tem. Viết dòng địa
chỉ người gửi.

Bông hồng ấy không dành cho
tôi.

Tôi rời cửa căn Red Gate
trước khi cậu nhìn thấy tôi và chạy vụt ra vành Beechwood. Tôi ngắm nhìn bầu
trời đang dần trở nên tối đen, cô độc.

Tôi bứt hết những đóa hồng
mọc trên một bụi cây chết và ném chúng đi, từng bông một, vào mặt biển dữ dội.

7

TỐI HÔM ĐÓ, JOHNNY KỂ cho
tôi nghe về cô bạn gái New York. Tên cô ấy là Raquel. Johnny thậm chí đã gặp cô
ấy. Anh cũng sống ở New York như Gat, nhưng là ở phố dưới với dì Carrie và chú
Ed, trong khi Gat thì sống ở phố trên với mẹ. Johnny kể rằng Raquel là một vũ
công hiện đại mặc quần áo màu đen.

Em trai Mirren, Taft, kể
rằng Raquel đã gửi cho Gat một túi sôcôla hạnh nhân nhà làm. Nhỏ Liberty và
Bonnie thì bảo rằng Gat lưu hình của cô ấy trong điện thoại.

Gat không hề nhắc chút gì
về cô bạn gái ấy, nhưng cậu khó khăn khi nhìn vào mắt tôi.

Đêm đầu tiên ấy, tôi khóc
và cắn ngón tay và uống chai rượu tôi xoáy được ở tủ bếp nhà Clairmont. Tôi đâm
sầm vào bầu trời, nổi điên và đấm mạnh những vì sao khỏi dây neo của chúng,
xoay vòng vòng và nôn mửa.

Tôi đấm tay vào tường phòng
tắm. Tôi gột rửa đi cơn tủi nhục và tức giận trong làn nước giá băng. Rồi tôi
rùng mình nằm trên giường như một con chó bị vứt bỏ, làn da run rẩy trên từng
khớp xương.

Sáng hôm sau, và mọi ngày
về sau đó, tôi cư xử như chẳng có gì xảy ra cả. Tôi giương cao chiếc cằm vuông
của mình.

Chúng tôi chèo thuyền và
đốt lửa mừng. Tôi thắng giải đấu tennis.

Chúng tôi làm những tảng
kem lớn và nằm dài trên bãi biển dưới ánh mặt trời.

Một đêm nọ, cả bốn đứa
chúng tôi đi picnic ở bãi biển nhỏ bên dưới. Nghêu, khoai cây, và ngô hấp.
Những nhân viên đã làm nó. Tôi không biết tên họ.

Johnny và Mirren đem thức
ăn trong những chiếc chảo nướng bằng kim loại. Chúng tôi ngồi ăn quanh ánh lửa
của đám lửa mừng, làm nhễu bơ trên cát. Rồi Gat làm bánh s’mores[7] ba tầng cho
tất cả chúng tôi. Tôi ngắm nhìn tay cậu trong ánh lửa, xiên những miếng
marshmallow trên một cái que dài. Nơi đó từng viết tên của chúng tôi, giờ thì
cậu quen với việc viết lên tên tựa những cuốn sách cậu muốn đọc.

[7] S’mores: là một loại
bánh dùng trong cắm trại ở Mỹ và Canada, có nhân marshmallow kẹp giữa hai lớp
bánh sôcôla. Khi những người cắm trại ăn nó, họ thấy ngon và đòi thêm - “Some
more”, từ đó tên bánh ra đời.

Đêm đó, trên tay
trái: Tồn tại và. Trên tay phải: Hư vô.[8]

[8] Being and Nothingness
(L'Être et le Néant) là một tác phẩm lớn, hơn 700 trang sách, của Jean-Paul
Sartre, một trong những nhà triết học hàng đầu của Pháp thế kỷ 20, một trong
những người sáng lập ra Chủ nghĩa hiện sinh.

Tôi cũng có những chữ viết
trên tay. Một câu trích dẫn tôi yêu thích. Trên tay trái: Sống
cho.
Trên tay phải: ngày hôm nay.

“Muốn biết tớ đang nghĩ gì
không?” Gat hỏi.

“Có,” tôi nói.

“Không,” Johnny trả lời.

“Tớ đang tự hỏi làm thế nào
chúng ta có thể nói ông ngoại của chúng ta sở hữu mảnh đất này. Không phải về
mặt pháp lý mà về mặt thực tế ấy.”

“Làm ơn đừng có bắt đầu nói
về tội lỗi của những Người hành hương nữa[9],” Johnny rên rỉ.

[9] Pilgrim: Vào khoảng
thế kỷ 16 - 17, một số người theo
Công giáoThanh giáo tại Anh bị hoàng đế lúc đó bắt cải đạo để
theo tôn giáo của ông ta, trong cuộc
Cải cách Tin Lành. Những người này không chấp nhận và bị
giam vào tù. Sau khi giam một thời gian vị hoàng đế truyền họ lại và hỏi lần
nữa, họ vẫn quyết không cải đạo. Hoàng đế không giam họ vào tù nữa mà nói với
họ rằng nếu họ không theo điều kiện của ông ta thì họ phải rời khỏi
nước Anh.

Những người này rời khỏi
Anh đến
Hà Lan sinh sống nhưng họ sớm nhận ra
mình không thể hoà nhập ở nơi này và lo sợ con cháu của họ sẽ bị mất gốc, một
số nhóm người rời khỏi Hà Lan để đến
Tân Thế Giới (Châu Mỹ) sinh sống, và sau này thường được gọi
là "Người hành hương" (
Pilgrims). Họ là những người tổ chức buổi lễ tạ
ơn đầu tiên tại Hoa Kỳ.

“Không. Tớ đang hỏi, làm
thế nào mà chúng ta có thể nói là đất đai thuộc về ai đó được?”
Gat vẫy tay với cát, biển và bầu trời.

Mirren nhún vai. “Người ta
cứ mua và bán đất suốt đấy thôi.”

“Chúng ta không nói về sex
hay giết người được hả?” Johnny hỏi.

Gat tảng lờ anh. “Có lẽ đất
đai không hề nên thuộc về con người. Hoặc có lẽ nên có giới hạn số đất con
người có thể sở hữu.” Cậu nghiêng người ra phía trước. “Mùa đông này khi tớ đến
Ấn Độ, trong chuyến đi tình nguyện ấy, chúng tớ đã xây nhà vệ sinh. Xây chúng
là vì những con người ở đó, trong ngôi làng đó, không chúng.”

“Tất cả chúng ta đều biết
cậu đã đến Ấn Độ,” Johnny nói. “Cậu nói với tụi này chừng bốn mươi bảy lần rồi
đấy.”

Đây là điều tôi yêu ở Gat:
cậu ấy rất hăng hái, rất không ngừng quan tâm đến thế giới, đến nỗi cậu đã
phiền muộn khi tưởng tượng đến khả năng rằng người khác sẽ phát chán khi nghe
những thứ cậu nói. Thậm chí khi họ thẳng thừng nói với cậu. Nhưng cậu cũng
không thích tha cho chúng tôi một cách dễ dàng. Cậu muốn làm chúng tôi phải suy
ngẫm – kể cả khi chúng tôi chẳng có tâm trạng mà suy ngẫm chút nào.

Cậu chọc một que gỗ vào
trong ngọn lửa. “Tớ đang nói là chúng ta nên bàn về nó. Không phải ai cũng có
những hòn đảo tư nhân. Một số người làm việc trên đó. Một số người làm việc
trong những nhà máy. Một số không có việc làm. Một số không có thức ăn.”

“Ngừng nói ngay đi,” Mirren
nói.

“Mãi ngừng nói luôn đi,”
Johnny bảo.

“Chúng ta có cái nhìn lệch
lạc về con người trên Beechwood,” Gat nói. “Tớ không nghĩ là các cậu nhận thấy
điều đó.”

“Im đi,” tôi bảo. “Tớ sẽ
cho cậu thêm sô cô la nếu cậu ngậm miệng giùm.”

Và Gat đã ngậm miệng, nhưng
mặt cậu nhăn nhó. Cậu đột ngột đứng dậy, nhặt lên từ bãi cát một hòn đá, và dồn
hết sức ném nó đi. Cậu cởi chiếc áo nỉ của mình và đá bay giày. Rồi cậu
bước xuống biển trong chiếc quần jean.

Đầy giận dữ.

Tôi ngắm nhìn những cơ bắp
trên vai cậu dưới ánh trăng, những giọt nước bị cậu đá văng tung tóa. Cậu lặn
xuống và tôi đã nghĩ: Nếu giờ mình không đuổi theo cậu ấy, cái cô Raquel đó sẽ
có được cậu. Nếu giờ mình không đuổi theo cậu ấy, cậu ấy sẽ rời đi. Khỏi những
Kẻ dối trá, khỏi hòn đảo, khỏi gia đình này, khỏi tôi.

Tôi ném phăng chiếc áo len
dài tay và lao xuống biển theo Gat trong bộ váy. Tôi đâm sầm vào làn nước, bơi
ra chỗ cậu đang nằm ngửa. Mái tóc ướt bóng mượt của cậu được vuốt khỏi khuôn
mặt, để lộ ra vết sẹo mảnh vắt ngang lông mày.

Tôi với lấy tay cậu. “Gat.”

Cậu giật mình. Đứng trong
làn biển cao đến thắt lưng.

“Xin lỗi,” tôi thì thầm.

“Tớ không bảo cậu ngậm
miệng, Cady ạ,” cậu nói. “Tớ chưa từng nói thế với cậu bao giờ.”

“Tớ biết.”

Cậu im lặng.

“Làm ơn đừng ngậm miệng,”
tôi nói.

Tôi cảm thấy đôi mắt cậu
lướt qua thân hình trong bộ váy sũng nước của tôi. “Tớ nói quá nhiều,” cậu nói.
“Tớ chính trị hóa mọi thứ.”

“Tớ thích khi cậu nói,” tôi
nói, vì nó đúng là vậy. Khi tôi ngừng nghe, tôi thích nó.

“Chỉ là mọi thứ khiến tớ…”
Cậu ngưng lại. “Mọi thứ trên thế giới đang rối tung lên, chỉ vậy thôi.”

“Ừ.”

“Có lẽ tớ nên…” - Gat nắm
lấy tay tôi, lật ngược nó lại để nhìn dòng chữ viết ở mặt sau - “… tớ nên sống
cho ngày hôm nay
và không cứ mãi suy đi tính lại mọi lúc mọi nơi nữa.”

Tay tôi đặt trong đôi bàn
tay đẫm nước của cậu.

Tôi rùng mình. Tay cậu trần
và ướt nước. Chúng tôi từng lúc nào cũng nắm tay nhau, nhưng cả mùa hè cậu chưa
từng chạm vào tôi.

“Thật tốt khi cậu nhìn thế
giới theo cách của mình,” tôi bảo cậu.

Gat thả tôi ra và ngả mình
lại vào làn nước. “Johnny muốn tớ câm miệng. Tớ đang làm cậu và Mirren phát
chán.”

Tôi nhìn vào nét mặt nhìn
nghiêng của cậu. Cậu không chỉ là Gat. Cậu trầm lặng và nhiệt tình. Tham vọng
và đậm đặc như cà phê. Tất cả đều ở đó, trong mí mắt nâu, trong làn da trơn
nhẵn, trong cánh môi dưới chìa ra. Có một nguồn năng lượng cuồn cuộn trong cậu.

“Tớ sẽ nói cho cậu nghe một
bí mật,” tôi thì thầm.

“Gì cơ?”

Tôi với tay ra và chạm vào
cánh tay cậu lần nữa. Cậu không gạt đi. “Khi chúng tớ nói Im đi,
Gat,
ý chúng tớ không phải vậy chút nào.”

“Không ư?”

“Ý chúng tớ là, chúng tớ
yêu cậu. Cậu nhắc chúng tớ rằng chúng tớ là những kẻ đáng khinh và ích kỷ
nhường nào. Cậu không phải một trong chúng tớ, theo kiểu đó.”

Cậu hạ mắt xuống. Mỉm cười.
“Ý cậu là vậy ư, Cady?”

“Đúng thế,” tôi đáp. Tôi để
những ngón tay mình rê dọc theo cánh tay đang duỗi ra nổi lềnh phềnh trên mặt
nước của cậu.

“Tớ không thể tin được là
hai người đang ở trong làn nước đó!” Johnny đang xắn quần đứng trên làn nước
cao đến mắt cá chân. “Đó là Phương Bắc đấy. Mấy ngón chân tớ tê cóng hết cả rồi
đây này.”

“Nó rất dễ chịu khi cậu
chìm mình vào,” Gat hét trả.

“Nghiêm túc đấy hả?”

“Đừng có yếu ớt thế!” Gat
la lên. “Đàn ông lên và chìm mình vào làn nước ngớ ngẩn nào.”

Johnny cười và bước vào.
Mirren theo sau.

Và nó thật... tuyệt vời.

Màn đêm đang lờ mờ xuất
hiện trên đầu. Tiếng ậm ừ của biển cả. Tiếng quàng quạc của mòng biển.

8

ĐÊM ẤY TÔI trằn trọc không
ngủ được.

Sau nửa đêm, cậu gọi tên
tôi.

Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ.
Gat đang ngả lưng trên lối đi bằng gỗ dẫn đến Windemere. Những chú chó săn mồi
nằm kế cậu, cả năm con: Bosh, Grendel, Poppy, Prince Philip, và Fatima. Đuôi
chúng đập đập nhẹ nhàng.

Ánh trăng đượm lên tất cả
một màu xanh của biển.

“Xuống đây nào,” cậu gọi.

Tôi làm theo.

Mẹ đã tắt đèn. Phần còn lại
của hòn đảo chìm trong bóng đêm. Chúng tôi chỉ có một mình, nếu không tính tới
lũ chó.

“Nhích qua đi,” tôi bảo
cậu. Lối đi không rộng lắm. Khi tôi nằm xuống kế cậu, cánh tay chúng tôi chạm
vào nhau, tôi thì để tay trần còn cậu thì khoác chiếc áo đi săn màu ôliu.

Chúng tôi nhìn trời. Bầu
trời dát đầy sao, như thể thiên hà đang tổ chức một lễ kỷ niệm, một bữa tiệc
chui linh đình khi con người ta đã chìm vào giấc ngủ.

Tôi mừng là Gat đã không cố
tỏ ra hiểu biết về những chòm sao hay nói điều gì đó ngu ngốc về việc ước với
những vì sao. Nhưng tôi cũng không biết điều gì đã khiến cậu im lặng.

“Tớ nắm tay cậu được
không?” cậu hỏi.

Tôi đặt tay mình vào bàn
tay cậu.

“Vũ trụ lúc này đây dường
như mới rộng lớn làm sao,” cậu bảo. “Tớ cần cái gì đó để níu giữ mình.”

“Tớ ở đây.”

Cậu chà ngón cái vào lòng
bàn tay tôi. Mọi dây thần kinh của tôi đều tập trung ở đó, hoạt động và hồi hộp
trước mỗi chuyển động của làn da cậu trên tôi.

“Tớ không chắc rằng mình là
một người tốt,” một lúc sau cậu lên tiếng.

“Tớ cũng không chắc rằng
mình là,” tôi nói. “Tớ đang ứng biến.”

“Ừ.” Gat im lặng một lúc.
“Cậu có tin ở Chúa không?”

“Nửa tin nửa không.” Tôi cố
nghĩ về nó một cách nghiêm túc. Tôi biết rằng Gat sẽ chẳng hài lòng với một câu
trả lời hời hợt.

“Khi mọi chuyện xấu đi, tớ
sẽ cầu nguyện hay tưởng tượng ra ai đó đang che chở cho mình, lắng nghe mình.
Như vài ngày đầu sau khi bố tớ mất, tớ đã nghĩ về chúa. Để được che chở, bảo
vệ. Nhưng phần lớn thời gian còn lại, tớ chậm chạp lê bước qua cuộc sống thường
nhật của mình. Nó thậm chí còn không có một chút tâm linh nào cả.”

“Tớ không còn tin nữa,” Gat
nói. “Chuyến đi đến Ấn Độ ấy, sự đói nghèo. Tớ không thể tưởng tượng được vị
Chúa nào lại để điều đó xảy ra cả. Rồi tớ về nhà và bắt đầu chú ý đến điều ấy
trên những đường phố New York. Người ta bệnh tật và chết đói ngay trong cái nơi
được xem là một trong những quốc gia giàu nhất trên thế giới. Tớ chỉ... tớ cũng
không thể nghĩ rằng có ai đó đang chở che cho những con người này.”

“Điều ấy không khiến cậu
thành người xấu.”

“Mẹ tớ tin. Mẹ tớ sinh ra
theo đạo Phật nhưng giờ bà lại đi nhà thờ của Hội Giám Lý. Bà không vừa ý với
tớ lắm.” Gat hiếm khi nói về mẹ của mình.

“Cậu không thể tin chỉ vì
mẹ cậu bảo cậu làm thế,” tôi nói.

“Không. Vấn đề là: làm thế
nào để là một người tốt nếu tớ không còn đức tin nữa.”

Chúng tôi nhìn chăm chăm
vào bầu trời. Những chú chó đã vào nhà Windemere qua lỗ chó ở cửa.

“Cậu lạnh rồi,” Gat nói.
“Để tớ đưa áo cho cậu.”

Tôi không lạnh nhưng tôi
vẫn ngồi dậy. Cậu cũng ngồi dậy. Cởi cúc chiếc áo đi săn màu ôliu và giũ nó.

Và trao nó cho tôi.

Nó mang hơi ấm từ người
cậu. Phần vai rộng thùng thình. Giờ thì hai tay cậu để trần.

Tôi muốn hôn Gat ở đó khi
tôi đang khoác chiếc áo đi săn màu ôliu của cậu. Nhưng tôi đã không làm thế.

Có lẽ cậu yêu Raquel. Những
bức ảnh trong điện thoại của cậu. Bông Hồng Nhật khô trong tấm phong bì.