Bốn Mươi Năm Nói Láo - Phần IV - Chương 7 - Phần 2

Vì nhiệm vụ của tôi lúc ấy là thu thập bài vở, làm tít, làm mi, tôi có dịp được biết thêm nhiều anh em trong quân đội và cũng nhờ đó một phần lớn, tôi được làm quen với nhiều tài liệu mật, nhiều bức hình “quá xá” và thu thập được nhiều thư từ kín của những bộ trưởng, võ quan, thương gia “kính gửi bà cố vấn” hoặc xin ân huệ, hoặc xin che chở, hoặc báo cáo về các công việc mà “ông bà cố vấn đã rủ lòng thương mà ủy thác cho làm”... Nhà báo, thực ra, ngoài mấy cô thư ký đánh máy và phụ trách về quảng cáo, chỉ còn có một họa sĩ, một bỉnh bút, và Thanh Tùng với tôi. Trời nóng, chui xuống gầm bàn nằm cho mát để xem các bức hình và các tài liệu đủ các loại của các nơi gửi về rất kín, chúng tôi phải lắc đầu, chịu là sức người không thể nào tưởng tượng được lại có thể có những con người và những sự việc “mê ly, rùng rợn” đến như thế được.

Tính ra hơn một năm làm “Tin Điện”, tôi đã gặp được mấy cái lợi tinh thần. Thứ nhất, tôi được nghe và thấy những sự việc lạ lùng mà người ngoài tức chánh phủ, được thành lập; thành phần có 5 tổng ủy viên, 10 ủy viên, 2 thứ ủy. Lại cũng chẳng làm được trò gì, tháng 2 năm 1966, chính phủ Nguyễn Cao Kì lại cải tổ.

Rồi các vụ rối loạn ở miền Trung xảy ra, các báo lậu lại một phen hoạt động, truyền đơn rải như bươm bướm ở Sài Gòn, Gia Định đòi chính quyền chấm dứt ngay các vụ rối loạn ấy. Trung tướng Thiệu kêu gọi rát cổ bỏng họng, các vụ rối loạn cứ tiếp diễn. Ông xác nhận tình trạng chiến tranh và ra lịnh đóng cửa các trường học mọi cấp. Các cuộc biểu tình diễn ra khắp nơi: ở Trần Quốc Toản, đài Phát thanh, bộ Thông tin. Đám nào cũng bị giải tán bằng lựu đạn cay. Xe jeep cháy vèo vèo. Nhà bị đốt; người chết nằm lăn ra đường cả đêm mới có người đưa đi. Sinh viên mười bốn phân khoa đại học Sài Gòn tuyệt đối chống các cuộc xáo trộn. Viện Hóa Đạo đóng cửa. Báo “Lập Trường” binh Thích Trí Quang. Báo “Sống” binh Thích Tâm Châu. Một nhóm chừng hơn một ngàn người tụ tập và biểu tình ba lần gần khu Trần Quốc Toản - Hiền Vương, kéo đến tờ báo “Sống” của Chu Tử đập phá và đốt cháy giấy in và xe máy. Phật tử và tăng ni đập phá nhà của Mỹ kiều, xung đột với lực lượng an ninh. Bị giải tán bằng lựu đạn cay, họ tràn ra ngả Cao Thắng, Trần Quý Cáp; nhiều truyền đơn chống chánh phủ, chống Mỹ tung ra khắp ngả đường.

Lúc ấy, tôi giúp Quốc An tổ chức nhựt báo “Sao Trắng” của một đảng chính trị ở đây. Anh em giúp việc gồm cả già lẫn trẻ, mục đích chính là đưa đảng lên, đứng vào hàng ngũ Phật tử chống lại đường lối của chính phủ lúc bấy giờ. Thực ra, làm một tờ báo như thế, phải là một người trong đảng, mà tôi thì không hề tuyên thệ hay đi lại với đảng bao giờ. Sở dĩ anh em chiếu cố là vì tình của Quốc An, giám đốc báo “Sao Trắng”; ngoài ra tôi lại cũng biết Xuân Tùng, người cầm chịch ở bên trong và Vũ Hồng Khanh, một người bạn cũ thường đi lại với tôi lúc ở Hà Nội, dưới thời Nguyễn Văn Tâm và Trần Văn Hữu. Sau nhiều cuộc hội họp ở những địa điểm khác nhau, anh Phương Hữu đứng ra làm tổng thư ký tòa soạn, còn bỉnh bút thì gồm cả trẻ lẫn già cho vui lòng... Thiếu tướng Kì, vì ông này hăng lắm. Cũng như tổng thống Johnson, ông mới phát minh ra rằng những anh già từ ba mươi lăm tuổi trở lên đều là đồ ăn hại đái nát, chỉ có những tên trẻ mới làm việc và giúp nước được thôi. Tôi không biết tuyên bố trịnh trọng như thế, thiếu tướng có ý nói móc gì ông thủ tướng không, nhưng tôi nghiệm thấy rằng thiếu tướng Kì nói cũng đúng phần nào: chẳng ai quá ba mươi lăm làm được trò gì; hết ngày ấy sang ngày khác chỉ xác nhận đi xác nhận lại rằng “chánh phủ không hề kì thị Nam Bắc hay tôn giáo”. Lòng dân trong nước lúc ấy chia rẽ vô cùng. Về mặt ngoại giao, tổng thống De Gaulle, nhân dịp đầu năm, chơi cho Hoa Kỳ một búa nặng trong thông điệp đầu năm gởi nhân dân Pháp:

“Chiến tranh bất công, bởi vì thực ra đó là do sự can thiệp võ trang của Mỹ trên lãnh thổ Việt Nam; chiến tranh đáng bỉ, bởi vì nó dẫn dắt một đại cường quốc tàn phá một nước nhược tiểu. Nhân danh lý trí, lòng ưu ái của chúng tôi đối với Đông Dương, và tình thân hữu từ hai thế kỷ nay của chúng tôi đối với Mỹ quốc, chúng tôi thấy Mỹ cần phải chấm dứt cuộc thử thách bằng cách rút quân đội ở Việt Nam về nước.” Lần đầu tiên, Tổng thống Johnson nói đến thương nghị với Bắc Việt bất cứ ở đâu, còn Edgar Hoover, giám đốc trinh sát FBI Mỹ, thì cho biết đảng Cộng sản bành trướng mau lẹ tại Hoa Kỳ, và đang triệt để khai thác chiến tranh và xung đột đen, trắng. Với sơ sơ vài sự việc kể trên, một tờ báo tranh đấu, mà lại của một đảng chính trị, đáng lý ra lúc ấy phải nêu rõ lập trường, minh tỏ thái độ đối với các vấn đề quốc tế, cũng như quốc nội, nhưng “Sao Trắng” không hề làm, vì ý kiến của các người cầm chịch khảng tảng và phân hóa quá. Đứng về phía chúng tôi, Quốc An muốn dứt khoát; nhưng gặp nhiều kì đà cản mũi quá nên lắm lúc điên đầu, không còn biết phải đối phó ra sao.

Về sau này, nội bộ Việt Nam Quốc Dân đảng chia ra làm nhiều hệ phái như hệ phái Xuân Tùng, hệ phái Vũ Hồng Khanh... Tôi không rõ sự phân hóa đó manh nha tự lúc nào, nhưng kể ngay từ lúc đó, tôi đã thấy Quốc An vất vả lấy lòng hết bạn này đến lấy lòng bạn kia; và thực tình tôi đã thương anh khi thấy anh lạc lõng, bơ vơ lúc có một số anh em tán thành loạt bài đả kích kì thị tôn giáo mà cũng luôn khi ấy lại có một loạt anh em khác khuyến cáo nên trông và chờ, chớ nên găng quá mà “có hại”. Tôi nói đùa: “Chắc mấy ông này định vận động lấy một chức bộ trưởng chứ gì? Nếu như thế, hay là ta viết một loạt bài nịnh chánh quyền ra mặt thì chắc ăn hơn."

Không làm báo chẳng làm sao; làm báo chừng hai tháng, Quốc An sút kí lô trông thấy, một mặt vì lo tiền, một mặt lo cư xử với anh em trong đảng; lại mặt khác nữa phải đối phó với chính quyền vì hết ông này đe đóng cửa lại ông kia dọa đưa ra tòa. Mà tâm lý ai chẳng thế? Bỏ một lúc vài triệu bạc ra làm báo mà để cho chính quyền đóng cửa “một cái rộp” không thể không xao xuyến! Vì khủng hoảng nội bộ, mà cũng vì bị khủng bố tinh thần, mấy ông cầm chịch dần dần “đánh mất cây kim chỉ nam”, thậm chí đến loạt bài nói lên vị trí, khả năng và sự sút kém của trí thức trước những lời mạt sát của một số người dân thiển cận, tam đầu chế Xuân Tùng cũng phán ớn ngất ngư, không dám cho đăng tải. Phương Hữu, Thượng Sỹ và các anh em tòa soạn bắt đầu ngán ngẩm. Về phần Xuân Tùng cũng chẳng hăng say gì hơn, có khi bốn năm ngày liền không đến tòa soạn để phối kiểm bài vở nữa. Ở giữa, chỉ chết Quốc An. Sau rồi, Quốc An cũng không đến nữa, có lẽ vì không khí giữa anh em trong đảng không “hòa đồng”, vả chăng, anh cũng không thể chỉ trông vào tờ báo mà sống: ngoài “Sao Trắng”, anh còn nhiều công việc khác, mà thương mãi là vấn đề chính của anh.

Ra được hơn ba tháng, tờ “Sao Trắng” tuyên bố ngưng xuất bản. Anh em đều buồn, buồn cho Quốc An nhất, nhưng tòa soạn tự an ủi rằng tờ báo ra đời tuy không được bao lâu nhưng không có một số nào bị người này người kia trong đảng lung lạc nổi, hay chùn tay đả kích chính phủ vì áp lực của chính phủ lúc ấy rất là tàn nhẫn, khi sắp cáo chung. Báo “Sao Trắng” chết sau khi chính phủ Hương rút lui vài ngày. Thiếu tướng Nguyễn Cao Kì lên làm Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương, mở đầu một kỷ nguyên tuyên bố lung tung làm cho báo chí nhiều khi không biết đàng nào mà dò, không biết hướng đi và chánh sách của chính thể ra thế nào.

Cùng với Trung tướng Thiệu, ông tuyên bố chính ông đã dự vào công cuộc hạ Nhu và Diệm và các báo đăng chưa ráo mực thì, tại Uc, ông lại tuyên bố với báo giới “không hề biết trước vụ đánh đổ cố Tổng thống Ngô Đình Diệm vì khi đó là sĩ quan cấp dưới”. Các chính sách diều hâu Mỹ, cũng như bộ Quốc phòng, loan tin không có gì thay đổi trong việc oanh tạc Bắc Việt; Thượng tọa Thích Tâm Châu cũng lên tiếng tại Tân Đề Li hòa bình chỉ trở lại khi nào Bắc Việt chấm dứt xâm lăng; Tướng Kì cũng tuyên bố ở phi trường Tân Sơn Nhứt cuộc thanh trừng phải tiếp tục làm ngay; mà trong khi ấy thì Thủ tướng Anh muốn tiếp xúc với Bắc Việt không được; Dean Rusk tuyên bố sẵn sàng thương thuyết với Bắc Việt; báo “New York Times” loan báo: Mỹ và Bắc Việt vẫn tiếp xúc mật tại Le Caire mà Robert Kennedy cũng xác nhận tin này. Nội các Nguyễn Cao Kì cải tổ đưa Trương Thái Tôn thay Âu Trường Thanh, còn Âu Trường Thanh thì bị giữ vì Công an đưa ra bằng cớ Thanh là Cộng sản! Tướng Kì tuyên bố sẽ ra ứng cử tổng thống với luật sư Lộc, tướng Thiệu tuyên bố ứng cử tổng thống với Ô. Mai Thọ Truyền; rồi đến lúc chót hai ông cùng đứng chung liên danh. Tướng Dương Văn Minh cũng ứng cử tổng thống và viết thư xin hồi hương, các báo đều loan tin nhưng đến lúc chót thì tướng Kì viết thư khuyên ông không nên về; trong khi ấy thì tướng Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng vùng 4, tư lịnh các vùng chiến thuật, gửi thư lên Quốc Hội phản đối sự chấp đơn ứng cử của tướng Minh. Lý do: Hội đồng quân lực đã không chấp thuận sự hồi hương của tướng Minh.

Nhưng rồi liên danh Thiệu Kì cũng đắc cử tổng thống và phó tổng thống. Ông Trần Văn Hương tuyên bố lập mặt trận đối lập nếu không trúng cử và quyết không hợp tác với Thiệu Kì, nhưng rồi cũng nhận làm thủ tướng sau ông Nguyễn Văn Lộc; cả nước phản đối hòa đàm với Bắc Việt và MTGPMN, ai nói đến hòa bình thì bị bắt, nhưng rồi theo nhiều báo ngoại quốc thì tổng thống Johnson muốn có cuộc tiếp xúc với MTGPMN nhiều hơn và báo “Newsweek” cho rằng Hoa Kì có thể theo đường lối tìm hòa bình nếu VNCH từ chối.

Nhưng rồi không kể gì đến lời tuyên bố “nảy lửa” của các chánh khách Việt Nam, Hoa Kì cũng cứ ngưng oanh tạc Bắc Việt; tổng thống Johnson, rồi đến tổng thống Nixon, đều chủ trương rút quân Mỹ khỏi Việt Nam, mặc dầu cựu tổng thống Eisenhower nhắc đi nhắc lại rằng nếu Hoa Kì rút khỏi Việt Nam thì cả Đông Nam A sẽ lọt vào tay Cộng sản; nhiều người tuyên bố liên hiệp với MTGPMN là tự sát, không bao giờ nhìn nhận Mặt trận là một tổ chức hợp pháp, nhưng rồi cũng mật đàm với Mặt trận; thiếu tướng Kì thề không bao giờ ngồi chung một bàn với Cộng sản nhưng rồi cũng cùng họp bàn tròn ở hội nghị Balê; bất cứ ai nói chuyện hòa bình cũng bị kể như là thân cộng và cần bắt nhốt hoặc đưa sang bên kia vĩ tuyến, nhưng rồi, theo tờ báo chính thức của Công giáo ở La Mã đầu năm 1968, tờ Observatore Romano, Tòa thánh dự định gửi một phái đoàn qua Hà Nội vận động hòa bình, trong khi Dean Rusk tuyên bố sẵn sàng nói chuyện hòa bình với Bắc Việt, nếu Cộng sản ngưng tấn công thủy quân lục chiến Hoa Kì.

Bao nhiêu biến cố dồn dập, mâu thuẫn như thế làm cho báo chí điên đầu. Thay vì hướng dẫn dư luận, đa số chỉ biết theo chánh quyền với một phương thức cố hữu là không đưa ra sáng kiến gì hết, không tỏ rõ lập trường gì hết, cứ chờ mỗi khi có nhân vật cao cấp nào tuyên bố điều gì là phụ họa và khen là chí lý. Sở dĩ như vậy, một phần lớn là vì các chủ nhiệm kiêm chủ bút nghĩ đến nồi cơm, không phải mỗi lúc bỏ ra hai ba triệu bạc để biến ra giấy lộn; mặt khác, họ lại theo “chính sách chong chóng”, bất cứ chính phủ nào lên cũng nịnh sát đất may ra có được tí tiền lẻ, hay xin xỏ được cái gì không.

Về phần nhà nước thì có một thái độ cương quyết không tả được. De Gaulle làm tổng thống, có bao nhiêu đối lập đả kích tơi bời công khai; Johnson cũng vậy; nhưng các chính khách ta thì khác; một tí trái ý cũng làm cho họ không bằng lòng. Tôi đã từng thấy có những ông chỉ là tôm tép thôi nhưng phúc bảy mươi đời lại có dịp tuyên bố vài ba câu vớ vẩn. Ấy thế, mà sau đó, họ tiếp xúc mật với các báo để đăng những lời “tuyên bố lịch sử” đó như thể không đăng thì mất nước đến nơi, báo nào rút ngắn lại hay “lờ” đi thì họ giận lãy và nhắn lời đe dọa. Đăng hay không đăng mấy lời của sâu bọ lên làm người mà còn lắm chuyện như thế, nói chi đến chuyện phản đối đường lối của mấy ông bự, hay chính sách của chánh quyền.

Người mình vốn giàu lòng ưu ái, không muốn mất lòng ai cả, nên khen tuốt cho tuốt cả bằng lòng: để cho người này hờn, người kia oán, phiền trong bụng lắm. Vả chăng, người ta độc đoán, củng cố địa vị và tìm hết cách đề cao cá nhân cũng không phải là chuyện lạ lùng gì: đó chỉ là một điểm mà trên kia tôi đã nói - điểm binh vực quyền lợi của một chế độ. Vì quyền lợi của dân tộc và quyền lợi của một chế độ, hay một chính phủ, có mâu thuẫn, trái nhau cho nên chế độ ấy phải đối phó với những người chống đối: do đấy mới có những vụ báo rụng xuống như sung, có khi chẳng vì chuyện gì lớn lao cả mà bị đóng cửa vô hạn định, báo chí phải kinh qua những nghịch cảnh thăng trầm, còn người làm báo thì đâm ra hèn nhát, bợ đỡ, nếu không muốn bị “chụp nón Cộng sản”, bị vu cáo hay bị khép vào tội phạm như hiếp dâm, đánh bạc, hút á phiện, làm gián điệp hoặc thông đồng với địch...

Đó là cả một sự đau đớn cho người làm báo. Sự việc đó nói lên cho ta thấy rằng khi một dân tộc chưa độc lập hẳn; khi mà chưa có dân chủ thực sự, báo chí chưa có một quy chế hẳn hoi, khi mà đất nước còn chiến tranh, chính thể nào cũng lấy việc đánh nhau làm mấu chốt, nếu cho dân chúng tự do hoàn toàn thì loạn, do đó buộc phải áp dụng một chính sách độc đoán, như vậy thì làm thế nào mà có thể có tự do ngôn luận được, tự do báo chí được - trong khi chính người làm báo vẫn phải tự xoay mình trong quỹ đạo của chế độ?!

Rút thêm một ít kinh nghiệm nữa sau khi thôi tờ “Sao Trắng”, tôi thấy nếu làm báo chính trị nữa thì cũng bị khủng bố và lợi dụng thêm thôi. Vì thế, lúc anh Nguyễn Văn Hợi được phép ra tuần báo “Thế Giới” tìm tôi cộng tác thì tôi đưa ra ý kiến nên tổ chức tờ báo ấy thành một tờ báo văn nghệ hoàn toàn, đặt nặng vấn đề tiểu thuyết hơn là vấn đề chính trị hay xã hội. Sự thực, anh Nguyễn Văn Hợi cũng chủ trương như thế, nhưng anh muốn hơn thế một chút: nghiêng thêm về mặt giáo dục vì anh muốn lấy thêm một ít độc giả trước đây của anh lúc anh xuất bản các sách giáo khoa và tờ “Chăm Học” - một học san được một số lớn giáo sư danh tiếng viết giúp và được nhiều bậc phụ huynh nhận là một tờ báo hữu ích giúp đỡ rất nhiều cho học đường trong việc giáo dục thiếu niên.