Xít - Cập nhật - Phung QA

Thảo luận trong 'Truyện dài' bắt đầu bởi Phung QA, 8/4/19.

  1. Phung QA

    Phung QA Gà con Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    10
    Được thích:
    2
    Đã thích:
    1
    GSP:
    Ap
    Tên truyện: XÍT
    Tên tác giả: Phung QA
    Tình trạng sáng tác: Cập nhật
    Lịch đăng: 1 chương/tuần
    Thể loại: Giả tưởng, phiêu lưu, kỳ ảo
    Độ dài: 80 chương
    Giới hạn tuổi đọc: không / Cảnh báo nội dung: không.
    Giới thiệu:
    Chuyện kể về hành trình đi tìm mẹ của Xít, một thiếu niên mồ côi sinh ra và lớn lên trong một bộ tộc nhỏ ở tận cuối xứ Màn Khai, một nơi rừng sâu núi hiểm, và là một bộ tộc đã bị các đấng thần linh ruồng rẫy, trừng phạt... Trong hành trình đầy bất ngờ, gian nan và kỳ lạ đó, Xít dần hé mở ra những bí mật, những sự thật... Những bí mật ghê gớm, thứ sẽ không chỉ thay đổi cuộc đời Xít, thay đổi số phận cái bản làng Tơ-Gúc nhỏ bé thân yêu của cậu mãi mãi, mà còn thay đổi những thứ vô cùng lớn lao, vĩ đại khác, những bí mật mà khi chưa đặt chân đến tận cuối hành trình, thì chính cậu cũng vẫn chưa thể biết nó là gì!
    Mục Lục:
    Chương 1 --- Chương 2 --- Chương 3 --- Chương 4 --- Chương 5 --- Chương 6
     
  2. Phung QA

    Phung QA Gà con Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    10
    Được thích:
    2
    Đã thích:
    1
    GSP:
    Ap
    Chương 1: Ngạ Quỉ


    Giữa trưa hè nắng ran ran.
    Mặt trời tựa một gáo thiếc nung đỏ rực, cháy phừng phừng trên cao lóa mắt. Nó sôi lục bục như chỉ chực vỡ òa, bung ra một thứ chất lỏng sền sệt gớm giếc. Nương rẫy trên những ngọn đồi như bị tưới một lớp dầu sôi. Mặt đất vàng khượm, khô khốc bốc lên một màn khí mỏngdập dờn. Rải rác trên những luống đất uốn lượn, nhấp nhô là những tảng đá mồ côi đen đủi, những bụi tầm gai cháy nắng trơ trụi, xơ xác.
    Mấy chục con người đang cặm cụi trên những lưng đồi ấy. Họ rạp mình nín lặng cào cào, xới xới. Không gian im ắng tới mức tuồng như có thể nghe thấy từng hơi thở gằn nặng nhọc dưới từng nhát cuốc. Tất cả lầm lũi, rạp mình phơi lưng dưới cái nắng gay gắt, nhìn xa xa họ tựa một bầy mọt đang cục cựa cố rúc mình xuống kẽ đất để tránh cái nắng như thiêu như đốt.
    Họ là đám người bản Tơ Gúc, một bản nhỏ nghèo nàn nằm tận cuối cùng xứ Ngàn Khai, nơi có lẽ không còn bản làng nào dám tiến sát dãy Kỳ Giông hơn nữa. Một ngôi làng đơn độc, côi cút nằm xa lánh, khuất nẻo hẳn với tất cả những ngôi làng khác, mà cứ như chính họ tự nhận thì: nó đã bị Thèn quở phạt và các vị thần ruồng bỏ, ghẻ lạnh từ lâu lắm rồi!
    Bầu trời trong suốt và xanh thẳm như đồng lõa với vừng dương chói chang để không bỏ sót một tia nắng nào không được chiếu xuống nung nấu mặt đất. Cả bầu trời chẳng có lấy một phết mây mỏng, tất cả mở toang cho cái nắng cháy dội xuống.
    May sao rải rác trên những sườn đồi vẫn còn có mấy cây dẻ gai cổ thụ khá lớn, thân nâu sẫm xù xì, to cả hai ba người ôm, chúng oằn mình cắm rễ vào đất. Mặc cho nắng đốt, chúng vẫn kiên cường, nhẫn nại vươn những thân cành lực lưỡng xòe tán xanh ngắt lớp lớp, thảo lảo ban tặng những vùng bóng râm mát rượi như những đám mây che phủ sườn đồi, cho đám người làm nương của làng Tơ Gúc một chỗ trú nắng tuyệt vời mỗi khi nghỉ tay. Trên những ngọn đồi trọc khét nắng này, đó quả là một món quà quí giá.
    Đột nhiên có tiếng khóc oe óe cất lên từ một trong những gốc dẻ gai đó. Dưới tán lá một đứa bé gái chừng tám, chín tháng tuổi nằm gọn lỏn trong chiếc rổ mây, đáy được lót bằng những mảnh vải thêu cũ đã bạc phếch, vừa giật mình trở giấc hay khát sữa gì đó. Ngay lập tức từ sau gốc dẻ gai xù xì ló ra một cái đầu bù xù, xơ xác. Một thằng bé dáng người mảnh khảnh chừng chín mười tuổi chạy lại bên cái rổ, người nó gầy và đen nhẻm; mặt mũi lấm lem, mái tóc xơ xác đỏ quạch như vẫn còn khét lẹt mùi nắng, duy chỉ có ánh mắt sáng lấp lánh nổi bật trên khuôn mặt tèm lem bụi đất, nhìn có vẻ khá thông minh, lanh lợi. Tay nó vẫn đang vung vẩy một con dế cụ to tướng, nâu bóng đang đạp hai chiếc càng to khỏe bật phành phạch, một nạn nhân hung hăng vừa bị nó tước đi cuộc sống tự do, yên ấm trong một cái hang nào đó dưới gốc dẻ. Nó là thằng cu Xít, anh trai của đứa bé gái.
    Chạy lại bên em, cúi xuống bên cạnh cái rổ, thằng Xít âu yếm nhìn đứa em gái bé bỏng, nó mỉm cười đưa con dế cụ ra dứ dứ trước mặt con bé. Vừa thấy thằng anh, con bé lập tức im bặt, giương đôi mắt to tròn đen láy như hai hạt nhãn nhìn chằm chằm vào con dế, rồi bất giác đôi môi nhỏ xíu nhoẻn một nụ cười rất tươi. Thằng Xít sung sương hít hà lấy ngón tay cà nhè nhẹ lên cái má phing phíng của đứa em gái. Sau khi cẩn thận kẹp con dế đang ra sức vùng vẫy vào giữa kẽ chân cho khỏi vuột mất, nó tất tả rót nước từ một cái ống bương ra chiếc môi gỗ đã sứt sẹo nhẹ nhàng mớm vào miệng con bé. Không chút đẩy đưa, con bé nhóp nhép cái miệng uống một cách ngon lành, trong khi đôi mắt đen láy vẫn không rời khuôn mặt thằng anh.
    Vừa lúc đó, từ ngoài nắng bước vào một người phụ nữ trẻ, áng chừng chỉ khoảng hai bảy, hai tám, dáng người dong dỏng, khuôn mặt gầy sạm nắng gió, vẻ khắc khổ lam lũ. Tuy vậy, dường như nắng gió dãi dầu vẫn không thể lấy hết được những nét duyên dáng thanh tú của một thời con gái xinh xắn, mặn mà chưa xa trên khuôn mặt chị. Chúng vẫn còn đó: phảng phất trên vành môi mềm, cân đối ưa nhìn; trong đôi mắt đen huyền, mướt mát như áng mây chiều ẩn dưới hàng mi cong cố giấu ánh nhìn mệt mỏi, hoặc cái cổ thon dài trên đôi vai xuội xuống vì nhọc nhằn. Chị là Pơ Miên, mẹ của hai đứa trẻ, và là vợ của Xê Đan Tay Thép - Người thợ săn tài ba, tên tuổi đã bay xa khắp bảy núi xứ Man Biang. Với đôi cánh tay cứng như gỗ Trắc, cuồn cuộn như cặp trăn hoa vàng, Xê Đan đã từng hạ gục hàng chục con mãnh thú khắp dải rừng Khàn Pha này chỉ với một lưỡi dao ngắn, bằng thép thiêng từ tổ tộc truyền lại. Khắp núi rừng Man Biang, Xê Đan đi không sợ voi, nằm chẳng sợ cọp, bởi anh chẳng còn biết sợ thứ gì. Không gì ngăn nổi anh. Nhưng rồi tai họa đã đổ sập xuống đầu gia đình Pơ Miên một năm trước đây, khi người chồng tài giỏi, gan góc nhưng cũng rất bướng bỉnh của chị đã liều lĩnh một mình dấn thân vào rừng U Linh để săn lùng một con quái vật sau dãy Kỳ Giông. Một con quái thú gần như đã thành tinh - Sói Hai Đầu.
    Sói Hai Đầu đã trở thành một truyền thuyết, reo rắc bao nỗi kinh hoàng cho bản Tơ Gúc từ nhiều đời nay. Theo những người già trong bản kể lại, nó đã xuất hiện từ lâu lắm rồi, từ cả trăm năm về trước. Nó luôn lẩn lút trong cánh rừng U Linh tăm tối bí ẩn, cứ cách vài năm nó mới lại bất thần xuất hiện một lần, xông vào bản bắt đi một hai người. Cứ theo lời kể thì thực ra chưa ai từng nhìn thấy nó tận mắt mà còn sống cả. Từ xưa tới nay người ta chỉ mô tả nó theo phỏng đoán, hoặc theo những lời đồn đại, rằng có một đôi lần, do tình cờ người ta nhìn thấy nó từ rất xa, ngồi chon von trên đỉnh Mõm Ngựa, rướn hai cái đầu lên trời tru lên những tiếng tru lớn, vọng dài nghe rờn rợn như tiếng ma quỷ gọi hồn người về địa phủ, vào một đêm trăng tròn. Theo mô tả thì nó có thân thể to lớn dị thường, lớn hơn bất cứ một con sói nào; toàn thân đen kít, từ đầu tới đuôi dài hơn sải tay, to cỡ ngang một con hổ. Ngoài hai chiếc đầu quái dị mọc ra từ hai chiếc cổ riêng biệt có thể uốn éo như cổ rắn, nó còn có một thứ vũ khí hết sức ma mị, đáng sợ khác: đó là tiếng tru của nó. Bất cứ khi nào cả hai cái đầu cùng vươn ra tru lên những tiếng hú kỳ dị khác nhau, chúng sẽ hòa thành một, quện lại thành một thứ âm thanh kỳ quái, vô cùng ghê rợn, khiến bất cứ ai nghe thấy cũng phải bủn rủn chân tay, tâm thần mê hoảng, kinh sợ như bị ma quỉ đến áp tải đưa đi, dẫn đến toàn thân tê liệt, đứng chết trân không thể chống cự lại nó hay bỏ chạy.
    Nhưng ỉ mình sức mạnh, gan lớn. Dù nhiều người đã ngăn cản Xê Đan vẫn một mình dấn thân vào rừng U Linh săn tìm Sói Hai Đầu. Ba ngày sau chẳng thấy chồng về, chị Pơ Miên đã tin có việc chẳng lành, chị chỉ biết khóc ròng. Rồi tới đêm thứ tư khi nghe tiếng con Sói tru lên ghê rợn trên đỉnh Mõm Ngựa như một lời xác tín từ tử thần, Pơ Miên quá đau đớn đã gục ngã bất tỉnh. Mọi người những tưởng chị cũng sẽ không qua nổi. Nhưng chẳng ngờ tới trưa hôm sau, sau khi tỉnh lại đột nhiên chị trở lên khác lạ: mạnh mẽ, rắn rỏi lạ thường. Chị gửi con rồi đi khắp bản, thuyết phục bằng được trưởng bản và mấy người bạn săn cũ của chồng cùng chị vào rừng tìm xác Xê Đan. Dù chẳng mấy ai tin con quái thú ấy lại nhân từ, nếu không dóc hết thịt thì cũng xé xác Xê Đan ra thành trăm mảnh đem quẳng khắp rừng sâu, hoặc quăng xuống vực cho hả giận, nhưng thấy chị nài nỉ quyết liệt quá, lại nghĩ cái tình của Xê Đan lúc còn sống, mọi người đành nể chị mà đi. Bảy, tám người trang bị đầy đủ giáo mác, dây rừng đi suốt bốn, năm ngày dòng, sục sạo dọc bên kia chân dãy Kỳ giông. Sang ngày thứ sáu, khi lương thực mang đi đã hết mà nhiệt huyết và hi vọng của cả đoàn cũng đã dần cạn kiệt theo mấy ngày lặn lội mệt nhoài giữa rừng già, thì bất chợt hi vọng lóe lên. Vào buổi chiều ngày thứ bảy, hai con Pủa và Keo, hai con chó nòi giống Pặc Ngàn của trưởng bản Y tí - thứ mà ông đã lặn lội đi tận lên bản làng bản người Hờ Ní cách xa cả chục ngày đường, dùng năm cặp nhung hươu và hai tấm da báo, cùng nói khô bọt mép mới đổi được mang về, mà chẳng hiểu vì sao trước khi lên đường, như có linh tính mách bảo chị Pơ Miên đã nài nỉ ông dẫn theo cho bằng được.
    Hai con chó chợt sủa lên inh ỏi, rồi chúng đua nhau chạy vùn vụt qua một sườn dốc toàn đá sỏi, lao thẳng về phía đám bụi cây dưới chân dốc. Mọi người vội vã rượt theo, tới nơi hai con chó rúc đầu vào mấy bụi cây kháo suối sủa ầm ĩ. Họ theo chúng đến nơi vạch mấy bụi cây rậm rì thì hóa ra phía sau đó là một cái miệng hố khá sâu, bị cây cối che kín, dưới đáy hố là xác Xê Đan nằm vắt trên những tảng đá lổn nhổn.
    Họ dòng dây đưa xác Xê Đan lên. Chưa hết mừng vì tìm thấy xác anh còn nguyên vẹn, thì họ vô cùng ngạc nhiên khi thấy trên thân thể Xê Đan còn không hề có một vết răng hay vết rách nào. Một điều kỳ lạ nữa mà tới giờ vẫn là điều bí ẩn không ai giải thích được là: ngay trên thân thể anh, họ tìm thấy con dao thiêng của chính anh đâm lút vào ngực đến tận cán. Và cho đến lúc tìm thấy xác, những ngón tay của Xê Đan vẫn nắm chặt lấy cán dao như thể đến lúc chết anh vẫn dùng hết sức để giữ nó lại không muốn nó rơi vào tay một kẻ nào đó đang muốn đoạt lấy. Phải khó khăn lắm họ mới gỡ được nó ra khỏi tay anh. Sự kỳ lạ ấy càng làm người ta tin rằng: Con Sói Hai Đầu có một khả năng ma mị điều khiển người ta, làm người ta phát điên, phát cuồng đến mức quay dao tự đâm chính mình, tự sát.
    Sau khi đưa xác chồng về chôn cất ma chay tử tế, chị Pơ Miên như biến thành một người khác. Chị trở lên lặng lẽ, ít lời như một cái cây khô đã trút hết lá bên suối cuối chiều thu. Cả ngày chị cứ lầm lũi làm lụng luôn chân luôn tay, chả nói năng gì. Có bao sức lực chị đổ cả lên nương rẫy; còn bao tình thuơng thì chị dồn cả cho 2 đứa con, chút máu thịt của anh để lại - sau khi anh mất được sáu tháng thì chị sinh hạ bé Dơ Lin, món quà cuối cùng anh để lại cõi trần gian cơ cực này tặng chị. Anh ra đi quá đột ngột, gia đình chị như túp lều gianh bỗng chốc bị giông tố ập xuống vùi dập tan hoang, chơ vơ giữa trời mưa gió; khiến chị cô độc quay cuồng chẳng biết phải che chắn xoay sở ra sao. Khi còn sống anh là tất cả, là trụ cột chính nuôi sống cả gia đình, là tấm lưng, bờ vai vững chắc che chở, nương tựa cho mẹ con chị trước mọi khó khăn giông gió cuộc đời. Nay anh đi mang theo tất cả, chỉ để lại cho chị nỗi cô đơn mênh mông, và những tất tả lo toan của một gia đình bé nhỏ đầy mong manh, côi cút...
    Vừa bước về phía chiếc rổ, vừa lấy chiếc khăn trên vai chấm những giọt mồ hôi dòng dòng trên mặt, chị Pơ Miên cúi xuống bế con bé vào lòng. Nhìn cái miệng chóp chép của con bé, chị âu yếm nựng nựng rồi vạch áo ấn núm vú vào miệng nó. Con bé lập tức túm lấy cổ áo mẹ giữ chặt mút lấy mút để. Bầu ngực chị Pơ Miên tròn căng, nhưng nhức sữa, những tia sữa ăm ắp tuôn trào tràn đầy trên khóe miệng con bé. Đây cũng là một điều khác thường trên cơ thể chị Pơ Miên. Ngay từ lúc còn con gái, chị đã có một bầu ngực căng đầy khác thuờng, nhất là sau khi sinh thằng Xít, nó lúc nào cũng căng sữa kéo dài tới tận bảy, tám năm sau không bao giờ cạn. Ngay cả khi thằng Xít đã tung tăng chạy nhảy cùng cha khắp bản trên xóm dưới hai bầu sữa của chị vẫn căng đầy chẳng hề vơi bớt chút nào. Không hiếm khi nó cũng khiến chị không khỏi phiền hà. Ở cái bản này phải có đến quá nửa đám con nít đã được chị cho bú no nê và say sưa ngủ tít thò lò trong lòng chị. Và kỳ lạ là ngay cả giờ đây, tuy thân hình đã tiều tụy đi nhiều vì vất vả với những lo toan cùng thiếu thốn, nhưng dường như bầu sữa đó vẫn chẳng hề thay đổi, chúng vẫn căng tròn và bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng cho một dòng sữa ấm nóng hôi hổi, ngọt ngào. Nhìn con bé có vẻ đã no nê, chị nhẹ nhàng đặt nó xuống cái ổ. Vừa lấy vạt áo chấm nhẹ hai bên cái mép phớt hồng của con bé, chị vừa quay lại dăn thằng Xít:
    - Dì A lin hôm qua ngã bệnh, bà Bơ Nót hôm nay lên nương có một mình. Con cầm chiếc ngô luộc và bình nước qua mời bà, nghe chưa?
    Không nghe thấy tiếng trả lời, chị quay qua nhìn nó. Nó đang nhìn chị lom lom, ánh mắt mở to như có điều gì muốn nói. Chị khẽ gắt:
    - Sao nhìn mẹ như vậy? Có nghe mẹ nói gì chưa?
    - Dạ, con biết rồi!
    Thằng bé cúi mặt khẽ trả lời, ánh mắt nó hôm nay không hiểu sao buồn đến lạ. Đột nhiên mắt chị cay cay, chị muốn ôm nó vào lòng. Tội nghiệp nó, đứa con trai bé bỏng của chị. Chị biết lắm, Xít là thằng bé ngoan. Nhất là kể từ ngày cha nó mất, tuy lầm lũi ít nói nhưng chị cảm nhận được sự cố gắng trong mọi việc của nó, dù nhiều việc đó là của người lớn, của đàn ông chứ không phải một đứa trẻ gầy nhẳng như nó. Không ít lần vô tình lặng nhìn qua khe vách, chị thấy thằng bé gò lưng vác cả bốn năm ống nước trên vai, chệnh choạng leo lên con dốc trước nhà; hay hì hục ngồi chêm mấy chiếc cọc nhọn nó tự tay đẽo vào chân mấy chiếc cột đã lung lay; hay ngồi mài mài, chuốt chuốt mấy vật dụng đi nương đi rẫy giắt trên vách bếp... Nó luôn lén giấu chị khi làm những việc ấy.
    Ấm lòng hơn cả, là dường như nó đã ý thức được việc thay thế cha làm chỗ dựa tinh thần cho chị. Thi thoảng, vào những đêm mưa gió, sấm sét ầm ầm ngoài hiên; biết chị sợ, nó thường chui ra nằm ngoài như muốn che chắn cho mẹ... Đâu đó chị đã sớm thấy bóng dáng người đàn ông đáng tin cậy, trong thân hình gày gò, bé nhỏ của đứa con trai bé bỏng. Tuy trong đầu nghĩ vậy, nhưng chân chị đã sải bước đi về phía cái cuốc đang đứng chơ vơ đứng đợi chị giữa lưng đồi.
    Càng về trưa cái nắng càng rát như chổi lửa quét trên lưng. Những giọt mồ hôi nặng trĩu từ trên trán len lỏi xuống khóe mắt cay xè làm chị phải ngừng tay, ngửng mặt lên lấy vạt khăn thấm khóe mắt.
    Đột nhiên đập vào mắt chị là một đám mây mỏng đen kịt đang lờ lững trôi ra từ sau mấy mỏm đồi phía Tây. Kể cũng lạ, sao giữa buổi trưa nắng chói chang thế này lại có một dải mây đen kít như thế?
    Nhưng vốn dĩ đàn bà, chẳng mấy khi quan tâm, để ý đến chuyện mây gió trên trời, lại còn cả khoảng nương rộng đang chờ xới, nên chị tất tả quay lại với cái công việc nhọc nhằn trước mắt, chẳng một chút để tâm.
    Cái nắng dường như mỗi lúc một thêm gay gắt, từ trên phả xuống lưng, từ dưới hấp lên mặt, nung những con người tày gò tội nghiệp ở giữa.
    Bầu trời cao xanh ngăn ngắt; không gian im lìm như nghe rõ tiếng thời gian nặng nhọc lết đi từng bước .
    Bỗng giữa không trung, một tiếng thét ghê rợn vang lên. Âm thanh tựa tiếng quỉ gào, xé tan bầu không gian im ắng tĩnh mịch. Không ai bảo ai, cả mấy chục con người trên nương rẫy chân tay bủn rủn, đánh rơi cào cuốc, đứng chết lặng.
    Âm thanh đó xoáy xuyên vào màng nhĩ, vang vọng lan đi chưa kịp tắt thì tiếp ngay sau đó là một tràng cười khanh khách ghê rợn từ trên cao vọng xuống.
    Giữa trưa hè nắng gắt mà họ thấy rùng mình sởn gai ốc như vừa bị một luồng gió lạnh bất chợt thổi tới, tóc gáy dựng đứng cả lên. Ngửa mặt nhìn lên trời cao, nhưng tịnh họ chẳng thấy có một sự gì lạ. Bầu trời vẫn cao xanh văn vắt. Sục sạo tìm kiếm một hồi, cuối cùng đành phải tự nhủ cho là mình vừa ù tai nghe nhầm thứ gì đó, họ quay lại với công việc nương rẫy nặng nhọc trước mắt.
    Chỉ có trong ánh mắt mấy người già, sự lo ngại vẫn không tan hẳn. Giờ già rồi họ không chỉ nghe bằng tai, họ chỉ cảm nhận tất cả bằng một thứ linh cảm; thứ linh cảm linh mẫm mà họ đã phải trải cả cuộc đời mới có được, thứ linh cảm mà hình như càng về già, khi thân xác ngày càng dịch gần tới miệng lỗ, hồn ngày càng về gần với tổ tiên nó càng trở lên huyền nhiệm, rõ ràng! Nhất là với những điềm gở, kỳ quái thế này!
    Tiếng thét vừa rồi nghe dị thuờng lắm! Tất sẽ có họa thôi! Một nỗi e ngại như đám mây đen cứ trùm dần lên tâm trí họ.
    Không lâu sau, bỗng mọi người nghe có tiếng rì rào, rí rách nổi lên. Thoạt tiên nghe tựa như tiếng một cơn mưa rào xa vọng lại. Tất cả mọi người đều ngửng lên đưa con mắt lo lắng ráo rác nhìn nhau như muốn hỏi "Cái gì vậy kìa?". Rõ là có gì đó không bình thường, sao giữa trưa thế này lại có tiếng mưa rào chứ? Dần rồi tiếng rí rách rộ lên mỗi lúc một rõ ràng hơn, giờ nó lại nghe như tiếng hàng ngàn hàng vạn con rắn rết từ khắp truông, khắp núi đang động ổ chui ra, âm thanh nghe mà sởn gai ốc. Còn đang kinh hãi chưa biết chuyện gì sảy ra, thì họ nghe tiếng rào rào trên không trung. Nhìn lên họ thấy một đám mây đen kịt, hình thù kỳ dị từ sườn núi phía Tây bò ra, đang xà thấp xuống bay thẳng về phía những ngọn đồi. Đám mây đó tựa một đàn quạ đen khổng lồ đang xâu xé, chen chúc rúc vào nhau, tạo thành một khối ào ào lướt tới. Bàng hoàng chưa hiểu đó là thứ gì, họ chỉ biết đứng há hốc mồm ra nhìn. Càng lại gần cái thứ đen kít ấy càng phát ra những âm thanh rin rít nghe gai lạnh cả sống lưng.
    Thế rồi bất chợt nó xà xuống rất nhanh, thấp tới mức tưởng chừng có thể chạm vào mấy ngọn dẻ gai.
    Thằng Xít vừa rót xong nửa ống nước lá Du, gói cái ngô luộc vào tấm lá chuối, trước khi đi nó cúi xuống vuốt nhẹ cái má phinh phính của đứa em gái lần nữa, rồi rảo bước ra khỏi tán dẻ. Vì ở sâu trong tầng lá, hơn nữa đầu óc nó đang miên man nghĩ đến kế hoạch đi đặt bẫy dúi đêm nay cùng thằng Đan - thằng bạn thân nhất của nó, con chú Uni thợ rèn - nên hầu như nó chẳng nghe thấy gì. Cứ nghĩ đến chuyện đi đặt bẫy là nó thấy bừng bừng phấn khích rồi! Mà không sao được kia chứ? Chỉ mới đi được dăm ba buổi, mà lần nào hai đứa cũng kiếm được cả chục con béo nung núc, nặng trĩu một túi; dúi mùa này thịt béo ngậy và thơm lắm. Mỗi lần Xít thấy mẹ nó ăn miếng thịt ngon miệng, vì lâu lắm rồi nhà nó đâu có miếng thịt thú rừng nào, thì nó thấy sung sướng, hởi lòng hởi dạ lắm! Thật bõ cái công nó chui bờ rúc bụi đêm hôm, lọ mọ ngoài bìa rừng rìa núi. Nó và thằng Đan đã hăm hở dự tính, sẽ đặt tăng số bẫy lên gấp rưỡi, chỉ cần đi sâu vào khe Mút thêm một chút nữa, ở đó rất nhiều hang dúi, tha hồ mà bắt. Miễn sao nó phải giấu nhẹm được mẹ nó chuyện này! Hở ra chắc chắn không chỉ bị mắng mà còn bị cấm tiệt, không bao giờ được phép bén bảng ra ngoài buổi tối nữa.
    Vừa bước ra khỏi tán lá, chợt đập ngay vào mắt thằng Xít là một khối mây đen kỳ dị đang cuồn cuộn lướt đi, ngay trên đầu những đỉnh đồi, thấp lắm, chỉ cần chọc một con sào lên cũng có thể chạm tới. Thứ gì đó chẳng phải mây mà cũng chẳng ra khói. Là một thứ gì đó lùng bùng, đen đúa, có vẻ nhớp nháp như một tấm giẻ rách kéo lê giữa không trung; ở giữa nó là một đám lúc nhúc, lổm ngổm, tựa một ổ rắn khổng lồ đen nhánh đang chen chúc nhau bò ra từ một cái lỗ vô hình giữa không trung. Vừa bay nó vừa phát ra những âm thanh rin rít ghê rợn. Thằng Xít há hốc mồm đánh rơi cả ống nước xuống đất. Đám mây bay rất nhanh rồi bất chợt từ chính giữa, đàn rắn xao động túa ra, như lớp vỏ bọc lật lên, để lộ ra một khuôn mặt gớm giếc dần hiện lên. Cái thứ kỳ quái ấy chính xác thì không hẳn là một khuôn mặt, mà là hình hài của một cái sọ chỉ còn trơ xương với cái trán gồ lên những đường gân ngoằn ngoèo, hai hố mắt toang hoác tối đen thăm thẳm như đáy vực sâu, nơi phát ra hai đốm sáng đỏ ké đầy hung ác, man dại. Cái sống mũi trơ khấc, ngắn ngủn với hai lỗ mũi hếch ngược lên như hai miệng hang ăn vào vách đá mài nhẵn, trong khi cái mép mỏng dính không có tí môi nào đang ngoác ra tận mang tai, phô hàm răng gồ ghề như đá tảng. Giờ thì nó chẳng còn là một đám mây hay khói gì nữa mà hiện nguyên hình một bộ mặt ngạ quỉ đen đúa, ghê rợn khổng lồ được bao quanh bởi những cái tua ngoe ngẩy, chờn vờn như một bầy rắn múa may giữa không trung. Tất cả mọi người đứng há hốc mồm, chết lặng nhìn theo đường bay của nó. Rồi bất chợt dường như cùng lúc, họ lờ mờ nhận ra cái đích đang hướng tới của nó. Một vài người vội chạy ào về phía đó. Vừa chạy họ vừa hét lên cảnh báo, nhưng tiếng hét trong nỗi lo sợ cứ hụt hạt, lạc đi giữa những lũng đồi. Quả nhiên dự cảm xấu của họ không sai, đám mây đen đang hướng thẳng về ngọn đồi cuối cùng, ngọn đồi của chị Pơ Miên.
    Bay tới đỉnh đồi cuối, cái miệng ma quỉ tối om ngoác ra, hú lên một âm thanh trầm trầm, rờn rợn. Rồi từ giữa đám mây đen, hai chiếc cẳng chân lớn gầy đét, xương xẩu, đen đúa như một cặp chân quạ nướng cháy vươn ra với những chiếc móng cong vút. Nó lướt thẳng về phía Pơ Miên đang khiếp đảm, quáng quàng vất cuốc bỏ chạy trên những luống đất. Đôi chân chị díu vào nhau, ngã sấp ngã ngửa trong nỗi sợ kinh hoàng không sao đứng dậy nổi. Chỉ một cái hớt nhẹ sướt qua đỉnh đồi, những cái móng đã quắp gọn lấy ngang lưng chị Pơ Miên, bay vút lên không.
    Dưới đất, quẳng bọc ngô, thằng Xít hớt hải chạy về phía ngọn đồi, miệng nó gào lên thống thiết: "Mẹ ơi! Mẹ ơi!". Nó chạy cắm đầu cắm cổ, băng qua đỉnh đồi rồi lao mình xuống dốc, lăn lông lốc, tơi tả như một cục giẻ, mắt miệng mũi đầy đất và máu. Nhưng nó vẫn vùng lên chạy như điên đuổi theo đám mây đen. Chỉ đến khi ông Pí khuổi đuổi kịp túm lấy nó nhấc bổng lên, nó mới chịu dừng lại. Đôi chân ngắn chủn của nó vẫn giãy giụa điên cuồng, đạp bùm bụp vào bụng ông. Bị ôm chặt trong đôi tay ông Pí khuổi, đôi mắt nó trừng trừng nhìn về phía chân trời như ngây như dại. Từng cơn nấc từ ngực nó dâng lên uất nghẹn, chẹn tiếng khóc không thể bật nổi thành tiếng, nước mắt nước mũi nó cứ ứ trào, cùng tiếng hực, hực cuộn lên từ đáy bụng quặn thắt... Cánh tay gày gò đen nhẻm của nó run rẩy vời vời về phía đám mây, những ngón tay co quắp tê dại quào quào như muốn cố níu giữ một thứ gì đó trong tuyệt vọng...
    Xa xa đám mây đen đã vượt qua đỉnh Tà Ôi. Lơ lửng trên không trung, đôi chân chị Pơ Miên vẫn giãy đạp vô vọng như một con ếch tội nghiệp nằm trong miệng rắn, mờ dần, xa dần mãi...
    Ngay chiều hôm đó làng Tơ-Gúc có một cuộc họp bất thường ở bãi đất trống quen thuộc. Bàn tán mãi nhưng cuối cùng cũng chẳng ai đưa ra được nhận định hay ý kiến gì về thứ kỳ dị, ghê rợn trưa nay. Họ chỉ mau chóng thống nhất với nhau được một việc, rằng từ nay hai đứa trẻ nhà chị Pơ-Miên sẽ được cả bản cùng chung tay chung sức nuôi nấng, thay cha mẹ chúng! Chúng sẽ ở với mẹ con bà Bơ Nót, vì bà cương quyết đòi nuôi hai đứa, không để ai dành.
    Đêm đó một không khí u uất đè nặng xuống bản làng Tơ Gúc. Những mái nhà gianh vốn đã cũ kỹ xiêu vẹo lại như oằn thêm xuống, bởi đêm nay chúng phải cõng thêm những cơn mộng mị hãi hùng đang len vào bao giấc ngủ ú ớ, chập chờn bên dưới.
    Trong một căn nhà lụp xụp nhất bản, nằm lẻ loi bên rìa núi, đã khuy vẫn chập chờn ánh lửa. Bà Bơ Nót ngồi im lìm trên tấm ván gỗ như một bức tượng, bóng bà hắt lên tấm vách thủng lỗ chỗ vá víu. Ở góc cửa, một thằng bé gầy gò, cóc cáy ngồi bó gối câm lặng nhìn chằm chằm vào cây cột trước mặt - nó là thằng Đan con chú Uni - Nó đã ngồi đó từ chiều, chẳng nói năng gì. Chú Uni đã hai ba lần sang giục, nhưng nó nhất khoát cứ ngồi lì ra ở đó, chẳng ăn chẳng uống, chẳng chịu về. Quì trên sàn, đầu gục trong lòng bà Bơ Nót là thân hình gầy gò của thằng Xít. Nó cứ thiêm thiếp, nửa tỉnh nửa mê như thế suốt từ trưa tới giờ, chốc chốc đôi môi lại mấp máy khẽ kêu lên "Mẹ ơi!" cùng mấy tiếng "hực! hực!" giật lên đã thành nếp từ lúc ở trên đồi. Chẳng biết nó còn thức hay đang ngủ? "Mà than ôi! Thức hay ngủ với nó bây giờ thì cũng có khác gì nhau?" bà Bơ Nót đau xót nghĩ "Tỉnh thì khổ đau chồng chất! Mà ngủ thì cũng chìm đắm trong ác mộng hãi hùng! Vậy thì thức ngủ cũng có khác chi? Cái thân thể bé nhỏ bé tội nghiệp này, liệu có chịu nổi những nỗi đau ác nghiệt đến thế không?" Đôi mắt bà đờ đẫn thả vào màn đêm đen quánh ngoài sân. Cả đời bà vất vả cơ cực, chồng mất sớm để lại cho bà một đứa con gái tật nguyền. Hai mẹ con phải luôn cố gắng vật lộn kiếm sống qua từng ngày. Khi còn sống vợ chồng Xê Đan đã giúp mẹ con bà rất nhiều. Thương cảnh mẹ góa con côi không người nương tựa, nên mỗi chuyến đi rừng về, ít hay nhiều anh đều mang sang cho bà một phần, khi thì khoanh đùi lợn rừng, lúc vài con cheo con dúi, không thịt thú thì rau rừng măng núi... chả bao giờ anh qua tay không. Không chỉ cho thịt cá lương thực, lần nào qua hễ thấy căn nhà lụp xụp của bà mục vách, mái xô là anh lại xắn tay áo lên đục nêm, chèn chắn cho kỳ xong mới về. Dần dà bà coi anh như con, mà anh cũng coi bà như mẹ, coi A mui như em gái; hai nhà khăng khít như ruột thịt. Bao năm qua không có vợ chồng anh, chẳng biết cuộc sống hai mẹ con bà còn cơ cực đến đâu! Bà khẽ thở dài: "Ai ngờ người tốt mà phải chịu tai kiếp oan nghiệt như thế!" Cả đời bà đã chỉ toàn thấy một màu u ám xám xịt, nhưng đêm nay, sao bà thấy cái màn đêm đang chờ chực ngoài kia nó hun hút, thăm thẳm, mênh mông thế! Dường như nó đang báo hiệu một đêm trường đằng đẵng sẽ dài dặc chẳng biết tới bao giờ... Bất giác bà thấy run lạnh trong ruột, vươn tay ôm chặt thằng Xít vào lòng.
     
    Chỉnh sửa cuối: 16/4/19
  3. Phung QA

    Phung QA Gà con Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    10
    Được thích:
    2
    Đã thích:
    1
    GSP:
    Ap
    Chương 2: Đại Họa

    10 năm sau...
    Bà Bơ Nót chống tay từ từ ngồi dậy trên tấm phản kê ở góc nhà, vừa đưa tay quờ tìm cây gậy chống quen thuộc vẫn dựng ở góc phản bà vừa cất giọng gọi vóng lên: "A mui à! Dơ lin à!". Chẳng có tiếng thưa, cả nhà vắng ngắt chẳng có đứa nào. Sau bữa cơm trưa bà nằm nghỉ một lát rồi ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Giờ đã ở ngoài cái tuổi bảy mươi tuổi, giấc ngủ đến với bà họa hoằn hiếm lắm! Nhiều đêm nằm trằn trọc đến gần sáng, vỗ về lắm giấc ngủ mới chịu tới được một lát. Có lẽ giấc ngủ vụng vừa rồi là bởi cơn giông nổi lên lúc ban trưa đã xua hết cái nóng nực oi bức của mấy ngày nay, làm bà được giấc ngủ ngon hiếm hoi. Ngoài kia bóng chiều đang đổ dài xuống sân."Chắc cái A mui và con Dơ lin lại qua se sợi bên nhà cô Kban, vợ chú Uni rồi!" Còn cái thằng Xít thì chả cần phải gọi. Chẳng gọi cũng biết nó có bao giờ ở nhà đâu? Nó với cái thằng cu Đan đóng đôi như hai con chim Đằng chim Lía, cứ ở đâu có đứa này thì khỏi cần gọi, tất có mặt đứa kia. Hai đứa như chúng nó hai con hoẵng cứ thoắt về thoắt đi, chẳng ở yên một chỗ bao giờ. Gần như trừ hai bữa cơm, còn chúng nó cứ ở ngoài rừng ngoài bãi suốt. Mà chả hiểu hai đứa nó làm cái gì, mà lúc nào cũng làm như có vẻ bận bịu, vội vã lắm ấy! Cứ vừa về một tý, ngồi chưa yên chân hai đứa lại thì thào với nhau cái gì đó, thế là nhoáng một cái chúng lại biến mất. Chúng nhanh như con nai, con hoẵng trong rừng vậy, tiếng còn chưa tan người đã biến đi đằng nào rồi!
    Vẫn ngồi trên mép phản chợt nhìn lên cây cột nhà trước mặt, những vết dao khắc vô tình đập vào mắt bà. Bà khẽ bần thần thở dài, nhưng đó là một hơi thở dài mãn nguyện. Những vết khắc ấy là vết dao thằng Xít khắc vào để tính chiều cao nó lớn lên hằng năm, cứ vết sau lại dài hơn, cách xa hơn vết cũ. "Cái thằng! Cao lớn nhanh thật! Ở bản này giờ nó đã thành đứa cao lớn nhất bản, mà e rằng nó còn chưa chịu thôi đâu!" Bà bần thần nghĩ: "Cũng mép phản này, cũng những ngày hè oi bức ấy! Vậy mà thoáng cái đã mười năm chẵn. Thời gian qua thật mau! Nhớ ngày nào đưa hai đứa về dưới căn nhà ọp ẹp này, lúc đó thật bà cũng chưa lường ra hết những khó khăn. Chỉ nghĩ đến vong linh, cái nghĩa cái tình của vợ chồng Xê đan mà bà làm thôi, đâu nghĩ gì nhiều. Mười năm... quãng thời gian ấy thật dài. Những ngày đầu quãng thời gian cơ cực ấy quả thật muôn vàn khó khăn, bà nhớ lại: dù xóm làng, bà con dân bản đã hết mình trợ giúp, nhưng một nhà bốn miệng: hai trẻ, một già, một tật nguyền, xoay sở thật nhọc nhằn. Ngày đói nhiều hơn ngày no. Nhiều đêm bà cháu bóp bụng đi ngủ sớm, nằm bên nhau trằn trọc mà nghe những cái dạ dày nhão nhoét réo ùng ục, chẳng thể ngủ... quay mặt vào vách cố dằn tiếng động làm đau lòng nhau. Biết bao mùa đông đã tới, cùng nỗi lo đói rét luôn canh cánh vây lấy, se thắt lòng bà... Vậy mà rồi cũng qua, tất cả đã qua rồi! Bà Bơ nót chợt thấy nhẹ trong lòng. Vậy là bà đã hoàn thành trọn vẹn lời thề, lời thề mà bà tự đặt trong tâm trước vong linh vợ chồng Xê Đan, rằng sẽ nuôi nấng hai đứa bé lên người! Món nợ nghĩa tình nào cũng nặng, nhưng khi đã trọn vẹn đáp đền, cảm giác trong lòng cũng thật nhẹ nhõm dễ chịu. Hai đứa bé ngày nào giờ đã khôn lớn cả rồi! Con Dơ lin giờ đã mười tuổi, càng ngày trông nó càng xinh xắn giống mẹ như đúc. Còn thằng Xít thì khỏi nói, nó còn cao lớn hơn cha nó ngày xưa và chắc cũng khỏe mạnh chẳng kém. Mới mười bảy mà nó đã dám nhận lời thách đố của đám trai bản, dùng hai cánh tay trần nắm sừng một con trâu tơ ghì xuống sát đất, giữ trong vòng thời gian đủ để uống hết ba bát rượu lớn. Bây giờ có thể nói chẳng quá rằng nhà bà chẳng bao giờ sợ đói nữa, dù mưa hay nắng, thằng Xít cứ đi rừng là nhà bà có thoải mái cái ăn, không săn được thú rừng thì nó bắt tổ ong, nhặt trứng chim, xuống suối lùa cá... cái gì thằng Xít cũng làm được. Nó đã khỏe mạnh lại còn rất chăm chỉ. Không những đi rừng, việc nương rẫy nó cũng làm tuốt. Cả quăng rẫy, ba mẹ con bà cháu làm hai ngày mới xới được một góc nhỏ, nó lên quần quật một ngày thì chẳng còn đến sợi cỏ để mà nhặt.
    Bà thầm tự hào trong bụng mỗi khi có người nhắc đến nó. Nó mạnh khỏe, ngoan ngoãn và thương bà lắm! Từ lúc còn nhỏ nó vẫn thường thích ôm bà từ sau lưng, rồi dụi dụi cái cằm nhọn của nó vào lưng bà mà cù, làm bà nhiều hôm cười gập cả người, ho sặc sụa, phải rút cây gậy phang cho nó mấy cái nó mới chịu buông ra, đến giờ lớn rồi nó vẫn chẳng chịu bỏ cái trò ấy, thỉnh thoảng nó vẫn thích cù bà như vậy, nhưng bà thì chẳng còn hơi sức đâu mà đuổi mà vụt. Những lúc đó dù bực nhưng bà vẫn thấy thật mát gan, mát ruột trong lòng.
    Đang ngồi nghiền ngẫm nhớ lại, thấy khoan khoái trong lòng, bà chợt thèm được dội vài gáo nước lên mình, có lẽ cái mát mẻ từ trong lòng gợi lên cái mong muốn dịu mát trên da dẻ. Bà từ từ thả chân xuống đất, chống cây gậy đi ra sau nhà.
    Sau nhà bà là mảnh vườn nhỏ có vài cây mít cùng một đám mận tím, giống mận mùa này đang cho quả sai trĩu trịt và ngọt lịm, rồi đi xuống một chút nữa dọc theo cái lối hẹp có con suối nhỏ chảy qua mảnh đồi sau vườn. Mùa này nước vừa xâm xấp chảy êm, con suối lúc nào cũng trong văn vắt. Mới nghĩ đến đẵm trong làn nước suối mát trong vắt, làn da còn rơm rớp mồ hôi do cái nóng ban trưa để lại đã thấy thật khoan khoái rồi!
    Bà Bơ Nót tập tễnh bước xuống chiếc cầu thang thấp ra sau nhà, cái lưng còng rạp gần như song song với mặt đất. Đi vòng qua cây duối bà với chiếc khăn cũ treo trên cây sào vắt lên vai. Đâu đó có tiếng cười con trẻ rộn rã, cách quãng khu vườn xa vọng lại làm bà thấy vui lây. Nhờ trời, thời tiết mấy năm nay hòa thuận, mùa màng no đủ, cuộc sống của dân làng cũng bình yên, khấm khá hơn hẳn. Qua cái chuồng quây thấp nuôi dăm ba con lợn nhỡ, là những bụi dứa dại chạy dọc theo lối mòn. Vừa lần theo lối quanh bà vừa nghĩ đến dòng nước mát lạnh dưới kia. Không gian buổi chiều ở ngoài rìa bản thật yên ả, tĩnh lặng, chỉ có tiếng xào xạc từ bìa rừng vọng lại.
    Chọt chọt cây gậy trên con đường mòn quen thuộc, bà Bơ Nót chậm dãi đi từng bước dọc theo dãy dứa dại. Đang lò dò bước đi, chợt bà nghe lòng se lạnh, linh cảm như có điều gì đó là l. Chỉ là linh cảm, bà cảm thấy như còn có một cái gì khác nữa đang hiện hữu nơi đây, trong khu vườn vắng vẻ này. Một cái gì đó rất mơ hồ, tựa như có một ánh mắt vô hình nào đó đang âm thầm dõi theo bà. Bà chậm bước quay đầu lại khẽ ho nhẹ đánh tiếng, nhưng không chẳng có gì ngoài khu vườn im ắng đang sẫm dần trong bóng chiều buông. Bà yên tâm tiếp tục đi xuống, nhưng sao cái cảm giác ấy chẳng hề tan biến, cứ đeo đẳng bám lấy không rời. Rồi rất khẽ khàng, bà đột nhiên cảm thấy như có một cái bóng đang thong thả chầm chậm trôi đi, lướt ngay cạnh bên mình. Một cảm giác lạnh ngắt như có con rắn ướt át vừa trườn lên gáy. Rồi bỗng có một tiếng "Khịt!" nhẹ ngay bên tai. Không thể làm chủ nỗi sợ hãi như đang bóp thít lấy lồng ngực, bà Bơ Nót quay đầu nhìn sang bên. Bà kinh hãi rụng rời: không biết tự lúc nào, bốn con mắt đỏ rực như lửa đã đi song song, sát bên cạnh bà mà bà không hề hay biết. Và bốn cục than ấy đang thản nhiên, lạnh lẽo quay sang vây lấy ánh mắt kinh hoàng tội nghiệp của bà. Sợ hãi tột cùng làm cái lưỡi già cứng đờ trong miệng, hơi thở trồi lên sụt xuống tạo ra những tiếng kêu lào khào khản đặc. Đôi chân già nua run rẩy khụy xuống. Một hàm răng trắng ởn lóe lên trong bóng tối cắm phập vào cổ bà Bơ Nót, đỡ cái thân thể bà không để nó kịp gục xuống.
    Lát sau, tất cả dân làng Tơ Gúc chết lặng, khi nghe có tiếng tru ồ ồ lạnh lẽo từ phía bờ suối cuối bản vọng lại.
    Cả bản náo loạn như vỡ tổ. Đám đàn bà nháo nhác, thất thanh chạy tìm lũ trẻ lùa lên nhà; đám đàn ông lao lên vách rút cây lao, cây mác hú lên gọi nhau chạy rầm rập...
    Sói Hai Đầu đã trở lại!
    Chẳng bao lâu sau dân làng đã kéo đến tụ tâp kín sân nhà bà Bơ Nót. Hàng trăm ngọn đuốc bập bùng soi rõ những khuôn mặt thất thần, sợ hãi lẫn căm giận, tiếng nói, tiếng hỏi qua lại xôn xao. Chợt có tiếng chân huỳnh huỵch, rồi một thân hình cao lớn xô giạt đám đông rẽ làm đôi lao vào. Vừa chạy cái bóng đó vừa gào lên: "Không! Không! Bà ơi! Bà ơi!". Chẳng cần nhìn cũng biết đó là thằng Xít, nó vừa từ đâu đó chạy về. Nó lao thẳng vào giữa vòng người, nắm cây gậy của bà Bơ Nót chặt trong tay, nó vừa gào lên uất ức, thảm thiết "Không! Không thể thế này, bà ơi!" Hai nắm đấm vừa dội thình thịch xuống đất, khuôn mặt nó tái dại méo xệch đi nhầy nhụa nước mắt nước mũi. Rồi nó bò lê bò quàng bằng cả hai tay hai chân bò về phía trước, bàn tay quờ quạng vơ được chiếc khăn cũ rơi trên lối đi. Úp chặt chiếc khăn vào mặt, nó khóc nấc lên từng chặp. Mọi người chỉ biết đứng im, lặng lẽ chia sẻ nỗi bất hạnh quá đỗi bất ngờ. Đằng kia nơi góc sân dì A mui và cái Dơ lin cũng đang ôm nhau khóc ngất. Một lúc sau thằng Xít chợt ngừng khóc ngửng mặt lên, hai mắt nó vằn đỏ như một con thú, nhìn chằm chằm về phía bờ suối trông thật đáng sợ. Nó đứng dậy - cao lớn lừng lững, thân hình vạm vỡ như một cây cột lim vững chãi - lặng lẽ, không nói một câu nó phóng mình về phía bờ suối. Bỗng từ phía sau một bóng đen thấp đậm to bè bay vọt lên, như một con báo chụp lấy thằng Xít quật xuống, bóng đen đó khỏe và nhanh như chớp dùng một thế Ta-Mia thuần thục khóa cứng cổ thằng Xít đè áp mặt xuống đất. Không nhìn rõ mặt nhưng ai cũng đoán ra, ở bản này còn ai đủ mạnh để quật được thằng Xít xuống và ai dám đè lên một con gấu dữ như nó vào lúc này, ngoài thằng Đan kia chứ?
    Thằng Đan vận toàn sức ghì thật chặt, vì nó biết cái sức gồng kinh người của thằng bạn nó lắm! Dí sát tai thằng Xít nó hổn hển: "Cậu không thể... vào rừng lúc này... nó đi xa rồi!". " Không..! Mặc kệ tớ..! Để tớ đi! Để tớ đi!" Mặc kệ bị đè sát mặt xuống đất, miệng đầy cát và rỉ máu, thằng Xít vẫn gầm gừ như một con thú cố gồng lên. Hai đứa ôm nhau thở hồng hộc. Thế rồi bất chợt bằng một cú vặn sấm xét, thằng Xít xoay người troài ra khỏi đòn khóa hiểm của bạn vùng lên. Nó phóng vọt dậy lao người về phia bờ suối. Thằng Đan chỉ biết đứng lại lắc đầu bất lực. Một khắc sau, rồi nó cũng giật lấy một cây đuốc trên tay ai đó đứng cạnh phóng theo bạn.
    Hai đứa đi rồi, Trưởng bản Y tí, một người đàn ông chạc ngoài sáu mươi, dáng người tầm thước, làn da bánh mật, với khuôn mặt vuông cương nghị đáng kính, đứng lên một gốc cây cụt, nói lớn: "Bà con! Hãy theo tôi ra bãi đất trống! Hôm nay chúng ta có chuyện nhất định phải bàn bạc!" Nói rồi ông dẫn đầu đi trước, cả bản lục tục theo sau kéo nhau ra bãi đất trống đầu bản, nơi vẫn làm chỗ hội họp mỗi khi có việc.
    Sau khi khi ra đến nơi,chờ mọi người quây thành một vòng tròn lớn trước mặt, yên ổn chỗ ngồi đâu đấy, trưởng bản Y tý im lặng, đưa mắt nhìn quanh một vòng. Ánh mắt ông lướt qua những khuôn mặt, những ánh mắt thân thuộc, những người con đã sinh ra và lớn lên gắn bó cả cuộc đời với bản Tơ Gúc; những ánh mắt, những khuôn mặt đã trở nên quá đỗi quá thân thiết với một người mang trọng trách chăm lo, dẫn dắt như ông. Ông định mở lời dẫn dắt vài câu. Nhưng khi nhìn vào những đôi mắt thân quen đang đau đáu nhìn mình, ông hiểu mọi lời rào đón đều trở lên thừa thãi. Những ánh mắt sôi sục kia đã nói hết cả rồi, chỉ chờ ông cất thành lời.
    - Hỡi bản làng Tơ Gúc! Hỡi thanh niên trai tráng Tơ Gúc! Hỡi dân làng Tơ Gúc! Chúng ta còn muốn mất thêm người nữa không?
    Ông không nói lớn, không kêu to nhưng từng tiếng dứt khoát, chắc nịch như sống dao chém vào thân cây, vang vọng vào vách đá, dội đi văng vẳng giữa núi rừng.
    Tiếng ông chưa dứt, lập tức cả mấy trăm con người xung quanh như đồng lòng, cùng lúc rồ lên:
    - Không! Không để mất thêm người nào nữa..!
    - Săn lùng nó..! Săn lùng nó đi..!
    Sớm hôm sau Đan trở lại nhà Xít, mặt nó phờ phạc, tóc tai bù xù. Đêm qua nó chạy theo thằng Xít được một đoạn thì mất dấu. Chẳng muốn để thằng bạn chạy hoang trong rừng một mình, nó cứ lần mò vừa đi vừa gọi đến tận gần sáng nhưng chẳng thấy Xít đâu, cũng may cả đêm nó không gặp chuyện gì. Không tìm được Xít, nó mệt mỏi về nhà tắm rửa, định nghỉ ngơi một lát nhưng rồi sốt ruột không chịu được, nên vừa bảnh mắt nó đã mò sang.
    Từ ngoài cổng nhìn vào nó khẽ thở dài. Căn nhà, mới hôm qua thôi, căn nhà mộc mạc, thân thuộc trước mắt mà nó luôn coi như ngôi nhà thứ hai của mình này, còn ấm áp đầy ắp tiếng cười, nơi nó đã được hưởng biết bao niềm vui bên thằng bạn thân thiết cùng những con người dễ mến nó vô cùng yêu thương như ruột thịt. Vậy mà giờ đây, sao nó bỗng trông mà hưu quạnh thê lương đến thế! Căn nhà hôm nay bỗng trở lên lạnh lẽo tang thương khác hẳn, trơ chọi đứng im lìm trong khu vườn vắng, thảnh thốt tiếng chim chìa vôi từ rừng xa vọng lại, khắc khoải u buồn.
    Chẳng biết dì A mui và Dơ lin đi đâu mà vắng lặng thế, hay cũng đang đi tìm thằng Xít như nó? Không cần lên nhà nó cũng biết thằng Xít chưa về rồi! Buồn bã mệt mỏi, Đan ngồi bệt xuống chân cầu thang, lòng buồn trống rỗng. Lát sau Đan đứng dậy lê bước ra cổng, nhưng chẳng hề có ý đi đâu, chẳng biết sẽ đi đường nào, mặc kệ nó cứ để cho đôi chân bước đi tùy ý. Đôi chân tự do mà nặng như đeo đá, đưa nó đi vô định dọc theo con đường ngoằn nghèo ven bản. Đã gần ngày nay không thấy mặt Xít, Đan thấy thật thiếu vắng và hẫng hụt. Giờ đây nó mới thấy thằng Xít thân thiết, quan trọng với nó đến nhường nào! Không có Xít, nó cảm thấy mọi thứ thật vô nghĩa trống rỗng, cuộc sống này như chẳng còn gì vui thú...
    - Mà nó có thể đi đâu được kia chứ? - Đan tự hỏi - Ngoài cái bản nhỏ bé này còn chỗ nào để đi? Không lẽ nó dám một mình chạy thẳng vào rừng U Linh? Không! Nó không điên đến thế! Nhưng nếu vậy thì nó đi đâu?
    Đan đưa những ngón tay to thô ráp gãi gáy sồn sột theo thói quen, khi nó thấy bí bách không thể giải tỏa điều gì trong đầu. Thế rồi bất chợt trong cái đống quay cuồng ấy, đầu nó chợt lóe lên hai tiếng "Mép đá!" Vừa nghĩ tới đó nó đã thấy bừng lên hy vọng và tự mắng nhiếc bản thân: "Mày ngu thật đấy Đan! Thế mà từ sáng tới giờ sao mày không nghĩ ra chứ? Nhất định là Nó ở đó, chứ còn đâu khác được nữa! Sao không nghĩ ra sớm chứ?"
    Ở cuối bản có hai ngọn đồi nhỏ nằm gối kề nhau, một trong hai ngọn đồi đó có cái đỉnh khá kỳ cục, không nằm ở chính giữa mà đổ rạp như bạt gió nghiêng hẳn về phía Tây. Trên đỉnh có mấy gành đá như những chiếc đĩa lớn sếp chồng lên nhau nhô ra tận mép. Thằng Xít cũng hiếm khi tới đó, nhưng đôi lần có chuyện buồn hay nhớ mẹ Đan đã thấy nó một mình lên đó ngồi. Với tâm trạng thế này nhất định nó sẽ ở đó chứ chẳng ở đâu khác. Nghĩ vậy Đan liền quay đầu chạy thẳng một mạch về cuối bản. Đến chỗ gốc cây săng lẻ mấy năm trước bị sét đánh chẻ ra làm đôi, có con đường dẫn lên đỉnh đồi, nó đứng lại ngước lên nhìn, thầm vui trong bụng. Quả nhiên trên đó, một dáng hình thân thuộc đang cô độc ngồi lặng lẽ thõng chân bên mép đá. Đan chậm dãi thong thả đi lên. Tới nơi không nói năng gì, nó khẽ khàng ngồi xuống bên thằng bạn thân.
    Xít có khuôn mặt đẹp, rắn rỏi, mang nhiều nét khỏe mạnh, cương nghị giống cha. Từ vầng trán rộng khoáng đạt, cái mũi cao thẳng, gãy gọn; làn da nâu sạm nắng, chiếc cằm chẻ có một vết khứa sâu ở giữa. Tất cả đều toát lên vẻ trung trực, mạnh mẽ có phần gai góc của một đứa con núi rừng. Nổi bật trên khuôn mặt ấy là đôi mắt rất sáng. Một đôi mắt luôn nhìn thẳng, rộng mở và trong sáng; không một thoáng hồ nghi, xét nét. Nó khiến người ta cảm nhận ngay được sự thẳng thắn, trung thực, đáng tin cậy từ cái nhìn đầu tiên. Trên khuôn mặt ấy, chỉ ngoại trừ nụ cười tươi với hàm răng trắng đều tăm tắp, nhìn nghiêng nghiêng thì không lẫn đi đâu được là thừa hưởng từ chị Pơ miên.
    Nhưng bữa nay tất cả những nét đẹp quen thuộc đó dường như đã biến đâu mất trên cái khuôn mặt đang ngồi trước mắt Đan. Chỉ qua một đêm mà khuôn mặt thằng Xít gầy dộc, hốc hác; hai má như hóp lại. Chiếc áo rách toác xé ra một mảnh lớn, lộ cả nửa tấm lưng trần. Nhìn nó bù xù, te tét chẳng khác gì một con ma rừng.
    Thằng Xít ngồi đó im lìm như một pho tượng, nét mặt trơ cứng như đá đẽo. Đôi mắt nó đỏ ngàu nhìn trừng trừng về phía rừng U Linh.
    Hai đứa cứ ngồi im lặng như vậy một lúc lâu. Chẳng đứa nào nói câu gì. Sau cùng đột nhiên thằng Xít lên tiếng, giọng nó gằn lại gầm gừ trong cổ họng:
    - Giết! Tớ thề phải giết bằng được nó mới hả!
    Im lặng một lát, rồi chậm dãi nhưng cũng đầy quả quyết, Đan nói:
    - Được! Chúng ta sẽ cùng quyết tâm hạ bằng được nó!
    - Không! Việc này là của riêng tớ! - Xít nhìn sang Đan hạ giọng nói, nhưng rõ ràng đầy cương quyết - Tớ không thể để cậu vào nơi nguy hiểm! Tớ sẽ đi một mình!
    - Không có đâu! - Đan đáp ngay với giọng cương quyết không hề kém, vẻ miễn bàn cãi - Không đời nào tớ để cậu đi một mình, dù thế nào chúng mình cũng sẽ đi cùng nhau!
    - Nhưng con sói ấy thực sự nguy hiểm. Cậu không thể quyết định vội vã như thế! - Xít nói. Thật ngạc nhiên, khác hẳn với vẻ mặt, giọng nói của Xít chậm rãi, rất nhẹ nhàng và đầy vẻ chân thành - Tớ đã suy nghĩ kỹ rồi! Dù cho có chuyện gì, tớ cũng sẽ đi một mình. Cậu không nên đi cùng!"
    - Tớ không đùa! - Đan gằn giọng nhấn mạnh vẻ cực kỳ ngiêm túc- Nó càng nguy hiểm, cậu càng cần tớ ! Mà nó có thù chung với cả cái bản này, nào phải của riêng cậu đâu? - Rồi nó chốt lại, vẻ không bàn cãi - Ngày mai chúng ta sẽ bàn cụ thể kế hoạch lên đường!
    Biết đã đến nước này thì chẳng thể khuyên ngăn gì thằng bạn, khi nó đã cương quyết thì chẳng khác gì một tảng đá, không gì lay chuyển được. Xít chỉ còn biết đưa bàn tay ra nắm chặt tay bạn, khẽ nói:
    - Cám ơn cậu!
    Không nói gì, Đan hỏi lại:
    - Khi nào chúng ta đi?
    Trầm ngâm, suy nghĩ một lát, Xít nói:
    - Cái này phải chờ hỏi cụ Sóc xem sao đã!
    - Sao? Cụ Sóc biết chuyện này ư? Cậu đã bàn với cụ mà không nói với tớ sao? Mà sao phải hỏi cụ chứ? - Đam ngạc nhiên hỏi dồn dập, trong giọng nói có đôi phần bực tức tự ái.
    - Đúng! - Chả thèm để tâm đến vẻ bực bội của thằng bạn, Xít nói - Hơn tháng trước tớ với cụ có bàn về một thứ! Không phải về chuyến đi này, nhưng nó liên quan rất hệ trọng!
    - Về thứ gì? - Đan hỏi giọng đã dịu hơn nhưng lại sốt sắng vẻ tò mò.
    - Chỉ là một thứ... Chính xác thì là một thứ thuốc! - Xít khẽ ngập ngừng rồi kể tuột.
    - Thực ra lâu nay cụ Sóc đang tìm cách bào chế ra một loại thuốc. Nó vô cùng hệ trọng đối với chuyến đi này!
    - Thuốc? Thuốc ư? - Thằng Đan nhíu mày hỏi vẻ không hiểu - Thuốc thì chỉ để chữa trị vết thương, có liên quan quái gì ở đây?
    - Không! - Xít khẽ kêu lên - Nó không phải thứ thuốc trị thương, mà cũng chẳng phải thuốc trị độc. Nó là một thứ thuốc đặc biệt! Một loại độc!
    - Độc? - Đan tròn mắt thốt lên.
    Không để Đan nuốt hết cái thông tin kỳ lạ ấy, Xít tiếp:
    - Đúng! Một thứ độc dược để dùng cho chúng ta!
    - Ôi trời! Cái gì mà độc với dược, dùng cho chúng ta! Thôi nào cậu nói toạc ra đi. Đừng có úp úp mở mở nữa! - Đan không chịu nổi sốt ruột bắt đầu cáu gắt.
    - Ừ đúng thế! Thôi chuyện dài lắm lúc nào gặp cụ cậu sẽ hiểu. - Xít nói - Tớ không dự định kể vì ban đầu tớ nghĩ sẽ đi một mình, bây giờ thì sẽ phải thay đổi lại. Thực lòng tớ rất mong có cậu đi cùng chỉ là... Xít nói ngập ngừng rồi bỏ dở.
    - Nhưng đó là thứ thuốc gì? - Đan vẫn nóng lòng muốn biết ngay lập tức, chưa chịu thôi truy vấn.
    - Chỉ biết rằng đó là một loại thuốc khá độc - Xít nói - phải khó khăn lắm cụ Sóc mới tìm cách chế ra được. Nó có thể chống lại tiếng tru kỳ dị của con Sói!
    - Chống lại được tiếng sói tru ư? Có thật vậy không, Xít? Trời đất! Nếu có loại thuốc đó thì còn sợ gì? - Đan tròn mắt thốt lên. - Đúng! Nhưng như tớ đã nói - Xít vẫn ôn tồn - Việc chế thuốc này khó lắm! Cụ Sóc đã kỳ công tìm hiểu cả năm trời, giờ mới đi được nửa đoạn đường. Vẫn còn phải mầy mò, tìm hiểu thêm một thời gian nữa.
    - Ồ, vậy là vẫn chưa xong sao? Vậy biết đến bao giờ ta mới có thể lên đường được? - Đan hỏi vẻ tiếc nuối.
    - Vì thế tớ mới nói "cần phải chờ hỏi cụ Sóc xem sao?" - Xít đáp - Phải có thứ thuốc kỳ diệu đó chúng ta mới mong hạ được con quái thú ấy!
    - Vậy sao tối nay ta không qua nhà cụ hỏi luôn? Trước sau gì ta chả cần phải biết? - Đan quyết định. Với nó cái gì cũng được quyết rất nhanh, chờ đợi, phân vân này nọ thật chẳng khác gì là một sự hành xác.
    Nhưng Xít không nói gì, chỉ ngồi lặng lẽ nhìn ra xa cuối viền chân trời. Đan chợt hiểu, vừa rồi nó đã hơi quá đà. Xít vừa mất đi một trong những người nó yêu thương nhất, bị cướp đi trong một cách đau đớn nhất! Chuyện chỉ vừa xảy ra chưa trọn ngày! Sao nó có thể vô tâm thế chứ..?
    - Thôi, cậu về nghỉ ngơi đi! - Đan ân cần nói - À mà dì A mui và bé Dơ lin cũng đang rất mong và lo cho cậu đấy! Đừng để hai người phải lo lắng, sợ hãi thêm nữa!
    - Cậu về trước, qua nhà báo dùm tớ đang ở đây - Xít nói - Tớ muốn ngồi lại thêm một lát rồi sẽ về!
    Đan không nói gì chỉ khẽ gật đầu rồi lững thững xuống đồi, để Xít lại một mình trên đỉnh đá.
    Nhưng chưa được nửa ngày, ngay sáng hôm sau Đan đã xồng xộc đi như chạy, sang tìm Xít. Vừa thấy Xít đang ngồi bó gối bên mép cửa, đối diện với tấm phản, đúng cái chỗ năm xưa nó cũng đã ngồi bó gối cả đêm nhìn thằng Xít vào cái ngày tai họa đó. Nó cúi xuống túm lấy tay Xít kéo ra cửa. Vừa kéo, thằng Đan vừa thì thào khẽ nói:
    - Ra đây! Có chuyện này chúng ta cần bàn gấp!
    - Có chuyện gì vậy? - Xít ngạc nhiên hỏi.
    Lần này thì mặc vẻ sốt ruột của Xít. Ra đến cuối mái hiên Đan mới khẽ nói:
    - Cậu biết gì chưa?
    - Biết gì là biết gì? - Xít hỏi.
    - Bản ta sắp mở cuộc Săn Lớn đấy! - Đan hổn hển thông báo - Chỉ vài ngày tới đây thôi!
    - Bản ta ư? Sao chẳng thấy ai nói gì? Mà săn cái gì? - Xít hỏi.
    - Thì săn Sói Hai Đầu, chứ còn săn cái quái gì nữa! - Đan đáp
    - Săn Sói Hai Đầu ư? Bao giờ xuất phát? - Xít sốt sắng hỏi.
    - Tớ không biết chính xác là khi nào, nghe đâu khoảng chục ngày nữa thì lên đường! - Đan nói - Tớ cũng chỉ mới biết sáng nay thôi!
    - Sao giờ cậu mới nói với tớ?
    - Thật sự... tớ ngại... cậu vẫn còn đang bị ảnh hưởng quá nhiều vì chuyện bà Bơ nót!
    - Ừ..! - Xít buồn bã thừa nhận, rồi quay sang Đan, nó hỏi tiếp - Sao cậu biết chuyện này?
    - Sáng nay dậy, tớ thấy dưới lán rèn nhà tớ xếp cả một đống lớn lao, mác và bẫy chông - Đan nói - toàn đồ cũ đem chuốt và mài lại. Tớ đã hỏi bố. Ban đầu ông cứ ậm ừ, mãi sau mới nói thật là vũ khí chuẩn bị cho một cuộc săn lớn! Hóa ra cái đêm tớ và cậu lang thang trong rừng, ở bản đã có một cuộc hội họp, bàn bạc rất lâu. Mọi người đều quyết tâm nhất trí lần này sẽ mở một cuộc thật săn lớn! Chuyến này quyết tâm săn cho kỳ được con Sói Hai Đầu mới thôi!
    - Mọi người tính sẽ săn nó thế nào? - Xít hỏi.
    - Thì nghe như bố tớ nói: "Sẽ huy động tất cả đàn ông, trai tráng trong bản, chỉ để độ ba bốn chục người ở lại canh giữ bản làng và bảo vệ người già trẻ nhỏ. Mỗi người đều phải chuẩn bị lương thực, thực phẩm đi rừng trong nhiều ngày, sau đó chia thành nhiều nhóm tỏa ra tiến sâu vào trong rừng U Linh. Sau khi vào rừng sẽ đặt bẫy, truy đuổi. Bằng mọi cách, dồn ép con quái thú đến khi nào nó sức cùng lực kiệt mới thôi. Mục đích chính là dựa vào số đông săn đuổi nó và thay nhau quần thảo cho nó ngày đêm chẳng được yên mà dẫn đến kiệt sức!" Chuyến này đích thân trưởng bản cũng đi và nghe nói mọi người quyết tâm lắm, đã sẵn sàng đi hàng tháng trời, bao giờ hạ được con ác thú đó mới quay về!
    - Vậy ư? Nếu như thế thì hay quá! - Xít reo lên - Tớ nhất định sẽ phải tự tay hạ gục con khốn kiếp đó mới hả dạ! - nó gằn giọng.
    - Phải, chuyến đi này thật ngoài mong đợi! - Đan cũng cất giọng hào hứng - Chúng ta sẽ tha hồ được tung hoành trong cánh rừng U Linh bí ẩn đó!
    Nhưng rồi đang lúc cao hứng say sưa, bỗng thằng Xít như vừa chợt nghĩ ra điều gì đó; sắc mặt nó đột nhiên thay đổi trở nên bần thần.
    - Không! Như vậy không được rồi! - Xít chợt kêu lên.
    - Cái gì không được? - Đan sững người ngạc nhiên hỏi.
    - Cậu không thấy sao? - Sau một lát suy nghĩ Xít nói - Con Sói ấy sống lâu đã cả trăm năm, giờ gần như đã thành tinh. Nó quỉ quyệt khôn ngoan không biết nhường nào! Chỉ một sự khác lạ cũng đủ làm nó nghi ngờ lẩn biệt. Nếu giờ cả bản, hàng trăm con người đầy đủ giáo mác tiến vào, chẳng phải là khua chiêng khua trống, đánh động cho nó trốn mất tích hay sao? Việc này thật không thể được! Con Sói ấy mà cố tình trốn thì có đốt cả khu rừng U Linh lên cũng khó mà tìm ra được! Mà cũng chẳng có thứ bẫy nào có thể qua mặt được nó đâu! Nó còn ranh ma hơn chúng ta tưởng trăm lần! Mà lần này không diệt được nó, tất phải chờ năm bảy năm nữa mới lại có cơ hội. Tớ chỉ e thoát chết lần này, nó còn trở lên khôn ngoan xảo quyệt gấp ngàn lần, khó lòng mà giết nổi nó!
    Đan suy ngẫm một lúc rồi gật đầu:
    - Ừ cậu nói cũng đúng! Đi cả trăm người thế tuy chẳng sợ cái gì, nhưng sao mà tìm nổi nó! Mà lần này mà không hạ được nó thì ôm hận đến bao giờ! Năm bảy năm nữa sao mà chờ đợi nổi chứ? - Đan rên rẩm, rồi nó quay sang Xít hỏi - Cậu định tính sao?
    Xít nhìn Đan bằng ánh mắt quả quyết rồi nói:
    - Chỉ còn cách chúng ta phải đi trước một bước! Phải đi trước khi mọi người lên đường. Chỉ có thế thì may ra mới có cơ hội tìm được con quái thú ấy trước! Nếu không sẽ chẳng còn cơ hội nào khác!
    - Vậy là ta sẽ chống lại, làm trái ý trưởng bản sao? - Đan khẽ lẩm bẩm, rồi nó nói dứt khoát - Được, đằng nào trước sau gì cũng phải thế, mình cứ theo kế hoạch mà làm. Giờ ta qua nhà cụ Sóc luôn! Dù có hay không có thứ thuốc kia, ta cũng sẽ lên đường! Đừng chần chờ nữa!
    - Được! - Xít nói. Rồi hai đứa ào ào như hai con chim tung cánh nhao xuống cầu thang. Vẻ thoăn thoắt, nhanh nhẹn của chúng hoắt nhiên trở lại như ngày nào.
    Ra tới đường hai đứa mau chóng rẽ trái, hướng về phía nhà cụ Sóc ở bên kia cách một vạt đồi thấp. Con đường này đã quá quen thuộc với chúng so với những những con đường khác, vì nhà cụ vốn là nơi ưa thích thường qua lại của hai đứa từ lúc còn nhỏ.
     
  4. Phung QA

    Phung QA Gà con Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    10
    Được thích:
    2
    Đã thích:
    1
    GSP:
    Ap
    Chương 3: Già Sóc

    Cụ Sóc - nay đã gần ở cái tuổi tám mươi, vốn không chỉ là một trong những người già cả cao tuổi nhất, mà còn là một người khá đặc biệt trong cái bản này. Trước hết, nhắc đến tiểu sử của cụ, thì phải nhắc lại cái nguồn cội xa xưa sinh ra cái bản Tơ Gúc này. Xưa kia, vốn dĩ bản làng và người Tơ Gúc không phải sinh ra trên vùng đất này. Cứ như lời những người già cả đáng kính kể lại, thì khoảng trăm năm về trước, người và bản Tơ Gúc ở đâu đó ngoài kia, trên một vùng đất đai màu mỡ khá trù phú. Là một bộ tộc lớn, hùng mạnh với hàng mấy trăm nóc nhà, nhân khẩu lên tới bốn, năm trăm người; thóc gạo đầy bồ, gia súc ngàn ngạt chẳng thua kém bất cứ bộ tộc nào. Mỗi lần trong bản mở hội, kéo dài cả tuần, lửa sáng thâu đêm, tiếng cồng tiếng chiêng vang xa cả dặm. Dân các tộc khác đều lấy làm thèm muốn, ao ước.
    Nhưng rồi chẳng hiểu sao, không biết vô tình do động chạm tới thần linh thế nào, mà bản làng ấy bỗng nhiên bị quở phạt, phải nhận những tai ương ghê gớm. Trong ba bốn năm trời liên tiếp, trong làng luôn xuất hiện những điềm gở đáng sợ. Đầu tiên là nước trong con suối chảy qua lưng bản, bỗng nhiên dòng nước nổi màu đỏ ngầu như máu trông rất đáng sợ, rồi năm sau đó không biết từ đâu có một đàn chim lạ, hình dáng chưa ai từng thấy, cứ chiều tối lại bay về đậu trĩu trịt trên những tán cây Muồng tía đầu bản, cất lên những tiếng kêu "queng quéc!" quái dị, ai oán, làm mọi người mất ăn mất ngủ cả tháng trời vì vừa ồn ã vừa lo sợ. Đến gần sáng chúng lại bay đi đâu mất tiệt không hề thấy bóng dáng... Nhưng đáng sợ nhất là đền thờ của làng năm nào cũng bị sét giáng xuống, đánh cho vỡ tan tành, cháy bừng bừng như một bó đuốc. Lần nào sét cũng nhằm thẳng đỉnh mái đánh xuống như búa bổ. Dù sau đó, lần nào dân làng đã lập đàn rất lớn tế bái, cầu khấn rồi dựng lại đền thờ ở một chỗ khác. Nhưng lưỡi tầm sét nhà trời cứ như có mắt, vẫn tìm đến chính xác không buông tha. Đồng thời những năm đó mùa màng liên tục thất bát, trong bản tai họa bệnh dịch xảy ra liên miên. Thỉnh thoảng trong bản lại xảy ra một vụ cháy lớn, nửa đêm khuy khoắt, chẳng biết lửa từ đâu đột nhiên bùng lên quét rụi mỗi lần cả mấy chục nóc nhà.
    Sau mấy năm đói khát bệnh dịch hoành hành khổ cực quá, không chịu nổi nữa, lại nghe mấy thầy mo trong bản đều phán rằng, do người Tơ Gúc vô ý bẩy tảng đá lớn để lái dòng dòng suối nơi đầu bản, vô tình đã đè gẫy lưng con Cá Sấu thần - linh thú của Á thần Chon Ri - đang nằm ngủ dưới suối nên mới bị trừng phạt như vậy! Cứ như thầy mo phán thì họ bị bắt tội phải bỏ chốn này đi biệt xứ thì mới được tha cho mạng người toàn vẹn. Bàn đi tán lại chán chê, cuối cùng cả làng bèn hội họp lại rồi đành quyết định nghe theo lời thầy mo, rời bỏ bản làng yêu dấu đi tìm nơi đất khác sinh sống. Nhưng trước khi đi, do nảy sinh tranh cãi bất đồng, mà dân trong bản lại chia tách ra thành hai nhóm. Một nhóm chẳng muốn lặn lội đi sâu vào nơi thâm sơn cùng cốc tận chân dãy Kỳ Giông, nơi đầy những tai ương, truyền thuyết đáng sợ, nên tách ra tiến xuống phía nam, tìm đất dựng làng mới. Nửa còn lại theo Trưởng tộc lặn lội bám dọc theo chân dãy Kỳ Giông đi sâu vào vùng đất Màn Khai này.
    Chuyện kể lại rằng, sau khi cả mấy trăm con người, gồm cả người già đã còng lưng lẫn đám con trẻ còn bồng bế trên tay, tất cả gồng gánh đội vác, trèo đèo lội suối, vượt núi băng rừng vô cùng cực khổ, vất vả đã đi hơn cả tháng trời, nhưng chẳng hiểu sao, sau khi bàn bạc với thầy mo, vị Trưởng tộc đã thuyết phục mọi người cố đi thêm một tuần đường dòng dã nữa để vào sâu hơn, cho đến sát tận mép rừng U Linh nổi tiếng âm u, rừng thiêng nước độc này mới chịu dừng chân để lập bản.
    Kể từ đó người bản làng Tơ Gúc chơ vơ như đám gà con không mẹ, chẳng còn được vị thần nào bảo hộ bao bọc che chở nữa; họ cũng không còn được gọi tên, khấn vái bất cứ vị thần linh nào nữa. Họ hoàn toàn bị bỏ mặc, tự vật lộn sinh tồn giữa nơi rừng sâu núi thẳm, không một nơi nương cậy về niềm tin, không một chỗ bấu víu về tín ngưỡng, tinh thần, một thứ vô cùng cần thiết cho bất cứ tộc người nào.
    Nhưng quả thật từ ngày đó những sự lạ quái dị trong bản gần như hết hẳn, không còn thấy tái diễn nữa. Chỉ có điều cuộc sống ở nơi đất mới này khó khăn hơn rất nhiều so với nơi bản cũ, âu cũng là cái giá họ phải trả để giữ được tính mạng yên ổn trước sự nổi giận của những vị thần. Ở đây núi trùng điệp, chen chúc, ken dày. Đất trồng đã hiếm lại còn sỏi đá khô cằn; trồng cấy được hạt thóc hạt ngô thật vất vả khó khăn gấp mấy lần nơi làng bản cũ. Nên dẫu đã ôn định an cư nhiều năm sau, nhưng những người già cả trong bản vẫn chưa hết nguôi ngoai, đau đáu nhớ thương về nơi mình đã dứt ruột ra đi thuở nào.
    Cũng vì lẽ đó - tin rằng mình bị trời thần quở phạt, ruồng bỏ - mà bản Tơ Gúc có một tục lệ khác hẳn bất cứ bản làng hay bộ tộc nào khác. Nghĩ cảnh mình bị ruồng rẫy tha hương, nên họ dễ dàng cảm thông với những người đồng cảnh ngộ, sẵn sàng dang tay ra chào đón, chấp nhận tất cả những kẻ bơ vơ lang bạt, không nguồn cội, không chốn dung thân từ khắp các nơi đến xin ở lại, gia nhập thành người dân bản Tơ Gúc. Những người mới đến có thể là bất cứ ai, bất cứ từ đâu tới. Chỉ cần anh hiền lành lương thiện, chịu khó làm lụng là được phép ở lại, cất nhà phát rẫy sinh sống trong bản như mọi người khác. Người bản Tơ Gúc quí người, kẻ mới người cũ không có sự phân biệt đối xử. Thậm chí những kẻ đơn thân cô quạnh mới tới, còn được mọi người trong bản giúp đỡ dựng nhà dựng cửa lúc buổi đầu bỡ ngỡ. Chẳng những rộng lòng như thế! Bản Tơ Gúc còn có một cái lệ riêng khác, tuy chẳng do ai đặt ra hay bị ràng buộc bởi cái gì, nhưng tất cả đều biết và hầu như tuyệt đối nghiêm cẩn tuân theo. Đó là: Không bao giờ dò hỏi, tìm hiểu cội nguồn quá khứ của người mới đến, dù họ thế nào, là ai. Nếu ai cố tình phạm phải điều này thì cũng chẳng có hình phạt nào cụ thể cho họ. Nhưng có một hình phạt vô hình của cả làng, cả bản sẽ sớm được áp dụng ngay đối với kẻ đó. Đó là sự đối xử xa lánh, lạnh nhạt của tất cả mọi người trong bản, buộc dần dần rồi kẻ đó cũng phải tự gói ghém rời đi. Một điều lệ chưa ai từng tuyên bố nhưng vô cùng nghiêm khắc với bất cứ ai. Tiếng tăm đồn xa, bởi tất cả những điều trên, mà chỉ sau mấy chục năm sau số nóc nhà trong bản đã tăng lên gần gấp đôi.
    Trong đó có một điều thú vị là, vô tình cả bốn nhà khá thân thiết với nhau là bà Bơ Nót, cụ Sóc, chú Uni và vợ chồng Xê Đan - Pơ Miên lại đều là những người từ phương khác xa xôi đến đây xin gia nhập thành dân làng Tơ Gúc. Trong bốn nhà, ngoài mẹ con bà Bơ Nót già yếu. Còn lại, nếu Xê Đan mang đến đôi cánh tay thép nổi danh vùng xứ Màn Khai này, thì chú Uni lại mang đến bản một đôi tay rèn cừ khôi, vô cùng khéo léo, đôi tay của chú là không thể thiếu và đã giúp ích cho dân bản rất nhiều.
    Nhưng trong tất cả, cụ Sóc mới là người đặc biệt hơn cả. Ở cụ có nhiều thứ đặc biệt: một tính cách đặc biệt, một cuộc sống đặc biệt, một công việc đặc biệt, và ngay cả sự xuất hiện của cụ khi lần đầu đặt chân tới ngôi làng này cũng khá đặc biệt.
    Cụ Sóc tới bản từ lâu lắm rồi, nghe đâu từ khi cụ còn rất trẻ, mới chỉ ngoài hai mươi tuổi. Cụ đến một mình, không anh em ruột thịt, không gia đình, cũng không vợ không con... Thậm chí không một chút gia tài, nếu ngoại trừ chiếc túi vải bạc màu duy nhất trên vai. Và cho đến giờ vẫn vậy, sau ngót nghét sáu mươi năm, cụ vẫn một mình sống đơn độc trong căn nhà nhỏ đơn sơ nằm tận cuối bản, với món gia tài "bề thế" bạc màu đó đến giờ.
    Mọi người thường đùa rằng: "Bản làng này nợ cụ, chứ cụ có nợ nần gì dân bản Tơ Gúc đâu? Lúc đến hai bàn tay trắng mà lúc đi cũng trắng hai bàn tay. Cả cuộc đời dành tặng làng bản này!" Nghe chuyện cụ chỉ cười, dường như chưa bao giờ cụ bận lòng về chuyện gia đình hay hậu sự cho mình, vẻ như với cụ điều đó chẳng có ý nghĩa gì.
    Điều đặc biệt thứ hai là cụ không tìm đến bản này như bao người khác, mà là người ta tìm cụ đến. Năm đó trong bản có mấy người đi rừng về rồi mắc một thứ bệnh lạ: cứ chiều đến tắt ánh mặt trời là họ tím tái, lạnh cóng nằm co quắp một góc, hai mép sùi bọt trắng như bọc trứng ếch; mấy đầu ngón chân, ngón tay cứ tím đen lại rồi lan dần lên bàn. Bệnh tình đã kéo dài gần chục ngày mà chẳng ai biết phải chữa chạy làm sao. Tất cả tin chắc chỉ còn nằm đó chờ ngày làm ma.
    Một hôm có người trong bản có việc, đi ngang qua một bản khác ở phía thượng dừng chân ghé lại, nghe tin trong bản đó đang có một thầy lang trẻ, đi cắt thuốc chữa bệnh đây đó mà chẳng lấy công, thì liền nảy ra ý thử mời về bản chữa trị xem sao? Dù trong bụng cũng chẳng tin lắm, vì trước giờ chưa ai từng thấy thứ bệnh kỳ quái như thế bao giờ. Chẳng ngờ sau khi vừa nghe tả về chứng bệnh lạ, vị lang trẻ đó liền xách túi giục người kia chỉ lối, lội suối vượt đèo tới ngay. Vừa tới nơi, sau khi hỏi han vạch mắt, cậy kẽ móng tay người bệnh ra xem xét một hồi, vị lang trẻ không nói không rằng, lẳng lặng xách túi đi khỏi bản. Mọi người nhìn nhau lắc đầu thất vọng, nghĩ gã thầy lang này cũng chẳng qua là thứ bất tài muốn thử vận may kiếm chác tí bổng lộc mà thôi, nhưng xem chừng bệnh tình quá khó, bó tay, nên tìm cách chuồn êm cho khỏi mất mặt. Chẳng ngờ sáng sớm hôm sau đã thấy anh ta quay lại. Người ngợm bơ phờ, quần áo xộc xệch ướt đẫm sương đêm, tay cầm một nắm lá rừng các loại. Thấy thế mọi người chẳng ai nói gì, cứ im lặng ngồi xem anh ta tự mình cắt cắt giã giã, rồi tự pha thuốc cho mấy người bệnh bằng nắm lá đó. Ba ngày sau như có phép lạ, mấy người bị bệnh đều đại tiện ra máu đen, rồi bệnh tình thuyên giảm rất nhanh, sau bảy ngày đã đứng lên đi lại được. Cả làng mừng rỡ vật cả chục con lợn và hai con trâu to xẻ thịt ăn mừng, tung hô cảm tạ cái ơn của vị lang trẻ, sau đó họ xin anh ta truyền lại cho bài thuốc quí ấy để dành phòng ngừa mai này. Họ dạm ướm hỏi anh ta về khoản thù lao. Nhưng vẻ không quan tâm tới những điều mọi người nhắc tới, vị lang trẻ ấy trầm tư suy nghĩ một hồi, rồi bất ngờ một lần nữa xin phép xách túi bỏ đi, trước con mắt ngơ ngác chẳng hiểu ra làm sao của dân bản.
    Rồi lại qua luôn ba ngày, chẳng thấy mặt mũi anh ta đâu. Mọi người những tưởng anh ta đã đi hẳn, thì bỗng ngày thứ tư anh ta lù lù từ rừng ra. Không nói năng giải thích gì, anh tới gặp thẳng Trưởng bản bày tỏ nguyện vọng xin được gia nhập,ở hẳn lại trong bản. Điều đó quả là một điều bất ngờ, quá đỗi vui mừng đối với người dân bản Tơ Gúc, vì lâu nay trong bản vẫn thiếu một thầy lang hiểu biết về thuốc thang. Mỗi khi trong bản có người mắc bệnh nặng, thì hầu như họ đều cầm chắc sẽ có một đám tang! Cúng bái, van vái thần linh thì họ đâu còn cái ân tứ ấy? Họ đã là một tộc người bị thần linh ghét bỏ ruồng rẫy, sao dám mong quỉ thần nào thương xót, che chở? Tất cả chỉ biết trông vào vài kinh nghiệm chữa bệnh dân dã, sơ sài, từ những bài thuốc do trí nhớ lõm bõm của mọi người góp lại. Chữa theo kiểu cầu may. Trong bản đã nhiều người chết thảm chỉ vì những căn bệnh, những tai nạn tưởng chừng hết sức bình thường nhưng chẳng ai biết làm gì. Trưởng tộc ngày ấy là người trăn trở, đau đáu nhất. Vốn dĩ là một người nhân hậu, rất có tấm lòng, đã nhiều năm ông vẫn thầm khổ tâm, tự dằn vặt xót xa mỗi khi nhìn bản làng mất đi một người bởi ngã bệnh, từng đứa trẻ ốm đau rên rỉ chờ chết mà bó tay chẳng biết làm gì để cứu chữa.
    Chẳng chờ vị lang trẻ nói hết lời, như bắt được vàng, Trưởng tộc lập tức gật đầu đồng ý, rồi còn dẫn ông ra ngay bãi đất giữa bản, chính là cái bãi trống bây giờ, cắt đầu gà bầy rượu làm lễ tuyên thệ nhập làng hẳn hoi. Chưa từng có ai nhập làng mà được Trưởng tộc tự tay làm lễ long trọng đến thế! Và từ đó ông chở thành vị thầy lang đáng kính của bản Tơ Gúc.
    Càng ngày dân bản càng hiểu ra, mình đã may mắn thế nào khi có ông trong bản. Tài chữa bệnh của ông thật kỳ lạ, hiếm có. Gần như ông chưa bao giờ bó tay trước bất cứ bệnh gì, dù đó là bệnh lạ, kỳ quái chưa ai từng gặp hay nặng tưởng chừng chỉ còn biết chờ chết; bệnh càng khó càng nặng, ông càng làm người ta thêm ngỡ ngàng, trầm trồ thán phục. Cứ mang tới ông thì người ta có thể chín phần yên lòng mà chờ đợi, rồi ông cũng sẽ cứu chữa được.
    Sau này vẫn có người tò mò hỏi ông, về mấy cái đêm đầu ông ở trong rừng làm gì? Ông chỉ cười bảo: "Tôi đi tìm cây thuốc! Cả đời tôi say mê đi tìm những loài cây, loài cỏ để chế những vị thuốc mới, chữa những bệnh mới! Mà ôi chao! Mọi người không biết đâu! Rừng này có vô vàn những cây thuốc lạ, thuốc quí! Chúng cứ như bỏ bùa toii, khiến tôi cứ mải miết đi mãi chẳng muốn dừng!"
    Tuy ông nói vậy, nhưng có một vài người nghe không thuận cái tai, vẫn vặn vẹo sau lưng: "Kỳ cục! Cây rừng thì nó vẫn ở đó, có chạy đi đâu được? Sao phải đêm hôm lặn lội trong đó chứ? Nghe chẳng lọt cái lỗ tai tý nào!" Nhưng ai vặn vẹo mặc ai, dân bản chẳng ai để ý đến điều vụn vặt đó.
    Ông thầy lang trẻ ấy quả là có niềm đam mê với cây cỏ đến kỳ lạ. Tìm kiếm, thu gom đủ các loại cây cỏ trong vùng rừng núi quanh bản chưa đủ, ông còn cất công đi tận đến những nơi xa xôi hẻo lánh khác, nhiều khi chỉ để mang về vài bó lá hay những mẩu rễ chẳng ai biết là thứ cây gì. Càng ngày cái niềm đam mê ấy càng ăn vào máu ông nặng dần, ông đi xa hơn và lâu hơn. Lâu dần theo năm tháng, nó nhiễm thành một thứ bệnh thâm căn - ông thích như một cơn nghiền, không thể cưỡng lại. Với đa phần những người dân trong bản thì cái thú này đúng là gàn dở, vì lâu nay hầu hết người bản Tơ Gúc đều không ưa hay thích thú gì việc đi lang thang, đi đây đi đó quá ba ngọn núi quanh bản. Họ thường nói với nhau rằng: "Chỉ nội rừng rú quanh cái bản này, với cánh rừng U Linh ngay ngoài kia còn chưa đủ tai ương, hiểm họa hay sao? Mà còn phải nhiễu sự, đi kiếm tai họa ở đâu đâu rước vào mình chứ?", "Sao trên đời lại có người lạ kỳ, chẳng thích sống yên ấm dưới mái nhà của mình, cứ thích lấy gió mưa làm chăn, tai họa làm trò vui kia chứ?" Nặng hơn, họ còn cảm thấy thương xót giùm ông, vì nghĩ ông bị trời đày! Mà quả là thế thật! Ông thích đi như bị ma ám vậy! Cả đời chẳng nghĩ gì đến chuyện gia đình, chưa bao giờ ông tính chuyện lấy vợ sinh con. Hễ cứ rảnh chân là ông đi. Năm nào ông cũng khăn gói lên đường. Có chuyến vài ba tháng, có chuyến nửa năm, thậm chí đã có lần ông đi biền biệt cả năm không về. Những lần ấy hầu như người ta đều nghĩ ông đã bỏ xác ở nơi đâu đó.
    Tuy thế, mặc cho cách sống có phần khác người, cùng cái thú vui gàn dở ấy, ông vẫn được mọi người rất thương yêu và quí trọng. Bởi ngoài cái tài bốc thuốc cứu người, ông còn là một người sống rất nhân hậu.
    Hầu như có đến nửa già cái bản này đã từng nợ ông một ơn cứu mạng. Khắp cả bản này, từ cái mụn đầu đinh lở loét trên đầu lũ con nít đến những vết thương đi rừng trầm trọng như rơi vách gãy chân, gẫy tay; gấu tát, rắn cắn đều đến tay ông cả. Người ta sẽ chẳng bao giờ quên được, hình bóng nhỏ bé của ông thường in trên vách, bên bếp lửa thâu đêm ngồi túc trực bên người bệnh, đăm chiêu nghe từng hơi thở, nhẹ nhàng bón từng thìa thuốc; tận tình, lo lắng như cha mẹ chăm cho con cái.
    Dần dà người ta thành quen với hình ảnh ông, chỉ với cái túi bạc màu vắt chéo qua vai thủng thỉnh lên đường, rồi một ngày nào đó chẳng hề báo trước, lại ngang vai khoác túi, đủng đỉnh chở về. Riết rồi thành quen, người ta chẳng còn bàn tán về những chuyến đi, và cũng chẳng còn thấy lo lắng hay bận tâm giùm cho ông nữa, bởi ông cứ đi đi về về suốt mà chả mệnh hệ gì sất! Hình như trời bắt tội đôi chân ông nhưng lại bù cho ông một cái mệnh lớn, ông không dễ gì chết hoặc luôn gặp may, tai ương thấy ông phải tránh. Cứ như từ cọp vằn, gấu núi đến voi dữ, trăn dài; và cả ma rừng, ma núi đều nhường đường tránh ông vậy!
    Ông lặn lội bôn ba tới khắp các tộc người. Đến những xứ lạ xa lắc xa lơ, mà thường chỉ nhắc tới địa danh thôi, thì kể cả những người hiểu biết nhất bản cũng lắc đầu chịu chết chưa từng nghe tới, chứ đừng nói chuyện đặt chân đến. Tới đâu ông dùng cái tài dùng thuốc của mình để chữa bệnh, cứu người ở đó. Đổi lại, ông chẳng đòi hỏi gì, chỉ cần một chỗ nghỉ ngơi đơn giản và hai bữa cơm đạm bạc là được. Nhưng tất nhiên, chẳng bao giờ có chuyện ấy! Với việc cứu người xuất chúng như thế, ông luôn được đón tiếp như một vị ân nhân, một khách quí; luôn được đón tiếp nồng hậu, dù là ở bất cứ đâu. Hầu như mọi tộc người ông đã từng đặt chân qua họ đều mong nhớ ông quay lại, để được trả ơn, họ coi ông như một vị thánh sống được phái xuống cứu đời vậy! Nhưng ở đâu ông cũng chỉ lưu lại đôi ba tháng, khi mọi người trong bản làng đã ổn ông lại từ biệt lên đường. Ông chẳng nhận bất cứ sự đền ơn, công lao nào. Đổi lại, ở đâu trước khi đi ông cũng chỉ có một thỉnh cầu nho nhỏ, đó là xin được học những bài thuốc bí truyền của những bộ tộc ấy. Thường đó đều là những bài thuốc hay thuốc lạ, cái mà họ vẫn thường giấu kín chẳng truyền cho người ngoài bao giờ. Tuy vậy với cái thực tâm ăn ở như người ruột thịt, cùng cái ơn cứu người, nên hiếm khi ông bị từ chối lắm!
    Tất cả những bài thuốc đó đều được ông ghi nhớ lại cẩn thận. Chúng thường được chế bằng cây cỏ trong rừng, thậm chí nhặt ngay ở vườn nhà, rất tài tình. Trong đó không hiếm một số bài thuốc kỳ dị đi cùng với những lời bùa chú bí ẩn, mà chỉ có ông mới được đặc ân phá lệ truyền dạy.
    Sau mỗi chuyến đi trở về vóc người vốn đã nhỏ bé của ông thường gầy và xạm hẳn đi, nhưng niềm đam mê bôn ba thì dường như không bao giờ chịu tắt. Ông lại tất bật bắt tay vào chữa bệnh cho người trong bản Tơ Gúc; luôn chân luôn tay, hết hong phơi lại giã tán, đủ các loại rễ cây hoa cỏ gì đó, mà chịu chết chẳng ai biết chúng có công dụng gì? Nhưng những ai không mong mỏi thì chẳng biết, nhưng với Dan với Xít cùng lũ trẻ trong bản thì mong nhớ ông lắm! Sau mỗi lần ông trở về và ở lại trong bản, đó đều là những khoảng thời gian vô giá của chúng. Một quãng thời gian vài ba tháng tuyệt vời! Bởi với cả trăm chuyến đi gần xa trong đời, cùng những hiểu biết vô cùng của mình, ông trở thành cái túi càn khôn, một kho tàng vô tận chứa hiểu biết hết thế gian trong bụng, cùng vô vàn những chuyện vô cùng kỳ lạ, hấp dẫn đối với bất cứ ai từ người già đến trẻ con trong bản. Nhất là đối với đám thiếu niên choai choai như Xít và Đan. Với chúng ông chẳng khác gì một vị thánh sống, một vị thánh có phép màu có thể dẫn dắt trí tưởng tượng của chúng tới những vùng đất kỳ lạ, những chân trời xa xôi bao la với bao điều kỳ bí có sức cuốn hút mê hồn. Với chúng, ông như một cái miệng giếng ở trên đầu, thứ kết nối cái đáy giếng Tơ Gúc tẻ nhạt, u buồn này với bầu trời xanh bao la mênh mang phía trên kia, nơi ẩn chứa bao điều kỳ thú, mới lạ của thế gian. Cả đời loanh quanh trong cái bản làng nhỏ bé heo hút này, đầu óc chúng như lũ dúi chỉ biết rúc trong những ngách hang tối tăm chật hẹp, giờ qua những câu chuyện của ông, chúng như được ngồi trên đôi cánh đại bàng mà bay tận chín tầng mây, mở mang tầm mắt, biết thêm bao điều kỳ thú của thế gian phía dưới!
    Nhưng đó là những suy nghĩ của chúng thôi, chứ với nhiều người trong bản thì họ chả ưa gì những câu chuyện kỳ lạ ông mang về từ những chuyến phiêu du triền miên cả. Với họ, yên ổn sống trong cái làng này là đủ lắm rồi! Họ sợ ông tiêm nhiễm cho đám trẻ choai cái máu phiêu lãng điên khùng ấy! Nó chả được cái ích lợi gì! Họ thường làu bàu: "Gớm! Chỉ có cái bản nhỏ, lợn chạy chẳng hết đường này, mà đã vô khối sự phiền não rồi! Hà cớ gì phải đi ra ngoài để kiếm thêm cái rắc rối, tai ương vào người giống cái ông lão gàn dở ấy chứ?"
    Nhưng kệ, lũ trẻ trai mới lớn háo sự lạ lẫm, hiếu kỳ lắm! Chúng chẳng chịu để tai đến những lời khuyên bảo, gièm pha sau lưng như thế! Vậy nên nhà cụ Sóc vẫn là nơi chúng ưa thích lui tới. Trong đó có Đan và Xít là những vị khách góp mặt thường trực hơn cả. Chúng thường qua và ngồi lỳ ở đó, có khi cả ngày trời. Nhất là vào những ngày mưa gió chẳng có gì để làm, để được nghe những câu chuyện bất tận của cụ, vừa nghe vừa giúp cụ tán cây, giã thuốc hoặc lên rừng tìm lá. Dần dà ông và hai đứa còn thân thiết hơn cả ruột thịt, nhất là Xít, ngoài thương nó gia cảnh mồ côi, ông còn quí nó ở tính nhanh nhẹn, thông minh mà rất trung hậu. Mà cũng nhờ những lần đi rừng hái thuốc ấy, hai đứa đã học được vô khối bài thuốc cụ truyền dạy, một mong muốn mà cụ vẫn đau đáu mong có người tiếp nối. Nhưng có vẻ mong muốn của cụ chẳng được toại ý, vì cả hai đứa đều chẳng được phú một chút thiên tư nào. Chúng không say mê, thích thú gì với cây cỏ cho lắm, nên chẳng nhớ được nhiều. Tuy vậy như một người cha,cụ vẫn nhẹ nhàng, luôn kiên trì dạy bảo; giảng giải cho hai đứa từng việc lớn, việc nhỏ.
    Đặc biệt, riêng Xít còn được cụ dạy cho một thứ vô cùng đặc biệt - cái này hầu như chỉ có nó, Đan và cụ Sóc biết với nhau thôi. Bởi đó là một thứ cao xa, lạ lẫm lắm! Một vài người trong bản có nghe phong phanh là trên đời có thứ kỳ lạ ấy, nhưng thấy tận mắt thì chưa ai từng. Ngay cả Xít cũng không hiểu vì sao cụ Sóc lại biết những thứ kỳ lạ này. Cụ học ở đâu? Ai đã truyền dạy cho cụ?
    Cái thứ đó là - Chữ Viết. Một thứ mà cụ Sóc gần như nài nỉ khuyên nó nên học. Và cũng là thứ Xít thấy khó nhồi nhét vào đầu nhất! Nó còn khó hơn cả xỏ chỉ vào cái lỗ kim treo lửng lơ trong gió nữa cơ! Cực kỳ phiền phức và nhức đầu. Nó khiến Xít phải vò đầu bứt tai không biết bao nhiêu lần với tóm được chút ít! Thật trên đời chẳng có thứ gì phức tạp, phiền hà hơn cái chữ viết! Trong khi cụ Sóc thì cứ bắt nó nhớ và vẽ, vẽ đi vẽ lại trên đất, trên ván, trên những mảnh vỏ gỗ... bất cứ khi nào có thể. Mà nhớ được mấy nét chữ ấy có dễ đâu kia chứ? Chúng cứ lộn tùng phèo, hết gạch lên lại gạch xuống, rồi đâm trái xiên phải chóng hết cả mặt. Nhưng thế nào đã xong! Chúng còn đánh đố như kiểu: đang kéo xuống nửa chừng, bỗng nhiên phải lăn đùng ngã ngửa, ễnh bụng ra rõ vô duyên! Kiểu ta cứ thích thế, có làm sao? Đã nhiều lần Xít nổi cạu, muốn ném thẳng cái que đi cho rồi. Nhưng nghĩ tới sự dặn dò ân cần phải kiên trì của cụ Sóc, nó lại cố nín nhịn mà tập tiếp.
    Cái giống chữ ấy cũng đến lạ! Đứng một mình cho sướng chúng chẳng chịu. Chúng cứ thích phải được quài chân móc tay vào nhau thành một mớ rối rắm mới nghe! Nhưng cụ Sóc lại bảo: "Vậy nó mới thành một chữ có nghĩa để hiểu!" Xít chịu, thôi thì cứ cụ bảo sao thì làm vậy. Nhưng mà khó cái là phải nhớ, nhớ rất nhiều! Rằng cứ hễ mỗi lần nó ngoắc chân, ngoắc tay với một chữ khác nhau thì lại phải hiểu là chúng có ý nghĩa khác nhau, khó thế đấy! Nhưng cụ Sóc lại dỗ dành, bảo: "Cái hay của con chữ là hay ở chỗ đó! Chỉ cần vài chữ có thể ghép đi ghép lại hoán đổi cho nhau mà kể được hết mọi chuyện trong trời đất. Có thể lưu giữ được mãi, chẳng bao giờ sợ mất đi." Xít thì chả nghĩ vậy, nó nghĩ: cách tốt nhất trên đời là kể cho nhau nghe, cứ người nọ truyền tai người kia, chẳng phải đơn giản bao nhiêu không? Mà cái hay khi kể lại còn nghe được giọng lên bổng xuống trầm rất cuốn hút, như giọng cụ vẫn kể chẳng hạn, dễ ăn sâu vào trí nhớ hơn thứ chữ này nhiều! Quan trọng hơn cả là chả phải ngồi gò lưng ra nhớ một mớ rối rắm thế này, chả phải bày biện ra lắm nét để hành hạ cái đầu.
    Mớ chữ nghĩa đó cứ quấn tít vào nhau, như ném cả nắm que vào mắt, khiến những ngày đầu Xít thấy tối tăm cả mặt mũi, nhìn một lúc là đầu óc nó hoa lên, những cái que ấy biến thành cả đàn giun bò đi tán loạn... Nói chung là khó! Khó nhớ hơn những cái tên lủng củng trong bài thuốc cả trăm lần! Nhưng chẳng hiểu sao cụ Sóc cứ dỗ dành, bắt ép nó học. Và rồi có một lần chỉ có hai ông cháu, với một vẻ nghiêm túc ít thấy, cụ nói :
    "Nếu mai này cháu muốn đi tìm mẹ, thì cháu phải học bằng được cái chữ này! Nó có ích thế nào, phải sau này cháu mới hiểu được!" Chẳng hiểu sao trong bản, chỉ duy nhất có cụ Sóc là người tin vào nó, và tin mẹ nó còn sống. Bởi câu nói đó của cụ, mà giờ quả thật Xít cũng có thể nhận ra hầu hết những cái chữ cụ đã dạy, và cố gắng nó cũng có thể hiểu được một vài dòng chữ viết trên những miếng da nhàu nát mà cụ mang về từ những chuyến đi, cụ có vẻ quí trọng và cất giữ những tấm da đó cẩn thận lắm! Ngoài Xít ra chẳng ai được thấy chúng bao giờ. Nên nếu việc Xít biết chữ mà mọi người trong bản hay, thì quả là chuyện động trời không nhỏ chút nào!
    Với tất cả mối quan hệ thân thiết và niềm tin tuyệt đối rằng: cụ là người thông thái và đáng tin cậy nhất! Nên Xít thường hay thổ lộ tất cả nỗi lòng sâu kín của mình với cụ, chẳng giấu điều gì. Nó coi cụ như một người thân, một người cha, một người ông, người nó có thể tin tưởng giử gắm mọi chuyện, và luôn cho nó những lời khuyên sáng suốt nhất.

    Chẳng bao lâu hai đứa đã đến sát hàng rào đá bên ngoài nhà cụ Sóc. Bước vào trong như thường lệ hai đứa khẽ cất tiếng chào. Cụ Sóc không nói gì chỉ khẽ gật đầu. Cụ Sóc có vóc người nhỏ nhắn, khuôn mặt xương xương hiền từ. Tuy nhiên chỉ với vài nết nhăn trên trán và khóe mắt thì khó ai nghĩ cụ đã ở cái tuổi gần tám chục. Trông da dẻ và sắc thái của cụ còn linh hoạt và minh mẫn lắm! Nhất là đôi mắt, cụ có đôi mắt sáng lạ thường, ẩn dưới hàng lông mày dày xoăn tít nhưng mới chỉ lốm đốm bạc, cùng màu với chòm râu dài và mái tóc búi gọn phía sau bằng một dải vải Lía. Cụ ngồi trầm tư giữa nhà, chiếc tẩu thuốc trong tay cụ thờ ơ, lặng lẽ nhả từng sợi khói mỏng nối nhau bò lên lớp rui mái đen kít bồ hóng trên nóc; ánh mắt cụ chìm đắm như nhập vào vách núi xa xa, xám thẫm phía trước sân. Đã quen với ánh mắt ấy, biết cụ đang có nỗi lòng ưu tư, hai đứa không nói gì lặng lẽ ngồi xuống bên cạnh. Lát sau cụ Sóc khẽ buông một tiếng khẽ thở dài, nói:
    - Thật tội nghiệp bà ấy! Một người đàn bà hiền lành và nhân hậu!
    Khuôn mặt thằng Xít chợt lại đanh lại, hàm răng nghiến chặt, nó hơi cúi xuống đôi môi rung rung. Một lát sau nó mới mở được lời, giọng mũi nghèn nghẹt:
    - Chúng cháu tới cũng vì một chuyện liên quan tới bà cháu!
    Cụ Sóc khẽ giật mình quay sang nhìn nó, với ánh mắt dò xét phán đoán rồi như đoán ra điều gì đó, cụ hỏi lại:
    - Chuyện gì? Hai đứa tính làm chuyện gì?
    - Bọn cháu sẽ vào rừng săn Sói Hai Đầu! Cháu nghe nói cụ có một loại thuốc có thể làm tiếng tru của nó trở lên vô hiệu? - Xít chưa kịp mở miệng, Đan đã ào ào tuôn ra.
    - Vậy ra hai đứa đã nói với nhau, bàn bạc kỹ cả rồi? - Cụ Sóc khẽ gật gù rít một hơi thuốc nhìn hai đứa. Hai đứa im lặng, ánh mắt cúi xuống thay cho lời thú nhận.
    - Đúng! Ta đã chế ra được thứ thuốc đó! - Cụ Sóc khẽ nói nhưng giọng lại chẳng có vẻ gì vui mừng - Nhưng ta chưa chắc nó đã có thể dùng được trên người hay chưa? Điều này muốn biết thì cần phải có thêm một thời gian nữa, mà ta cũng chưa thể đoán định được là bao lâu?
    - Cháu thật không hiểu! - Đan nói - Thuốc thì chỉ có công hiệu hay không công hiệu. Sao lại dùng được hay không dùng được kia chứ?
    Xít đưa mắt nhìn Đan, ra hiệu nhắc nó cần phải giữ mồm giữ miệng, ăn nói cho phải phép.
    Không để tâm tới điều đó, cụ Sóc nói:
    - Ừ! Bởi vì bài thuốc này ta học từ một tộc người sống tận đầu nguồn sông Chư Lông, phía Tây cao nguyên Krông Đắc. Trước đây, nó chỉ để dùng cho đám gia súc mà họ chăn nuôi mà thôi!
    - Thuốc dành cho gia súc? - Đan trố mắt hỏi - Cháu chưa từng nghe điều kỳ lạ như thế bao giờ!
    - Đúng thế! - Cụ Sóc ôn tồn nói - Một thứ thuốc dành cho lũ gia súc. Nhưng chẳng phải vì họ yêu quí đặc biệt hay ưu ái gì chúng cả! - Im lặng một lát, như để dòng hồi ức năm xưa chảy lại trên những nếp nhăn xếp nếp trên trán, rồi ông chậm dãi kể:
    "Số là bộ tộc Ba Na, tên tộc người ấy, sống chủ yếu bằng việc chăn nuôi gia súc. Hai đứa không thể tưởng tượng nổi đàn gia súc của họ lớn thế nào đâu, nó lớn gấp cả trăm lần tất cả gia súc trong bản ta gộp lại. Khi di chuyển chúng như một đồng cỏ vàng, nâu, hung, xám... đủ màu chuyển động. Có tới hàng ngàn con, đủ loại: trâu, ngựa, dê... Họ nuôi chúng để lấy thịt, để lấy sữa và lấy da làm sản vật đổi lấy những thứ khác mà vì cuộc sống du canh nay đây mai đó họ không làm ra. Không như những tộc người khác, người Ba Na vẫn giữ tập tính làm chung, hưởng chung. Họ gom tất cả đám gia súc thành một đàn lớn, và cả tộc cùng có trách nhiệm chăn nuôi coi sóc đàn gia súc đó. Một điều mà chẳng còn thấy mấy ở những bộ tộc khác ngày nay! Vì chăn cả một đàn gia súc lớn như vậy, nên họ luôn cần những đồng cỏ, thung lũng lớn để có đủ thức ăn cho chúng. Muốn vậy họ thường phải lùa đàn gia súc đi từ vùng đất này tới những vùng đất khá xa xôi khác, đôi khi phải đi mất cả nửa tháng. Và ở đó họ dựng những chiếc lều lớn, cả tộc ăn ở sinh sống luôn cùng với đàn gia súc cho tới đầu mùa sinh sản năm sau. Năm nào vào đầu mùa xuân họ cũng lùa đàn gia súc lớn ấy qua bên kia dãy núi Phìa Lén, một dãy núi hiểm trở dựng lên chia tách cao nguyên Krông Đắc ra làm đôi, để tới được sườn Tây bên kia dãy núi, nơi mây mù thường bị vách núi ngăn lại trút mưa xuống gây ẩm ướt quanh năm và cho sườn Tây những đồng cỏ mật mướt mát trải dài như vô tận. Nhưng con đường vượt qua dãy núi đó vô cùng khó khăn. Nó nhỏ hẹp và dẫn lòng vòng hàng dặm qua những vách đá vát chéo nằm đè lên nhau chênh vênh, như chỉ chực chờ một cái rung nhẹ là trượt phóng xuống. Chưa hết, con đường ấy bắt buộc phải đi qua một vách đá nằm trên đỉnh một ngọn đèo cao, rất hoang vu và có cái tên đáng sợ - đỉnh Gào.
    Con đường qua hẻm núi ấy nhỏ chỉ vừa một cặp trâu đi lọt, một bên là vách đá dựng đứng áp sát, không chỗ bám víu và bên kia là mép vực trống, cắm thẳng xuống sâu hun hút, nhìn không thấy đáy.
    Ngọn đèo tuy cheo leo là vậy, nhưng nó chẳng là gì với một bộ tộc đã có kinh nghiệm chăn thả gia súc cả ngàn đời nay. Nhưng đỉnh đèo đó không chỉ cao, chênh vênh khó đi, mà nó còn có một thứ đáng sợ hơn nhiều, đúng như cái tên người ta đã đặt cho nó, đỉnh Gào. Bình thường những hôm trời nắng, mặt trời chiếu sáng rạng rỡ vạn vật thì chẳng có điều gì, cảnh vật trên ngọn đèo nhìn xuống đẹp như một bức tranh. Những vách đá sắc trắng xám như ngàn mũi gươm đâm xuyên mây, đứng ngạo ngễnh ưỡn ngực khoe lưỡi bén dưới ánh hào quang chói lọi của vầng dương và quấn ngang thân chúng là những đám mây trắng bồng bềnh như một đàn hạc trắng từ xa kéo về, xòe cánh lướt trôi êm đềm trên nền cỏ xanh mướt của những triền núi đang duỗi chân nghỉ ngơi sau hành trình ngàn dặm mỏi mệt vượt qua cao nguyên Krông Đắc. Đó là những lời đẹp đẽ nhất ta từng nghe người Ba Na dành tặng cho đỉnh Gào - cụ Sóc nói - Nhưng than ôi! Đúng cái ngày ta được cùng họ vượt qua hẻm núi đó, lại là ngày ta được chứng kiến sự giở mặt tráo trở khủng khiếp của ngọn đèo, đúng như tên gọi. Đó là một ngày âm u, đầy mây mù và gió quất như bão táp, dù mới chỉ trước đó vài giờ trời vẫn còn quang đãng và gió nhẹ hiu hiu thổi. Tất cả thay đổi rất nhanh. Gió từ bốn hướng nổi lên ù ù như cối xay, mây mù kéo về mờ mịt. Những vách đá trên ngọn đèo đó có những rãnh ngoằn ngoèo kỳ quái xếp chồng lên nhau ăn sâu vào lòng núi, chúng như những vách trong của cái vỏ ốc đón gió ở một mé vách, rồi luồn trong khe đá thoát ra ở mé vách bên kia. Nhiều miệng lỗ lớn nhỏ khác nhau nên chúng cũng tạo ra những âm thanh vô cùng kỳ dị khác nhau: có tiếng thì "uôm uôm" như tiếng cọp gầm, lại có những âm thanh như tiếng quỉ gào chói lói, khóc cười khanh khách hoặc rít lên giận dữ như áp tận màng tang mà gào lên xua đuổi ghê rợn.
    Hàng trăm năm về trước mỗi lần lùa gia súc qua đỉnh đèo này là mỗi lần người Ba Na sợ hãi, lo nghĩ đến mất ăn mất ngủ. Họ thường chỉ biết giết trâu mổ lợn, rồi ra sức tế bái cầu khẩn thần linh xin trợ giúp cho qua ngọn đèo được bình yên. Còn không, nếu không may gặp hôm tiết trời đột nhiên giở mặt, nổi gió lớn phát ra âm thanh kinh sợ ấy thì quả là tai họa! Đàn gia súc của họ, dù kìm giữ kiểu gì cũng sợ hãi như phát điên. Chúng lồng lên như bị ma vồ quỉ đuổi. Trên đỉnh đèo hẹp cả trăm con trâu, ngựa, dê... Chà đạp lên nhau, húc tung mọi thứ chen lấn lao đầu chạy xuống núi. Kết quả thật là thê thảm! Hàng trăm con gia súc lao mình xuống vực đá nát xác, phơi khắp chân núi; hàng trăm con khác chạy lạc tứ tán, chui vào các hẻm khe làm mồi cho hổ, báo. Những lần như thế đều là thảm họa với tộc người Ba Na. Tổn thất mất mát quá nặng nề, họ gần như mất trắng cả một năm chăn thả, nuôi dắt mà chẳng được gì.
    Tuy chẳng muốn phải đem công sức của cả năm chăn dắt ra chơi trò sấp ngửa đầy may rủi với trời xanh, nhưng hẻm núi ấy là con đường độc đạo duy nhất, dẫn tới những đồng cỏ mênh mông phía Tây, nơi mới đủ thức ăn cả vài tháng cho đàn gia súc của họ, nên dù cực chẳng đã họ cũng chẳng còn sự lựa chọn nào khác.
    Ban đầu đã có người táo bạo đề xuất, trộn đất nhão với rơm rạ mang lên đỉnh đèo và bịt bớt những miệng lỗ trên vách đá lại, để chúng không thể phát ra những âm thanh quái quái kia nữa. Nhưng rồi khi bắt tay vào thực hiện, họ mới nhận ra rằng việc đó là bất khả thi, vì những cái khe rỗng nằm sâu trong vách đá ấy không chỉ thông từ mặt này, mà chúng còn ăn thông đón gió từ mặt bên kia thổi lên đỉnh vách, nơi nếu muốn bịt họ phải trèo qua đỉnh núi rồi treo mình thả người lơ lửng trên những vách đá dựng đứng, chơi vơi giữa tầng mây trắng mé bên kia, mà chèn bùn đất vào tất cả các lỗ đá. Đó là một công việc không ai đủ can đảm đảm đương. Vả lại bùn đất không phải thứ chịu được lâu dài, chỉ được một mùa là mưa gió sẽ xối sạch hết, chẳng ăn thua.
    Sau cả vài ba thế hệ trăn trở tìm đủ mọi phương kế để ngăn ngừa những mùa chăn thả cực khổ khỏi mất trắng, cuối cùng họ đã nghĩ ra được một cách. Đó là làm cho lũ gia súc nhất thời điếc đặc, tùy theo ý muốn. Chẳng biết bằng cách nào họ đã chế ra được một bài thuốc, chỉ cần dùng một vài loại lá trộn với nhau, rồi cho đàn gia súc ăn vài giờ trước lúc vượt đèo.
    Chính mắt ta đã được chứng kiến họ cho chúng ăn những thứ lá ấy. Thật kỳ lạ! sau khi ăn thứ bột sền sệt dẻo như cám ấy, lũ gia súc trở lên hoàn toàn điếc đặc, chúng điếc như bị đổ đầy bùn vào tai vậy! Không còn nghe thấy bất cứ tiếng động, âm thanh gì, với chúng tất cả đều trở lên câm lặng.
    Sau khi cho chúng ăn xong chừng nửa giờ, việc lùa chúng vượt qua đỉnh thật dễ chẳng khác gì đi trên sườn đồi. Cả đàn hàng ngàn con cứ điềm nhiên, đủng đỉnh bám đuôi nhau ngoan ngoãn lên rồi xuống đèo, chẳng hề giật mình đến nửa cái! Công việc trở lên hết sức nhàn hạ, cho dù vách đá trên đầu vẫn gào lên những tiếng rú ồ! ồ! như quỉ rống. Những âm thanh đó quả thật nghe rất đáng sợ, cho bất cứ ai lần đầu đi qua đỉnh Thét Gào.
    Ngay khi đàn gia súc đã an toàn xuống núi, họ lập tức hạ trại cho chúng nghỉ ngơi, không đi thêm quãng nào nữa, cho dù lúc đó là ngày hay nửa đêm.
    Họ tiến hành giải thuốc ngay cho chúng.
    Ta cũng không hiểu vì sao phải làm thế? ngày đó ta không hỏi nguyên do, vì thực sự không bao giờ nghĩ mình lại phải sử dụng đến bài thuốc kỳ lạ đó! Nó đâu phải một bài thuốc chữa bệnh? Trên đời có ai tự dưng lại muốn mình bị điếc đặc kia chứ? Nhưng vì tò mò, ta vẫn thầm ghi nhớ tất cả. Chỉ biết, họ giải thích rằng, điều đó rất hệ trọng.
    Vừa xuống núi là họ hối hả, mỗi người mỗi việc chứng tỏ nó cần kíp thế nào. Kẻ dựng lều, người bắc bếp, lần này họ không cho chúng ăn mà pha vào nước một thứ thuốc đã chuẩn bị sẵn cho chúng uống bằng nước ấm. Đặc biệt, ngoài ra họ còn dùng một loại rễ cây lạ giã nhuyễn, trộn cùng nhựa Xúa thành một chất sền sệt quệt lên vành tai lũ gia súc bằng những cành Chầu Vầu tươi đập dập đầu.
    Sau này nhiều lần thử đi thử lại, ta mới biết: hóa ra bí quyết của thứ thuốc giải kia chính là thứ nhựa cây Chầu Vầu đập dập ấy! Khi quyện với loài rễ cây kia, nó mới tạo ra tác dụng hóa giải thứ thuốc lá đám gia súc đã uống. Còn thứ nước ấm chỉ để giải khát và giúp lũ gia súc khỏi hoảng sợ khi thứ thuốc kia tan mà thôi.
    Với bài thuốc bí mật ấy, người Ba Na tự tin tuyên bố rằng: "Có thể lùa những con gia súc bướng bỉnh nhất qua đỉnh Thét Gào, cho dù giữa giông bão!" Nhưng khi đã tận mắt chứng kiến, ta tin họ không hề nói quá. Thứ thuốc ấy quả thật vô cùng hiệu nghiệm!
    Im lặng một lát rồi cụ tiếp, giọng trầm xuống:
    - Dù nhớ được các loại cây cỏ trong bài thuốc đó, nhưng để dùng trên người thì không hề đơn giản. Nó rất khác. Ta đã phải thử thay đổi nhiều cách, nhiều lần. Đến nay tuy có đạt chút kết quả, nhưng quả thực vẫn chưa dám tự tiện dùng, vì chưa biết nó có công hiệu như ý muốn hay không?
    - Thưa cụ! - Nãy giờ vẫn ngồi im lắng nghe, đột nhiên Xít lên tiếng - Chuyến đi này của chúng cháu vốn dĩ đã đầy nguy hiểm, rủi ro rồi! Xin cụ cứ cho chúng cháu đem ra dùng thử.
    Nghe Xít nói vậy Đan cũng đồng thanh:
    - Đúng vậy! Cụ cứ cho chúng cháu dùng thử. Trâu, ngựa dùng chả chết, thì dễ gì vật được bọn cháu? - Rồi nó hạ giọng - Nếu có thứ thuốc ấy, may ra chúng cháu còn rộng cơ hội trở về. Bằng không, biết đâu chẳng còn cơ hội nào lần nữa để mà thử?
    - Thưa cụ, cháu thấy Đan nói có lý! - Xít nói - Nếu ta cứ cẩn trọng quá, biết đến bao giờ mới diệt được nó? Không lẽ cứ ngồi khoanh tay để nó hoành hành, bắt người mãi?
    Xít chưa dứt lời Đan đã tiếp:
    - Mong cụ tha lỗi! Chúng cháu không có ý gì! Nhưng chúng cháu đã quyết. Dù có xin được thứ thuốc ấy hay không, ngày kia chúng cháu cũng sẽ lên đường. Và xin cụ giữ giùm một điều, chớ tiết lộ cho ai trước khi bọn cháu lên đường, dù có là trưởng bản hay cha cháu!
    Chờ hai đứa nói xong. Lặng lẽ kéo một hơi thuốc dài, cụ Sóc lắc đầu khẽ thở dài, nói:
    - Hai đứa vừa đặt cả ngọn Tà Phìng lên vai ta đó! Nó là những việc quá nặng nề. Ta biết không thể cản hai đứa bay! Nhưng ta sẽ phải ăn nói thế nào với mọi người, với trưởng bản đây?
    - Chúng cháu biết đã làm khó cụ, nhưng... - Xít ấp úng.
    Cụ Sóc trầm tư vẻ nghĩ ngợi một lúc khá lâu. Sau đó cụ hít một hơi thật sâu, rồi chậm dãi nói, nhưng giọng cả quyết:
    - Ta sẽ giữ kín chuyện này cho đến khi hai đứa rời bản! Ngày mai qua đây ta sẽ đưa thuốc, và chỉ cho cách sử dụng. Mọi việc ở nhà cứ để ta lo! Quả là việc này không quyết làm, rồi sau này tất sẽ hối hận!
    Đan và Xít nhìn nhau thở phào. Ngồi thêm một lát rồi hai đứa đứng dậy từ biệt cụ ra về, lo chuẩn bị cho chuyến đi trọng đại.
     
    Chỉnh sửa cuối: 22/4/19
  5. Phung QA

    Phung QA Gà con Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    10
    Được thích:
    2
    Đã thích:
    1
    GSP:
    Ap
    Chương 4: Đại Ngàn


    Như thường lệ, vào buổi sáng, lúc mặt trời đã lên cao, bản Tơ Gúc nhỏ bé rất yên tĩnh, thanh vắng. Phần đông mọi người đã đi rừng hoặc lên nương rẫy cả, ở trong bản chỉ còn đa phần là người già cả và lũ trẻ con đang uể oải chơi những trò cũ rích dưới mái hiên.
    Việc con sói sau gần mười năm biệt tích, vừa mới trở lại xông vào bản cướp người, tuy gây khiếp sợ, chấn động khắp bản. Nhưng cuộc sống vốn dĩ vẫn cứ tiếp diễn, đâu có dừng lại chỉ vì việc con sói xuất hiện? Nên người ta vẫn cứ phải ăn, vẫn cứ phải sống; vẫn phải đi rừng, đi rẫy để kiếm cái đút vào bụng. Một việc chẳng thể đặng đừng! Hơn nữa, từ trước tới giờ người ta vẫn tin vào một phần của những lời đồn, rằng: con Sói Hai Đầu không bao giờ xuất hiện trước khi hoàng hôn buông xuống. Vì cứ theo như lời đồn đại, con Sói Hai Đầu này vẫn chưa hẳn thành tinh, nó vẫn còn đang tu luyện! Mà muốn tu luyện thành sói tinh, thì cũng như tất cả các loài muốn tu luyện thành tinh khác, nó bắt buộc phải giữ gìn một giới luật vô cùng nghiêm ngặt, đó là: không bao giờ được bắt người khi ánh dương vẫn còn tỏa sáng trên dương gian. Bởi tất cả những loài thú muốn thành tinh đều đang tu luyện để tự biến đổi linh hồn mình thành ma quỉ, linh hồn chúng đều mang sự lạnh lẽo, âm u của cõi chết. Nên khi đó, nếu lấy mạng bất cứ ai, linh hồn đang mang dương khí của nạn nhân sẽ phá hỏng tất cả tà khí yêu ma mà chúng tu luyện tích tụ được trong cơ thể. Vì vậy, với thời gian kỳ công khổ luyện hàng trăm năm như thế, họ tin không đời nào con sói dám tấn công người khi mặt trời vẫn còn tỏa sáng trên đầu. Và quả thật, hàng trăm năm nay người ta chưa từng thấy nó xuất hiện giữa ban ngày bao giờ. Thế nên mọi người vẫn cứ bạo gan lên rừng, đi nương. Chỉ có điều họ đi thành từng nhóm đông hơn, và cũng trở về bản sớm hơn thường lệ.
    Xít bước xuống cầu thang, túi đồ đi rừng khoác sẵn trên vai, nó đã bỏ trọn cả ngày để chọn lựa sao cho chiếc túi gọn nhẹ, nhưng vẫn đầy đủ những đồ thiết yếu nhất. Quần áo nai nịt gọn gàng, nó dảo bước về phía nhà Đan. Cách nhà Đan khoảng dăm chục bước, nó đưa tay lên miệng huýt khẽ một tiếng. Từ sau cửa Đan lập tức xuất hiện, khoát tay ra hiệu cho nó lên nhà. Bữa nay không biết có việc gì mà cái lò rèn bên dưới nhà của chú Uni vẫn ngủ im lìm, chú cũng không có ở đó. Bước lên nhà Xít thấy Đan cũng đã nai nịt đâu ra đấy, đang lúi húi nhét nốt cái ống bùi nhùi lửa vào túi. Xong xuôi hai đứa khẽ nhìn nhau gật đầu, chúng khoác túi, xách lao bước ra cửa. Đan hé cửa đưa mắt quan sát bên ngoài. Đường làng vắng vẻ không một bóng người, trời đang nắng chang chang. Đan khẽ quay lại gật đầu, hai đứa nối nhau bước ra. Chúng đi cắt chéo qua con đường mòn cuối bản, rồi luồn qua những bụi dứa dại bên hông nhà chú Rơn póc, người đàn ông có bàn tay sáu ngón và có tài thổi kèn lá rất hay, vẫn thường làm thằng Đan mê tít. Rồi chúng tiếp tục rẽ trái vượt qua khu vườn bỏ hoang đầy cỏ dại và nếp nhà cũ kỹ xiêu vẹo vì đã lâu không có người chăm sóc của bà K're, cái bà già khó tính, lắm lời nhất bản - hễ trong chuồng gà nhà bà ấy chỉ mất vài quả trứng thôi, thì bà ấy phải cay ca, nguyền rủa đứa láo toét nào dám động vào mấy quả trứng đó cho đến khi mấy quả trứng ấy phải sinh sôi được ra cả một bầy gà mới thôi. Cũng bởi cái bệnh lắm lời của bà mà nhiều khi xóm làng cũng bị vạ lây, rát hết cả tai. Vì mấy đứa nhãi con tinh nghịch, tai quái trong bản thường rất khoái trêu chọc bà. Chẳng để làm gì, chúng chỉ trêu tức để được nghe tiếng bà chửi ra rả cả ngày cho đỡ buồn chán thôi! Chúng chả phải làm gì, cứ ngồi trên mấy cành cây duối, thỉnh thoảng lại hát lên mấy câu xa xôi bóng gió chẳng biết ai dạy, thế là được nghe bà chửi từ chưa đến tối, tha hồ nghe.
    Từ đây chúng men theo con suối rồi băng qua khu đồi nhỏ phía tây, ước chừng chỉ nửa giờ sau là ra tới bìa rừng. Con đường này tuy hơi vòng, mất thêm chút thời gian, nhưng sẽ tránh được ánh mắt của mấy người đang làm rẫy trong bản ở mé sườn đồi bên kia. Chúng chẳng muốn ai biết sớm về chuyến đi này, vì nếu biết, chúng biết thế nào cũng sẽ bị ngăn cản quyết liệt. Suy cho cùng thì cũng phải thôi, chẳng ai tin hai thằng thiếu niên choai choai như chúng, dù có khỏe tới mức nào, có thể hạ được con quái thú đó, nhất là khi nơi đó là rừng U Linh, nơi lãnh địa sào huyệt của nó. Đúng là chỉ có sự liều lĩnh, bồng bột, ngông cuồng của cái tuổi ngựa non háu đá như chúng, mới cho chúng cái can đảm đó. Vả lại chúng chẳng muốn công khai tạo ra một tiền lệ xấu, về việc trái ý bất tuân lời trưởng bản. Thôi cứ lẳng lặng thế này mà đi tiện cả đôi đường.
    Chẳng bao lâu hai đứa đã đến bìa rừng, lẩn vào dưới những tán lá rậm rì của rừng già. Từ đây chúng có thể đi đứng thoải mái, không còn cần phải ngó ngiêng nhìn trước nhìn sau gì nữa. Hai đứa mải miết đi. Con đường này trước kia chúng đã lén bạo gan đi vào hai ba lần nên quen rồi, chả còn lạ lẫm gì! Hơn nữa chúng muốn đến chân dãy Kỳ Giông càng sớm càng tốt, vì ở chân núi có một bãi đá trống khá rộng, không có cây cối. Đó sẽ là chỗ nghỉ đêm tốt nhất, mà không lo bị tấn công bất ngờ.
    Đi miết một hồi, Đan chợt hỏi, phá tan bầu im lặng:
    - Cậu tính khi nào ta sẽ dùng thứ thuốc của cụ Sóc đưa?
    - Tớ cũng không biết nữa! Cậu nghĩ sao?
    - Tớ hỏi vậy thôi! Cậu thừa biết chuyện tính toán dự liệu những việc như thế tớ đâu có giỏi?
    - Ừm! Mấy hôm nay tớ cũng đã nghĩ tới việc đó! Nhưng cũng chưa nghĩ ra được khi nào thì nên dùng... Cái này phải tùy theo tình hình mới tính được, ta cứ tùy cơ ứng biến thôi. Vì đâu biết trước được tình thế!
    - Tớ chỉ hỏi vậy - Đan nói - để chắc rằng ta chưa phải dùng nó ngay khi đi đường như lúc này. Tớ không thể hình dung nổi nếu ta cứ đi thế này mà chẳng chuyện trò gì!
    - Đó mới là chuyện phải nghĩ. Khi nào dùng là đúng lúc? Không quá sớm nhưng cũng đừng quá muộn - Xít nói - Ta đâu biết khi nào sẽ chạm mặt nó? Nhưng ít nhất theo lời kể của mọi người, ta cũng có thể an tâm chưa cần dùng vào lúc này - giữa ban ngày ban mặt, bên ngoài dãy Kỳ Giông.
    - Vậy ngay ngày mai, sau khi qua rặng Kỳ Giông này, ta sẽ phải phải dùng nó sao? - Đan thốt lên vẻ khổ sở.
    - Tớ e là vậy đấy! - Xít đáp.
    - Ôi trời! - Đan kêu lên - Giá mà đừng phải dán cái thứ thuốc ấy thì chuyến đi này cũng chẳng tệ cho lắm!
    Xít mỉm cười với ý nghĩ vô tư của Đan. Quả thật so với nó, Đan có tâm tính hồn nhiên vô ưu hơn nhiều. Và nếu cả chuyến đi dài này phải im thin thít như hai tảng thịt muối, thì quả thật đó là một cực hình đối với Đan. Bởi nó là đứa rất thích trò chuyện, giữa hai đứa hiếm khi có khoảng lặng; chúng luôn có rất nhiều thứ để nói, để tranh luận với nhau, liên lu bất tận. Riêng Đan, nếu không nói thì nhất định trong miệng nó phải đang lẩm nhẩm một bài hát gì đó, hiếm khi nó để cái miệng mình ở không. Vậy nên việc bít tai lại không nói, không nghe, Xít có thể cảm thông được nỗi khổ sở của thằng bạn. Mà thực ra nghĩ đến việc đó, ngay cả Xít cũng chẳng thấy dễ chịu gì. Nếu cứ phải im thin thít trong cả chuyến đi dài đằng đẵng như thế thì có phát khùng lên cũng chẳng lấy gì làm lạ.
    - Nếu chạm mặt lúc này thì tốt nhất nó nên sợ quả bứa này - Đan tung tung trên tay một trái bứa chín vàng rộm, to như nắm đấm - Quả bứa này mà bay vào họng nó, đảm bảo cả chục ngày nó cũng không ngáp được, chứ đứng nói đến hú với chả hét!
    - Ha ha! - Xít cười - Nhưng làm sao để nó há miệng nhét vào? Hay cậu sẽ dạy nó hát Bài Ca Lúa Mới nhỉ? Hôm cậu hát bài hát ấy ở lễ Đón Nước trong bản, tớ lại nghĩ đến một quả dứa cơ!
    Xít chọc bạn. Nó muốn giữ tinh thần vui vẻ cho cả hai, như mọi lần hai đứa vẫn đi rừng, đi rú cùng nhau. Nó biết chỉ có sự vui vẻ, lạc quan mới giúp chúng giảm bớt gánh nặng và giữ được tinh thần trong chuyến đi dài đầy gian nan thử thách này!
    - Ái dà! Thế mà hôm ấy có đứa nói "Tớ mải chơi trò quăng vòng sắt, có nghe thấy gì đâu!" - Đan dài giọng bóc mẽ - Hôm nay té ra mới biết - Có Thấy Gì Đâu còn biết cổ họng tớ to bằng quả dứa kia đấy!
    - Có, có nghe! Hôm đó tớ có nghe đoạn đầu - Xít đành phải thừa nhận - Nhưng đúng là, sau đó món ném vòng sắt đã kéo tớ đi! Xin lỗi cậu, vì quả thật tiếng vòng sắt ấy nghe êm tai hơn hẳn!
    Chẳng thèm để ý đến lời châm chọc của bạn, Đan chợt ngẫm nghĩ, rồi nói:
    - Cứ như lời đồn đoán thì hang ổ con sói ở đâu đó trong Rừng Chết. Mà nào ai đã từng tới đó, mà biết rõ thế chứ?
    - Vậy nên nó mới chỉ là lời đồn đoán! - Xít nói - Chứ nào đã có ai dám khẳng định đâu? Nhưng tớ nghĩ nó không hẳn không có lý!
    - Không hẳn không có lý? - Đan chau mày hỏi lại - Cậu cũng tin là nó ở đó à?
    - Ừ! chỉ là đoán vậy!
    - Vì sao?
    - Vì tớ nghĩ, như tên gọi, đó là một khu rừng chết chóc, chẳng có chút sinh khí nào! Cậu thử nghĩ xem, giữa rừng già mênh mông, còn chỗ nào thích hợp hơn với một con quái thú sắp thành tinh, sống đơn độc như nó, nếu muốn tìm một nơi tu luyện? Cũng có thể nó thường lang bạt đây đó khắp rừng Đại Ngàn này, nhưng tớ tin con thú nào cũng cần một hang ổ, một nơi yên tĩnh để nghỉ ngơi như tất cả những loài khác! Và chẳng nơi nào thích hợp cho nó hơn là Rừng Chết!
    - Dù sao đó cũng chỉ là phỏng đoán của tớ theo những lời đồn đại mà thôi! Không có gì là chắc chắn cả! - Xít tiếp - Nhưng trong chuyến đi này, dấu vết của nó quá mông lung. Nên nếu có một địa điểm cụ thể nào đó dù chưa xác định được, tớ nghĩ vẫn còn hơn là dong duổi vô định, tìm kiếm dấu chân của một con thú đang lang thang nay đây mai đó giữa rừng già mênh mông này!
    Sau khi dừng lại nghỉ ăn trưa bên cạnh một ngọn thác nhỏ hai đứa tiếp tục lên đường. Chúng đã đi được hai phần ba đường, dãy Kỳ Giông giờ đã cao lớn, đen xì lừng lững trước mặt, chỉ còn khoảng 4-5 dặm nữa là tới chân núi.
    Dãy Kỳ Giông là một dãy núi dài cả trăm dặm, kéo từ bắc xuống nam, gồm vô số những ngọn núi cao nhọn hoắt nối liền nhau, nhìn xa tựa một con Kỳ Giông khổng lồ đang giận dữ cong mình, dựng tất cả đám gai lưng tua tủa đâm lên trời đe dọa. Sườn núi đa phần là vách đá cao dựng đứng, chót vót, chẳng có mấy cây cối gì mọc nổi trên đó. Càng tới gần, dãy núi như càng lớn dần lên sừng sững trước mặt: đen đủi và im lìm như một bức tường khổng lồ. Dưới ánh chiều đỏ rực của vầng dương cuối ngày đang lặn dần sang bên kia, bóng tối và hơi lạnh từ vách đá tỏa ra như gửi một lời răn đe âm thầm tới những kẻ nào dám cả gan mom men lại gần nó. Tuy không đẹp, nhưng quả thật dãy Kỳ Giông giống một hàng rào vĩ đại được đặt đúng chỗ, như thể tạo hóa đã có chủ ý đặt nó ở đây để làm vạch phân định, ngăn cách những sinh vật ma quái, bí ẩn sinh ra từ trong truyền thuyết và những lời đồn đại u ám, khủng khiếp về rừng U Linh không thể mò được sang mé bên này. Và ngược lại cũng ngăn cản sự tò mò, dại dột của con người trần tục, nhỏ bé ở bên này không được tiến vào lãnh giới kỳ bí, ghê gớm ẩn chứa nhiều hiểm họa phía bên kia. Rặng núi đem lại cảm giác giống như một người khổng lồ trầm mặc, mang trong mình sứ mệnh trấn giữ đứng đó. Nó vừa đem lại cảm giác xua đuổi, ngăn cản, dọa dẫm bất cứ kẻ nào muốn phá luật bước qua lằn ranh, nhưng cũng vừa đem lại cho người ta cảm giác, được che chắn bảo vệ khỏi những mối đe dọa đáng sợ khủng khiếp từ mé bên kia luôn lăm le rình rập tiến sang, một cảm giác an toàn!
    Rừng U Linh chỉ là một khu rừng lớn nằm đâu đó bên kia của dãy Kỳ Giông, bị bao bọc bởi rừng Đại Ngàn mênh mông xung quanh, nhưng sự đáng sợ về những truyền thuyết, những lời đồn kinh dị thì nó vượt xa tất cả những khu rừng ghê rợn khác cộng lại. Nơi này từ xa xưa tới nay đã chẳng mấy người dám đặt chân tới, như lời đồn đại từ nhiều đời nay, đó là nơi cấm kỵ, ẩn chứa nhiều điều ma mị dị thường. Người ta tin: nó là nơi trở về trú ngụ của những âm hồn, ác quỉ mỗi khi ánh dương lan tràn trên mặt đất và chúng lại sẽ bò ra, theo bước cùng bóng tối lan tỏa khắp nơi, khi màn đêm phủ xuống. Vào những đêm mưa gió giông bão, từ khu rừng ấy những đụn mây lớn đen kịt từ dưới đất đùn lên che kín cả một góc trời. Những tia sét dài ngoằng đỏ như máu chớp nhoang nhoáng, soi rọi những đám mây hình thù cổ quái, tựa những con quỉ đang nhe nanh múa vuốt từ dưới âm ty trồi lên. Những vạch sáng kỳ lạ, những tiếng hú gào ầm ì theo mưa gió vọng về nghe rất ghê rợn. Rồi còn hàng trăm câu chuyện kỳ dị, ghê sợ khác mà người ta vẫn thường truyền tai nhau kể trong những đêm đông giá rét, khiến ngay cả những người bạo gan nhất cũng không khỏi rùng mình.
    Đan và Xít mải miết đi, cho tới khi mảnh trăng non đầu tháng lúc xế chiều còn lờ mờ, len lỏi qua những kẽ lá lẵng nhẵng bám theo sau lưng, giờ đã sáng rực, cong vút, sắc nét như một ngọn cỏ xước mỏng manh nằm chênh chếch trên đầu. Hai đứa đã tiến gần đến chân dãy Kỳ Giông.
    Ở đây, bất ngờ rừng cây có vẻ rậm rạp hơn, nên chúng cũng không thể đi nhanh được như trước, vả lại trời cũng đã ngả màu phớt xám. Dù gì chúng cũng phải dò xét cẩn thận, đề phòng một cú tấn công bất ngờ vào lúc chạng vạng này. Khi bóng chiều tối chuẩn bị sập xuống thì may sao cũng là lúc hai đứa thoát ra khỏi rừng rậm phía sau, bước vào bãi đá trống nằm sát chân núi.
    Trước mặt chúng đỉnh Mõm Ngựa hiện ra, đó là nơi thấp nhất và cũng là nơi duy nhất có thể vượt qua trên dãy Kỳ Giông này. Đây cũng chính là nơi lần đầu tiên người ta nhìn thấy con Sói Hai Đầu ngồi tru lên vào một đêm trăng tròn.
    Xít và Đan tiến sát về phía chân núi, chỗ này trống trải, mặt đất toàn đá sỏi, bìa rừng lùi xa cả trăm sải tay, rất dễ quan sát và phát hiện ra bất cứ thứ gì tiến tới từ rừng già ra hay từ trên núi xuống, một địa hình tốt để phòng thủ. Ngoài ra ở đây còn có những hốc đá lớn, do những tảng đá từ trên núi lăn xuống đè chồng lên nhau tạo thành; có thể làm chỗ nghỉ qua đêm khá an toàn, vừa tránh được gió vừa tránh được dã thú tấn công vào ban đêm. Tuy nhiên nằm dưới những tảng đá này sẽ khá lạnh, nhưng may giờ đang là mùa hè nên cũng không đáng ngại cho lắm! Vả lại lúc này, một chỗ ngủ an toàn mới là điều kiện chọn lựa tiên quyết của hai đứa.
    Hai đứa mau chóng tranh thủ chút ánh sáng lờ nhờ cuối ngày, tìm một cái hốc vừa đủ hai đứa nằm và kiếm một ôm củi khô kha khá để đốt lửa. Sau khi dọn dẹp qua loa cái hốc và gầy một đống lửa ngay trước miệng, hai đứa lấy một phần thức ăn từ chỗ lương thực khá nhiều mang theo ra làm bữa tối. Chúng chỉ bày ra một bữa ăn khá khiêm tốn. Vì chẳng đoán định trước được chuyến đi này sẽ kéo dài bao lâu, nên chúng chuẩn bị khá nhiều lương thực, thực phẩm. Có đến quá nửa hai cái túi căng phồng, ngoài những đồ lặt vặt, linh tinh thiết yếu còn lại toàn là lương thực. Nào là đôi tượng gạo, mấy bòng bột ngô sấy, ít muối tiêu... Rồi thì hơn chục rẻo thịt trâu khô to hơn bàn tay, cá, thịt lợn muối chua với lá Ngán gói trong những ống tre...v..v.. Tuy vậy, dù cố mang, cố nhồi nhét, chỗ thực phẩm đó cũng chỉ đủ cho độ hai chục ngày là cùng. Vì vậy ngoài cố gắng tiết kiệm ăn dè sẻn, chúng tính sẽ phải vừa đi vừa kiếm thêm thức ăn để bù lại vào lượng dự trữ mang theo, thêm từng nào hay từng ấy. Việc dựa vào núi rừng để kiếm cái ăn đối với chúng không khó, nhưng trước hết nó sẽ làm mất thời gian và ảnh hưởng tới sự tập trung cho việc truy lùng dấu vết con Sói.
    Sau bữa ăn chúng ngồi nhấm nháp mấy ngụm nước lá Khén, thứ nước uống ưa thích của người Tơ Gúc, có vị chan chát nhưng đọng lại nơi cổ họng rất lâu một vị ngọt thanh sau khi uống. Ngồi một lát Xít bảo Đan:
    - Cậu đi ngủ trước đi! Tớ sẽ canh chừng phiên đầu!
    Không nói gì, Đan khẽ gật đầu rồi ngả người gối đầu lên chiếc túi vải đánh ngay một giấc, trước khi ngủ nó không quên ôm cây lao vào lòng, chẳng bao lâu sau đã nghe nó cất tiếng thở đều đều.
    Còn lại một mình, Xít ngồi tựa người vào vách đá, cây lao đặt ngang bụng, lặng ngắm nhìn mông lung vào đêm tối. Trời mùa hè nhưng về đêm không khí nơi chân núi mát lạnh, đầu óc Xít cũng tỉnh như sáo, giá lúc này Đan có thức bảo nó ngủ nó cũng chẳng thể nào ngủ nổi. Đống lửa cháy rí rách giữa không gian mênh mông của núi rừng kỳ vĩ, thăm thẳm trông nhỏ bé như một đốm lửa nhỏ xíu, mong manh. Rừng đêm xao động, khẽ phập phồng hơi thở rì rào, thỉnh thoảng nó lại rung lên ào ào như có những bước chân khổng lồ vừa vụt băng ngang qua trong đêm tối. Vài đôi mắt thú ăn đêm bạo dạn xanh lè, lấp ló phía sau mấy gốc cây cổ thụ xa xa, tò mò nhìn vào đống lửa rồi nhanh chóng lẩn mất. Tiếng mấy con cú từ vách đá lao vào rừng bắt đầu một đêm săn mồi ré lên oang oác, cũng chẳng đủ để khuấy đảo, xua tan cái không khí tĩnh mịch, âm trầm của rừng đêm thăm thẳm.
    Xít miên man ngắm cái bìa rừng đen thẫm trước mặt, sau nó dù không trông thấy, nhưng xa xa về phía Đông kia sẽ là bản làng Tơ Gúc nhỏ bé thân yêu. Giờ này chắc mọi người đang xôn xao, náo loạn đi tìm hai đứa nó. Chỉ tội cho dì A mui, bé Dơ lin và cha mẹ Đan, chắc lúc này họ đang lo lắng và khóc hết nước mắt cho hai đứa! Rồi mai ngày kia, cụ Sóc sẽ cho họ biết tin thôi! Rồi mọi người sẽ ổn thôi! - Xít tự an ủi. Khi cái tin hai đứa tự ý vào rừng săn sói lan ra khắp bản, trưởng bản Y tí hẳn sẽ giận lắm! Nhưng chắc chắn, giận và lo nhất là vợ chồng chú U ni...
    Đan là đứa con trai lớn và duy nhất của vợ chồng chú, chẳng bao lâu nữa nó sẽ là người phải tiếp nhận và cai quản cái lò rèn, cái lò rèn duy nhất trong bản và là cái bao năm nay đã nuôi sống gia đình bốn năm miệng ăn nhà chú. Thế mà giờ nó đang đưa Đan vào một chuyến đi thập phần nguy hiểm! Bản Tơ Gúc có thể không có Xít, nhưng thiếu Đan thì quả thực là không được! Cái bễ rèn của nhà chú Uni là cái duy nhất giúp cả bản có mọi thứ vật dụng cần thiết hàng ngày để sinh sống; từ cái cào cái cuốc làm rẫy, đến con dao, cây phóng lên rừng săn con nai, con hoẵng... Giờ không có nó khác gì chặt tay chặt chân cả làng? Mấy bữa nay nung nấu quyết tâm đi săn Xít đâu còn đầu óc để nghĩ được xa xôi đến vậy, giờ bình tâm lại nó mới thấy điều mình làm thật có nhiều điều nông cạn, hấp tấp. Tuy việc săn lùng và diệt Sói Hai Đầu là trách nhiệm chung của tất cả mọi người trong bản, và Đan cũng nhiệt tình ủng hộ, khởi xướng chuyến đi này, nhưng dù sao nó vẫn thấy trong lòng thật áy náy. Nó chợt nhớ tới Dơ Lin, không biết giờ này con bé đã đoán ra sự vắng mặt của nó chưa? Chắc nó đang? Tuy còn nhỏ, nhưng con bé đã tỏ ra rất tinh ý và nhạy cảm, khó giấu được nó cái gì. Chỉ mong là dì A Mui có thể nghĩ ra một lý do tạm thời nào đó để xoa dịu nó! Nghĩ đến đứa em gái nhỏ bé, thơ dại; chút máu mủ duy nhất còn lại trên đời... nó chợt thần người ra. Nếu không may chuyến đi này... nó chẳng thể trở về... Thì ôi! Đứa em bé nhỏ ấy, sẽ biết trông cậy vào ai? Bé bỏng, yếu đuối chẳng một người thân, bơ vơ giữ cuộc đời nghiệt ngã này, làm sao Dơ Lin sống nổi? Xít nhắm nghiền mắt lại, cố gắng dập tắt những hình ảnh đáng sợ ấy chờn vờn hiện lên trong đầu. Nó khẽ cắn chặt hai hàm răng vào nhau, một lời tự hứa mãnh liệt trỗi lên trong lòng: "Nhất định mình phải trở về! Bằng mọi giá phải trở về! Không thể để Dơ lin một mình bơ vơ trên cõi đời này!" Rồi nó lặng nghĩ: "Ôi! Giá như còn mẹ, có mẹ lúc này, thì anh em nó sẽ hạnh phúc, sung sướng biết bao?" Ý nghĩ miên man của nó lại chợt nhớ về người mẹ thân yêu. Cũng như trăm ngàn lần khác, mọi suy tư trong đầu nó, dù có rong ruổi đâu đâu, rồi chẳng hiểu sao, cuối cùng cũng dẫn về mẹ, không thể hiểu được, đôi khi chính nó cũng chẳng thể giải thích nổi. Nó luôn có một linh tính, một niềm tin mãnh liệt, rằng ở đâu đó mẹ nó vẫn còn sống, trên thế gian này. Dù có thể là một nơi nào đó rất xa, chân trời góc biển hay tận cùng của thế gian, nó cũng không biết? Nhưng nó vẫn một mực tin vào điều đó, và nó luôn tự nhủ với chính mình: "Rồi sẽ có một ngày, nó sẽ đi tìm mẹ! Nó sẽ quyết tìm cho bằng được! Dù có phải vượt qua rừng đao biển lửa, dù có phải đi suốt năm tháng dòng dã!" Ý nghĩ này luôn âm thầm, nung nấu trong trái tim cháy bỏng, khát khao được ra đi của nó. Như một ngọn lửa âm ỉ, mỗi khi có dịp lại bùng lên mạnh mẽ. Nó phải tìm mẹ về vì một điều giản đơn: nó tin mẹ nó còn sống, và ở một nơi nào đó, mẹ nó cũng đang vẫn ngày đêm thương nhớ về những đứa con côi cút của mình!
    Dù đã mười năm đằng đẵng, cái hình ảnh ngày ấy, mẹ nó giãy giụa tuyệt vọng trong những chiếc móng sắc, chơi vơi giữa lưng trời, xa hút dần nơi đầu núi, cứ khoét sâu vào tâm khảm nó từng đêm từng đêm. Và không hiểu sao mỗi khi nhớ lại hình ảnh đau đớn ấy, niềm tin của nó lại như được tăng thêm sức mạnh, lại được xác quyết thêm một lần nữa, mạnh mẽ hơn vững vàng hơn.
    Không thể chia sẻ, không thể nói cùng ai, nhưng nó tin vào điều đó cũng chắc chắn như nhịp đập trái tim mình đang đập trong lồng ngực.
    Nó chẳng thộ lộ điều này với ai ngoài Đan và cụ Sóc, vì nó biết thế nào người ta cũng cười nhạo vào cái niềm tin và cái ý định mà họ cho là vô cùng ngớ ngẩn, khờ khạo ấy! Nếu không, thì nó cũng sẽ phải nghe ra rả cả ngày những lời khuyên bảo, can ngăn đầy thương cảm tội nghiệp. Không! Nó chẳng cần ai tin! Chẳng cần ai ủng hộ hay thương giùm! Dù đã bao năm tháng qua, niềm tin của nó dù chỉ âm thầm và đơn độc, nhưng vẫn âm ỉ bền bỉ, chưa bao giờ nguôi. Bất luận thế nào, nó tự hiểu, bằng mọi giá phải giữ được niềm tin vào chính bản thân, phải tin vào những linh cảm thiêng liêng truyền đến từ máu thịt.
    Chẳng biết đã bao lâu, chợt Đan dụi mắt ngồi dậy nói giọng còn chưa tỉnh hẳn:
    - Quá nửa đêm rồi! Sao cậu không gọi tớ dậy? Cậu đi ngủ đi!
    Xít vẫn chưa thật buồn ngủ, những ý nghĩ vừa rồi vẫn đang xoáy sâu trong đầu nó. Nhưng chiều theo ý Đan, nó ngả đầu lên chiếc túi nằm nhắm mắt nghĩ miên man. Rồi nó cũng thiếp đi chầm chậm, khi bên tai còn nghe văng vẳng tiếng Đan khẽ lầu bầu điều gì đó.
    Đan tư lự ngồi bó gối nhìn những ánh lửa gần về sáng lười nhác, uể oải cháy lờn vờn trước mặt. Nó chưa tỉnh ngủ hẳn nhưng những cơn gió núi se se lạnh sẽ sớm giúp nó tỉnh táo thôi. Nó vươn vai, thấy trong người thật sảng khoái.
    Bầu trời mờ tối, ánh trăng mỏng như lưỡi liềm thỉnh thoảng lại chui ra khỏi những đám mây, tranh thủ khoe vội vóc dáng mảnh mai của mình trước khi bị nhấn chìm vào những đám mây cuồn cuộn khác. Gió từ phía rừng đại ngàn trườn qua mấy vách đá cao rồi cuộn mình tràn qua đỉnh Mõm Ngựa phát ra tiếng vi vu nhè nhẹ như ru ngủ.
    Từ lưng chừng vách đá, lừ lừ hiện ra bốn hòn than đỏ rực. Chúng bất động, nhìn chằm chằm vào đống lửa dưới chân núi một lúc, rồi lát sau lặng lẽ biến vào vùng tối âm trầm của vách đá.
    Sáng sớm, khung cảnh nơi chân núi thật tịnh mịch, ngay cả tiếng chim rừng ríu rít dường như cũng thưa vắng hẳn và thật xa cách nơi này. Xít dậy khi Đam đang vục nước rửa mặt ở một cái vũng nhỏ gần đó. Ánh hồng của một ngày mới đã hé dạng phía sau rừng già. Hai đứa khơi lại đống lửa hâm nóng chút đồ ăn cho bữa sáng, một bữa sáng kha khá đủ cho cái dạ dày tới tận tối vì buổi trưa chúng sẽ chỉ ăn lót dạ qua loa để khỏi mất nhiều thời gian dừng nghỉ. Sau khi ăn sáng xong, nghỉ ngơi một lát cho xuôi bụng hai đứa khoác túi, giắt dao lên lưng bắt đầu hành trình vượt đỉnh Mõm Ngựa.
    Sườn núi khá dốc và lô nhô, đầy những mũi đá bị nước mưa bào mòn quanh năm nên sắc như lưỡi kiếm. Hầu như chẳng mấy người từng qua đây nên chẳng có sẵn con đường nào cả. Hai đứa phải đi quanh co, vừa đi vừa tự tìm một lối lên khả dĩ nhất.
    Leo nhích dần, nhích dần từng chút một, mất khá lâu hai đứa mới leo lên được một đoạn ngắn. Nhiều chỗ đá chồng lên dựng đứng, cao cả hai ba sải tay, bịt cùng lối đi, vách đá phẳng lỳ chẳng có chỗ bám víu, Xít phải dùng vai Đan làm điểm tựa để leo lên, rồi từ trên cao đưa cán lao xuống giúp Đan bám vào leo lên. Những lúc đó thật thập phần nguy hiểm. Bởi nếu có bất cứ sự tấn công nào chúng cũng chỉ đành bó tay chịu chết, khi mà cả bốn cánh tay đều dồn vào tập trung kéo lên, còn toàn thân thì hoàn toàn nằm phơi ra, mấp mé sát mép đá. Chúng phải leo cực kỳ thận trọng, dò xét từng bước chân bởi đi trên vách đá như ngàn mũi gươm chổng ngược lên chờ chực thế này, mỗi bước chân không đủ cứng hoặc đặt sai chỗ đều phải trả giá bằng cả tính mạng.
    May sao rồi cũng qua, suốt hành trình chúng không gặp biến cố gì và cũng không để sảy ra sơ suất nào. Mất hết gần nửa buổi sáng hai đứa mới kéo nhau lên tới đỉnh Mõm Ngựa.
    Đỉnh Mõm Ngựa vươn lên như đứng giữa trời và đất, nơi đây gió ngàn lồng lộng mặc sức vi vút, ánh mặt trời rạng rỡ quang chiếu, sưởi ấm cho cả dãy núi uốn lượn trùng điệp. Xa xa những đỉnh núi sáng lên lấp lánh như bịt đồng nối tiếp chồng chồng hùng vĩ giương lên. Đứng giữ mây trời, phóng tầm mắt ra hun hút, Đan và Xít bỗng thấy ngợp thở. Rừng Đại Ngàn dù đã nghe nhiều, dù đã mường tượng nhiều về nó. Nhưng hôm nay đứng trước Đại Ngàn, chúng không khỏi kinh ngạc và choáng ngợp: dưới chân chúng cả một biển xanh ngút ngát đến nôn nao, trải ra tít tắp vô bờ vô tận; lá ken lá tán chen tán, chập trùng nối tiếp như sóng dồn xô đi mãi, kéo dài hun hút tới tận chân trời xám vô định phía Tây. Ôi! Chúng đâu thể tưởng tượng nó lớn và mênh mông đến vậy? Đại Ngàn là đây sao? Thứ chờ đợi chúng là đây sao? Không thể tin được nó lại mênh mông nhường này! Thật choáng ngợp! Không những vậy, nhìn xuống đó chỉ toàn những cây đại thụ khổng lồ. Một biển lá dày đặc vươn lên cao gần gấp đôi cánh rừng già sau lưng, làm sườn đá trước mặt bỗng như thấp hẳn xuống. Bị tán lá che kín, khu rừng chỉ để phô ra một hàng cây ngay sát chân núi, toàn những thân cây khổng lồ màu nâu sẫm to cả năm sáu người ôm, dựng lên thẳng tắp cao vời vợi, nhìn tựa một đoàn người khổng lồ đang đứng đó uy nghiêm trầm mặc, xếp hàng đã chờ đợi cả ngàn năm.
    Đan và Xít đứng lặng một hồi. Sau cùng Đan hít sâu một hơi, lấy lại hơi thở điều hòa, nói:
    - Nào, xuống thôi!
    Xít không trả lời, nó vẫn đứng đó ngây ra nhìn cánh rừng mênh mông thăm thẳm. Nó chẳng sợ hay e ngại gì, nhưng quả thật nó đang rất hụt hẫng. Bởi cái kế hoạch nó vẫn nghĩ sẽ đi trong vòng một tháng hai tháng đang vỡ vụn một cách thê thảm trước thực tế trải ra trước mắt này. Với chiều rộng và dài gần như vô tận này của rừng Đại Ngàn, thì có đến 6 tháng chúng cũng chưa chắc tìm nổi ra manh mối con sói đó! Chứ nói gì tới một, hai tháng! Một, hai tháng ư? Thời gian đó giờ nghe quả là một cái mốc vô cùng nực cười!
    Không thấy Xít nói gì, Đan quay lại nói:
    - Cậu định đứng mãi đây sao? Dẫu có nhìn mãi thì nó vẫn chỉ là một rừng cây thôi. Hay nó làm cái gan cậu teo lại rồi? - Đan trêu chọc.
    Không để ý đến câu nói của Đan, Xít vẫn đứng đó nheo nheo mắt chăm chú quan sát cánh rừng già mênh mông.
    Không hiểu Xít đang làm cái gì? Đan sốt ruột hỏi:
    - Cậu nhìn cái gì vậy? Ta leo lên đây đâu phải để ngắm trời, ngắm đất đâu?
    - Tớ muốn thử tìm cánh Rừng Chết - Không quay lại, mắt vẫn đăm đăm nhìn biển lá trập trùng, Xít đáp - Cậu nghĩ xem, còn nơi nào tốt hơn nơi này để tìm nó chứ? Mà trời hôm nay lại rất trong, dễ quan sát. Chẳng phải lúc nào cũng có dịp ở trên cao thế này để mà tranh thủ tìm!
    Đan gật đầu thừa nhận. Xít, thằng bạn nó là thế: luôn có con mắt nhìn độc đáo, tìm được chỗ hay, cái lợi ích trong mọi hoàn cảnh; nên nó thường chẳng mấy khi chịu buông tay, đầu hàng hoàn cảnh.
    Đan cũng đứng lại đưa tay lên che mắt nheo nheo tìm kiếm.
    - Khu rừng ấy thế nào nhỉ? - Vừa tìm kiếm Đan vừa hỏi.
    - Thì như lời đồn nó là nơi không có muông thú cây cỏ nào sống nổi, hoàn toàn hoang vắng và trơ trụi, tớ cũng chỉ nghe thế thôi!
    - Thôi tớ chịu rồi đấy! Chả thấy gì sất! Toàn lá là lá! - Sau một hồi tìm kiếm Đan buông tay đầu hàng.
    Xít không nói gì, nó vẫn kiên nhẫn nhìn đi nhìn lại, lát sau chợt Xít khẽ kêu lên:
    - Chờ chút! Dường như tớ vừa thấy một cái gì đó - Xít nheo chặt mắt chăm chú nhìn, rồi tiếp - Nhưng nó xa quá và rất mờ, tớ không dám chắc! - Cố nhìn thêm một lát nữa, rồi nó thở dài nói - Hình như chỉ là một vệt màu xám lấp lóa bởi ánh nắng, lúc thấy lúc không... mà chắc cũng không là gì cả!
    Rồi không chờ Đan giục, Xít nói:
    - Thôi ta xuống núi!
    Hai đứa bắt đầu lần mò đi xuống.

    Sườn núi mé bên này đỡ dốc hơn, lại có lợi thế từ trên cao nhìn xuống nên hai đứa dễ dàng tìm được lối đi thuận tiện mà nhàn hạ hơn hẳn phía bên kia. Khi chúng xuống tới chân núi mặt trời mới quá trưa một lúc, khá sớm so với dự tính. Khác với mé bên kia, phía bên này rừng cây cổ thụ tiến sát tận chân dãy Kỳ Giông làm như đang định lăm le bò cả lên núi, chẳng để ra khoảng trống nào.
    Xuống tận nơi, tận mắt nhìn, mới thấy những cây đại thụ của cánh rừng này lớn nhường nào! Những thân cây khổng lồ màu nâu sẫm đồ sộ to đến phát khiếp, cả sáu bảy người ôm chưa chắc đã hết. Chúng xòe những bộ rễ đan chằng chịt như một mảnh lưới rộng hàng chục sải; phủ lên bấu chặt vào đất để làm chỗ dựa cho cái thân khổng lồ vươn lên tít tắp. Chúng hầu như đều cao tới mức: khi ngước nhìn từ dưới lên đỉnh ngọn, người ta dễ dàng lạc lối, quên mất sự liên kết của hai thứ ở hai cái đầu quá cách biệt. Một thứ ngay dưới chân và một thứ phải ngửa đầu ra sau mới thấy được, và có cảm giác cái ngọn xa xăm tít tận trên kia và cái gốc dưới này, là hai thứ của hai vùng đất hoàn toàn tách biệt.
    Tranh thủ còn đang ở ngay chân núi thoáng đãng, hai đứa lấy đồ ra ăn qua loa cho xong bữa trưa, rồi sau đó bước những bước đầu tiên, tiến vào Đại Ngàn.
    Rừng cổ thụ khổng lồ của Đại Ngàn vừa kỳ vĩ vừa âm u, như che giấu, bao phủ một màn bí ẩn phía sau, bỗng kích thích tính phiêu lưu dâng lên trở lại trong lòng hai đứa. Một cảm giác vừa hồi hộp vừa có phần háo hức.
    Chỉ đi chừng hơn trăm bước chân sau đó, rừng già đã nuốt chửng lấy chúng mất hút.
    Tiến sâu vào khu rừng, hai đứa chợt có một cảm giác khác lạ, chưa từng thấy trước đây. Một cảm giác khó tả. Chúng như đang đi vào một khu rừng truyền thuyết, không có thực. Tất cả đều bởi khung cảnh trong khu rừng già này tạo lên. Bị tán lá dày, cao vời vợi bên trên che phủ, cả khu rừng cổ thụ bỗng trở lên lờ mờ tối như khung cảnh trong một buổi chiều chạng vạng. Không thể nhìn xa quá một tầm dao ném. Đây đó từ mặt đất bay lên những làn sương mờ, bảng lảng, vương vất sau những thân đại thụ. Chỉ một vài tia nắng may mắn xuyên qua được tầng lá dày đặc, rắc xuống nền rừng tối thẫm những chấm sáng mờ mờ hư ảo; thỉnh thoảng chúng lại rung nhẹ làm cảm giác như có một hình bóng lẩn khuất nơi này.
    Trong cái ánh sáng nhập nhòa ấy, những thân cây khổng lồ trong rừng lờ mờ hiện ra, biến thành một rừng cột đá xám vĩ đại đang vươn cao hun hút đỡ lấy một mái vòm khổng lồ tối sẫm mênh mông bên trên. Hai đứa chợt thấy mình vừa như bị thu lại nhỏ xíu. Nó đem lại một cảm giác kỳ lạ, như thể chúng vừa bước vào một sảnh đường khổng lồ, mênh mông trên cõi thần giới ở một tầng trời hư vô nào đó. Không chỉ có thế, không gian nơi đây còn vô cùng yên ắng, hầu như không một tiếng động, nó càng đem lại cảm giác cao vời vợi, sâu hun hút, tĩnh mịch của một sảnh đá vô tận trường cửu. Không một tiếng vượn kêu, chim hót nào cả! Một sự yên lặng tuyệt đối.
    Ngay cả tiếng bước chân của chính mình chúng cũng không nghe thấy, bởi dưới chân chúng, nền rừng ngập đầy một lớp lá mục, có lẽ đã tích tụ cả ngàn năm dày tới ngang mắt cá, rất tơi xốp, đỡ lấy từng bước đi chẳng để phát ra một tiếng động nào.
    Đan và Xít khe khẽ đặt chân lên lớp lá mục bước từng bước nhẹ. Nơi này im lặng quá, thốt nhiên làm chúng có phần ngần ngại, chẳng muốn bước chân mình phá vỡ gây lên một sự đánh thức nào đó, dù là gì thì cũng có vẻ không hay chút nào.
    Ban đầu hai đứa còn khẽ khàng bước từng bước, vừa đi vừa dỏng tai nghe ngóng động tĩnh, nhưng rồi đôi mắt chúng nhanh chóng dần quen với thứ ánh sáng nhập nhoạng trong rừng, có thể quan sát xa hơn, điều này cho chúng lấy lại vững tâm đôi chút, và sau một hồi thấy chẳng có gì khác lạ xảy ra, hai đứa bắt đầu mạnh dạn tiến bước nhanh hơn.
    Hóa ra khu rừng không phải luôn như thế, hai đứa đi chừng nửa buổi thì những tầng lá trên đầu càng lúc càng thưa dần, thoáng đãng hơn. Ánh nắng trải đầy, rắc loang lổ trên nền rừng. Đã đủ ánh sáng cho hai đứa nhớ lại mục đích chính mà mình đang có mặt trong khu rừng hoang sơ ngàn đời này: Tìm dấu chân Sói Hai Đầu.
    Ánh mắt từ chú tâm tìm hướng đi, giờ lại tập trung vào lùng kiếm, soi mói những dấu vết trên mặt đất. Chúng cứ vừa đi vừa săm soi tìm kiếm cho tới khi ánh tà dương trĩu xuống, soi bóng những thân cây đại thụ đổ dài thành những vệt đen sẫm chạy song song trên mặt đất. Chẳng ngạc nhiên khi chúng chẳng tìm thấy gì; hôm nay mới chỉ là buổi đầu tiên. Nhưng Đan thì khá ngạc nhiên khi nghe Xít nói:
    - Phải dừng ở đây thôi!
    - Trời còn sáng trắng thế này mà? - Đan ngạc nhiên hỏi.
    - Tớ biết! - Xít nói - Nhưng không biết cậu có để ý không? Đi suốt cả từ trưa đến giờ, giờ tớ mới thấy có chạc cây này đủ thấp để dựng sàn ngủ qua đêm! Hơn nữa mình còn phải dựng sàn ngủ nữa đấy!
    - Nhưng còn khá sớm mà? Hay đêm nay ta cứ đốt lửa ngủ dưới này? Tớ nghĩ có lửa nó chẳng dám tới đâu?
    - Không! - Xít nói - Từ đêm nay, chúng ta không thể mạo hiểm ngủ dưới đất được. Một cái hốc, một đống lửa chẳng ngăn cản được con Sói Hai Đầu đâu. Ngủ dưới này là quá nguy hiểm khi có thể nó đang rình rập quanh đây. Ta đã ở trong lãnh địa của nó rồi! Phải cẩn thận là hơn. Vả lại ngoài Nó, rừng này có thể còn có những loài trăn, rắn không biết chừng! Ta cứ lên cao cho an toàn!
    - Ừ, nếu vậy! Chúng ta sẽ dựng sàn trước! - Đan đồng tình.
    Quả như Xít nói, giữ rừng cây đại thụ cao hun hút thế này, tìm được một cành cây cách mặt đất chỉ chừng ba bốn sải không hề dễ. Đó là chạc của một cây Giáng trắng rất vừa tầm, to gần vòng tay, đâm ra cách mặt đất chừng bốn sải; sau khi chìa ra xa chừng hai ba sải tay nó lại chia ra thành mấy nhánh nhỏ như một bàn tay xòe rộng. Đan và Xít quăng dây leo lên, rồi chặt mấy đoạn cành thẳng ngay ngoài đầu cành giáp lại, dùng dây níu chặt vào ba cái chẽ, tạo thành một tấm sạp khá vững chãi. Dù không được rộng rãi lắm, nhưng thế là quá đủ, quá tốt cho một chỗ ngả lưng qua đêm. Cẩn thận, Đan còn chặt thêm một ít lá dải lên trên nằm cho êm lưng. Phải mất hơn nửa giờ chúng mới làm xong cái sạp. Khá hài lòng hai đứa trèo xuống bắt tay vào nấu nướng.
    Xít đi nhặt củi nhóm lửa, còn Đan chuẩn bị nấu nướng; một sự phân công đã được mặc định từ trước tới giờ, bởi đơn giản là Đan khéo nấu nướng hơn Xít nhiều, và nó luôn biết cái gì ở đâu trong hai chiếc túi kia, chứ không phải lần nào cũng đổ ra một đống rồi lại phải ngồi nhét vào chỉ để tìm mỗi gói muối ớt ngay bên trên như Xít. Đan là một đứa tỉ mỉ chu đáo, từ trước tới giờ nó chẳng bao giờ dám để cho Xít chuẩn bị đồ trước mỗi chuyến đi. Gì chứ! Vào rừng rồi thế nào nó cũng phải nổi khùng lên vì cái tội chẳng thiếu thứ này cũng quên thứ khác của thằng bạn. Thế nên mặc định là nó giành làm hết. Mọi thứ vụn vặt nhưng cần thiết trong sinh hoạt hàng ngày mà Xít chẳng mấy khi nghĩ ra, Đan đều có sẵn trong túi. Mỗi khi cần tới bất cứ cái gì, nó chỉ việc cho tay vào túi chả cần lục lọi lâu la, móc xoẹt ra một cái là có ngay, cứ như có phép thuật vậy. Và tất nhiên, sau đó sẽ là vài câu lẩm rẩm lên lớp về tính chỉn chu, lo xa đáng ghét.
    Mọi thứ đều được nấu bằng một chiếc nồi đồng nhỏ, một thứ rất quí giá trong chuyến đi này mà Đan đã lén lấy từ nhà mang đi. Nó rất hữu ích, nhỏ gọn lại dễ mang.
    Việc nấu nướng, cũng là một sở thích của Đan, cũng như niềm đam mê thổi sáo vậy! Nó có thể ngồi tỉ mẩn xào xào, nấu nấu một cách say sưa, toàn tâm toàn ý. Mỗi khi nấu nướng được một món ngon vừa ý, cũng như vừa thổi được một đoạn sáo ưng cái bụng, cu cậu đưa đũa lên chấm chấm mút mát, rồi gật gù cái đầu ra chiều hài lòng, thỏa mãn lắm!
    Đó là những niềm vui thích của Đan. Mà có lẽ cũng chính những niềm vui nho nhỏ đó đã nuôi nấng, dung dưỡng cho tâm hồn Đan luôn có một sự nhẹ nhàng, thành thơi, lạc quan trong mọi việc; chẳng mấy khi thấy nó u sầu buồn bực. Thế nên, thường việc của Xít sau khi nhóm lửa là ngồi trò chuyện, tán gẫu coi Đan nấu nướng, hoặc đi lấy nước. Luôn là vậy.
    Sau bữa tối ngon miệng, hai đứa leo luôn lên sạp nằm, định bụng sẽ trò chuyện một lát trước khi ngủ, nhưng tiếng Xít vừa cất lên được vài câu thì đã bị tiếng ngáy o o của Đan cắt ngang một cách khá sỗ sàng. Xít thở dài, khẽ mỉm cười ngắm nhìn thằng bạn gáy đều đều, rồi lấy chiếc áo đắp thêm lên ngực Đan.
    Còn một mình, Xít ngửa đầu ngắm ánh trăng mỏng dẹt trôi lờ lững giữa những đám mây xám bạc, chầm chậm bò ngang qua những tán lá thưa vòi vọi trên cao, thứ duy nhất còn mải mê thức giữa cánh rừng cổ xưa im lìm này. Được một lát, Xít cũng trôi mình vào giấc ngủ muộn màng sau một ngày vất vả.
     
    Chỉnh sửa cuối: 9/5/19
  6. Phung QA

    Phung QA Gà con Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    10
    Được thích:
    2
    Đã thích:
    1
    GSP:
    Ap
    Chương5: Cuộc Chiến Bất Ngờ.


    Hành trình ngày hôm sau, rồi ngày thứ ba thứ tư sau nữa của hai đứa cũng vẫn vậy chẳng có gì mới. Khung cảnh khu rừng vẫn thế, chẳng thay đổi gì: vẫn thoáng đãng, vẫn những cây đại thụ cao lớn đứng im lìm... Và vẫn luôn bặt tiếng muông thú.
    Tất cả rồi cũng dần trở lên quen thuộc.
    Còn dấu vết con Sói Hai Đầu cũng chẳng hề có chút manh mối nào, dù cả hai đã căng mắt ra soi xét, lùng sục, rà ngang quét dọc khắp những nơi có thể, nhưng vẫn chẳng tìm được một chút tung tích nào. Cứ như thể nó chưa từng đặt chân qua lối này.
    Đêm đó như mọi bữa. Sau bữa tối, hai đứa khoan khoái duỗi dài chân, ngả lưng trên lớp sàn lá dựng tạm; chúng chuyện trò một hồi về làng bản lúc này theo phỏng đoán của mình, rồi khá muộn mới lăn ra ngủ. Vừa thiếp đi một lúc, Xít chợt giật mình choàng tỉnh, Đan đang khe khẽ lay vai nó, gọi giọng thì thầm:
    - Xít! xít!
    - Cái gì thế? - Xít giật bắn mình, thảnh thốt hỏi.
    - Cậu có thấy gì không? - Đan nhổm người dậy khẽ hỏi, nét mặt vẫn còn thảnh thốt.
    - Thấy cái gì?
    - Ở trên tàng cây cao kia kìa! - Đan giơ tay chỉ lên tàng cây cao , chênh chếch bên tay trái.
    - Làm gì có gì? Mà cậu thấy cái gì? - Xít nhìn săm soi một hồi chả thấy gì, cất tiếng hỏi.
    - Ừ giờ nó tan biến rồi! - Đan nói, giọng vẫn khẽ khàng, thì thào như sợ rừng đêm nghe thấy - Vừa rồi còn đang mơ màng, chưa ngủ hẳn, dường như tớ thấy có một đám mây trắng bay lơ lửng ngay trên đó, ngay bên trái cái góc xâm xẫm ấy! Nó bay rất chậm gần như là đứng yên. Khi tớ định gọi cậu thì đúng lúc đó nó bay vụt đi, kéo dài ra như một vệt khói và tan biến mất!
    - Một đám mây trắng? Ngay dưới những vòm cây kia á? - Xít khẽ rùng mình, thảnh thốt hỏi bạn. Rồi ngó khuôn mặt vẫn còn thẫn thờ của bạn, nó nghi ngờ hỏi - Hay cậu có mơ ngủ hoặc hoa mắt không?
    - Không! Tớ không mơ! Lúc đó tớ vừa mới mơ màng, chưa kịp chợp mắt thì nó hiện ra mà. Đã kịp ngủ đâu! - Đan cố giải thích.
    - Nếu không phải mơ, vậy thì nó là cái gì được chứ? - Xít nhìn quanh khu rừng khẽ lẩm bẩm.
    Hai đứa ngồi nghe ngóng một lúc nữa, nhưng chẳng thấy có sự gì khác lạ xảy ra nên cuối cùng chúng lại nằm xuống tiếp tục ngủ.
    Trong đêm tối, chúng không nhận ra một bóng đen trùi trũi, to lớn với hai cái cổ uốn như rắn vừa lặng lẽ quay đầu bỏ đi sau một gốc cây đại thụ, chỉ cách đó chừng hơn hai chục bước.
    Sau đó cả đêm, chẳng có sự gì lạ xảy ra.
    Ngày hôm sau chúng tiếp tục tiến tới, hướng lên hướng Đông Bắc. Ở đây khu rừng thưa thớt hẳn, vẫn là những cây đại thụ nhưng thấp nhỏ hơn, và tán cũng xòe rộng hơn. Mỗi cây cách nhau cả chục sải, nên tầm nhìn rất quang đãng. Nhưng vẫn chẳng thấy dấu tích gì của con sói. Xít băn khoăn tự hỏi: "Không hiểu cha nó xưa kia, bằng cách nào đã lần ra dấu vết con sói ngay từ chân dãy Kỳ Giông?". Trước khi đi nó cũng đã định hỏi mấy người lớn tuổi, xưa kia đã từng đưa xác cha nó về, về nơi đó, nhưng sợ mọi người phát giác ra ý đồ nên nó đành thôi. Hôm nay tiếp bước cha mình, làm nốt cái việc ông đã dang dở năm xưa. Vậy mà đã gần chục ngày, nó chẳng tìm ra lối xưa ông đã từng qua... Ngày ngày nó thầm gọi tên cha, cầu mong linh hồn ông phù hộ cho nó sớm tìm được con quái thú, để trả cái món nợ chồng chất này. Nhưng có lẽ linh hồn ông ở một chốn nào đó quá xa xăm chẳng thể nghe thấy lời thỉnh cầu, nên bóng con sói vẫn biền biệt.
    Gần trưa hôm đó, đang đi chợt chúng thấy một khoảng rừng trống mở ra trước mắt khá đột ngột. Nó đột ngột bởi chỉ ngay sau một khúc rẽ bất ngờ, ngay sau bước chân vừa bước ra khỏi rừng cổ thụ vẫn mọc lên tươi tốt xung quanh là lập tức chúng bước vào khoảng trống bằng phẳng, mở toang trước mắt ấy, không hề có một dự báo nào. Cây cối đột ngột biến đâu mất cả, để lộ ra một vạt rừng trống, chạy dài vắt qua trước mặt.
    Hai đứa nhìn quanh quan sát kỹ khoảng trống rồi mới thận trọng bước tới, phía trước mặt hoàn toàn trống trải cứ như chúng vừa bước ra từ một bìa rừng vậy. Nhưng đi khoảng vài chục bước thì chúng phát hiện ra, hóa ra khoảng trống phía trước mặt không hẳn là một khoảng trống bằng phẳng, nó là một cái gì đó rất kỳ lạ.
    Khoảng trống đó là một vệt lõm cực lớn, khoét vào đất như một lòng sông cạn. Chiều ngang của nó có lẽ phải rộng tới năm chục sải tay, lõm sâu xuống đến ngang ngực, còn hai đầu uốn lượn chạy xa tít về cả hai phía, mất hút giữa rừng già thì chẳng biết tới tận đâu. Cái vệt này không phải là một dòng sông cạn, càng không phải vết tích của một cơn lũ quét qua để lại. Xít chắc chắn thế! Bởi cái vệt lõm ấy không chỉ rộng, mà còn có nhiều điểm rất kỳ lạ là: cái đáy của nó lõm xuống đều như một cái lòng máng, được vét rất khéo: tròn vành vạnh, trơn tru. Hai bên bờ mép thì được cắt rất ngọt, và chạy song song cũng cách rất đều nhau, cứ như thể được vét tròn theo cùng một cái cữ. Nói chung nhìn nó sắc nét như vết khuôn đúc của một con rắn trên nền đất sét mềm vậy! Hai đứa chưa từng thấy một cái gì tương tự thế bao giờ.
    Nhìn qua bờ bên kia. Kỳ lạ! Rừng cây cổ thụ lại vươn lên thẳng hàng, lớp lớp xanh thẫm, chẳng khác gì cánh rừng phía sau lưng. Cứ như thể có cái gì đó đã tách đôi hai mép rừng ra vậy! Chưa hết, dọc theo cái đáy cạn ấy, nằm ngổn ngang chồng chất lên nhau là hàng ngàn, hàng vạn cây gỗ lớn nhỏ, như cả một cánh rừng bị đánh sập xuống, chổng trơ đâm cành dựng rễ lên trời. Tất cả dường như đã bị đè xuống, xô ngã cùng một lúc và đã từ rất lâu rồi! Bởi lớp vỏ đã mục nát hết chỉ còn trơ lại thân và cành khẳng khiu, nhìn tựa như một dòng sông xương cốt khổng lồ, ngổn ngang.
    Tò mò trước một vệt lõm kỳ lạ nằm giữa rừng sâu không vết chân người, và cũng chưa bao giờ được nghe nhắc tới trong các lời đồn đại về rừng U Linh, Xít và Đan bước lại gần mép tìm hiểu cho kỹ. Vả lại, muốn tiếp tục cuộc hành trình, thì kiểu gì chúng cũng phải đi ngang qua lòng sông cạn kỳ lạ này, chẳng còn con đường nào khác cả.
    Không có gì, ngoài những thân cây, dưới đáy chẳng còn gì khác. Thậm chí dưới đáy còn khô không khốc chẳng có một tí nước nào. Muốn qua chúng cũng chẳng cần phải chạm chân xuống đất, vì đống gỗ kia đã phủ gần như kín đáy, tựa một lớp gỗ lót.
    Hai đứa quyết định đi luôn sang bờ bên kia rồi nghỉ ăn trưa luôn thể. Xít dò dẫm đi trước, vì bờ mép khá dốc nên nó phải dùng cán lao làm gậy chống, bước xuống từng bước một.
    Xít vừa xuống được ba bốn bước thì bỗng nghe Đan gọi giật lại: " Xít! Khoan đã!" Nghe tiếng gọi Xít giật mình khựng lại. "Gì vậy?" nó quay lên hỏi Đan. "Từ từ đã! Hình như có gì đó ở dưới những cây gỗ!" Đan đáp, rồi nó đưa tay chỉ vào những đống tủn mủn gì đó nằm rải rác dưới đáy sông, khuất sau những cây gỗ ngổn ngang, chúng có màu đen xỉn nên không dễ nhận thấy. Hai đứa chăm chú nhìn kỹ rồi cùng giật mình nhận ra, đó là những đống xương. Có rất nhiều đống xương, nằm rải rác khắp lòng sông cạn. Mỗi đống gồm nhiều loại xương, nào là xương sườn, xương ống chân, xương đùi to tướng... Nhìn kỹ hơn không khó để nhận ra đó là xương của đủ các loài, với những chiếc xương sọ nằm lăn lóc ở đó: nào là sọ gấu, sọ hươu nai, sọ mèo rừng và thậm chí cả những chiếc sọ chim nhỏ xíu. Bất giác hai đứa thấy gai lạnh xương sống.
    "Thứ gì có thể ăn mọi loài và nhả ra cả một đống xương thế kia chứ?". Khắp cả một lòng sông, càng nhìn càng thấy nhan nhản la liệt. Mà tất cả những bộ xương đó đều đen xỉn, không trắng hếu như thường thấy. Xít ngước mắt lên nhìn Đan như muốn hỏi Đan đang nghĩ đến loài gì. Bỗng nó tái mặt, giật bắn mình.
    Từ phía sau Đan, dưới mặt đất có một thứ gì đó đang ủi tung lớp lá mục thành một đường thẳng, ùng ục lướt tới. Nó chỉ còn cách Đan chưa đầy bốn sải tay.
    Xít hét lên: "Đan! Coi chừng!" Đồng thời thuận ngọn lao đang cầm trong tay nó phóng vút ra, nhắm thẳng vào đầu thứ gì đó đang luồn dưới lớp lá trườn tới. Ngọn lao rất trúng đích, cắm phập xuống ngọt như đâm vào một thân chuối, dựng đứng như một chiếc lông Nhím. Nhưng thật đáng sợ, thứ kia vẫn rạch đất lao tới, cõng luôn cả ngọn lao trên đầu, đủ biết nó to lớn, ghê gớm cỡ nào. Vừa nghe tiếng Xít kêu lên, bằng một phản xạ đáng kinh ngạc cùng một kỹ thuật xuất thần. Không quay ra sau, gần như tức thì, Đan tung người bắn mình lên cao. Thân mình nó nằm ngang quay tròn như một ống sợi, rồi mượn sức văng, ngọn lao từ tay nó phóng ra đâm thẳng về chỗ cũ. Đúng lúc đó, từ chỗ nó vừa đứng một cái đầu lởm chởm to gần bằng chiếc gùi đội đất dựng lên, một cái miệng đỏ lòm như chậu máu ngoác ra, táp hụt vào không khí, phát ra một tiếng "khợp!" khô khốc. Ngọn lao cán đen bóng của Xít vẫn lủng lẳng cắm ngay trên gáy nó. Sững sờ nhìn lại, hóa ra đó là một con Mãng Xà lớn khủng khiếp, thân nó tựa cây cột cái phủ đầy vảy xám mốc, lấm chấm những chiếc vảy màu đỏ tía đan xen. Phần thân dựng lên khỏi mặt đất, lừng lững như một trụ đá cao hơn đầu người. Cái đầu to ghê hồn, với hai con ngươi vành khè nanh nọc núp dưới cái xương trán gồ ghề nhô hẳn ra như những mấu cây. Hai chiếc nanh trắng ởn như cặp liềm sắc, mọc chìa khỏi viền mép đỏm lòm, đang nhểu ra hai hàng rớt rãi lòng nhòng; chiếc lưỡi chẻ đôi liên tục lia liết phóng ra thụt vào như một ngọn roi. Trên cái đầu mũi bóng nhẫy đang thở phì phì của nó, có hai mấu gai cong lên như cặp sừng dê mới nhú nhọn hoắt, đen bóng; còn ngay sát cổ là hai chiếc vây xòe ra to như cặp lá Re, trong suốt nhìn rõ cả đường gân mạch máu vằn đỏ đang giận dữ dựng ngược lên quật vù vù. Một lớp giáp sừng đen bóng, cuộn hình xoắn ốc phủ từ trán ra sau gáy nó tạo thành một chiếc bờm gai kỳ dị.
    Cái đầu vừa vọt lên thì nhận ngay một cú đâm của Đan vào ngay khóe mắt, máu phọt ra. Một thứ máu có màu xanh đen, lầy nhầy nhểu thành dòng. Con Mãng Xà gầm lên đau đớn, thân mình nó quấn lại xoay tít, quăng quật ầm ầm, sới cát đá bay rào rào. Cú đâm đó rất mạnh, nên cũng làm Đan hất văng ra xa bốn năm bước. Tranh thủ Đan liền lăn tròn hai ba vòng trên đất rồi trườn nhanh vào một gốc cây trốn tránh. Dù bị thương trúng chỗ hiểm nhưng con Mãng Xà quá lớn và mạnh, nó vẫn không chịu rút lui, mà vết thương chỉ càng làm nó thêm giận dữ, điên cuồng tấn công hơn. Nó vươn chiếc đầu từa tựa như đầu một con trăn khổng lồ với hai con mắt nhỏ tí lóe sáng, sâu tít bên trong đung đưa tìm kiếm Đan, quai hàm dài trễ xuống để lộ cái miệng đỏ lòm và những chiếc nanh trắng ởn quặp hẳn ra sau cùng hai cái má hai bên phình ra như hai trái bưởi. Nó phóng chiếc đầu vun vút đớp liền mấy phát như chớp giật. Nhưng chẳng thể làm gì được Đan, vì Đan cũng lợi dụng gốc cây xù xì che chắn, né rất nhanh. Những cú đớp của con Mãng xà mạnh khủng khiếp, như những chiếc vồ đá phóng vào thân cây, làm lớp vỏ dày vỡ toác bay tung tóe. Trên đời khó có thứ gì có thể chịu nổi một cú đớp kinh hồn như thế.
    Đung đưa cái đầu rình rập mấy nhịp không thấy Đan lộ thân ra ngoài, con Mãng Xà thay đổi chiến thuật. Nó chuyển sang cách tấn công từ từ, chậm dãi, không để con mồi có cơ hội trốn thoát. Nó vươn đầu lên cao và bắt đầu bò vòng tròn quấn mình quanh gốc cây, cái đầu lừ lừ đi trước tìm kiếm, trong khi chiếc đuôi lớn to hơn bắp đùi còn dài cả hai ba sải của nó vẫn đang ngoe ngẩy bên ngoài sẵn sàng chờ đợi con mồi bị dồn ra. Tình thế thật thập phần nguy kịch, tính mạng Đan giờ như con chồn bị dồn vào đáy hang chỉ còn chờ cái chết bò tới chụp lấy. Mà trong tay Xít thì chẳng còn lấy nửa tấc sắt để giúp bạn.
    Chợt Xít nhìn thấy ngọn lao của mình vẫn cắm vào cổ con Mãng Xà, ngay sát sau cái sọ lớn, dựng lên như chiếc lông nhím đung đưa. Một ý nghĩ táo bạo chợt nảy trong đầu Xít. Nó giật chiếc túi vải trên vai xuống, giơ lên vẫy vẫy ra hiệu cho Đan, vừa đưa tay ra hiệu chỉ vào chiếc cán lao. Rất nhanh, Đan hiểu ngay ra ý đồ của Xít, nó khẽ gật đầu. Chúng mím môi chờ đợi. Cả hai biết đây sẽ là hành động sinh tử, quyết định mạng sống của hai đứa. Nhưng đúng lúc đó từ bên phải, Xít thấy một vệt lá mục cách nó chừng hơn hai chục sải, đang ùng ục sới tung lên, lao tới chỗ nó."Ôi trời, quỉ thần ơi! Nó có một đôi!" Xít thầm kêu lên kinh hãi, nhưng rồi nó lấy lại bình tĩnh quyết định rất nhanh. Điều gì phải làm trước. Nó cương quyết đứng yên tại chỗ chờ đợi một tia hi vọng cuối cùng. Một khoảng khắc chờ đợi dài như cả năm, máu trong người như đông lại, nhưng Xít vẫn cân răng ghìm mình chờ đợi. Rồi cuối cùng một cơ hội cũng chợt lóe lên. Chiếc đầu con Mãng Xà vươn cao bỗng dừng lại dò xét trong một tíc tắc quí giá. Không để tuột mất cơ hội, Xít nhắm thật chính xác quăng mạnh chiếc túi vào chiếc cán lao. Một cú ném rất chính xác. Chiếc quai túi tròng vào cái cán rồi trượt xuống mắc lại trên cổ, che một bên mắt con Mãng Xà, làm nó giật mình cố lắc mạnh cái đầu mong hất chiếc túi ra. Chỉ chờ có vậy, Đan liền lao ra khỏi chỗ lấp. Nó hết sức bình tĩnh, chờ cho đúng lúc chiếc đầu hất lên phơi ra cái cổ họng trống trải, liền nhắm thẳng mũi lao đâm tới. Với khoảng cách chỉ chừng hai sải tay, mũi lao đi lút tận cán.
    Đằng xa, Xít còn chẳng kịp nhìn cú đâm của bạn, chỉ vừa kịp quăng chiếc túi lên, nó đã vội lộn người lăn mình ào ào xuống đáy sông. Một cái đầu vừa bật trồi lên ngay sau lưng nó. Vừa xuống chạm đáy, không nhìn ra sau Xít vội cuống cuồng bò bằng cả hai chân hai tay, luồn rúc thật nhanh vào trong đống gỗ ngổn ngang dưới đáy sông.
    "Uỳnh! Uỳnh!" Tiếng gỗ bị xô, húc, văng lên ầm ầm đuổi theo sát đít nó.
    Như một con thằn lằn, Xít trườn vun vút qua hết khe này đến khe khác, bất biết chúng dẫn tới đâu. Luồn sang trái rồi lách sang phải, cứ đâu có khe hở là nó phóng ngay vào. Đằng sau tiếng thở khè! khè! ghê rợn lẫn tiếng cây lăn dồn dập truy sát sạt.
    Chẳng biết đã lao qua bao nhiêu lỗ hổng, trườn qua bao nhiêu gốc cây, sau cùng Xít lao vào một cái hốc tối lờ mờ. Ở đây ánh sáng không lọt xuống nổi, ánh mắt chẳng nhìn được rõ chỉ còn cách lấy tay rờ rẫm bốn xung quanh. Loay hoay đưa tay lần tìm một khe hở để chui tiếp, bỗng Xít nghe tim thắt lại. Đó là một cái hốc kín hoàn toàn, bốn bề ken chặt không có lấy một cái khe hẹp. Thôi rồi! Nó đã tìm đúng đến cái miệng thòng lọng của Thần Chết mà lao vào! Lần này thì...! Nó còn chưa kịp nghĩ gì thì đúng lúc ấy, cái đầu con Mãng Xà từ ngoài rúc mạnh một cái, ẩy tung cả mấy cây gỗ bên trên, trườn vào. Cái đầu chỉ cách chân Xít chưa đầy một cánh tay. Trong bóng tối lờ mờ vẫn nổi bật một cái đầu màu xanh lục to như cái ché rượu, hai hàng răng tua tủa như dao sắc hé mở, để rớt rãi lòng nhòng ứa ra thành những vệt dài, phả mùi tanh tưởi nồng nặc. Cái hốc nông choèn, chưa xoay lưng đã chạm vách. Xít đưa tay qua bên hông lần tìm con dao ngắn, niềm hi vọng mong manh cuối cùng. Nhưng rồi tay nó nắm lại trong không khí, con dao cũng đã rơi mất từ lúc nào. Không còn gì! Chẳng còn gì cả! Xít lùi lại cố dán người vào vách, trống ngực đập thình thịch, mùi của cái chết tanh lòm đã lởn vởn ngay đầu mũi.
    Con Mãng Xà không tấn công ngay, nó nhìn Xít chằm chằm bằng đôi mắt vàng khè như đồng thau, hai đồng tử thu lại mỏng dính tăm tối, đầy vẻ thèm thuồng khoái trá. Cái lưỡi đỏ ké thè ra thụt vào, đung đưa, huơ huơ trong không khí như đang liếm láp tận hưởng nỗi khiếp đảm tỏa ra từ linh hồn hấp hối của con mồi. Rồi bỗng dồn hết sức nó khè mạnh một tiếng, cái miệng ngoác ra hết cỡ phóng tới. Bỗng đúng lúc ấy, bàn tay của Xít chống trên đất chợt chạm vào một vật gì đó cưng cứng. Theo bản năng, không kịp suy nghĩ, Xít liền cầm bừa vật gì đó lên tống thẳng vào giữa cái miệng đỏ lòm của con Mãng Xà đang đớp tới. Cái đầu bỗng khựng lại một khắc, rồi thụt lại lúc lắc liên hồi. Ngạc nhiên nhìn lại, Xít mới nhận ra thứ mình vừa nhét vào miệng con Mãng Xà là một chiếc sọ trâu rừng khá to, trên đỉnh sọ vẫn còn dính một mẩu sừng gãy dài gần gang tay. Ôi! Thật may mắn làm sao? Hóa ra con Mãng Xà vừa bị giắt và đang cố hất chiếc sọ khó chịu ấy ra khỏi miệng. Nhưng việc đó không hề dễ dàng, vì vừa rồi nó đã há quá to, muốn văng được chiếc sọ ra ngoài nó cần phải há to hơn nữa. Một ý nghĩ lóe lên trong đầu Xít, nó giơ chân lên ngang mặt chờ đợi. Chờ đúng lúc con Mãng Xà văng vật cái đầu ngang qua mặt, nó liền dang thẳng chân đạp mạnh một phát vào chiếc sọ, cho nó ấn lút tận sâu vào họng con Mãng Xà. Con Mãng Xà đau đớn gầm lên thở hồng hộc, lúc lắc điên cuồng. Nhưng giờ thì nó càng không thể nào khạc ra được nữa rồi, chiếc sừng gãy sắc nhọn của chiếc sọ đã cắm sâu vào vòm họng nó mắc cứng ở đó. Quả là một sự báo ứng đích đáng - Nó đã bị một nạn nhân của chính mình hãm chết. Chỉ trong chớp mắt tình thế đã xoay chuyển hoàn toàn, giờ con Mãng Xà mới là kẻ rơi vào thế cùng. Chiếc sọ trong họng nó khạc chẳng ra, nuốt chẳng trôi. Mà nó càng vùng vẫy mạnh, thì những cây gỗ đè phía trên cổ càng rung lắc chèn cứng xuống, xiết dần xiết dần, cái khe đã hẹp càng thêm thắt lại. Nó muốn trườn tới cũng chẳng được mà rút đầu ra cũng chẳng xong, bởi cái hàm cứ há ngoạc ra hết cỡ không sao ngậm lại nổi. Nó chỉ còn biết điên cuồng quật mình giãy giụa, cố long rộng cái khe để rút lui. Bị dồn vào đường cùng nên sức mạnh của nó thật khủng khiếp. Những cây gỗ xô lắc, rung chuyển dữ dội vang lên những tiếng kèn kẹt sởn gai ốc, cái hốc như chỉ chực đổ sụp xuống đầu Xít. Đúng lúc đó một mũi lao từ trên phóng phập xuống, đâm xuyên từ đỉnh đầu con Mãng Xà xuống tận họng. Cái đầu hung hăng dữ tợn bỗng gập xuống như vừa bị chém đứt lìa cổ, nằm vật trên đất. Cái miệng banh ra mà đôi mắt nó vẫn trợn lên trừng trừng như đang chằm chằm nhìn vào Xít.
    Rồi từ trên có tiếng Đan vang lên rối rít: "Xít! Xít ơi! Cậu còn sống không?" Xít mừng rỡ nói lớn: "Tớ còn sống! Còn sống! Không sao cả!" Nghe tiếng Xít trả lời, Đan sung sướng nói: "Trời đất! Cậu còn sống sao? Vẫn nguyên vẹn chứ? Trời đất! Tớ đã tưởng chuyến này sẽ chẳng được gặp lại cậu nữa!" Rồi Đan vội vã chạy đi tìm một cây gỗ nhỏ, lách vào cái khe hẹp bên trên dùng hết sức bẩy. Phải mất một lúc cả hai cùng ra sức, chúng mới mở được một khe hở vừa cho Xít chui lên. Xít lên rồi, Đan cúi xuống ngắm nhìn cái đầu con Mãng xà qua cái lỗ, nó thốt lên: "Con này lớn thật! Cái đầu trông phát khiếp! Mà sao cậu cầm cự nổi nó? Trên này tớ thấy nó giãy còn phát khiếp!" Xít kể lại chuyện may mắn vớ được chiếc sọ trâu và con Mãng xà bị kẹt như thế nào. Rồi nó hỏi Đan: "Còn con kia đâu?" "Bị tớ đâm trọng thương vào cổ họng, nó tẩu thoát vào rừng rồi! Nhưng chắc cũng chẳng chạy được bao xa đâu!" Đan đáp, rồi nói tiếp: "May mà cậu nghĩ ra cách ném chiếc túi! Không thì... Giờ này không biết thế nào rồi?" Xít hả hê vỗ vai bạn, nói: "Kệ đi, dù thế nào, hai đứa còn sống là mừng rồi!"
    Hai đứa đứng trên đống cây mục lặng lẽ ngắm nhìn quang cảnh chiến trường. Thật khủng khiếp! Cây cối văng tung tóe, quét hẳn thành một khoảng vãn đi giữa lòng sông, bắn cả lên bờ, như thể chúng chỉ như một nắm đũa nhẹ hều vậy. Sức mạnh của hai con Mãng Xà này quả thật khủng khiếp, chưa từng thấy! Nằm chình ình ở giữa, vắt dài hết gần nửa lòng sông cạn là cái thân xác vừa to vừa dài, phải tới mười mấy sải của nó, mà giờ Xít mới được tận mắt nhìn ngắm. Toàn thân nó phủ lớp vảy màu xanh lục, ánh lấp lánh dưới ánh mặt trời, nhưng đường gai chạy dọc sống lưng nó lại có màu bạc như vẩy cá.
    - Đến giờ tớ vẫn chưa tin nổi hai đứa mình đã hạ được đôi Mãng Xà này! - vừa nhìn cái xác khổng lồ của con Mãng Xà Xít vừa lẩm bẩm.
    - Tất cả là nhờ có cậu nhanh trí và cả cái địa hình kỳ lạ ở đây nữa! - Đan nói - Chứ không chắc gì hôm nay chúng ta đã thoát nổi? Mà tớ nghĩ, với hai con Mãng Xà đáng sợ này ở đây thì chưa chắc con Sói Hai Đầu dám bén bảng quanh đây đâu?
    - Cậu nói cũng có lý! - Xít nói.
    Ngẫm nghĩ một lúc Đan tiếp:
    - Mãng Xà một đôi, Sói thì hai đầu! Hình như số chúng ta phải gặp những thứ có đôi có cặp thì phải? Mà chúng đều là thứ dữ dằn, ghê gớm cả!
    - Thì chúng mình cũng có một đôi đấy thôi! - Xít cười nói.
    - Hì hì! Ồ, đúng thế nhỉ? - Đan ngẩn ra cười thật thà, phô hàm răng trắng phau.
    Hai đứa leo lên bờ đi tìm lại túi tắm và vũ khí.
    Quả nhiên, Xít tìm thấy con dao thép nằm dưới một thân cây ngay dưới lòng sông, còn mũi lao nó phóng vào cổ con Mãng Xà thì phải đi một đoạn dọc bìa rừng, theo vết trườn quằn quại sới tung đất đá của con dã thú trọng thương mới tìm thấy. Trên mũi lao vẫn còn dính thứ máu đen lầy nhầy.
    Sau khi nhặt nhạnh lại đồ đạc túi tắm, hai đứa qua mé bờ bên kia nghỉ ăn trưa, bởi bên này phía cuối gió, thi thoảng cái mùi tanh lòm từ đầu con Mãng Xà vẫn phe phẩy bốc lên rất ghê tởm.
    Hai đứa tự thưởng cho mình một bữa trưa thịnh soạn và no nê hơn mọi ngày rồi tiếp tục lên đường. Sau cuộc chiến với hai con Mãng Xà to lớn hung dữ, bỗng nhiên hai đứa thấy tinh thần phấn chấn hẳn lên. Giờ đây nếu có phải đối mặt với Sói Hai Đầu, chúng cũng thấy tự tin hơn nhiều và chẳng hề còn cái cảm giác e sợ lo ngại như lúc trước, chỉ còn ngoại trừ cái tiếng tru ma mị của nó.
    Hai đứa vẫn chưa thể nghĩ ra, lúc nào là lúc thích hợp nhất để dùng thứ thuốc cụ Sóc đã đưa. Nửa chúng muốn chùng chình, lùi lại thêm ngày nào hay ngày ấy, chưa phải đắp cái thứ thuốc ấy lên tai, nhưng nửa lại tò mò muốn sớm biết công dụng của nó thực sự hiệu quả thế nào?
    Rừng U Linh vẫn trải dài bất tận. Hai đứa tiếp tục kiên nhẫn vừa đi vừa soi tìm từng chút dấu vết của con Sói Hai Đầu. Nhưng đã mấy ngày chẳng hề thấy bất cứ vết tích nào, cứ như thể nó có thể đi mà không để lại dấu chân, hoặc cực kỳ tinh khôn, có thể tự xóa dấu vết đi vậy.
    Qua ngày thứ sáu kể từ khi đụng độ hai con Mãng Xà, đi tiếp về hướng Đông Bắc, hai đứa dần cảm nhận được như đất dưới chân mình hơi dốc xuống, tuy độ dốc không đáng kể nhưng cũng đủ để nhận biết nền đất đang thấp dần. Và cây cối cũng dần mọc lên mỗi lúc một ken dày hơn, cùng những bụi cây xanh rì, rậm rạp mọc lên dầy đặc ngăn cản tầm nhìn.
    Đi tiếp chừng nửa dặm thì mặt đất bất ngờ dốc hẳn xuống, đôi chỗ hai đứa phải vịn vào thân cây để từ từ bước xuống. Địa hình ở đây là những vách đá thấp đan vào nhau, chỉ để chừa ở giữa một khe hẹp vừa vòng vèo quanh co, vừa gập ghềnh khó đi. Dọc lối đi cây cối, cành lá... chủ yếu là cây bụi giăng mắc bịt bùng. Đan và Xít đã có lúc dừng lại do dự, không biết có lên đi tiếp theo hướng này? Nhưng nhìn về hai phía hai bên chúng thấy cũng chẳng khá hơn. Cả bên trái bên phải, địa hình còn gập ghềnh, cheo leo có vẻ còn khó đi hơn, nên chúng đành gắng sức men theo cái khe quanh co trước mặt đi tiếp. Đi thêm qua vài vách đá, bất ngờ chúng gặp một vách đá cao, mỏng như sống dao đổ ra chặn ngang trước mặt. Men theo vách đá đó đi vài chục bước nữa rồi rẽ sang trái. Vừa ra khỏi vách đá khuất, chợt chúng thấy trước mắt mở ra một thung lũng lớn. Hóa ra từ nãy giờ chúng đang đi xuống một cái lòng thung, mà do những vách đá che khuất tầm nhìn nên chẳng hề hay biết.
    Cái thung hẹp nằm trải dài giữa hai rặng núi kẹp hai bên, hai rặng núi không cao lắm nhưng sườn dựng rất dốc. Cái thung khá dài, muốn băng qua đầu bên kia đi ít nhất cũng phải mất nửa buổi.
    Bị bốn bề vây kín nên lòng thung ở đây kín gió, hơi ẩm từ dưới đất bốc lên tụ lại, lơ lửng thành một màn sương trắng nhẹ, bồng bềnh phủ gần như kín mặt thung. Lòng thung có vẻ khá lồi lõm, không những thế mặt đất còn phủ kín tầng tầng, lớp lớp. Dưới đáy nào là Dương xỉ, Dong dáy, Chè vè... phủ kín, cây nào cây ấy cũng to kỳ lạ, gấp ba bốn lần bình thường. Ở giữa là những bụi Thau kén, Mán đỉa... rậm um tùm. Trong khi tầng trên cùng là những cây Chò chỉ, Sến gai... Vươn ngọn cao chót vót xòe tán xanh ngắt. Chưa nói tới đám dây leo treo trên các tán cây, được sương ẩm nuôi dưỡng chúng xanh tốt, sinh sôi nảy nở giăng kín nơi nơi. Chúng vươn thành từng chùm từng bó vắt như khung cửi từ cây nọ sang cây kia miên man bất tận càng Trong khi tầng trên cùng là những cây Chò chỉ, Sến gai, Táu mật... Vươn ngọn cao chót vót xòe tán xanh ngắt. Chưa nói tới đám dây leo treo trên các tán cây, được làn sương ẩm ướt đẫm hơi nước trong thung ưu ái, nuôi dưỡng, chúng sinh sôi nảy nở mãnh liệt, vươn ra giăng kín khắp nơi. Chúng kết thành từng chùm từng bó, vắt dày như khung cửi từ cây nọ sang cây kia xoắn xuýt, chằng chịt, bất tận càng làm cái không khí trong thung lũng trở lên kín đáo, ngột ngạt. Tuy nhiên trên thân chúng lại có những dây leo nhỏ nhắn mềm mại hơn quấn quanh; đâm lá xanh tươi, trổ những bông hoa rực rỡ kỳ lạ, buông rủ đung đưa trên đầu trông rất đẹp mắt.
    Rừng cây rậm rạp nên hai đứa đi hàng một. Xít đi trước vừa gạt cây tìm lối vừa với ra sau trò chuyện với Đan. Nhiều chỗ cây bụi đan kín, Xít phải rút con dao bên sườn phạt lấy phạt để lấy lối đi. Đi chừng một lúc, vẫn đi nói liền hai ba câu mà chẳng thấy Đan trả lời, Xít giật mình quay lại. Đan đã biến mất từ lúc nào.
    Kinh hãi Xít vội gọi lớn: "Đan! Đan ơi! Cậu ở đâu?"
    Không có tiếng trả lời cũng chẳng thấy động tĩnh gì, cánh rừng im phăng phắc. Xít sợ hãi chạy ngược lại, vừa chạy nó vừa hét lên: "Đan! Đan ơi!" Lòng thung vẫn im phăng phắc, chẳng thấy tiếng đáp lại. "Trời đất! Đan chỉ mới vừa ở ngay sau lưng nó kia mà? Cái gì khiến nó biến mất nhanh như thế chứ?" Càng nghĩ Xít càng hoảng sợ, nó lại hối hả chạy tiếp, ngược lên chỗ áng chừng Đan đã biến mất. Chạy ngang chạy ngửa, lao bừa vào những bụi cây chằng chịt như mạng nhện, gạt phăng tất cả các loại dây leo, gai góc xông vào tìm tận nơi. Rồi bất chợt nó thở phào, cách đó chừng hai chục bước, nó thấy Đan đang đứng sau một chùm dây leo, từ một cây Giáng hương cổ thụ thả xuống lòng thòng như một bức mành mành. Hình như nó đang đứng ngắm một cái gì đó, có vẻ chăm chú lắm.
    Xít mừng rỡ chạy ào lại khẽ gắt:
    - Cậu đang làm gì vậy? Sao gọi không lên tiếng?
    Đan chẳng quay lại trả lời, bắt đầu lững thững bước đi về phía trước, mắt nó chằm chằm nhìn xuống một sợi dây leo to cỡ đầu ngón chân cái bò ngoằn ngèo trên mặt đất. Trên sợi dây leo ấy mọc ra những bông hoa thon dài có cánh màu vàng nhạt, viền đỏ tươi, hình dáng như những ngón tay đang múa mở xòe ra cong cong rất đẹp. Ở giữ là những cái nhị trắng muốt, trong vắt, lấm tấm bụi phấn phủ kín.
    Thấy Đan không trả lời, linh cảm có điều gì không bình thường, Xít túm vai bạn xoay người giật lại. Bỗng nó sợ hãi giật thót mình lùi lại: cái mặt Đan trắng bệch như xác chết, hai tròng mắt trợn ngược vô hồn như bị treo ngược lên, trong khi đôi môi dường như lại đang cố nhếch lên nở một nụ cười ma quái, ngớ ngẩn.
    Kinh hãi, Xít nhìn xuống sợi dây leo đầy những bông hoa sặc sỡ xem Đan đang đi theo cái gì. Nó thấy mấy sợi dây uốn lượn trên đất, dẫn sâu vào những vòm cây um tùm nằm dưới một gốc Muồng già cổ thụ xù xì, mốc thếch đã mục ruỗng. Xít tự nhủ: "Chỉ là mấy sợi dây leo thôi mà!"
    Ánh mắt nó tiếp tục lần theo những bông hoa cứ nở ra như những bụm sáng nối tiếp nhau lóe lên. Rồi chẳng mấy chốc, trong mắt Xít tràn ngập hàng ngàn bông hoa rực rỡ, hàng ngàn đốm sáng lung linh bay lượn khắp khu rừng. Thật là một khung cảnh đẹp đẽ hiếm có. Đột nhiên trong đầu Xít nghe thấy những tiếng cười nói vui vẻ, rộn rã từ phía gốc cây Muồng già vọng lại; dường như ở đó đang có một đám đông, đang có một cuộc tụ tập vui vẻ, náo nhiệt...
    Một mong muốn mãnh liệt trỗi lên trong lòng Xít, thôi thúc nó bước theo những bông hoa xinh xắn đi vào trong vòm cây, nơi lòng dạ nó mách bảo, sẽ được tham gia vào một cuộc vui rộn rã, bất tận... Rồi đột nhiên một làn sương mờ, lành lạnh, nhẹ tênh bất chợt phủ trùm lên trí óc Xít. Một cảm giác tê tê, lan tỏa đi khắp cơ thể rất nhanh. Toàn thân nó bắt đầu bồng bềnh, cả đầu óc cũng vậy, như có một thứ gì đó nâng nó lên, trôi đi. Xít muốn nói với Đan điều gì đó, nhưng đôi môi nó đã bắt đầu tê cứng, nặng trịch không thể thốt ra được.
    "Phấn độc!" Một chút bản năng tự vệ cuối cùng của tiềm thức đang mụ mị dần trong Xít nỗ lực trỗi dậy lần cuối, lên tiếng kêu cứu, cảnh báo. Lắc mạnh đầu, ồn toàn bộ sức lực và chút tỉnh táo còn lại, Xít cúi xuống xốc người Đan qua vai rồi cứ thế ngắm nghiền mắt, loạng choạng bước đi; tai nó ù dần và mắt cũng mờ đi, giàn giụa nước. Nhưng nó vẫn cứ cố bước đi, càng xa những bông hoa càng tốt. Đi được vài chục bước, không trụ nổi nữa, Xít thả Đan đánh "Uỵch!" xuống đất, rồi phủ phục xuống theo. Nó dùng tay cào bới lớp đất ẩm dưới chân rồi vục mặt vào đấy hít lấy hít để, mặc cho đất cát chui cả vào miệng, vào mũi, ho sặc sụa. Lập tức đầu óc Xít tỉnh táo lại rất nhanh. Quay qua, thấy Đan vẫn nằm bất động, Xít nhớ lại kinh nghiệm chữa độc mà cụ Sóc vẫn chỉ dạy: "Phàm là, quanh những thứ có độc, thường có những loài cây, cỏ kị độc tự sinh sôi! Loài nào giống ấy! Sống cạnh độc lên chúng thường tự sinh ra được chất kiềm độc để sinh tồn! Màu sắc thì có phần tương đồng, mà tính vị thì khắc chế nhau!" Xít lập tức chạy lại chỗ cái dây leo trổ bông, nó nín thở một tay bịt mũi, một tay tìm thật nhanh quơ lấy một nắm lá Nọc bần và Sầu sì mọc gần đó, mang về. Tháo chiếc nồi đồng treo trên túi Đan, nó cho nắm lá vào dùng chuôi dao giã nát, rồi cậy mồm Đan vắt vào miệng khoảng hơn chục giọt thứ nước xanh lè, hăng gắt. Nó cũng lấy mấy lá cho vào miệng nhai nuốt lấy nước. Xong xuôi nó giở quần áo trên khắp người Đan tìm kiếm vết thương, nhưng may mắn chẳng thấy có vết cắn nào nó mới yên tâm ngồi xuống.
    Một lúc sau, sắc mặt Đan dần trở lại bình thường, rồi nó ngồi bật dậy ho khùng khục, vỗ ngực bồm bộp đòi uống nước. Xít thở phào đưa ống nước cho bạn, hỏi:
    - Cậu thấy trong người thế nào?
    - Có cái gì đó như bọ Xít đái vào cổ tớ ấy! Kinh quá! - Đan nhăn nhó đáp sau khi tu ừng ực một hơi dài.
    Nhìn vẻ mặt vẫn còn ngơ ngơ của thằng bạn, chợt một ý nghĩ tinh quái nảy ra trong đầu Xít, nó nói:
    - Được bọ xít đái đã tốt!
    - Không phải nước đái bọ xít thì là cái gì? - Đan đưa mắt nghi ngờ hỏi thằng bạn.
    - Là rớt ruột một loài nhộng!
    - Nhộng gì?
    - Nhộng đẻ trứng trong phân Chồn đất ấy! - Xít nói tỉnh queo - Mà may quá! Cậu không sao là may rồi!
    - Khọec! Là thứ Nhộng kinh tởm đó hả? - Đan nhăn mặt nhổ phì phì - Mà làm sao tớ phải nuốt thứ tởm lợm đó thế? Hình như tớ vừa ngủ một giấc? Mà... Mà cậu nói "May không sao!" là sao?
    Nhìn vẻ mặt ngây ngây vừa tỉnh lại của Đan, Xít định kể, rồi nó chợt đổi ý, gật gù nói:
    - Vừa rồi cậu không phải ngủ đâu, mà bị ngất! Thật cậu không nhớ gì sao? - Xít tròn mắt tỏ vẻ ngạc nhiên hỏi.
    - Nhớ cái gì? Lúc trước... ta đã làm cái gì? Thật sự lúc này tớ không nhớ nổi, cái đầu vẫn ong ong, váng vất!
    - Nó chỉ vừa mới xảy ra thôi mà! Tớ còn nhớ rất rõ! Sao cậu lại chẳng nhớ gì chứ? Chả lẽ cái thứ đó còn ăn mất cả trí nhớ của người ta sao? - Vẻ mặt Xít chợt ra chiều đăm chiêu, lo lắng.
    - Ăn trí nhớ? Chuyện gì đã xảy ra? Làm ơn nói mau lên được không? - Đan gắt, rõ ràng đã tỏ ra khá lo lắng.
    - Chết thật! Hay do cậu đã ăn nhiều, nên bị nặng hơn? - Xít nhìn Đan vẻ nghiêm trọng, cố ý dằn dứ, úp mở.
    - Ăn cái gì? Chúng mình đã ăn gì? Cậu có nói nhanh lên không thì bảo?
    - Thì chúng mình đã ăn hết cả một... Mà thôi! Nếu cậu không nhớ thì chẳng nên nhắc lại làm gì! - Xít nói.
    - Sao lại không nhắc lại? Cậu cứ kể đi xem nào! - Đan gắt lên tức tối
    Nhìn vẻ mặt thằng bạn. Xít vờ làm bộ dạng ra chiều suy nghĩ, đấu tranh lắm. Làm Đan càng thêm sốt sắng, kích động. Chờ cho thằng bạn giục thêm lần nữa gần như năn nỉ, rồi Xít mới tỏ vẻ cả nể, nhượng bộ. Nó hạ giọng kể:
    - Lúc trước, khi đang đi băng qua thung lũng, đột nhiên chúng mình thấy một con gà rừng trắng toát, trên đầu nó có mào tím và mọc đầy vẩy như vẩy cá, còn cái đuôi năm bảy màu sặc sỡ dài lê thê, quét trên đất cả sải tay. Chính cậu và tớ đã lùa nó vào một bụi cây và bắt nó. Cậu không nhớ gì sao?
    - Không, tớ không nhớ gì cả! Rồi sao? - Đan hỏi, giọng đã bắt đầu trở lên hồi hộp.
    - Rồi sau đó chúng ta vặt lông, làm thịt nó, nướng lên đánh chén! - Xít kể - Mà con gà ấy kỳ lạ lắm! Lúc vặt lông nó kêu khồng khộc như cóc ấy! Thịt nướng lên vẫn đỏ tươi như máu. Sau khi ăn được một lúc thì cả hai đứa mình đều thấy xây xẩm đầu óc, người ngứa ran lên, bụng đau quằn quại. Lúc đó tớ đau đến bò lê bò quàng, cào cấu trên đất. Còn cậu thì giãy đành đạch, trông thương tâm lắm! Chính mắt tớ còn thấy cậu há miệng cắn một khúc rễ cây to như cổ chân, cỡ thế này này! (Xít vỗ bàn tay lên cổ chân mình minh họa) Chắc để chống lại cơn đau? Nhưng chẳng lại, người cậu vẫn giật giật lên mấy cái rồi nằm vật ra, sùi bọt mép đo đỏ như máu. Có lẽ là do cậu đã ngoạm cả nửa con gà với cái đầu mọc vảy ấy!
    May sao lúc đó tớ mò được về phía gốc cây Trầu Dầu đằng kia, tìm thấy một đống phân Chồn đất, móc được mấy con nhộng, cậy miệng cậu, bóp ruột nhét vào. Còn tớ cũng cố nhắm mắt nhắm mũi nuốt hai con. Được một lúc thì tớ nôn thốc nôn tháo, nôn ra bằng hết! Ôi chao! Sao trên đời lại có thứ kinh tởm, tởm lợm đến thế! Toàn những mẩu thịt lầy nhầy, mới ăn vào bụng được một lúc mà nó đã chuyển màu đen xì, mọc lông tơ lởm chởm và có mùi tanh thối khủng khiếp!
    - Rồi... Còn tớ thì sao..? - Đan nhìn Xít hỏi dồn.
    - Cậu..! Thật tình cậu vẫn chưa nôn ra được!
    Không chờ Xít nói hết câu, Đan phóng vào một bụi cây gần đấy. Nó quì gối xuống đất, đầu cắm xuống, đít chổng lên ra sức móc họng, nôn và ọe. Nó thọc sâu cả hai ngón tay vào họng mà móc, mà nôn cho ra mật xanh mật vàng. Cái thứ Xít miêu tả thật kinh tởm, bám riết trong đầu nó; chỉ mường tượng theo lời tả, đã làm ruột nó quặn lên từng cơn. Đan cắm mặt xuống đất, ra sức nôn, con mắt muốn rớt cả ra ngoài.
    Nhưng móc hoài mà không ra thứ gì, chỉ toàn có tí nước dãi. Đan chợt ngờ ngợ nhận ra hình như cái bụng mình rỗng tuếch, đâu có thứ gì? Mà thằng Xít bảo nó xơi cả nửa con gà kia mà? Vừa lúc Đan nghe tiếng cười hinh hích, ngặt nghẽo sau lưng. "Đồ khốn!" Đan gầm lên, nó hiểu mình đã bị lừa một vố đau thế nào? Nó quay lại lao vào Xít đè xuống, thụi túi bụi vào lưng vào vai: "Này thì thịt gà này! Này thì nhộng đất này!" Sau mỗi câu là một cú đấm. Bị Đan nằm đè lên cổ, thằng Xít vẫn chẳng nhịn được, nó cứ gập người xuống đất mà ôm bụng cười sặc sụa, giơ lưng giơ cổ ra, mặc cho bạn đấm thùm thụp.
    Sau một hồi đùa cợt, vật lộn hai đứa cũng buông nhau ra nằm nghỉ. Đan hỏi:
    - Thực ra vừa rồi đã có chuyện gì? Rõ ràng tớ có cảm giác như vừa ngủ mơ, mà dường như cũng không hẳn là ngủ.
    - Thế cậu đã mơ thấy gì? - Xít tò mò hỏi, giọng đã trở lại nghiêm túc - Thử kể tớ nghe xem? Có phải toàn những âm thanh cậu ưa thích và cảnh đẹp như chốn nhà trời?
    - Đúng rồi! - Đan kêu lên - Tớ thấy toàn những thứ đẹp đẽ, hiếm có trên đời này! Cậu cũng thấy sao? - Đan hỏi lại, rồi kể tiếp - Lúc ấy đang đi thì dường như đột nhiên tớ nghe thấy có tiếng sáo ở đâu đó vọng lại. Tiếng sáo xa xôi, không rõ lắm, nhưng véo von, trầm bổng nghe rất hay nhưng cũng rất lạ tai. Rồi, đang trong lúc dỏng tai lên nghe xem tiếng sáo từ đâu vọng tới, thì đột nhiên tớ thấy một đàn rắn vàng nhỏ xíu, sáng lấp lánh bò ngang qua mặt. Chúng cứ chậm dãi trườn qua trước mặt tớ, rồi ngập ngừng luồn vào mấy bụi cây phủ đầy những chùm hoa sặc sỡ, rủ xuống như những chiếc chuông nhỏ đung đưa. Chúng như có ý chờ tớ đi theo. Tớ đã quay lại gọi cậu mấy lần, mà không hiểu sao cậu cứ im lặng bước đi và đột nhiên có một màn sương mờ ở đâu đó kéo tới che khuất cậu! - Càng kể Đan càng nhớ rõ khung cảnh trong giấc mơ mụ mị ấy hơn - Bỗng lúc đó tiếng sáo trở lên rất gần và nghe kỳ diệu, mê hoặc lắm! Nó giục tớ quyết định phải tới tận nơi xem cho kỳ được, rồi sẽ đuổi theo cậu sau cũng không muộn! Rồi đàn rắn vàng ấy dẫn tớ tới một dòng suối kỳ lạ: một dòng suối chảy bồng bềnh, lơ lửng giữa không trung, nó uốn lượn chảy ra từ những tán lá xanh mướt như ngọc bích ở trên cao. Làn nước suối róc rách chảy rất êm ái, hai bên chẳng có bờ bến gì cả, nó cứ tự chảy giữa hư không mà thôi. Giữa dòng suối ấy thấp thoáng có những cánh hoa vàng nhạt nổi nhấp nhô trên mặt nước... Rồi... rồi chỉ tới đó, còn sau đó là gì thì tớ không nhớ nổi nữa!
    - Đó chẳng phải mơ đâu! - Xít cắt lời bạn - Cậu đã trúng phấn độc của những bông hoa trên dây leo đó! Chúng rất mạnh, tớ chưa từng thấy thứ hoa rừng nào ghê gớm như thế!
    Rồi Xít kể lại chuyện tìm thấy Đan bên những sợi dây leo như thế nào, và nó cũng suýt bị trúng độc ra sao. Nghe xong Đan bần thần nói:
    - Cái thung lũng này quả là đáng sợ thật! Chỉ là mấy dây leo đã ghê gớm thế rồi! Nhưng thật lạ, những điệu sáo đó nghe rất rõ và mê hoặc! Dường như cho tới giờ chúng vẫn vấn vương trong đầu tớ!
    - Hức! Cứ tưởng cái gì quí hóa lắm! - Xít bĩu môi - Nó suýt ru cậu xuống mồ đấy! Thế mà còn xoa xuýt "vấn vương" với chả "mê ly"! Biết cậu thích cái tiếng sáo đến thế, tớ đã để mặc cậu ở đó sùi bọt mép ra, cho nó dong hồn đi luôn! Chả hơi đâu mất công vác về, rồi lại phải chia nửa con "gà rừng" béo ngậy, thơm nhức mũi!
    Thấy Xít vẫn chưa thôi chọc vụ "nôn nhầm", Đan nhặt hòn sỏi nhằm đầu thằng bạn chọi cho một phát cho bõ tức cái vố chơi khăm trời đánh ấy! Cú ném đùa không mạnh, nên chỉ khẽ quài tay ra sau Xít đã tóm gọn viên sỏi.
    Chòng ghẹo nhau một lúc, qua lại vài câu đùa cợt, nhưng cũng đủ làm hai đứa thấy lòng nhẹ nhàng hơn, tinh thần trở lại phấn chấn hẳn.
    Xít đưa mắt nhìn những tán cây lớn chạy dọc thung lũng, muốn tìm vạch một đường ngắn nhất vượt thung lũng, sang đầu bên kia. Nhưng cái màn sương lả lất của buổi sáng trong thung lũng vẫn chưa chịu tan hẳn, buông giăng phủ trùm lên những vũng đất thấp, cây bụi mọc dày rịt, nên chẳng thể biết chỗ nào bằng phẳng mà vạch ra đường đi. Vừa loay hoay suy tính, Xít vừa lơ đãng xoay xoay viên sỏi trong tay. Đó là một viên sỏi khá đẹp, to cỡ đầu ngón tay cái, màu đen láy, có hai đường vân trắng nổi bật chạy song song ở chính giữa; trơn nhãy và bóng láng, có lẽ do bởi các dòng nước xiết đổ xuống đáy thung vào những mùa mưa đã vê tròn mài nhẵn.
    "Một hòn sỏi đẹp hiếm có! Giá còn chơi như ngày xưa... Thì nó đã là của hiếm, được cất giữ cẩn thận..." Xít mỉm cười nhớ lại một trò chơi lúc còn nhỏ. Vừa định cầm viên sỏi liệng đi, chợt Xít nắm chặt tay giữ hòn sỏi lại. Một thứ vừa lóe lên trong đầu Xít. "Những hòn sỏi... Trò chơi...!" Ý nghĩ như tia chớp mảnh lóe lên, tuy ngay tức thì còn mơ hồ chưa rõ nét, nhưng Xít đã thoáng có linh cảm nhận ra, dường như cái thứ nó vừa nắm bắt được mấu chốt của một vấn đề gì đó?
    "Là gì nhỉ?" Xít lầm bầm tự hỏi. Nhìn đăm đắm vào viên sỏi một lát rồi nó bật nhận ra cái nó đang tìm kiếm, nó khẽ kêu lên:
    - Đúng! Đúng rồi! Chính là cách này! Vậy mà sao chẳng nghĩ ra kia chứ?
    - Nghĩ ra cái gì? - Đan nhìn Xít ngạc nhiên hỏi, chẳng hiểu chuyện gì.
    - Tớ vừa nghĩ ra một cách này! - Xít hào hứng nói, rồi nó đưa viên sỏi lên trước mặt Đan xoay xoay hỏi - Cậu còn nhớ cái này không?
    - Không! - Đan đáp gần như không thèm nghĩ.
    - Cố nhớ lại đi! Một trò chơi xưa, mà hai đứa mình thường chơi quên cả ăn cả ngủ ấy? - Xít gợi ý
    - Trò gì? - Đan nhìn hòn sỏi lẩm bẩm, cố lục trong trí nhớ. Chịu nó chẳng nhớ ra được. Tự ngày xửa ngày xưa, hai đứa đã chơi biết bao nhiêu là trò kia chứ, sao mà nhớ nổi? Nó vừa định lắc đầu vẻ chẳng quan tâm thì bỗng bật nhớ ra, nó kêu lên:
    - A! Nhớ rồi! Là trò "Đánh Trận Sỏi!"
    - Chính là nó đấy! - Xít nói.
    - Nhưng sao cậu hỏi vậy? Cái trò chơi cũ rích, chính do hai đứa mình nghĩ ra. Nhưng đến bây giờ, lũ trẻ con cũng có đứa nào thèm chơi đâu?
    - Chẳng đứa nào chơi thì kệ chúng nó! Tớ vừa nghĩ ra một cách! - Rồi Xít nói - Mấy hôm nay tớ vẫn đang băn khoăn: sau khi dùng cái thuốc của cụ Sóc rồi, tai hai đứa điếc đặc, thì làm sao chúng ta còn bàn bạc được với nhau cách đối phó với con Sói? Mà việc bàn bạc, lên kế hoạch trước lại vô cùng quan trọng! Giờ, chính nhờ hòn sỏi này, vừa giúp tớ nhớ lại trò chơi đó, nó sẽ là một cách giúp hai đứa mình bàn bạc, lên kế hoạch mà không cần phải trao đổi bằng lời, cậu thấy sao?
    - Đúng! Đúng thế! - Đan vỗ đùi đánh đốp, hiểu ra - Đúng là trời giúp mình rồi! Trò chơi ấy không dùng vào lúc này thì còn dùng lúc nào nữa? Cậu tài thật đấy! Thế mà cũng nghĩ ra!
    - Cũng nhờ viên sỏi "lấy mạng" này của cậu đấy! - Xít cười nói.
    Hai đứa mừng rỡ vì đã có cách giải quyết được một vấn đề khá nan giải, mà chúng vẫn day dứt lâu nay, điều này quan trọng thế nào thì chúng quá hiểu! Với cách này, chúng đã gỡ được một nút thắt tưởng như vô kế khả thi. Và với riêng Xít, sau khi nhớ ra cái trò chơi ngày còn con nít, nó đã lờ mờ nghĩ tới một kế hoạch mới để đối phó với con Sói.
    Nhắc lại trò chơi xưa cũ, lập tức những ký ức tuổi thơ ùa về với hai đứa. Chúng miên man nhớ lại cái lần đầu chúng đã nghĩ ra cái trò chơi đó thế nào. Chúng vẫn nhớ như in, chưa quên một chi tiết nào. Vì thi thoảng ngồi với nhau, chúng vẫn ôn lại để nhấm nháp cái thú vị của một thời thơ bé vô ưu, hồn nhiên, tinh nghịch, tung hoành ngang dọc khắp làng bản, mới trôi qua chưa xa xôi gì.
    Cái trò Đánh Trận Sỏi ấy thực sự là do hai đứa đã nghĩ ra, khởi đầu từ hai đứa, sau này mới lan truyền ra khắp lũ trẻ con trong bản. Ngày ấy có một thời gian dài hai đứa là trung tâm của những đám tụ tập con nít. Bởi sau khi tạo ra trò chơi mới kỳ thú, vô cùng hấp dẫn so với những trò chơi cũ rích, nhàm chán thì cũng không có đứa trẻ nào trong bản chơi những viên sỏi mà giỏi tưởng tượng và diễn đạt sống động, gay cấn hơn Đan và Xít.
    Chúng vẫn còn nhớ rất rõ. Đó là vào một buổi trưa hè, như mọi bữa, hai đứa kéo nhau ra con suối nông, nước trong veo gần cuối bản tắm. Sau khi té nước, nô đùa đuổi nhau dọc con suối đã chán chê, nhưng vẫn còn tiếc làn nước mát lạnh, chảy ào ào tung bọt trắng xóa từ khe núi chảy ra chẳng lỡ về, hai đứa bò lên nằm trên một phiến đá rộng ngay sát mép suối. Phiến đá nâu sẫm to ngang cả hơn sải tay tha hồ cho chúng lăn lê bò toài trên ấy. Tảng đá nằm lấp xấp trên mặt nước nên chúng vừa có thể nằm gối đầu lên tảng đá còn chân lại thả nổi bồng bềnh nửa người trong làn nước mát lạnh, vô cùng thoải mái.
    Gối tay ngửa mặt ngắm mây trời một lúc, chúng cố suy nghĩ xem còn trò gì để tiêu khiển nốt cái buổi chiều nắng vàng rực rỡ còn khá dài ấy. Đang nghĩ tới nghĩ lui chẳng nghĩ trò gì, bỗng quay ngang chúng thấy một con cua đá be bé đang ì ạch vần một viên sỏi trắng từ phiến đá xuống nước. Con cua cứ vần được vài vòng lại đứng lại giương đôi mắt lên ngó Đông liếc Tây như cảnh giác lắm, rồi lại cúi xuống hì hục vần tiếp. Đang rảnh rỗi, lại thấy là lạ, hiếu kỳ không hiểu con cua định làm gì, hai đứa nằm dài ra chống tay lên cằm theo dõi. Con cua nhỏ kỳ cạch một lúc rồi cũng đưa viên sỏi xuống gần sát mép nước.
    Bất đồ từ dưới nước một con cua đá xám to lớn gấp mấy lần con cua nhỏ kia, nấp dưới những viên cuội tròn trồi lên, nó xông thẳng tới, cậy mình to khỏe giành lấy viên sỏi, xua đuổi con cua nhỏ đi chỗ khác. Con cua nhỏ cũng có vẻ ngang bướng, chẳng dễ buông xuôi, nó ngoan cường giương hai càng lên, vừa chạy vòng quanh viên sỏi vừa đánh trả kịch liệt.
    "Đồ hèn! Đồ ăn cướp!" thằng Xít tức giận kêu lên. Nhưng nằm đối diện, thằng Đan nhấp nháy con mắt lại nghĩ khác, nó làu bàu bênh vực con cua đá: "Đây là lãnh địa của con cua Xám mà! Con cua kia mới là đồ khôn lỏi! Ở đâu tới rồi định lẻn vào ăn trộm báu vật của nó! Trông nó oai phong như một vị Lãnh Chúa thế kia mà! Cái con oắt kia mới là đồ xấu xa! Cho đáng đời!"
    "Xì!" Xít dài mỏ chê "Mắt cậu bị toét à? Lãnh Chúa gì mà lại đen xì xì, mốc meo như củ gấu thế kia! Cậu nhìn đi, con cua nhỏ chiến đấu dũng cảm, kiên cường thế kia mà! Nó mới thực sự là một anh hùng!"
    "Gớm!Thế con cua của cậu thì đẹp lắm đấy!" Đan cũng dè bửu lại "Anh hùng gì mà tong teo, yếu xìu. Đã thế còn keo kiệt bủn xỉn, đi ăn trộm mà cất bớt một chân ở nhà, nên giờ mới chạy cà thọt cà thọt như bị vẹo bên mông thế kia, trông rõ khổ!" Thằng Đan cười khoái trá, rồi chưa hả, nó bồi tiếp "Chưa hết đâu nhá! Nhìn đi, hình như người Anh Hùng của cậu còn bị lác nữa cơ! Nhìn kìa! Nhìn kìa! Nó cứ nhìn bên trái nhưng lại chạy đâm sầm sang bên phải. Chắc để được đập mặt vào đá cho sướng hay sao ấy? Rõ đồ dở hơi!" Rồi Thằng Đan sung sướng tự thưởng cho mình một tràng cười khinh khích rất thỏa mãn. Xít tức tối lộn ruột. Mọi ngày thằng Đan đâu nhanh mồm nhanh miệng bằng Xít, nên cãi hay thua. Nhưng bữa nay thì Xít lẻo mồm đến đâu cũng chẳng cãi nổi nó, vì nhìn lại thì những lời bêu giếu cay đắng của thằng Đan quả thật đều là hiện thực cả. Con cua nhỏ vừa bị mất một chân bên trái, lại vừa chạy như say rượu ấy: mắt cứ nghểnh lên, mà đi thì cứ đâm sấp dập ngửa, chả rõ muốn đi đâu nữa, rõ chán!
    Cãi nhau một hồi, đuối lý sinh cù nhầy, Xít cầm viên sỏi trắng lên ứng biến: "Nói cho nhà ngươi biết! Đây mới chính là ta, đây mới là chân tướng của ta nhé!" "Thế còn con cua lác vẹo kia thì sao?" Đan tức hỏi vặn. "Ờ ừm..! Nó chỉ là ngựa cưỡi của ta thôi!" Xít đáp bừa. "Hô hố! Anh Hùng gì mà đi cưỡi con ngựa giống con dê thọt thế hử? Dắt trộm của mấy đứa con nít chăn thả mải chơi chứ chẳng vừa? Chắc nó cưỡi Anh Hùng chứ Anh hùng cưỡi sao nổi nó?" Đan cười hơ hớ giễu cợt. Tức quá Xít đánh bài lảng, nó nhặt một cọng lá lên gắn vào viên sỏi trắng cầm lên lắc lư nói: "Ta đây là anh hùng diệt trừ yêu quái! Kiếm trong tay ta là kiếm báu, kẻ nào trông thấy kiếm này đều phải cúi đầu chịu chết! Nếu ngươi khôn hồn quì xuống đầu hàng, ta sẽ tha mạng cho mà về với các con, các cháu!" "Còn lâu nhé!" Thấy Xít xoay sở, Đan tức tối định cầm con cua đá to tướng lên trêu lại, nhưng con cua đã ton tót chạy tụt xuống nước. Thấy thế, Đan liền thò tay xuống suối móc lên một viên sỏi nâu bóng, to như ngón chân cái. Nó khoái trí kêu lên "Sợ cái mông ta đây! Ha ha! Ta đây, mới thực sự là Lãnh Chúa của cả vương quốc hùng mạnh này! Oai phong thừa thãi! Ta mà sợ ngươi sao? Tên Anh Hùng đói ăn kia?" Không những thế Đan còn bốc thêm một nắm gần chục viên sỏi nhỏ hơn đủ màu, sếp chúng thành một hàng sau lưng viên sỏi nâu, và nói: "Đội cận vệ trung thành, tài giỏi của ta ở đây! Chỉ cần một cận vệ của ta cũng có thể xách mông ngươi lên đánh cho đỏ đít như khỉ. Đâu cần ta phải ra tay cho mệt xác!" "Được thế thì thách tất cả các ngươi ra đây đấu với một mình ta đấy!" Xít đáp trả "Đồ nhát cáy! Xem ai thua! Thua thì chớ có khóc nhè về nhà mách mẹ đấy nhé!" Thế là Xít cầm viên sỏi trắng xông lên, miệng nó phụ họa kêu: "Cục cục! Cục cục!" Và hình dung trong đầu, viên sỏi của nó như một vị anh hùng mặc giáp bạc lấp lánh, đang kiêu dũng phi một con tuấn mã bờm dựng tung bay, từ xa lao thẳng vào quân thù. Đan cũng lập tức hào hứng hô: "Xông lên! Tất cả bắt lấy tên què kia!" Xít bực tức cãi "Què là vừa nãy thôi, bây giờ đâu còn què, không được hô như thế!" "Được! Thế thì không hô nữa!" Đan chấp nhận, tay nó gạt những viên sỏi màu lên bao vây lấy viên sỏi của Xít, lần này miệng lại kêu: "Quăng dây bắt lấy hắn! Đè lên cổ đừng cho chạy thoát" Tuy chỉ là đóng kịch, nhưng thấy quân bên Đan đông quá nên Xít đành phải tuân thủ luật chơi, cầm viên sỏi quay đầu rút lui, vừa chạy nó vừa quay lại mắng: "Cậy đông bắt nạt thật là hèn! Chẳng oai phong gì! Có giỏi thì một mình ra đấu với ta xem?" "Ta sợ cóc gì ngươi!" Đan nói, cầm viên sỏi nâu tiến lên, rồi nói: "Các ngươi ở đây! Ta chỉ cần một tay bắt tên oắt kia đem về, tối tối bắt nó kỳ chân đi ngủ cho khoái!" "Được, nếu hôm nay bắt được ngươi, ta sẽ thả vào lồng cho mấy con dế của ta tập đá chơi!" Xít trả miếng.
    Nói xong hai đứa cùng tức khí, cầm hai viên sỏi lao vào nhau mổ chanh chách, vừa đập vào nhau miệng chúng vừa la hét ầm ĩ. "Chết đi! Chết đi này! Phang cho què này!" "Chọc cho lòi ruột rồi nhé! Đừng có cãi đấy!" "Trúng! Trúng mắt rồi! Ngã ra đi chứ! Sao cậu ăn gian thế?" "Trúng! Trúng cái gì? Chỗ ấy biết đâu là mặt hay mông mà bảo trúng mắt? Ai ăn gian?" Cứ như thế chúng hò hét cứ như thể chúng là những anh hùng đang trong một cuộc chiến đấu cam go ác liệt thật sự...
    Kể từ sau buổi chiều thú vị ấy, hai đứa ham chơi thành nghiện, chẳng ngày nào chúng không giành ra cả nửa buổi để chơi, cứ hễ rảnh là chúng lại châu đầu vào múa may hò hét. Mà quả thật, cái trò chơi đó càng chơi càng thú vị, hơn hẳn những trò cũ trước đây. Với trò chơi này chúng tha hồ sáng tạo, tạo ra nhân vật riêng của mình tùy theo trí tưởng tượng phong phú, chẳng có luật nào ngăn cản. Tất nhiên đa số chúng đều tranh nhau nhận mình là anh hùng, là tráng sĩ tài giỏi ghê gớm; chả đứa nào chịu nhận vai gian ác, xấu xa. Chúng tha hồ nghĩ ra những câu châm trích, móc mói nhau để hạ nhục, kích bác kẻ thù, và có cái hay ở chỗ là: chơi với đối phương càng giỏi thì đứa chơi bên kia càng thấy hứng thú, thú vị. Dần dà Đan và Xít đưa trò chơi lên một tầm cao mới hay ho hơn nhiều, khiến bọn trẻ phục lăn. Đó là bày ra những trận chiến hoành tráng hơn nhiều. Mỗi bên có cả trăm quân và được gắn tên với đủ các loại thần thú: hổ, gấu, đại bàng... Bối cảnh được chúng lấy từ những cuộc chiến giữa các vị thần trong câu chuyện truyền thuyết chúng đã từng được nghe. Trong những trận chiến ấy không chỉ có những cuộc đấu tay đôi vô cùng ác liệt giữa các vị thần và ác quỉ, mà còn cả những màn bày binh bố trận vô cùng hấp dẫn: nào là cầu kỳ dàn quân bao vây, mai phục trong đồi cát rồi bất ngờ đánh úp; hồi hộp rút quân qua những hẻm núi hẹp với màn bắn tên "mồm" chíu chíu trên đầu... rất sinh động hấp dẫn. Và cứ mỗi lần như thế, Đan và Xít chưa kịp dàn những viên sỏi xong thì lũ trẻ con trong bản, từ lớn đến bé, đã quây thành vòng trong vòng tròn bên ngoài, háo hức chờ đợi xem hai đứa diễn.
    Dù sau này hầu hết đám trẻ con trong bản đều bắt chước chơi trò đó, nhưng chẳng có cặp nào chơi hay và có những câu nói móc họng nẩy lửa, gây cười như của Đan và Xít. Đó là cái thời chúng là thần tượng của cả một đám lau nhau, đi tới đâu là hò hét tưng bừng đến đó. Hai đứa chơi lâu dần rồi hiểu nhau tới mức, cứ hễ đứa kia vừa cầm viên sỏi lên là đứa này đã đoán ra nó sắp làm gì, chả cần phải nói chả cần phải giải thích.
    Ngày ấy hai đứa chúng đều có những cái ống bương to, đựng đầy những viên sỏi đủ màu đẹp mắt mà chúng đã bỏ ra bao nhiêu công sức, lội suối mò khe sưu tầm, cất giữ. Và trò chơi ấy cuốn hút hấp dẫn tới mức, không biết bao phen chú Uni đã phải ra xách tai thằng Đan kéo về, còn thằng Xít lủi thủi ở lại vơ những viên sỏi vào ống mai đem trả lại cho bạn để chơi tiếp...

    Ngồi nghỉ bàn bạc một lát về ý tưởng mới xong xuôi, hai đứa tiếp tục lên đường. Dù đã giữa trưa nhưng chúng chẳng hề muốn dọn bữa ở giữa một cái thung lũng rậm rì, chết tiệt như thế này.
    Lần này chúng đi sát nhau hơn và cố tránh né tất cả những loài dây leo có hoa sặc sỡ treo lơ lửng trên lối đi.
    Cả thung lũng đang dần ửng lên, sóng sánh vàng dưới những tia nắng mặt trời rực rỡ từ đỉnh núi chiếu xuống, xuyên qua những tán lá mênh mông cao vút của đám cây Trắc Bá mọc dựng đứng, bám cheo leo trên vách đá.
    Dưới thung lũng này không khí rất ẩm ướt lại bí gió nên tạo lên một cảm giác bức bối, khá khó chịu. Dù trời đang tạnh ráo nhưng những giọt nước từ trên các tán lá cứ lộp bộp rơi xuống, chui vào đầu vào cổ ngứa ngáy; quần áo bốc mùi mồ hôi ẩm ướt. Những mảng rêu lớn dày như những tấm thảm xanh lục, sũng nước phủ quanh các gốc cây nhỏ giọt tong tỏng, tí tách. Và nấp dưới chúng là đám côn trùng ưa ẩm ướt lấp ló, thò những cặp râu dài khua khoắng đánh hơi từ trong hốc tối...
    Ánh mặt trời đang lên cao, đám sương mù dù đã tan đi ít nhiều, nhưng làn hơi nước trong thung lũng vẫn bốc lên mờ mờ như một chảo nước nóng. Hai đứa chỉ muốn đi thật nhanh, thoát khỏi cái thung lũng chết tiệt này càng sớm càng tốt.
     
    Chỉnh sửa cuối: 15/5/19 lúc 07:45
  7. Phung QA

    Phung QA Gà con Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    10
    Được thích:
    2
    Đã thích:
    1
    GSP:
    Ap
    Chương 6: Nấm Đỏ

    Đi liên tục hơn một giờ, chợt chúng thấy hiện ra trước mắt một khoảng rừng thưa, nhưng kỳ lạ mặt đất loang lổ, phủ đầy những mảng gì đó đỏ tươi như máu. Nhìn từ xa khó nhận biết đó là cái gì. Nhưng với Xít, dù chưa xác định được, thì cái màu đỏ đó vẫn mang lại một cảm giác rất chi là bất an, chắc chắn chẳng có gì tốt lành! Nó đứng lại tần ngần một lát, nhưng rồi cuối cùng cũng quyết định phải tiến tới vì chẳng còn con đường nào khác!
    Tiến sát gần hơn, hóa ra những mảng đỏ tươi ấy là những bãi nấm khổng lồ. Đó là một loài nấm kỳ dị: chúng có màu đỏ tươi như máu, mọc chen chúc tầng tầng lớp lớp lan ra đan vào nhau, bành trướng phủ gần như kín cả phần còn lại của cái thung lũng, tạo thành một mảng rừng đỏ rực kỳ dị. Những cây nấm to lớn khổng lồ: ngay những cây nhỏ chen chúc tầm thấp sát mặt đất, cái mũ nấm cũng đã phải to như cái miệng nồi, còn những cây lớn cao ngang đầu gối thì những chiếc mũ nấm xòe ra to cả sải tay, nằm chềnh ềnh tựa cái nong phơi thóc, dăm ba đứa trẻ con có thể chạy nhảy chơi đùa trên đó thoải mái. Kỳ lạ nữa là tất cả chúng đều mọc ngược, những chiếc mũ nấm đều xoay ngửa lên trời và giữa kẽ vách chứa đầy một thứ chất lỏng màu hồng nhạt trong suốt, nhìn tựa như những chiếc mang cá khổng lồ đang phập phồng thở. Đan và Xít e ngại, đứng cách xa đưa tay bịt mũi ngó nhìn. Chúng sợ thứ này cũng có thể gây độc giống như loài hoa lúc sáng. Nhưng đứng một lúc thấy không có hiện tượng gì lạ, chúng mới chậm rãi tiến lên, đi vào giữa rừng nấm ấy. Đi một đoạn đã thấy lối ra khỏi thung lũng hiện ra sau một con dốc cao tít đằng xa, nằm lọt thỏm giữa hai vách đá dựng đứng. Thấy lối ra làm hai đứa cảm thấy lòng nhẹ nhõm, phấn chấn hẳn. Hóa ra đám nấm khổng lồ này không độc và cũng chẳng túm người ta kéo vào mà ăn thịt như mấy loài hoa bẫy ruồi đáng sợ, chúng có vẻ kỳ dị nhưng khá vô hại. Đang bước đi, chợt Đan khẽ "suỵt!" cho Xít dừng lại. Nó chỉ cho Xít thấy một thứ nằm ngay trên một chiếc nấm to tướng trước mặt, chắn ngay trên lối đi. Đó là một con thằn lằn to cỡ cẳng tay, toàn thân nó từ đầu tới tận chót đuôi đều phủ một lớp vảy đỏ rực như máu, hòa lẫn cùng màu của chiếc mũ nấm nên sẽ rất khó phát hiện; nếu không phải nó đang dựng người lên, ngển đầu nhìn hai đứa bằng đôi mắt giận dữ, long sòng sọc cũng đỏ như máu thì chưa chắc Đan đã phát hiện ra.
    Hai đứa sững lại trước sinh vật kỳ quái này, nhất là cái vẻ hung hăng, dữ tợn kỳ lạ của nó. Đứng đằng trước, nên Đan liền lấy mũi lao dứ dứ vào người nó, muốn xua nó bỏ đi nhường lối. Nhưng kỳ lạ, con thằn lằn chẳng hề sợ hãi, né tránh, nó há miệng đớp lại mũi lao, rồi bất thình lình nhảy phắt lên, bò thoăn thoắt theo cán lao xông thẳng vào tay Đan mà cắn. Giật mình, Đan buông luôn cán lao giơ chân đá mạnh một phát vào giữa lưng, làm con Thằn lằn rơi bộp xuống chỗ cũ. Con thằn lằn rơi xuống còn đang vật mình chưa kịp lật lưng lại, thì đúng lúc ấy, hai đứa nghe một tiếng "vù!" trên đầu, rồi con thằn lằn bị đè ngửa ra giãy giụa. Một con chồn bay chẳng biết từ đâu vừa phóng xuống, nó chụp cả bộ móng sắc cắm ngập vào thân con thằn lằn đang oằn mình giãy giụa điên cuồng. Tuy bị xiết chặt, nhưng cái đầu con Thằn lằn vẫn vươn ra sau, hai hàm răng lởm chởm của nó hung hãn nhao lên cắn vào mặt kẻ thù. Thật kỳ dị, con Chồn này cũng một màu đỏ rực! Kể cả đôi mắt to lồi ra của nó cũng thế - đỏ sọng như hai cục máu. Sau khi đã giữ chặt con mồi, con Chồn bay há miệng kết liễu con mồi bằng một cú cắn tàn bạo rất mạnh ngang cổ họng, con Thằn lằn nằm vật ra nhưng dường như vẫn chưa chết hẳn. Tha chiến lợi phẩm, con chồn bay nhảy phóc lên một gốc cây to gần đó tìm cách đánh chén. Điều kỳ lạ là nó coi Đan và Xít như những khúc đá vô tri, chẳng thèm để mắt tới dù hai đứa đứng chỉ cách cái cây chưa đầy hai sải. Nhưng con chồn bay vừa leo được hai ba bước, thì bỗng "bụp!" Từ thảm nấm dày bên dưới, một chiếc đầu đỏ lòm, to như cái bát phóng vụt lên. Một con rắn to hơn bắp chân, cái đầu bẹt góc hình tam giác, vừa ngoác miệng ra đớp gọn lấy chân sau con chồn bay kéo xuống. Con chồn bay ra sức chống đỡ, nó cố dùng tất cả móng vuốt bấu vào lớp vỏ cây bám thật chặt. Thế rồi Đan và Xít cùng sững người, trố mắt nhìn một trận chiến kinh sợ giữa những con vật kỳ dị - Con Thằn lằn đỏ bỗng dưng như sống lại, nó dường như còn hung bạo và dữ tợn hơn trước: cái đầu nó ngoáy loạn xạ, hung hăng hết cắn vào mặt con chồn bay nó lại quay sang đớp vào mắt con rắn đỏ. Rõ ràng thứ quỉ dữ bé nhỏ ấy còn khát máu, thèm được cắn giết hơn cả việc sinh tồn, vì nó hoàn toàn đang có cơ hội bỏ trốn. Con chồn bay cũng hung hãn không kém, nó ra sức chiến đấu với cả hai. Vừa cắn rứt đứt họng con Thằn lằn, nó vừa quay lại nhe hàm răng sắc cắn bật máu, rồi nhay nhoe nhoét một bên mí mắt con rắn. Cả ba con vật tạo thành một mớ bùng nhùng, hỗn độn, cắn xé đỏ lòm trên thân cây. Quả là một trận chiến ghê rợn hiếm thấy. Tuy vậy con Rắn đỏ vẫn là kẻ mạnh, nó lì lợm nhắm nghiền mắt lại, mặc cho những hàm răng sắc như dao cứa vào mặt toạc máu; nó ra sức cuộn mình kéo mạnh một nhát. Cái màng bụng con chồn bay rách toạc ra tứa máu nhìn rõ thịt đỏ lòm, chiếc chân sau gần như rời ra. Buông con mồi lớn, rất nhanh con rắn phóng vọt lên đớp gọn con thằn lằn chỉ bằng một cú táp, không cho nó có cơ hội trốn thoát. Sau khi đã nuốt chọn con Thằn lằn vào họng nó mới chậm dãi quay lại thưởng thức nốt con mồi thứ hai vẫn còn đang thoi thóp, đau đớn, run rẩy bám rịt vào thân cây. Khi đã no nê, con Rắn từ từ luồn xuống những bụi nấm đỏ bò đi.
    Sau một cái rùng mình sởn gai ốc, Đan khẽ kêu lên: "Trời ơi! Không hiểu nơi đây là thứ quái quỉ gì mà sinh ra toàn những thứ gớm giếc thế! Mau lên, Xít! Mình phải đi thật mau ra khỏi đây thôi! Cái thung lũng này làm tớ gai hết cả người lên rồi!" Chả cần Đan giục, Xít cũng thấy nước miếng tanh lòm trong miệng với những thứ vừa trông thấy. Hai đứa vội bước thật mau. Đột nhiên những bước chân luồn trong những bụi nấm trở lên gai gai, rờn rợn.
    Nhưng chỉ mới vừa đi được vài bước, đang dồn chân bước mau, chợt Xít dường như cảm thấy mấy bụi nấm xa xa bên trái vừa khẽ rung nhẹ. Nó dừng lại chăm chú nhìn, nhưng không tất cả vẫn yên lặng như không có gì. Xít tiếp tục bước tiếp mà không nói gì với Đan, nó không muốn làm thằng bạn lo lắng vu vơ. Nhưng rồi vừa đi được vài bước, cái cảm giác có gì đó động đậy ở cuối ánh mắt lại tái diễn. Lần này Xít cứ vờ bước đi rồi bất ngờ nó xoay mình quay phắt lại quan sát. Bỗng dưng toàn thân Xít nổi da gà, cái quay người đột ngột vừa cho thấy: đằng sau, bên trái, bên phải, bao thành một vòng sau lưng chúng, những bụi cây, những bụi nấm đều vừa khẽ rung lên, và chúng đứng yên ngay khi Xít quay lại như thể có thứ gì đó đang trườn lách bên dưới, tạo thành một vòng vây bủa về phía chúng.
    Hình ảnh những con thằn lằn, rắn đỏ tanh, ghê sợ vừa rồi lập tức hiện lên trong đầu Xít.
    "Chạy!" Xít hét lớn rồi vùng lên chạy. Tức thì Đan cũng vọt lên như một con hoẵng. Hai đứa cắm đầu lao về phía trước dù vẫn chẳng biết thứ gì đang đuổi theo mình. Hai cặp giò căng ra hết sức phóng vun vút, đạp lên tất thẩy. May sao khu rừng chỗ này khá bằng phẳng nên chúng chạy khá nhanh. Dù chỉ trong phút chốc, với một nỗi ghê sợ vô hình bám sát đít khiến hai đứa chạy được một khoảng cách đáng kinh ngạc. Nhưng khi liếc lại chúng không khỏi kinh hãi: làn sóng rùng rùng kia đã tiến đến, áp sát sạt tự bao giờ, nó chỉ còn cách chúng độ vài sải tay. Mà con dốc phía trước thì còn khá xa.
    "Phen này chết thật rồi!" Xít than thầm, dù đôi chân nó vẫn guồng như một cái chong chóng, sắp cuồng loạn muốn ríu vào nhau. Nhìn qua phía sau Đan, Xít thấy làn sóng rùng rùng đã bám sát gót. Không dừng lại, Xít liền vừa chạy vừa vung ngọn lao quất mạnh sang. Một tiếng "Oét!" vang lên, chẳng ra tiếng muông thú gì. Chạy một hồi thở hồng hộc, đôi chân đã mệt rã rời, gần như chỉ guồng theo một thói quen vô thức. Bỗng chúng đột nhiên nhận ra những tiếng loạt xoạt phía sau đã tan biến tự lúc nào không rõ. Hai đứa chạy chậm lại dần rồi ngạc nhiên nhìn ra sau; chúng không tin vào mắt mình, nhưng quả thật những bụi cây, vạt nấm đã im lìm từ lúc nào. Cả khu rừng lại trở lại yên tĩnh vắng lặng như chưa từng có cuộc rượt đuổi chối chết nào hết.
    Chưa hết hoàn hồn, hai đứa cong lưng chống tay lên gối mà thở lấy thở để, chưa bao giờ chúng có cuộc chạy sống mái như vậy! Nhưng ngạc nhiên hơn, chúng không tin là mình đã thoát dễ dàng như vậy "Chúng ta đã thoát ư?" Đan quay sang hỏi Xít "Chúng ta đã thoát thật sao? Thật kỳ lạ, như trong mơ vậy! Sao đột nhiên nó lại dừng lại nhỉ?" "Chịu! Tớ còn chẳng biết thứ gì đang đuổi theo nữa!" Xít đáp. Rồi chẳng thèm quan tâm thêm, miễn là không phải chạy nữa, hai đứa tập tễnh tiếp tục đi về phía khe núi.
    Đi thêm đoạn dài nữa thì tới chân dốc, chúng bắt đầu leo lên. Tuy cái dốc khá dựng, nhưng do đá chồng lên nhau như những bậc thang nên leo lên cũng không đến nỗi khó khăn.
    Tới sát đỉnh, thấy một phiến đá rộng bằng phẳng, chúng quyết định dừng lại nghỉ chân. Phiến đá thật là một nơi lý tưởng để ngồi nghỉ: vì nơi đây là nơi gió theo hai vách đá sau lưng ùa vào thung lũng, thổi mát rười rượi, và cũng là nơi cao nhất đón ánh chiều tà cuối cùng của vừng dương trải ra như những rẻ quạt, rắc sắc vàng óng như mật xuống lòng thung.
    Từ phiến đá trên cao thoáng đãng này, có thể phóng tầm mắt ra bao quát tất cả, ngắm trọn vẻ đẹp của cái thung lũng đang dần rơi vào ánh chiều tím nhạt. Nhìn nó tựa một chiếc bát ngọc màu lục đang từ từ chìm dần vào dòng sữa nhạt trắng đục, cứ mờ dần mờ dần, nhưng trong lòng bát vẫn sóng sánh ánh lên một ánh vàng mãi không thôi.
    - Những thứ rùng rùng trong bụi cây ấy là thứ gì nhỉ? - Ngồi một lát Xít lại bần thần hỏi bâng quơ.
    - Thì tớ cũng như cậu. Chạy đến suýt rơi cả dây quần, đâu thấy được gì! - Đan đáp - Nhưng cứ nhìn mấy con thú hiền lành như con thằn lằn và con chồn bay ấy, thì chẳng bao giờ tớ ân hận vì đã chạy thục mạng. Chắc chắn chẳng có thứ gì tốt đẹp hơn!
    - Ừ! Chắc chắn chúng chẳng có gì tốt đẹp cả! - Xít nói - Chỉ là tớ tò mò muốn biết chúng là gì thôi! - Ngừng một lát rồi Xít tiếp - Dù là gì, sao đột nhiên chúng lại buông tha chúng ta nhỉ? Chúng gần như đã ngửi được mùi thịt chúng ta rồi kia mà? Thật là kỳ lạ!
    - Ai mà biết! Có trời mới biết những điều quái quỉ gì ở chốn này! - Đan nói, rồi tiếp - Hình như, chỉ là hình như thôi! Tớ đã thoáng thấy một cái đầu, có cái mõm như mõm chó, thụt xuống khi chúng mình quay lại nhìn. Nó thụt xuống rất nhanh nên tớ cũng không chắc lắm! Dù sao thì cũng sẽ chẳng có lần thứ hai tớ băng qua cái thung này nữa, dù dưới đó có trải đầy châu báu đi nữa. Không bao giờ!
    - Chắn chắn là thế rồi! Khu rừng này quả là chứa đựng toàn những thứ khủng khiếp, quái đản! Bảo sao chẳng ai dám bước vào đây!
    - Và cái thung lũng này, là một lý do thêm nữa để con Sói Hai Đầu không đi...
    Đan chưa nói hết câu, chợt miệng nó cứng đờ, hai mắt nhìn trân trân về phía vách đá cao phía bên trái, nơi có những dải Trắc Bá bám dọc đỉnh núi, vươn cao tựa một bức tường xám kỳ vĩ, xòe tán rộng rợp âm u.
    - Trời!... Xít! Nhìn kìa! - Đan lắp bắp như thấy ma.
    Xít giật mình, ngước lên nhìn theo, mặt nó bỗng cũng nhợt nhạt, tái đi.
    Xa xa dưới vòm lá âm trầm, vời vợi - Một đám mây trắng muốt đang đứng lặng lẽ treo lơ lửng.
    - Nó là thật! - Xít thì thào rất khẽ, mắt dán vào cái đám mây trắng muốt.
    - Chính là nó đấy! - Đan thì thào đáp lại, nói gần như còn chẳng dám máy môi - Đấy nhé! Đã bảo tớ không mơ mà lại!
    Trong khi hai đứa vẫn còn đang dán mắt nín thở, thì thào. Thì đột nhiên đám mây kia khẽ lay động. Nó bay chầm chậm, kéo dài ra thành một làn sương mỏng dưới tàn lá, rồi bất ngờ bùng lên thành một vầng hào quang rực sáng. Trong chớp mắt, vừng hào quang đó thoắt thu nhỏ lại chỉ còn là một chấm sáng chói, rồi phóng vút đi dưới tàng cây tựa một ánh sao bănh, xuyên hút vào màn rừng thăm thẳm nhuộm ánh chiều tối sẫm, để lại phía sau một vệt bụi sao lưa thưa sáng lấp lánh.
    Cả Xít và Đan cùng lặng người. Thứ ma quỉ gì đây? Trong khu rừng này còn những thứ kỳ quái gì nữa? Sao cái bóng trắng này cứ ẩn hiện mà không chịu lộ diện? Hàng trăm câu hỏi quay cuồng trong đầu hai đứa.
    - Cậu có nhận ra nó là cái gì không? - Sau một hồi im lặng Xít hỏi.
    - Không, chỉ thấy như một đám mây khói - Đan đáp, rồi thêm - À hình như, trước lúc khi nó hoắt nhiên biến thành một đốm sáng, dường như tớ nghĩ mình đã trông thấy một con chim, một con chim trắng toát, nhưng không chắc lắm! Có lẽ chỉ là ảo giác.
    - Hừm! Vậy là nó đã âm thầm theo ta cả chục ngày nay, không biết là có ý gì? - Xít khẽ nói trong tiếng thở dài vẻ lo lắng.
    - Ừm, khu rừng này càng lúc càng lắm thứ kỳ quái! Chẳng biết còn những giống gì nữa? - Đan than.
    Hình ảnh cái bóng trắng đó cứ lẩn quẩn, ám ảnh trong tâm trí hai đứa mãi không thôi, kể cả trong bữa ăn trưa đã quá buổi rất lâu rồi. Nhưng cũng như lần trước, cái bóng trắng lại biến mất từ hôm đó không thấy nó đâu nữa.
    Ăn xong hai đứa trèo nốt đỉnh dốc qua phía bên kia. Phía bên này khe núi trời vẫn còn khá sáng, soi rõ một khoảng rừng thưa khác hẳn bên thung lũng: cây cối cao vút đổ bóng dài trên nền đất khô ráo, gió vi vu trong lành man mác thổi. Hai đứa tranh thủ đi thêm một chặng nữa trước khi màn đêm chụp xuống.

    Thấm thoát chúng đã đi được gần hai chục ngày, kể từ ngày rời bản Tơ Gúc. Một buổi chiều Đam đột nhiên phát hiện ra dấu vết của con Sói Hai Đầu, vào cái lúc chúng nghĩ ít có khả năng nhất.
    Lúc đó hai đứa đang băng qua một con suối cạn, trơ trọi toàn sỏi đá. Đang lúi húi bước, chợt Đan phát hiện ra một vết máu thâm đen rất nhỏ, còn dính trên cạnh một tảng đá lởm chởm sát bờ suối.
    Đan liền gọi Xít lại gần. Hai đứa cùng cẩn thận cúi xuống xem xét. Nhìn kỹ lại, chỗ máu đen ấy còn dính bết lại một vài sợi lông mềm dài non gang tay, có màu xám sẫm như tro. Háo hức, hai đứa vội mở rộng vòng tìm kiếm. Rồi cách đó không xa, Xít lại tìm thấy một dúm lông khác cùng màu giắt trên một khúc cây mục lăn lóc bên mép suối. Cầm nhúm lông vê vê trên tay, rồi đo áng chừng độ cao của vết máu trên tảng đá, sau khi ngẫm nghĩ một lát, Xít nói khá quả quyết:
    - Đây chính là lông của nó!
    - Sao cậu cả quyết vậy?
    - Vì đây đích thị là lông sói - Xít đáp - Nhưng dài hơn hẳn những con sói bình thường, và phải là con sói có thân hình rất cao lớn mới có thể cọ mình vào cạnh đá cao thế kia. Nếu không phải nó, thì chỉ trừ khi ở đây có nhiều hơn một con Sói Hai Đầu.
    - Phủi phui cái mồm cậu đi! Đừng có gở mồm thế! - Đan khẽ kêu lên.
    - Chúng ta hãy tìm quanh đây - Xít nói - Chắc chắn sẽ còn dấu vết lưu lại nơi này!
    Cả hai tỏa ra tìm kiếm quanh bờ suối, không lâu sau chúng phát hiện ra dấu chân sói trên một bờ dốc cao chếch về phía đầu nguồn con suối cạn, một vết chân lún sâu và rõ, có lẽ do lúc phóng mình lên con sói đã đạp vào đó. Nó để lại một vết chân lớn gần bằng miệng bát và những vết móng sắc rạch sâu vào thớ đất ẩm đỏ ối. Nhìn vết chân hai đứa không khỏi rùng mình trước kích thước đáng sợ của con sói. Vẫn biết theo lời đồn, nó to lớn khác thường, nhưng chúng không ngờ nó lại lớn nhường ấy!
    Nhìn vết chân ước chừng mới chỉ khoảng ba bốn ngày trước. Vừa mừng vừa hồi hộp hai đứa hối hả leo lên bờ đất lần theo dấu chân. Càng tiến tới, những vết chân càng dày hơn và rõ dần. Nhìn chúng in hằn rõ nét trên mặt đất, trên lá mục hai đứa hiểu rằng con sói đã tới đây theo một ngả khác và với dấu cũ mới xen kẽ chồng lên nhau thế này, chúng có thể đoán ra, đây là lối đi lại khá thường xuyên của con sói, cũng như chỉ có mình nó độc hành qua lối này.
    Kể từ sau khi phát hiện ra những dấu chân Sói Hai Đầu, tất cả các giác quan của hai đứa đều được dựng lên nghe ngóng đánh hơi, như những con chó săn nòi. Dù biết Sói Hai Đầu không bao giờ tấn công khi còn ánh dương, nhưng sự hiện hữu sờ sờ của nó bằng những vết chân trước mắt thế này, làm chúng không tránh khỏi căng thẳng, hồi hộp.
    Chưa bao giờ chúng cảm thấy như ngửi được mùi tanh của cái bóng ma trong truyền thuyết gần sát như lúc này!
    Lần theo dấu chân không được bao lâu nữa thì ánh chiều đã vội sập xuống, hai đứa cũng gấp gáp vội tìm nơi dựng chỗ ngủ.
    Ngày hôm nay chúng đã tiến một bước dài. Tìm được vết chân Sói, là chúng đã đạt được nửa mục tiêu đề ra. Kể từ nay chúng đã có một dấu vết rõ ràng, một con đường cụ thể để bám theo; không còn phải lần mò vô vọng giữa cánh rừng mênh mông, ngập tràn những hiểm họa này nữa.
    Sớm đạt được mục tiêu ngoài dự tính, cộng thêm việc nghĩ ra cách trao đổi bằng những viên sỏi; hai đứa cảm thấy chuyến đi này của chúng ngày càng có vẻ may mắn thuận lợi. Tinh thần hai đứa càng lúc càng tự tin, hưng phấn hơn.

    Đêm đó, nửa đêm đang ngủ, chợt nghe có tiếng lạt sạt nhè nhẹ bên dưới, Đan khẽ hé mở mắt nhìn xuống. Nó giật nảy mình. Con Sói Hai Đầu đứng sau một gốc cây lớn đang giương bốn mắt đỏ khé nhìn lên cái sạp. Đan chưa kịp làm gì thì nó đã nhẹ nhàng luồn qua mấy gốc cây tiến tới.
    Đan nín thở, trống ngực đánh thình thịch, chẳng ngờ lại chạm mặt con sói sớm thế này! Nó khẽ đưa tay ra sau lay Xít. Nhưng nó bỗng giật nảy mình, bàn tay nó quờ vào khoảng trống. Bên cạnh trống rỗng! Xít không còn ở đó! Nó đã biến mất tự lúc nào. Hoảng hốt Đan cúi nhìn xuống. Con Sói cũng không thấy đâu nữa. Đan vội ngồi phắt dậy, đưa tay rờ ngọn lao bên sườn. Vừa lúc đó Đan cảm thấy một luồng khí lạnh chạy dọc sương sống, dường như có gì đó ở ngay sau lưng nó. Đan quay lại, kinh hãi. Con Sói Hai Đầu đã đứng sừng sững trên chiếc cành lớn tự bao giờ, chỉ cách nó chừng hai sải tay. Bốn con mắt trợn tròng, lừ lừ đỏ rực nhìn Đan; hai cái lưỡi thòng lõng, nhểu từng dòng rớt rãi đặc quánh, dong dắt. Và thật kinh hoàng! Nằm ngửa vắt ngang cành cây trước mặt con sói là thân thể Xít. Nằm bất động, ngực loang lổ đẫm máu.
    Con Sói đặt cái bàn chân to tướng lên ngực Xít, nơi Đan thấy ngực bạn mình vẫn còn phập phồng thoi thóp thở. Nó từ từ xiết dần những chiếc móng sắc như dao cắm ngập vào ngực Xít. Người Xít khẽ giật giật rung lên trong đau đớn, trước khi trút hơi thở cuối cùng. Con sói vẫn chằm chằm nhìn Đan, cái miệng nó như vừa khẽ nhếch lên nở một nụ cười cay độc. Căm hận tột cùng, Đan thét lên một tiếng lớn, phóng lao chồm tới. Con Sói Hai Đầu cũng dướn mình lao lên. Bỗng có thứ gì đó quấn chặt lấy cổ Đan bó cứng lại, ép hai tay nó vào sát sườn không sao giãy giụa nổi. Đan kinh hoàng ra sức truồi ra, nhưng thứ đó như một con trăn lớn xiết chặt, chặt đến ngạt thở. Rồi có tiếng quát lớn bên tai: "Đan! Đan! Tỉnh lại đi! Tỉnh lại đi!"
    Đan choàng tỉnh. Hóa ra chỉ là một giấc mơ. Xít đang ngồi bên cạnh giữ cứng hai tay nó. Đan thở dồn, người vã mồ hôi ướt đầm, nó với ống nước tu ừng ực một hơi dài. Chờ bạn tỉnh hẳn, Xít mới hỏi:
    - Vừa mơ cái khỉ gì mà kinh thế? Cậu giãy như trâu bị ong chích ấy!
    - Ừm! Tớ vừa có giấc mơ sợ quá!
    - Cậu mơ thấy gì?
    - Tớ mơ thấy mình đang ngủ thì con sói lén mò lên, nó đã hạ gục cậu nằm phơi xác ngay trên cái cành này. Sau đó nó đang tính xử nốt tớ thì được cậu đánh thức.
    - Thế là cậu lại nợ tớ một mạng nữa nhé! - Xít đùa.
    - Hừm! Đang sợ vã cả mồ hôi ra đây này! Nợ với trả nần! Muốn thì cứ gộp hết lại, nao tớ trả luôn thể - Đan khẽ cười đáp - Thảo nào, cái mặt cậu trong giấc mơ, chết rồi nhìn vẫn thật đáng ghét!
    Xít trầm ngâm nhìn vào khu rừng tối om trước mặt vẻ đăm chiêu, lúc sau nó chợt nói, giọng nghiêm túc:
    - Mà có lẽ thế thật?
    - Thế thật cái gì? - Đan quay sang ngạc nhiên nhìn bạn hỏi, rồi nó đùa - Ý là cái mặt cậu ấy hả? Đương nhiên, xấu khó tả lắm!
    - Tớ đang nói về giấc mơ ấy! - Xít đáp giọng nghiêm chỉnh, không đùa bỡn - Tớ đang nghĩ, rất có thể đúng như trong giấc mơ của cậu. Con sói này không muốn đối đầu với cả hai chúng ta cùng lúc. Nếu là nó, tớ cũng sẽ tách riêng tứng đứa, đối phó từng đứa một.
    Đan khẽ rùng mình nói:
    - Liệu nó có nham hiểm, đáng sợ thực sự như cậu nói không vậy?
    - Tớ e là không chỉ có thế thôi đâu! - Xít hạ giọng lầm bầm, nghe không rõ lắm. Ngồi một lát hai đứa tiếp tục nằm xuống ngủ, vì nhìn màn đêm còn dày đặc, phải còn lâu mới tới sáng.
    Ngày hôm sau hai đứa tiếp tục lần theo những vết chân đang hướng dần lên phía Bắc. Dọc đường, chúng cũng tranh thủ kiếm thêm được ít thịt rừng, khi may mắn bắt gặp một cái hang nhím với hai con béo núc ních; vì số thịt khô mang đi cần phải tiết kiệm, chỉ còn vài dẻo to hơn bàn tay.
    Đi chừng nửa ngày, chợt chúng thấy những dấu chân sói dần chuyển về phía Tây, lối đi mở ra bằng phẳng dễ đi hơn, và những vết chân sói cũng dễ nhận ra hơn nhiều. Hầu như chúng chẳng cần phải để mắt tìm kiếm nữa, các đấu chân cứ lồ lộ đều đặn dẫn về phía trước. Đi chừng nửa dặm thì dấu chân dẫn tới một vùng đất có địa hình gập ghềnh, lồi lõm khá khó đi. Ở đây các bụi cây lớn mọc đan xen, giữa chúng là những mô đất nhấp nhô nổi lên cùng rất nhiều hang đất hình hàm ếch ăn sâu vào bên trong, phía ngoài miệng dây leo bao phủ nhằng nhịt.

    Đi dấn thêm một đoạn, Xít bỗng nhiên đứng lại, trầm ngâm ngắm nhìn địa hình xung quanh. Có gì đó e ngại vừa thoáng dấy lên trong lòng nó. Nó cắn môi lẩm nhẩm một mình rồi tiếp tục đi. Đi thêm một đoạn nữa, cái linh cảm đó lại gờn gợn trỗi lên. Nhìn địa hình bất giác Xít nhớ tới quang cảnh nơi cha nó ngã xuống, đã được mọi người đôi lần nhắc tới. Nó vội nắm tay Đan kéo lại, nói:
    - Đan! Dừng lại đi! Chúng ta phải quay lại! Tớ thấy có điều gì đó không ổn!
    Tuy chưa hiểu chuyện gì, nhưng lâu nay Đan vẫn tin ở linh tính của bạn, nó đưa mắt cảnh giác liếc quanh khu rừng, rồi chậm dãi lùi bước. Hai đứa theo con đường cũ trở lui. Đi một lúc Đan mới khẽ hỏi:
    - Cậu vừa thấy gì à?
    - Không! - Xít đáp, rồi nó bảo - Mình ngồi đây nghỉ, tranh thủ ăn trưa luôn. Sau đó chúng mình cần bàn bạc một chút.
    Hai đứa lấy đồ ra ăn, vừa tranh thủ đốt lửa nướng cặp Nhím bắt được lúc ban sáng mới chỉ kịp lột da. Ăn xong chưa kịp uống ngụm nước Đan đã sốt ruột hỏi:
    - Có chuyện gì vậy?
    Xít ngẫm nghĩ một lát rồi nói:
    - Cậu còn nhớ chuyện đêm qua chúng ta đã nói với nhau không?
    - Không! - Đan đáp - Là chuyện gì?
    - Là rằng cậu đã nói: "Con sói này rất nham hiểm", và tớ nói: "E rằng nó không chỉ có vậy!" Còn nhớ không?
    - Ừ! Tớ nhớ rồi, mà sao? - Đan nhăn mày, chăm chú nhìn Xít hỏi.
    - Thực ra mấy ngày nay, cứ có điều gì đó lờ mờ trong đầu tớ - Xít nói - Tớ như cảm thấy, từ trước tới giờ vẫn có điều gì đó chưa đúng, chưa rõ ràng, cái đầu tớ không sao thông được. Nhưng vừa rồi, lúc ở trong khoảng rừng ấy, tớ chợt bừng nhận ra điều ấy! - im lặng một lát Xít tiếp - Bây giờ tớ mới nhận ra, và dám nói chắc rằng: Từ trước tới nay, hóa ra chúng ta hoàn toàn nhìn nhận sai về con sói này! Tất cả chúng ta: từ người xưa, đến cha tớ, và cả hai đứa mình nữa. Tất cả chúng ta đều đã sai!
    - Cậu nói sai, là sai thế nào?
    - Này nhé! Tất cả chúng ta đều nghĩ con Sói Hai Đầu này" Khôn Chẳng Kém Gì Người" đúng không?
    - Ừ, thì đúng thế mà! - Đan đáp.
    - Tớ nghĩ đó là một sai lầm, một sai lầm lớn của tất cả chúng ta! - Xít nhấn mạnh, rồi tiếp - Đã bao giờ, có ai chịu nghĩ rằng: con sói này còn ranh ma, sảo quyệt hơn cả Con Người không? Tất cả chúng ta đều bị đánh lạc hướng, theo một suy nghĩ bởi thói thường, rằng: Nó có khôn ngoan, tinh quái lắm, thì cũng chỉ thông minh đến như một Con Người mà thôi! Không ai nghĩ rằng nó còn ranh ma, xảo trá hơn cả con người! Và chúng ta vẫn luôn lầm tưởng, nó giành chiến thắng là bởi có sức mạnh ghê gớm cùng tiếng gào ma mị kia. Nhưng không! Bây giờ thì tớ dám chắc nó không chỉ có vậy đâu!
    - Vậy ý cậu là nó còn khôn hơn cả chúng ta? - Đan nhăn mặt hỏi, vẻ khó nuốt trôi điều Xít vừa khám phá ra.
    - Ngoài những cái đó, chúng ta đều không hề biết. - Xít nói tiếp - Cái đáng sợ của con sói này là nó còn biết dùng Trí Khôn. Nó không chỉ là một con quái thú tinh ranh, mà nó còn có thể bày mưu kế, rắp tâm tính toán thông minh hơn cả một Con Người! Và đáng sợ hơn, tớ nghĩ dường như nó còn biết cách ngụy trang che phủ cái sự khôn ngoan, ranh ma ấy, để tạo ra một sự bất ngờ, khiến đối phương không kịp trở tay. Điều này càng chứng tỏ nó thông minh, xảo quyệt thế nào! Chính sự phát hiện này cũng làm tớ thấy rùng mình đấy! Thảo nào mà từ trước tới giờ, chưa một ai hạ nổi nó. Cho dù là một con người khôn ngoan, cũng đâu có mấy ai nham hiểm đến vậy!
    - Cậu có làm quá lên không đấy? Nếu thế nó là quỉ chứ đâu còn sói nữa? Tớ không nghĩ nó thông minh đến thế đâu! - Đan tỏ vẻ không đồng tình, nhưng dường như cũng là cách nói để tự trấn an mình.
    - Rồi tớ sẽ chứng minh cho cậu xem! - Xít nói - Nhưng đây là trận chiến sống còn. Chỉ e không đề phòng sớm thì lúc đó đã quá muộn! Nếu nhác qua chẳng ai dễ thấy điều đó! - Rồi Xít hạ giọng - Này nhé, cậu thử ngĩ xem! Có con mãnh thú nào khôn ngoan tới mức: biết chọc tức làm người ta giận dữ mà mất kiên nhẫn không? Biết đợi chờ người ta nóng giận mất khôn mà dẫn đến hành động sai lầm không? Nhưng con sói này biết sắp đặt tất cả những điều đó đấy!
    Đan khẽ rùng mình. Xít tiếp:
    - Một người bình thường có đủ kiên trì, xảo quyệt làm được vậy không? Thứ nữa, từ trước tới nay, chỉ có con người biết lợi dụng địa hình để bẫy thú, chứ chưa từng nghe thú biết bẫy người bao giờ. Nhưng rồi cậu sẽ thấy, nó đã làm thế đấy! Nó biết cách dẫn dụ kẻ thù đến nơi nó muốn một cách rất khéo léo - Ngừng một lát Xít tiếp - Dù rất tôn trọng cha mình, nhưng tớ phải thừa nhận cha tớ đã mắc cả hai sai lầm ấy! Cha tớ đã bị nó làm cho nôn nóng mà tự dẫn mình vào cái bẫy của nó. Giờ càng nghĩ tớ mới càng hiểu rõ! Nếu xem xét lại cái hố sâu cha tớ ngã xuống, thì hoàn toàn không phải vô tình. Chắc chắn, đó là một nơi con sói đã chọn trước, dẫn dụ ông tới. Nó thật vô cùng xảo quyệt! Khi biết chọn nơi hiểm yếu, dẫn dụ con mồi đến, sa cơ vào rồi mới ra tay. Điều đó giúp nó vừa chắc thắng, vừa đỡ phải tốn sức hơn nhiều!
    - Và khi đã rơi vào bẫy của nó! Nó có toàn quyền chọn lựa, hạ con mồi vào ngày hay đêm! - Đan tiếp lời.
    Xít đau đớn nhăn mặt, khi nghĩ đến cảnh cha mình nằm dưới hố sâu với con sói lởn vởn trên miệng chờ màn đêm buông xuống để sát hại. Nhưng có lẽ! Và nó vẫn hằng mong thế: như bà Bơ Nót kể lại, thì cha nó đã chết vì chính con dao nó đang đeo bên sườn lúc này, đâm lút vào ngực. Ông đã chết ngay khi rơi xuống, không phải chịu nỗi hành hạ kéo dài ấy và con sói cũng chưa từng đụng được đến ông.
    Xít nói:
    - Việc ranh mãnh che dấu mục đích thâm hiểm như vậy, trên đời này thật hiếm có! Chính vì thế tớ e, những vết chân vừa rồi cũng chỉ là một cái bẫy, dẫn đường đến một nơi chết chóc nó đã dành sẵn cho hai chúng ta. Từ nay nhất định không thể coi thường sự nham hiểm của con quái thú này được! - im lặng một lát Xít hạ thấp giọng, dù rừng cây xung quanh vẫn lặng như tờ - Tớ tin chắc rằng nó đã biết sự có mặt của chúng ta ở khu rừng này! Chắc chắn nó chỉ lẩn quất đâu đây thôi và có lẽ đang âm thầm theo dõi chúng ta.
    - Sao nó phải mất công thế? - Đan cũng hạ giọng thì thào hỏi. - Vì chưa có được lợi thế, nó sẽ chưa lộ diện đâu - Xít quả quyết - Nó còn phải chờ cơ hội tách được hai đứa mình ra đã!
    Nghe xong Đan hít một hơi dài im lặng không nói gì, khuôn mặt đăm chiêu. Lát sau nó mới lên tiếng:
    - Đúng thế! Thảo nào, chưa bao giờ nó dính bất kỳ loại bẫy nào dù đặt khéo léo đến mấy! Mà chỉ có chúng ta mắc bẫy của nó mà thôi!
    - Dù sao giờ ta cũng hiểu nó rõ hơn! - Xít an ủi bạn.
    - Cậu đã nghĩ ra cách gì đối phó nó không? - tư lự một lúc Đan hỏi.
    - Ngay lúc này thì chưa có cách gì cụ thể. Nhưng tớ đã phác ra một cách đơn giản, có thể đối phó với nó nếu đúng những gì tớ đã nghĩ! - Hít sâu một hơi xít nói - Thực ra không phải lúc này tớ mới nghĩ đến. Xin lỗi vì đã giấu cậu âm thầm xem xét việc này từ mấy bữa nay. Nhưng vì thấy chưa rõ ràng nên tớ chưa muốn làm cậu lo lắng.
    - Vâng, cảm ơn bạn tốt! - Đan sưng sỉa, rồi hỏi - Cách đó thế nào?
    - Ừm - Xít ngẫm nghĩ một lát rồi mỉm cười, không giấu được một niềm thích thú dâng lên trên nét mặt - Thực ra cách này rất đơn giản, nếu nói ra, nó đơn giản đến mức có lẽ cậu chẳng tin đâu. Vì theo cách này, thì lại chẳng cần phải suy nghĩ gì cho mệt óc!
    - Thôi! Dẹp kiểu vòng vo ấy đi! Cậu nói thẳng ra xem nào! - Đan gắt.
    - Đó là ta cứ học theo cách của nó mà làm! - Xít nói vẻ đắc ý.
    - Học nó? - Đan nhăn mặt hỏi, chẳng hiểu ngô khoai gì.
    - Ừ! Học tất tật những thủ đoạn của nó! - Xít bình thản đáp, rồi giải thích luôn - Này nhé, đầu tiên ta cũng chọc giận, phải làm sao cho nó tức giận phát điên lên! Chuyện này chúng ta làm được chứ nhỉ? - Xít vừa hỏi vừa nhìn Đan mỉm cười ranh mãnh.
    Mắt Đan lập tức sáng lên:
    - Chọc giận hả? Ồ được! Cái này là nó chọn đúng người rồi đấy! Hình như chúng ta không còn thiếu món chọc giận, phá quấy nào đâu! Có khó là khó, chọn dùng món nào thôi! Phải cho nó tức trào máu, trước khi hạ gục nó mới đáng kiếp con ác thú ấy. Nó nợ máu bản ta chồng chất, một lần chết chưa hả hết giận! - Giọng Đan trở lên đầy hào hứng.
    - Sau đó mình sẽ chờ cho sự giận dữ che mờ trí khôn của nó, - Xít tiếp - rồi mới dụ nó vào nơi hiểm địa mà ra tay.
    - Ừ, cách ấy rất hay mà đơn giản thật! - Đan gật gù - Nhưng ta đâu phải là nó, đâu biết gì về khu rừng này mà tìm được nơi hiểm địa? - Đan băn khoăn.
    - Vì thế tớ mới nói là chưa có cách cụ thể. Nếu đã có nơi hiểm địa để bẫy nó, thì ta đâu còn cần phải bàn bạc mất thời gian? Nhưng tớ nghĩ không cần phải lo; trên đường đi thế nào mình chẳng tìm ra một nơi đúng ý, đường còn dài mà!
    - Sao cậu biết?
    - Vì tớ đoán khu Rừng Chết không ở gần đây đâu!
    - Sao? Ta vẫn tới khu Rừng Chết sao? - Đan chau mày ngạc nhiên hỏi.
    - Ừ, tớ nghĩ chắc chúng ta vẫn phải tới đó!
    - Sao cứ phải vào đó chứ? Mình đã thấy dấu vết con sói quanh đây. Sao không đặt bẫy dụ nó ở ngay quanh đây? Đâu cần phải lần mò đến khu rừng đáng sợ ấy làm gì? Trong khu rừng đó chứa bao nhiêu lời đồn đại về những truyền thuyết ma mị khủng khiếp, cậu còn chưa biết sao? Chúng thuộc về ma tà quỉ thần, chứ không phải chỉ là những con quái thú như Sói Hai Đầu đâu! - Đan nói ào ào liền một mạch.
    - Chúng mình còn gặp thiếu điều kỳ quái gì nữa sao? Mà chúng mình vẫn sống nhăn ra đấy thôi? - Xít cãi - Lời đồn đôi khi cũng bị miệng lưỡi người ta thêu lên quá mức! Cậu nghĩ xem, xét cho cùng thì đã ai dám đi tút vào rừng U Linh này như hai đứa mình? Ai dám dấn thân, tận mắt chứng kiến những thứ kỳ quái như chúng ta? Nếu cứ đúng như lời đồn đại ấy, ta đã chẳng sống nổi khi vượt qua dãy Kỳ Giông - Xít cũng tuôn một tràng - Chúng ta là người đầu tiên vào đây, và đã chứng minh những lời đồn đại ấy không hẳn đã đúng! Vì vậy tớ muốn trước hết chúng ta cần phải tới đó, vì tớ đoán rằng hang ổ của con sói nhất định sẽ ở trong Rừng Chết, và chỉ có nó mới biết đường dẫn ta tới đó! Hơn nữa, tại sao ta cần phải tới đó? Vì cậu nghĩ xem, còn cách nào để chọc cho nó nổi điên lên, dễ hơn bằng việc phá tan tành, đốt trụi cái hang ổ của nó!
    - Ừ! Phải lắm! - Đan hiểu ra, rồi không kiềm được phấn khích nó nói lớn - Chúng ta sẽ phá tanh bành cái ổ của nó ra, cho nó phải phát điên, phất rồ lên mới thích! Tớ đang mong lắm, được làm điều đó đây!
    - Suỵt! Cậu không nghĩ nó nghe được tiếng người sao? - Xít nói đùa, rồi nó thêm - Và còn một điều cuối cùng, cũng rất quan trọng. Mà cái này cũng là nó dạy ta nốt.
    - Là gì? - Đan hỏi.
    - Là phải khéo giữ bí mật! - Xít một lần nữa nhấn mạnh - Cũng như nó, ta phải khéo giữ bí mật về những điều ta biết về nó. Có thế nó mới mắc cái kế - Răng mình cắn đuôi mình! Một bất ngờ mà nó chẳng ngờ!
    Ngồi suy nghĩ một lát, Xít nói tiếp:
    - Hai ba ngày qua, tớ để ý thấy chỗ thức ăn thừa rơi vãi của chúng ta bên đống lửa qua đêm đều còn nguyên vẹn, không bị mót sạch như mọi khi. Điều này chứng tỏ con sói đang lởn vởn đâu đây quanh chúng ta, nên đám thú đêm tránh xa không dám bén bảng tới gần.
    - Hừm... Nhưng biết đâu... đó chẳng phải vì cái Bóng Trắng... cũng đang theo ta! - Đan ngập ngừng nói.
    - Ừ! Rất có thể - Xít sực nhớ ra - Cậu nói tớ mới nhớ đấy! Hai hôm nay mải nghĩ đến con sói tớ gần như quên hẳn, chẳng nhớ gì đến cái Bóng Trắng ấy! Không biết là giống loài gì nữa? Sao chưa từng nghe trong truyền thuyết hay lời đồn đại nào nhắc tới nó nhỉ? Liệu nó có xen vào mà làm hỏng kế hoạch này của mình không? - Xít bần thần tự hỏi - Mong rằng, chúng ta không phải đối phó với cả hai thứ ấy cùng một lúc!
    - Thôi đừng suy nghĩ nhiều! - Đan động viên bạn - Cứ tính lo xa như cậu thì đến nổ tung đầu ra mất. Tình hình đến đâu ta ứng phó đến đó vậy!
    Bàn bạc thêm một lúc, hai đứa xách lao, xách túi lên đường quay về chỗ cũ. Khi về tới chỗ ngã rẽ buổi sáng, thì mặt trời cũng đã xuống bóng, chỉ còn để lại những đường viền đỏ rực trên những lớp mây xám chì sếp hình vảy cá dát đêu cuối chân trời. Thời gian chỉ còn đủ để hai đứa kịp dựng vội cái sàn (cũng may sau hơn chục ngày ngủ trên cây, việc trải sàn với hai đứa giờ đã rất thuần thục và có nghề. Chỉ loáng một cái chúng đã dựng xong cái sàn tạm phẳng phiu, chắc chắn, có một lớp lá dày lót trên mặt. Thằng Đan còn đùa: (nếu còn sống trở về, sau này nó sẽ dựng sàn gỗ ở hẳn trên cây!) Hai đứa ăn thêm một chút ngay trên sạp rồi đi ngủ sớm. Mấy bữa nay để đề phòng chuyện ngủ mơ giống như Đan hôm trước, chúng cẩn thận chập đôi sợi dây thừng mang theo vắt hờ ngang bụng cả hai đứa, hai đầu dây buộc níu xuống sàn. Còn hai cây lao thì được bắt chéo, dựng chĩa mũi ra phía ngoài chặn ngay trên lối đi.
     
    Chỉnh sửa cuối: 17/5/19 lúc 19:43
  8. Phung QA

    Phung QA Gà con Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    10
    Được thích:
    2
    Đã thích:
    1
    GSP:
    Ap
    Chương 7: Đêm Dài


    Ngày hôm sau là một ngày khá âm u, bầu trời xám nhợt nhạt, khu rừng tĩnh lặng mờ tối. Thi thoảng một cơn gió thổi ào ạt lướt qua khu rừng, khuấy tung cành lá nhảy dựng lên, rồi chạy mất hút vào rừng sâu, để lại tiếng rì rào xa xăm như một hơi thở dài não nuột. Rừng cây lao xao, bồn chồn như thể chúng cảm nhận được một cơn mưa lớn đang đến. Đó cũng là điều Xít và Đan đang lo ngại: Rừng Chết chẳng biết còn bao xa? Nếu cơn mưa này xóa sạch dấu chân con sói, thì việc đầu tiên sau cơn mưa chúng phải làm là lần mò tìm lại những dấu chân mới. Nghĩ đến công sức bỏ ra bao ngày lặn lội xuyên rừng, nay sắp bị phủi sạch, bắt đầu lại từ đầu, hai đứa không khỏi buồn phiền, lo lắng. Chúng cố gắng tranh thủ thời gian trước cơn mưa, điều giờ thì chắc chắn khó mà tránh khỏi vì dấu hiệu của một cơn mưa lớn đang càng lúc càng rõ, lần theo dấu vết chân đi được càng xa càng tốt. Gấp gáp theo dấu chân nên chúng đành bỏ qua việc đặt bẫy để kiểm tra xem con Sói Hai Đầu có thực sự bám theo mình hay không? Bởi vì muốn có bằng chứng chứng minh điều đó, chúng phải gài bẫy bằng cách căng một vài sợi dây mỏng như tơ nhện trên lối đi này, rồi sau một ngày quay lại kiểm tra. Nếu làm vậy thì ít nhất cũng phải mất toi hai ngày chẳng tiến thêm được chút nào.
    Bầu trời càng lúc càng tối sầm, nặng trĩu. Khu rừng trở lên nhập nhoạng, những mảng tối cứ loang rộng dần rồi chẳng bao lâu cả khu rừng chìm trong màn tối xám xịt. Và rồi những giọt mưa bắt đầu lộp bộp rơi xuống. Những hạt mưa nặng trĩu, to tướng đâm xuyên xuống lớp mùn tơi xốp của nền rừng thun thút như ném sỏi, búng những chiếc lá khô bật tanh tách, báo hiệu một cơn mưa lớn, dai dẳng. Đam và Xít vội tìm một cành cây leo lên trú tạm, bởi với không gian xám xịt, tối cắm chẳng kém gì màn đêm thế này, không ai dám chắc con Sói sẽ không chớp cơ hội mà tấn công.
    Chúng chỉ tìm được một chiếc cành không chạc, mọc cách mặt đất chừng hơn bốn năm sải leo lên trú tạm. Vì quá gấp, chẳng còn sự chọn lựa nào nên chúng đành phải leo lên, chứ cái cành này leo lên rồi mới thấy nó đủ thứ dở: nó đã chẳng có chạc chiếc gì để làm chỗ gác tạm cái sàn đã đành, mà đến chỗ ngồi trên nó cũng khá chông chênh. Vì nó chỉ to cỡ bắp đùi, lại cong queo, mọc xiên xiên. Đồng thời thật xui xẻo là nó lại nằm đúng vào khoảng thưa thớt nhất của tầng lá bên trên, nên chỉ ngồi một lúc thì sẽ chẳng khác gì tắm giữa giời. Ướt, lạnh đã đành nhưng chắc chắn sẽ kèm theo cả đói nữa, vì làm sao có thể ăn uống trong hoàn cảnh này? Trèo lên rồi Đan và Xít mới ngán ngẩm nhìn nhau hối hận vì đã không lo tìm chỗ tránh mưa từ sớm. Tuy bất tiện đủ đằng, nhưng hai đứa cũng đành thúc thủ ngồi yên, vì bây giờ chẳng thể thay đổi gì được nữa rồi.
    Chẳng mấy chốc cả khu rừng đã chìm trong cơn mưa sầm sập đổ xuống, tiếng mưa trút xuống ào ạt inh tai, như ngàn vạn hàm răng khổng lồ đang nhai nuốt ngốn ngấu khu rừng rào rạo. Nước bắt đầu rí rách chảy thành dòng trên lớp vỏ cây xù xì. Nhìn những giọt nước mưa xuyên qua tàng lá thưa mỗi lúc một dày. Đan quyết định liều mình bò ra đầu cành bẻ ít lá làm cái mái che. Xít cố ngăn cản nhưng Đan nhất định không chịu, nó nói:
    - Cứ thế này thì rồi cũng ướt sạch cả thôi! Nếu mưa suốt đêm, ngồi đây mà dầm mưa thì cũng ốm mà chết! Đằng nào cũng chết cả! Cứ để tớ trèo ra!"
    Xít bảo hai đứa cùng đi, Đan cũng không chịu. Sau cùng chúng thỏa thuận: Đan để Xít buộc dây ngang người, Xít ngồi lại giữ một đầu dây, rồi Đan đứng lên lấy thăng bằng đi cheo leo ra phía đầu cành.
    Ngồi nắm sợi dây nhìn Đan đi chênh vênh trên chiếc cành cong queo bước nghiêng bước thụt, mà đầu Xít căng như dây cung. Càng ra xa chiếc cành càng nhỏ dần, yếu đi: những bước đi của Đan càng bập bồng, nghiêng ngả, liêu xiêu. Xít hít hà, hơi thở rít khe khẽ qua hai kẽ răng, dõi theo từng bước chân của bạn. Bất chợt toàn thân Xít lạnh toát, máu trong người như đông đặc lại.
    Giữa nền rừng tối sẫm loang lổ, một bóng đen dài thượt âm thầm hiện ra, tựa như một bóng ma. Một cái bóng đen kít, đen thăm thẳm hơn cả bóng đêm, lặng lẽ bước đi ngay phía dưới Đan, cùng đang di chuyển về phía đầu cành. Nó im lìm bước nhẹ, nhìn từ trên xuống tựa sống lưng một con cá khổng lồ đang nhẹ uốn, lừ lừ trôi trên đáy nước.
    Xít bất giác cắn chặt đôi môi, tay bấm vào sợi đầu dây: "Đừng nhìn xuống! Đừng nhìn xuống nhé, Đan!" Xít run lên bần bật, lẩm nhẩm khấn thầm trong miệng, mắt nó căng ra nhìn thằng bạn nhấp nhô như bơi trong đám lá rậm quây kín quanh mình.
    Đằng kia, không hề hay biết, Đan vẫn thản nhiên bám cành bẻ lá răng rắc, oang oang nói cười với Xít. Rồi tim Xít chợt thít lại: Đan đang cố nhoài người vươn ra bẻ lá ở một nhành đầu rất xa, cái đầu cành yếu ớt võng trĩu hẳn xuống, toàn thân Đan nằm rạp trên chiếc cành chỉ cỡ cổ tay, đầu dốc chúi xuống. Xít lo sợ đến ngộp thở, khi hình dung tức thì một thân hình đen trũi sắp phóng lên. May sao, chỉ trong thoáng chốc Đan đã bẻ xong lùi về chỗ cũ.
    - Tớ nghĩ đủ rồi đấy! Cậu mau quay về thôi! - Xít cố lỗ lực, lấy giọng thật bình thường giục Đan quay về.
    - Được rồi! Để tớ lấy thêm ít nữa che cho thoải mái! - Đan đáp lại, giọng phấn khởi.
    Xít hoảng hồn, cố giữ giọng cũ:
    - Thế là quá đủ rồi! Một bó lớn thế, tớ e còn chẳng đủ dây buộc ấy!
    - Ừ được, tớ quay lại đây!
    Lát sau Đan hiện ra với một bó lá tướng trên vai làm Xít phát hoảng. Với bó lá lồng khồng, lòa xòa cả xuống mắt thế kia, làm sao Đan có thể đi trên cái cành này? Bấn loạn trong lòng, Xít cố từ tốn nói:
    - Hay cậu buộc bó lá vào đầu dây để tớ kéo về trước?
    - Híc! Cậu bị mưa ướt ngấm vào đầu à? - Đan đáp - Có bó lá mà còn phải về trước mới chả sau! Cậu hôm nay sao thế? Nghe Đan nói vậy Xít thêm hoảng, rõ ràng Đan đã nhận ra sự khác thường trong giọng nói của nó. Nó chỉ sợ nói thêm vài câu nữa sẽ lộ chuyện, để Đan sinh ngờ mà nhìn xuống. Nên nó cố gắng bật ra một câu khô khốc như mọi khi:
    - Tùy! Giỏi thì cứ đi thẳng về! Đừng nhờ vả đây nữa đấy!
    - Hờ hờ! Lẽ nào còn đoạn chẳng quá năm bước chân thế này tớ lại để có đứa ngồi cướp công? - Đan nói cười vô tư - Cậu chuẩn bị lo mà buộc cả đống lá này đi!
    - Được thôi! - Xít vờ tựa lưng vào cây chả thèm để ý, trong khi mắt nó căng ra, hồi hộp dõi theo từng bàn chân đặt xuống của bạn.
    Chiếc cành ướt nhẹp, vỏ bóng láng khẽ đung đưa. Với ôm lá vác trên vai, tay còn lại dang ra giữ thăng bằng, Đan dò dẫm từng bước, từng bước chòng chành, quay lại. Tim Xít chậm nhả từng nhịp theo từng giọt máu lạnh ngắt nhỏ xuống.
    "Nữa! Chút nữa... Cẩn thận...!" Những tiếng nhắc thầm thì, hồi hộp vang lên trong đầu Xít. Bóng đen dưới kia vừa quay đầu nhô ra, ẩn hiện dưới tán lá.
    Từng bước... từng bước... Rồi Đan cũng nghiêng ngả về tới nơi. Chỉ còn cách non sải tay, bỗng một bước chân đặt xuống trượt đi, mất thăng bằng người Đan chòng chành rồi nhao về phía trước. Không kịp suy tính, với một bản năng cực kỳ nhanh nhẹn, chính xác: Xít lao người ra trước, vươn cánh tay cứng như thép túm chặt lấy vai bạn; đồng thời cánh tay kia theo một phản xạ tự nhiên, nắm chặt cán lao phóng ngược ra sau. Cây lao cứng đâm xuyên qua lớp vỏ dày, ngập vào thân cây đến nửa gang, làm thành điểm tì mong manh duy nhất cho cả hai đứa trụ lại trên cành. Đan vội đưa cánh tay còn lại bá chặt lấy cổ bạn. Một khắc hai đứa chòng chành dữ dội, chúng dồn toàn bộ cơ bắp, hai chân bấm xuống, dựa vào cây lao mỏng manh sau lưng để lấy lại cân bằng. Và rồi cuối cùng chúng cũng trụ được trong tiếng thở phì phò, cùng nhịp tim như muốn vỡ tung lồng ngực. Cùng dìu nhau cẩn thận lùi về sát thân cây. Vội lao ra cứu bạn, chân Xít mắc vào hất tung một cái túi xuống đất, rủi thay đó lại là chiếc túi đựng chút đồ ăn ít ỏi cuối cùng. Khi đã tựa người vào hẳn thân cây, cảm nhận được sự khác thường trong bàn tay cứng như thép của Xít bấm vào vai mình, Đan đưa mắt nhìn Xít dò hỏi.
    - Nó đang ở dưới kia! - Xít khẽ thì thào trong hơi thở vẫn còn dồn dập.
    Đan đưa mắt nhìn xuống, vừa kịp lúc còn nhìn thấy một cái đuôi xù to như bông lau phất nhẹ, lẩn vào bóng tối. Không dám cục cựa, Đan hít sâu một hơi, gục đầu vào thân cây thở lấy lại trấn tĩnh. Nó vừa rồi, đúng là đã cưỡi trên lưng Thần Chết!
    Ngồi nghe ngóng một lát, không thấy động tĩnh gì hai đứa mới bắt tay vào kết cái mái lá. Trước tiên cẩn thận chúng chập đôi sợi dây thừng quấn quanh thân cây rồi buộc ngang bụng mình cho khỏi ngã xuống đất. Sau đó Đan nghĩ ra cách cắm chặt hai mũi lao vào thân cây theo hướng chếch lên, còn cán bắt chéo vào nhau buộc ghì xuống cành, tạo thành một cái tam giác vây quanh hai đứa, đồng thời có thể dựa lưng vào cán lao ngồi cho vững, rồi hai đứa mới dùng dây tết đám lá Đan mang về thành một cái tán dày, to ngang gần sải, che kín trên đầu.
    Cái việc tưởng chừng vô cùng đơn giản ấy, nhưng vì phải loay hoay trên một cái cành cao chênh vênh lại chật hẹp, nên hai đứa phải làm một lúc khá lâu mới xong. Sau một hồi buộc bện, người chúng cũng đã ướt sũng. Nhưng có sao? Giờ chúng đã có một chỗ ngồi vững chãi, một mái lá rộng che chắn thoải mái trên đầu thì dù có mưa thâu đêm chúng cũng chẳng coi là gì. Thật thoải mái và mãn nguyện khi được ngồi ung dung dưới cái mái dày dặn, kín đáo; ngoại trừ một việc: hai cái bao tử chẳng hề quên những bữa ăn đã bị lỡ. Chốc chốc chúng lại vóng lên những tiếng "Ọc ẹc" vô duyên, rõ dài và dai như đỉa; lèo nhèo về vụ bỗng dưng bị bỏ đói từ sáng tới giờ.
    Hai đứa lấy hai chiếc áo khô mang theo trong túi ra thay, rồi tựa người vào chiếc cán lao nói chuyện phiếm cho quên hai con quỉ đói đang vật vã trong bụng.
    - Vừa rồi cậu nhìn rõ nó chứ? - Đan hỏi.
    - Cũng chỉ thấy một phần, - Xít nói - vì thân mình nó khuất dưới cành cây, lại cùng màu với lớp lá mục dưới kia nên tớ nhìn không rõ. Nhưng nó quả thật rất lớn, đúng như những gì nghe kể.
    - Vậy là khỏi cần phải kiểm chứng! Đúng như cậu nghĩ, nó đã theo ta lâu nay.
    - Ừ, không hiểu nó đang toan tính gì? - Xít trầm ngâm.
    - Hóa ra chẳng như lời đồn đại lâu nay, - Đan nói - rằng là: "Sói Hai Đầu không bao giờ dám ăn thịt người vào ban ngày, khi vẫn còn ánh dương. Vì khi đó thân xác người ta vẫn còn tích chứa nhiều dương khí, thứ đi vào tâm can linh hồn sẽ nghịch đảo, phá hoại cái âm khí tà ma mà nó đã dày công tu luyện, tích tụ trăm năm nay!" Tất cả chỉ là bịa đặt!
    - Có thể lắm! - Xít nói - Nhưng biết đâu hôm nay nó tấn công chỉ để lôi ta xuống cắn cho gãy chân, ngẹo cổ nằm đấy, chẳng chạy đi đâu được rồi quay lại xé xác ta sau?
    - Ừ!
    - Làm thế nó vẫn đạt được mục đích, mà không hề khu phạm đến phép luyện tinh kia? Nó đã mất rất nhiều công tu luyện, tớ không nghĩ nó dám phá bỏ phép tắc cấm kị đó! Nghe nói phép đó cũng ghê gớm lắm! Có thể phản phục quật con vật luyện tinh chết tươi ngay lập tức!
    Đan le mắt lè lưỡi hỏi:
    - Sao hôm nay nó lại không dùng tiếng tru kia nhỉ? Nếu nó cất tiếng gào ma mị ấy lên, chắc chúng ta đã khó mà thoát được!
    - Ừ! Tớ cũng không hiểu sao hôm nay nó lại không dùng đến tiếng tru đáng sợ đó? - Xít nói, rồi trầm ngâm suy nghĩ một lát nó tiếp - Kể ra việc nó xuất hiện hôm nay cũng có cái hay!
    - Hay? Hay ở chỗ quái nào chứ? Nó có mang lại cái gì tốt đẹp đâu? - Đan ngạc nhiên quay qua nhìn Xít hỏi.
    - Tớ nói hay, là bởi vì: Thứ nhất, mai ta khỏi phải tìm dấu vết nó ở đâu xa, ngay dưới chân này, đõ được biết bao công sức và thời gian. Thứ hai, sự xuất hiện của nó hôm nay, nhắc nhở ta đã đến lúc phải dùng đến bảo bối của cụ Sóc, không thể chùng chình thêm nữa, nếu không muốn bỏ mạng! Từ nay xem ra con Sói có thể tấn công chúng ta bất cứ lúc nào! Thứ ba nữa là, tớ linh cảm thấy sự xuất hiện của chúng ta ở đây đã bắt đầu làm cho nó cảm thấy sốt ruột, lo lắng... Điều đó chứng tỏ rằng: hang ổ của nó chỉ ở gần đâu đây thôi, không còn xa nữa. Chúng ta sắp đến đích rồi! Với từng ấy cái hay như thế, chẳng phải là tốt sao?
    Đan gật gù đồng tình. Hai đứa bàn bạc, nhất trí ngày mai sẽ sử dụng thứ thuốc cụ Sóc đưa, không trì hoãn thêm nữa. Đêm đó hai đứa thay nhau canh gác nên mỗi đứa cũng ngủ được đôi chút, dù giấc ngủ chẳng yên lành gì với cái bụng xẹp lép và gió lạnh.
    Ngày hôm sau là một ngày rạng rỡ, bầu trời quang đãng trong vắt như thể cơn mưa hôm qua đã gột sạch hết mây thành nước đổ xuống. Mặt trời trên cao chiếu ánh nắng chói chang, xiên qua những tán lá vẫn còn đẫm nước. Đan và Xít vươn vai, vặn mình răng rắc sau một đêm co ro ngồi trên cành cứng mỏi nhừ.
    Tranh thủ vẫn còn dây buộc quấn quanh mình, hai đứa quyết định đem thuốc của cụ Sóc ra dùng luôn trên cây. Ở trên này tuy có hơi chênh vênh, nhưng chúng tính, nếu có sảy ra điều gì không mong muốn từ bài thuốc thì dù sao chúng vẫn ở trên cao, không phải nằm bất động, phơi mình ra trước miệng sói dưới kia.
    Xít moi dưới đáy túi ra một bọc nhỏ được gói gém rất kỹ: ngoài cùng là một chiếc túi vải nhỏ, có dây rút ở đầu túm lại (Xít biết đây là chiếc túi cụ Sóc vẫn thường mang bên mình, mỗi khi đi rừng hái thuốc hoặc đi ra ngoài. Phải là dịp đặc biệt lắm cụ mới đưa cả cái túi cho chúng thế này!) bên trong là hai lớp lá chuối rừng được quấn bọc cẩn thận. Mở ra, bên trong nữa được chia làm hai phần: một phần là một gói vuông mỏng được gấp cài lại vuông vắn, còn phần kia là một ống trúc nhỏ gọn vừa bằng ngón tay. Mở nắp cái ống trúc nhỏ xinh ấy ra, Xít lấy ra bốn chiếc gai nhỏ, thon dài và đen nhánh, được truốt kỹ bằng gỗ cây Sáo mật; mũi của bốn cây gai đều được nhúng trong một thứ gì đó màu trắng đục, sền sệt như nhựa sung, có mùi hăng hắc thum thủm ở đáy ống.
    - Nào, đâm cho tớ trước! - Xít đưa một cây gai cho Đan, xung phong thử trước.
    - Được! - Đan đưa một đầu ngón tay ra đỡ sau dái tai Xít bẻ căng ra, rồi tay kia đâm nhẹ cây gai vào giữa dái tai cho xuyên qua, như cách xỏ lỗ khuyên tai của đám phụ nữ trong bản.
    Xít khẽ nhíu mày, dái tai chỉ nhói nhẹ như kiến cắn, gần như chẳng thấy đau gì. Cây gai đi xuyên ra sau lút tận nửa, nhưng chỗ đâm chỉ hơi rơm rớm máu.
    - Ái da! - Xít khẽ la lên.
    - Đau hả? Có tác dụng chưa? - Thấy Xít kêu oai oái, Đan hồi hộp hỏi.
    - Ối đau lắm! - Xít nói - Như đang rách ra vậy.
    - Ôi... Sao vậy? Vậy... phải làm sao bây giờ? Hay tại thuốc của cụ Sóc chưa...? Để... tớ lấy nước đổ thử lên nhé? - Đan lo lắng cuống quýt hỏi.
    - Không, không cần - Xít đáp - Chỉ cần cậu bỏ tay ra đừng bóp mạnh quá là được!
    Hóa ra Xít la lên không phải vì gai đâm, mà vì bị những ngón tay cứng như hộ pháp của Đan vẫn đang nghiến răng nghiến lợi mà bóp chặt cái dái tai nó
    - Ôi giời! Đồ đàn bà! Có thế mà gào toáng lên! Làm tớ sợ hết hồn - Đan cười xòa bỏ tay ra - Tại tớ sợ châm vào cậu lại giật lên như trâu thiến thì chẳng kịp giữ.
    Xít vừa định nói gì đó, thì chợt nó thấy dái tai mình nóng bừng lên, rát xé như sát ớt. Nó lại khẽ "Ái!" lên một tiếng. Đan vội túm lấy bạn. Nhưng rồi nó nhìn chằm chằm thằng bạn với ánh mắt ngờ vực. Cái thằng bạn nối khố chết tiệt này là hay đóng kịch lừa người lắm! Chẳng biết đâu mà lường! Không cẩn thận nó lại cho mình thêm một vố, không biết chừng? Đan do dự nhìn mặt thằng bạn. Trong khi đó Xít thấy cái cảm giác nóng rực ấy lan tỏa giần giật lên vành tai cứ như áp mặt vào bếp lửa vậy, rồi nó lan nhanh lên khắp đắp đầu, Xít khẽ nghiến răng, bóp chặt tay Đan. Cái nóng ấy như kiến bò, lan tỏa tới đâu Xít nghe như mồ hôi từ chân tóc tí tách rịn ra tới ấy; mồ hôi nhanh chóng đóng thành giọt trên lông mày. Nhìn sắc mặt Xít ửng đỏ, túa mồ hôi lấm tấm, Đan mới chắc bạn mình không đùa; nó thực sự lúng túng. Nhưng Xít đã đưa tay ra hiệu ý nói không sao. Thế rồi đột nhiên cũng từ dái tai, chỗ cây gai châm, Xít chợt thấy thoắt một cái, một cảm giác mát lạnh, rất dễ chịu xuất hiện. Nó lan tỏa râm ran ra khắp nơi, nhanh chóng đưa Xít chìm vào một cảm giác tê mê thật thích thú. Cái cảm giác nóng bừng bừng bị xua tan ngay lập tức. Và cùng với cái cảm giác mát lạnh, dễ chịu như vừa được nhúng đầu vào làn nước mát ấy, là một cảm giác lạ lùng khó tả: đâu đó, như có một tiếng nổ "tách!" rất khẽ trong đầu nó và một sự tĩnh lặng tuyệt đối lan nhanh ra tứ phía, bao trùm lên tất cả trong thoáng chốc, rồi tất cả thế gian xung quanh như chợt vừa chìm xuống một đáy nước tịnh mịch, mọi thứ im phăng phắc, tất cả như hóa đá trước mắt nó. Tất cả! Thậm chí dường như ngay cả tiếng thì thào của rừng cây, tiếng chân rón rén của thời gian đang đi cũng như vừa khựng lại. Tất cả tựa như vừa bị một cái lồng khổng lồ chụp xuống, câm lặng.
    - Nó có tác dụng rồi! - Xít nói lẩm bẩm như nói với chính mình, chẳng biết Đan có nghe thấy không. Chỉ thấy Đan mấp máy nói cái gì đó, nhưng nó hoàn toàn chẳng nghe thấy gì. Nó nói như hét:
    - Thuốc có tác dụng rồi! Tớ không nghe thấy gì hết!
    Lúc này Đan mới như hiểu ra, nó gật gật vẻ mặt háo hức đưa hai tay lên sát tai Xít vỗ thật mạnh, không thấy Xít phản ứng gì Đan đưa ngay cho Xít cây gai. Xít xiên nhẹ cây gai qua Đan rồi ngồi quan sát. Cũng như Xít, vẻ mặt Đan nói lên nó cũng trải qua những cảm giác tương tự, ngoại trừ vẻ khoái trí hăng hái hơn Xít, khi nó đón nhận được cái cảm giác "điếc đặc".
    Vậy là không như cụ Sóc lo ngại, thứ thuốc này tốt, rất hiệu nghiệm mà cũng chẳng hề gây chứng lạ nào. Đam và Xít hồ hởi, chúng thử ghé vào tai nhau hết gọi, rồi quát, rồi hét... hét toáng lên; hứng chí với cảm giác là lạ điếc đặc, hai đứa cười đùa đưa tay làm loa hú váng vọng cả khu rừng.
    Sau một hồi chúng cởi dây, thả túi trèo xuống. Việc ưu tiên hàng đầu là kiếm củi khô về nướng chỗ thịt nhím, vỗ về cho hai chiếc dạ dày đang uất ức muốn xỉu. Nhưng việc đó chẳng dễ như mọi ngày vì cơn mưa đêm qua đã nhúng ướt sạch cây cành. Hai đứa phải lọ mọ đi một vòng rộng mới tìm được vài khúc củi còn khô dáo; hí hoáy mãi chúng mới nhóm lên được khóm lửa nhỏ mù mịt khói. Sau rốt thì cũng được bữa ăn no nê ngon miệng, bù cho cả ba bữa một lần.
    Mặt trời đã lên gần đỉnh đầu, hai đứa nhanh chóng thu dọn lên đường. Những vết chân sói to tướng in hằn trên lớp lá mục xung quanh gốc cây rất dễ nhận thấy, dẫn chúng hướng về phía Tây. Dưới những tàng lá dày của rừng già, nước mưa nhỏ xuống không đủ xóa đi vết chân nên hai đứa dễ dàng theo dấu đi khá nhanh. Đến chiều khi ước tính đã đi được cả bốn năm dặm đường, thì bất chợt chúng gặp một bãi đá trải dọc ven bờ một dòng suối cắt ngang. Dòng suối đã thu nhỏ chỉ còn lấp sấp nước không quá bắp chân, nhưng chắc đêm qua đã có cả một cơn lũ đổ qua đây, bằng chứng là cả một đống cây cành bị cuốn dạt nằm phơi trên bãi đá. Dấu chân con sói đến đây thì biến mất.
    Hai đứa băn khoăn nhìn bãi đá khá lớn, không biết nên tiếp tục lần tìm theo hướng nào: sang bên kia bờ hay đi men theo bờ suối? Mà hoàn toàn cũng có thể con sói đi dọc theo lòng suối, rồi cắt sang bờ bên kia ở bất cứ đoạn nào. Nếu phải sang bờ bên kia dò tìm dấu chân, thì đó sẽ là một khó khăn đáng kể. Bởi khác với bên này, bờ suối bên kia: sau một bãi đá rộng chẳng kém, là một rừng cây đầy bụi rậm mọc chen chúc, ken dày chứ không thưa thoáng như bên này. Việc sục sạo tìm dấu chân giữa một rừng bụi rậm bịt bùng như thế, không những quá khó mà còn vô cùng nguy hiểm; khi có một con ác thú đang rình rập, chỉ chờ chực cơ hội tấn công. Còn tìm kiếm mé bên này thì chúng cũng phải đưa ra một lựa chọn: đi ngược lên đầu nguồn hay đi xuôi xuống? Mà nhìn về cả hai hướng thì thấy đều mờ mịt như nhau cả.
    Xít băn khoăn đưa mắt nhìn Đan dò hỏi ý kiến. Chẳng suy nghĩ nhiều, Đan trực chỉ hướng xuôi xuống theo dòng suối. Thấy Đan quyết nhanh gọn, Xít cũng gật đầu liền cái rụp đồng tình.
    Hai đứa men theo bãi đá đi xuống. Đi một hồi theo bãi đá kéo dài mãi mà chẳng thấy manh mối gì, mà ánh chiều hôm đang buông xuống rất mau. Rút kinh nghiệm bữa trước, không muốn cập rập để rồi phải ngủ qua đêm trên một chỗ khốn khổ lần nữa; hai đứa quyết định tạm ngừng cuộc tìm kiếm để dành thời gian lo chỗ nghỉ qua đêm. Đêm qua vừa thiếu ngủ vừa phải ngồi co ro cả đêm, nên giờ đây những cái lưng đang hối thúc mau mau được duỗi dài trên một tấm sàn êm ái. Có thời gian, hai đứa tìm một cái cành thật ưng ý, rồi dựng sàn ăn tối nhanh gọn, leo tuốt lên cây nằm thẳng cẳng. Cái sàn rộng rãi, lại được Xít trải đều một lớp lá dày hơn hẳn mọi khi, nhất là sau cả một ngày dài mong đợi, nên vừa đặt lưng xuống các cơ bắp, xương khớp ê ẩm của hai đứa như reo lên sung sướng thả vật ra sàn. Thật là mãn nguyện, khoan khoái!
    Nằm một lúc tuy cực kỳ thoải mái chúng vẫn chẳng thể ngủ ngay được: chúng không quen ngủ sớm và nhất là chưa bao giờ quen cái cảm giác cứ lẳng lặng, ngậm miệng im như cóc mà cun cút đi ngủ thế này. Chả bao giờ nằm với nhau mà chúng không nói đủ thứ chuyện trên trên đời cho đến khi nhạt mồm mới ngủ. Chuyện này chưa từng bao giờ sảy ra. Giờ thấy thật kỳ lạ.
    Việc điếc đặc chả nghe thấy gì, ban đầu có tác dụng lớn vì là thứ cứu cánh, sau là là lạ cũng thấy hay hay, nhưng giờ thì chúng thấy chẳng dễ chịu chút nào. Đành rằng nó là thứ tối quan trọng, chủ đích là để đối phó với con sói, nhưng cả ngày hôm nay chúng chẳng được nói năng gì, chẳng được nghe bất cứ âm thanh gì, cái đầu cứ u u trống rỗng. Giờ chúng mới nhận ra: không ngờ cái tai thèm được nghe đã bứt dứt, nhưng cái miệng thèm được nói còn khó chịu hơn nhiều! Bởi nghe thì chẳng cần động đậy cái gì, chứ không được nói thì cái lưỡi cũng chết dí luôn trong mồm, chẳng cục cựa gì. Và hình như ngậm lâu quá nó cũng có thể phát ươn phát thối lên hay sao ấy! Đan thấy nó tanh tanh vướng víu, chỉ muốn nhổ toẹt ra cho rộng mồm. Hơn nữa, chẳng biết cứ ngậm mãi thế này, lúc lè ra nó có teo đi chút nào không nhỉ? Nếu nó teo đi ngắn lại thì ôi thôi! Làm sao thổi được những khúc sáo hay ru lòng người nữa? Bất giác Đan đưa tay lên sờ sờ nắn nắn cái lưỡi.
    Nằm mãi mà chẳng được chuyện trò nói năng gì, dù có bao chuyện hai cái lưỡi muốn múa may, hai đứa đành xoay lưng ra ngủ cho xong. Lật vật một lát rồi chúng cũng ngủ lăn cù quay. Sớm hôm sau trở dậy, nhân có con suối chúng ào xuống tắm táp kỳ cọ một hồi cho thật đã rồi mới lên bờ ăn uống, sau đó tiếp tục lên đường.
    Chúng đi nốt cái bãi đá khá dài, rồi lần tìm dấu vết trên lớp đất mịn ven bờ suối. Đã căng hết cả mắt mũi ra sục sạo, tìm kiếm nhưng cũng chẳng tìm được dấu vết gì của con Sói. Đang băn khoăn không biết nên đi tiếp hay quay lại, thì chợt Đan nhìn thấy cái gì đó, nó vỗ vai chỉ cho Xít mấy tảng đá lớn nằm cắt ngang con suối phía xa xa cuối dòng, chỗ con suối đột ngột bẻ ngoặt sang phải như muốn ẩn mình, khuất sau mấy khóm Càng cua vàng um tùm từ trên cao thả cả thác lá xanh rì xuống chấm tận mép nước. Hai đứa quyết định thử đi cố xuống đó xem sao; bởi những tảng đá trọc phẳng lỳ vì bị nước bào mòn, nằm lô xô vắt ngang con suối nhìn tựa một cái cầu trải sang bờ bên kia, nó gợi lên một lối đi thuận tiện mà bất cứ thứ gì qua suối cũng sẽ chọn.
    Xuống đến nơi hai đứa thấy quả thật những tảng đá đó nằm rất khéo: những cái mỏm nhô lên đều đặn và khá bằng phẳng; chúng cõng nhau nhô cao, nên dù có nước lớn về vẫn có thể dễ dàng vượt qua suối.
    Hai đứa thoăn thoắt nhảy trên những cái mỏm tròn hoáy qua bờ bên kia. Bờ bên này tuy cũng có những bụi rậm, nhưng lưa thưa và chỉ mọc vài hàng mỏng ngay sát ven suối, nên Đan và Xít có thể đứng ngay trên mỏm đá quan sát cả một vùng rộng thoáng đãng phía trước, trước khi nhảy xuống mặt đất.
    Tìm kiếm một hồi chẳng thấy dấu vết nào ngay mép suối, nhưng chúng vẫn chằm chằm nhìn về khoảng rừng thưa cách chừng hơn trăm bước chân phía trước mặt, và muốn dấn bước tiến tới. Bởi không hiểu sao cả hai đều có một cảm giác lờ mờ rằng: giữa những bụi và gốc cây đan xen trong cánh rừng kia, dường như cây cỏ giạt ra và có một lối mòn vô hình, chạy vòng vèo dẫn sâu vào giữa rừng già. Một con đường rất mong manh mơ hồ, chỉ có thể cảm nhận được bằng linh cảm. Nhưng thế là đủ cho Đan và Xít - Hai kẻ trẻ tuổi nhưng lão luyện, có thâm niên đi rừng đi săn chẳng kém tuổi đời bao nhiêu, đã luyện được linh giác như loài ưng loài báo... Một linh cảm đang thì thầm với chúng: Đó là một con đường!
    Tự tin tiến vào rừng, theo con đường do trực giác chỉ lối, hai đứa tiếp tục đi xuyên qua khoảng rừng thưa chừng hơn dặm, rồi đi vòng vèo theo một lối hẹp nằm giữ mấy dải đồi thấp lổn nhổn toàn đá sắc với những bụi gai thấp phủ kín nóc đồi. Sau cùng hai đứa cũng tới một vùng có địa thế bằng phẳng hơn, cây cối cũng thưa thớt hơn hẳn, một khoảng rừng trống mênh mông mở ra trước mặt. Cuối khoảng rừng ấy, nền đất đột ngột dâng lên cả chục sải, như một tầng bình nguyên mới vừa trồi lên, kéo dài cả dặm tựa bức tường dày chắn ngang hướng Tây-Bắc; vách đất đỏ ối cây bụi giăng phủ kín.
    Hai đứa đứng băn khoăn trước vách đất cao chưa biết tiến lên bằng cách nào, vì đến đây thì chúng đã lạc dấu con sói ở bãi đá quá xa, khó lòng quay trở lại điểm đầu. Đi dọc theo vách, tìm kiếm một hồi, chúng thấy chênh chếch về mé trái có một cái ngách hẹp, cheo leo chỉ một người lách vừa, ăn sâu như một nhát cắt vào vách đất mềm, dốc dựng ngược, tựa như lối lên một cái cửa hang; được tạo thành bởi những bậc đá nhẵn lì chồng cao cao dần, cạnh vẫn còn bám đầy rêu phong ẩm ướt, dấu tích của một ngọn thác nhỏ từ trên đổ xuống, xối đất ra tạo thành. Chẳng còn chọn lựa nào hơn, hai đứa nhìn nhau rồi sốc lại quai túi, nắm chặt cán lao dò dẫm leo lên từng bậc một, hai mũi lao luôn chờ trực chống ngược trên đầu.
    Mất một lúc hai đứa mới leo lên tới đỉnh gờ đất dù nó chẳng cao gì cho lắm! Hóa ra đây chỉ là một dải đất lớn, như một sống đồi đột nhiên trồi lên giữa rừng, mé bên kia dải đất triền dốc thoai thoải hạ dần xuống, đứng từ trên cao có thể phóng tầm mắt bao quát một vùng rộng lớn trải dài. Chưa kịp lấy lại nhịp thở, hai đứa bỗng há mồm nhìn về phía trước. Cả hai cùng lúc mấp máy môi, thốt lên: "Rừng Chết!"
     
  9. Phung QA

    Phung QA Gà con Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    10
    Được thích:
    2
    Đã thích:
    1
    GSP:
    Ap
    Chương 7: Rừng Chết


    Không còn gì phải nghi ngờ nữa, chắc chắn thế!
    Chỉ cách chừng vài trăm bước, một khu rừng lớn trải dài ra trước mặt. Và khắp khu rừng ấy, miên man hàng ngàn hàng vạn những cây cối cổ thụ khổng lồ nằm ngiêng ngả, ngã đè, chồng chéo lên nhau; chúng còn to lớn hơn cả những cây cổ thụ dưới chân đỉnh Mõm Ngựa. Những bộ rễ vĩ đại, to như cả khoảng sân bật gốc dựng đứng, những thân cành cong queo khổng lồ đâm tua tủa như những cánh tay dài ngoẵng, hóa đá vươn lên trời cầu cứu. Cả khu rừng xô dạt, ngổn ngang như bị một trận đại hồng thủy quét qua, tựa một nghĩa địa xương, lạnh lẽo khổng lồ đang tỏa mùi tử khí. Và kỳ lạ và đặc biệt hơn nữa, để không thể còn gọi nó được bằng cái tên nào khác ngoài "Rừng Chết!", là bởi: cả khu rừng này đều được phủ một màu trắng! Một màu trắng đục! Tất cả như cùng bị nhuộm trắng trong một lần: từ những ngọn cây cao chót vót xuống đến tận gốc rễ; từ những tán lá trĩu nặng, ủ rũ đến nền rừng phẳng phiu mênh mông... Tất cả đều bao phủ một màu trắng đục như xương, nổi bật giữ lòng U Linh âm u trầm tịch bao quanh, khiến nó càng toát ra cái vẻ kỳ quái, lạnh lẽo. Không một sợi gió nào vương qua đây, rừng già cũng không dám cất tiếng thở; sự sống có lẽ đã bị bóp chết trước khi được sinh ra ở chốn này. Khu rừng trắng này im phắc, tĩnh lặng tuyệt đối. Dù tai chẳng nghe được gì, Đan và Xít vẫn tin chắc là thế, bởi cả khu rừng không có bất cứ một động tĩnh nào: không một cọng lá rung rinh, không một lay động của cánh chim chuyền cành, thậm chí dường như cả một con côn trùng ngọ ngoạy cũng không có nốt. Tất cả dường như đang bị khóa chặt, bị kìm kẹp trong một thứ bùa chú, một lời nguyền trói buộc vô hình nào đó chụp xuống từ xa xưa lâu lắm rồi.
    Đan và Xít vừa sửng sốt vừa ngỡ ngàng, chúng không ngờ Rừng Chết lại gần và hiện ra một cách đột ngột thế này. Trong bụng chúng luôn nghĩ phải vượt nhiều hành trình khó khăn hơn thế này nhiều, và phải tìm kiếm vất vả lắm mới thấy được nó, chứ không bao giờ nghĩ lại may mắn, đơn giản thế này!
    Vừa phấn chấn vừa hồi hộp, hai đứa cùng sát vai tiến tới. Mỗi bước chân bước tới, chúng lại càng cảm nhận rõ hơn sự mục nát của thời gian đang ruỗng ra ở nơi đây; dường như tất cả khung cảnh im lìm như hóa đá nơi đây đã quá mỏi mệt trong đợi chờ, chỉ chờ một bước chân khẽ vang lên là gục xuống, sụp đổ hết.
    Sau khi đi hết đoạn triền dốc dài, hai đứa bước tới sát cái ranh giới kỳ lạ: ranh giới giữa Rừng Già bao quanh và Rừng Chết. Rất rõ nét, một bên là đất rừng nâu sẫm ẩm ướt quen thuộc, còn một bên là một thứ trắng mịn trải ra tít tắp, mênh mông.
    Xít ngồi xuống khẽ lấy đầu ngón tay chạm vào thứ màu trắng ấy. Nó là một thứ bụi mịn như phấn, nhẹ tơi hơn cả tro bếp, nhẹ tới mức Xít vê giữa hai đầu ngón tay, nó gần như tan ra rơi xuống mà cứ lơ lửng mãi một hồi lâu rồi mới chịu lắng đọng, rơi xuống đất. Hóa ra cả khu Rừng Chết này đều bị phủ trong thứ bụi trắng kỳ lạ này, một thứ bụi nhẹ không mùi, phủ dày đến gần cả gang tay. Có vẻ nó không độc, Xít đã cầm nó một lúc trên tay mà chẳng thấy gì lạ. Đan vừa chực thò chân bước qua cái ranh giới màu trắng ấy, thì Xít đã nắm tay kéo lại chỉ cho Đan thấy những vết tròn tròn ở phía đằng xa. Hai đứa đi theo rìa mép tiến lại gần chỗ đó. Chúng không bất ngờ nhưng cũng mừng húm, bởi những vết tròn tròn ấy chính là dấu chân Sói Hai Đầu, dấu chân mà chúng đã lần theo mấy ngày qua, đã quá quen, chỉ liếc qua là biết chắc chắn.
    Lớp bụi trắng tơi, dày và xốp in những vết chân sói rõ mồn một, chi chít thành một lối đi không gì có thể rõ ràng hơn, dẫn sâu vào Rừng Chết. Xít mừng thầm trong bụng, vậy là nó đã phán đoán đúng, hang ổ con Sói nhất định nằm trong khu rừng đặc biệt này. Nó mừng vì ngoài phán đoán chính xác lần này, thì nó có quyền hy vọng những phán đoán khác của mình cũng sẽ đúng, và nếu được như thế thì những tính toán, kế hoạch tiếp theo của nó sẽ không cần phải thay đổi gì nhiều.
    Từ đường viền ranh giới tới vùng rừng cây gãy đổ bên trong là một khoảng trống rộng mênh mang phải vài tầm lao phóng, mặt đất thẳng băng, bốn bề trống trải, không hề có bất kỳ cây cối hay gò hốc gì. Đắn đo một hồi, hai đứa mới thận trọng đặt những bước chân trần đầu tiên lên lớp bụi trắng đục ấy, sau vài bước không thấy sự gì lạ chúng mới nhanh chân bước mau. Đây là lần đầu tiên hai đứa phơi mình trơ trọi ra giữa một vùng trống trải mênh mang không gì che chắn, ẩn nấp thế này, kể từ đầu chuyến đi; mà lại là nơi lạ lẫm, giữa sào huyệt của kẻ thù.
    Ra giữa khoảng trống, dưới ánh nắng chói chang của mặt trời buổi trưa, ánh sáng từ lớp bụi mịn hắt lên chói lóa, bốn bề mênh mang một màu trắng bất tận. Thật khó có nơi nào trên thế gian giống nơi này. Một cảm giác kỳ lạ ập đến, chúng thấy mình như đang đi trên một vùng đất không thực, trong mộng mị... mặt đất nhấp nhóa lóe sáng, hư ảo, bồng bềnh... bước chân cứ nghiêng nghiêng như say nắng. Đi một hồi vượt qua khoảng trống, hai đứa tiếp tục lần theo vết chân sói tiến vào Rừng Chết. Lớp bụi trắng rất mịn, khi bước lên có một cảm giác thật lạ; mắt nhìn thấy mà chân cảm giác như không, như bước giữa làn mây, nhưng vết chân thì in rất sâu để lại khuôn vết rõ mồn một. Nó trắng mịn, mềm xốp hơn cả tuyết trên vai núi Tù Và phía Nam bản Tơ Gúc, thứ mà họa hoằn lắm vài năm mới thấy một lần, vào những ngày giá rét ghê người, chết cả trâu cả ngựa, mà cũng chỉ thấy những vanh nho nhỏ bằng cỡ mái nhà chứ không ăm ắp mênh mông thế này. Nhưng tuyết thì khác: trắng muốt tinh khiết, lấp lánh và đẹp đẽ đúng như cái tên - Hoa Của Trời mà các già làng vẫn gọi, chứ không trắng đục, trông gờn gợn như thứ bụi này.
    Càng vào sâu rừng cây khổng lồ càng xiêu rạp, ngổn ngang.Những cây cổ thụ khổng lồ dài hun hút cả trăm sải, trắng toát ngã đổ, chồng gác lên nhau; thân cành cong queo vĩ đại vươn loằng ngoằng, tán rậm rì như cả mái nhà lớn sập xuống phủ kín cả một khoảng rộng, nhìn tựa những cái xác khổng lồ, dài thườn thượt ngã úp sấp trên mặt đất. Giữa rừng cây khổng lồ đó, nhìn hai đứa chẳng khác gì hai con kiến càng nhỏ xíu đang ngó ngoáy tìm lối ra giữa một cái tổ chim vĩ đại được đan bằng lá cành trắng toát.
    Dấu chân Sói trên mặt đất không đi thẳng, nó đi lòng vòng qua những gốc cây, bụi rậm; luồn dưới những thân cây đổ nghiêng ngả... Đôi khi nó đi cả lên trên chúng, từ thân cây này nhảy sang thân cây kia. Những dấu chân cho thấy sự độc tôn, duy nhất cũng như sự tự do, tự tại của nó trong khu rừng này. Nhưng cũng vô cùng cô độc. Trăm dấu chân như một, chỉ duy có mình dấu chân nó mà thôi.
    Hai đứa đi lòng vòng, luồn dưới những thân cây khổng lồ trắng toát, bước trên những gò thấp phủ đầy cỏ gianh, cỏ lưỡi rắn um tùm, như thể mới hôm qua thôi chúng vẫn còn mọc xanh rì, tươi tốt.
    Vừa đi hai đứa vừa lăm lăm cán lao cẩn trọng đề phòng. Chúng đã táo tợn xông vào tận cùng lãnh địa của con Sói Hai Đầu; không gì dám chắc con sói sẽ không điên cuồng tấn công, bất chấp tất cả. Tuy nhiên ngược lại chúng cũng khá yên tâm, vì trong khu rừng thế này, chắc chắn chúng không thể bị phục kích hay bất ngờ; bởi trong khung cảnh trắng toát tĩnh lặng, vạn vật như hóa đá, thì không có bất cứ thứ gì lay động khẽ mà qua được những đôi mắt tinh như mắt diều hâu của chúng, dù chỉ là một chiếc lá rơi, chứ đừng nói là một con sói đen xì, to lớn nhường ấy.
    Đi chừng hơn dặm thì những dấu chân sói dẫn chúng tới một khoảng đất hơi trũng xuống khá trống trải, ở giữa có những mô đất nhỏ mấp mô tựa một cái nghĩa địa, cây cỏ bao phủ lờm xờm. Vây xung quanh theo hình vòng cung là một hàng cây lưa thưa hiếm hoi vẫn còn đứng thẳng, quây thành một vành tròn như khoanh vùng, che giấu cho khoảng đất trũng ấy.
    Dấu chân dẫn vào một gò đất trắng xóa thì biến mất. Hai đứa hồi hộp, xác định chắc chắn đây chính là hang ổ nơi ẩn núp của Sói Hai Đầu, thứ chúng đã phải bỏ công vượt cả hành trình dài gian nan tìm kiếm.
    Chúng không hề muốn đụng độ với con sói vào lúc này, khi chưa hề có sự chuẩn bị, trù tính nào. Nhưng chúng chẳng muốn bỏ qua cơ hội phá phách chọc tức con quái thú này khi hang ổ nó sờ sờ trước mắt. Không dám thử thì không thể biết nó có trong ấy hay không? Sau khi đứng quan sát thật kỹ, Đan và Xít nhìn nhau một lần nữa, nắm tay nhau xiết chặt, thay lời thề đồng sinh đồng tử. Chúng thận trọng vai sát kề vai, từ từ tiến lại gần gò đất. Ở đó có một cửa hang lớn, to như vành cối đá nằm sát mặt đất, bị che gần kín bởi những bụi cỏ roi ngựa rậm rạp cao ngang bụng. Dừng lại, cách cái cửa hang chừng hơn chục bước, tay lăm lăm ngọn lao, Đan đưa mắt nhìn Xít ra hiệu chuẩn bị sẵn sàng, rồi cúi xuống nhặt một cục đá lớn to bằng trái đu đủ ném mạnh vào cửa hang. "Xoạt!" viên đá bay xuyên qua bụi cỏ vào trong mất hút. Hai đứa gồng mình chờ một cái bóng đen trũi lao ra. Nhưng chẳng thấy gì. Thấy vậy Đan nhặt luôn vài viên nữa ném tới tấp, nhưng cũng không hơn, không có động tĩnh gì, không hề có gì lao ra. Đoán chắc con sói không có trong hang, Đan đánh bạo tiến tới sát miệng hốc dùng mũi lao gạt mấy bụi cỏ sang hai bên, Xít tiến lên đứng sát bên bạn.
    Đám cỏ rậm rì vừa được vạch ra, hai đứa bật ôm mặt, thối lui. Đan tái mặt, nó vội ôm ngực chặn một cơn buồn nôn ộc lên cổ họng. Ngay sát miệng hang là một đống gần hai chục cái sọ người nằm chồng đống lên nhau, đám cỏ rạch ra đột ngột, cả hai chục cái sọ nhất thời như cùng trố mắt, há miệng ra nhìn chằm chằm vào hai đứa. Ghê sợ nhất là một trong những chiếc sọ đó vẫn đang bị ăn dở, cái đầu vẫn còn dính thịt nhoe nhoét biến dạng nhìn rất ghê rợn, lớp da đầu cùng mái tóc dài vầy máu rối bù bị lột ra hất xuống đằng trước, che kín nửa khuôn mặt, để lộ một con mắt trợn lên nhìn trừng trừng. Trong đống sọ đó không thiếu những chiếc sọ nhỏ của con trẻ.
    Ngược lại với Đan, Xít đứng sững ngây ra nhìn trân trân, hai mắt nó như lồi dần ra nhưng con ngươi cứ thu nhỏ dần trở lên nhọn hoắt, đen tối. Một nỗi căm thù tột độ đang được tôi cứng thêm trong đôi mắt ấy. Bỗng những chiếc sọ cựa mình động đậy, Đan và Xít giật mình lùi lại, trong những chiếc hộp sọ có gì đó đang chuyển động. Rồi chúng nhận ra những chiếc tua dài đang lần mò từ trong những cái miệng há hốc trồi lên, từ những hố mắt toang hoác bò ra. Hóa ra đó là một bầy rết, khoảng hơn chục con đang lúc nhúc ngoi lên. Một bầy Rết bự gớm giếc, con nào con nấy to gần bằng cổ tay, vảy đỏ bầm nổi vằn tía li ti, dài cả 4-5 gang. Chúng đồng loạt lổm ngổm bò ra, trườn từ hốc sọ này sang hốc sọ kia Dấu chân dẫn vào một gò đất trắng xóa thì biến mất. Hai đứa hồi hộp, xác định đây chính là hang ổ nơi ẩn núp của Sói Hai Đầu, thứ chúng đã phải bỏ công vượt cả hành trình gian nan để tìm kiếm.
    Sau một lúc đứng quan sát thật kỹ lưỡng, cẩn thận. Đan và Xít nhìn nhau, nắm tay nhau xiết chặt, thay lời thề sẽ sát cánh đến cùng. Chúng thận trọng vai sát kề vai, từ từ tiến lại gần gò đất. Ở đó có một cửa hang lớn, to như vành cối đá nằm sát mặt đất, bị che gần kín bởi những bụi cỏ roi ngựa rậm rạp cao ngang bụng. Dừng lại, cách cái cửa hang chừng hơn chục bước, tay lăm lăm ngọn lao, Đan đưa mắt nhìn Xít ra hiệu chuẩn bị sẵn sàng, rồi cúi xuống nhặt một cục đá lớn to bằng trái đu đủ ném mạnh vào cửa hang. "Xoạt!" viên đá bay xuyên qua bụi cỏ vào trong mất hút. Hai đứa gồng mình chờ một bóng đen trũi lao ra. Nhưng chẳng thấy gì. Thấy vậy Đan nhặt luôn vài viên nữa ném tới tấp, nhưng cũng không hơn, không một tiếng động nào vọng lại, không lọt con gì vọt ra. Đoán chắc con sói không có trong hang, Đan đánh bạo tiến tới sát miệng hốc dùng mũi lao gạt mấy bụi cỏ sang hai bên, Xít tiến lên đứng sát bên bạn.
    Đám cỏ rậm rì vừa được vạch ra, hai đứa bật ôm mặt, thối lui. Đan tái mặt, nó vội ôm ngực chặn một cơn buồn nôn ộc lên cổ họng.
    Ngay sát miệng hang là một đống gần hai chục cái sọ người nằm chồng đống lên nhau, đám cỏ rạch ra đột ngột, cả hai chục cái sọ nhất thời như cùng trố mắt, há miệng ra nhìn chằm chằm vào hai đứa. Ghê sợ nhất là một trong những chiếc sọ đó vẫn đang bị ăn dở, cái đầu vẫn còn dính thịt nhoe nhoét biến dạng ghê rợn, lớp da đầu cùng mái tóc dài vầy máu rối bù bị lột lên hất ra đằng trước che kín nửa khuôn mặt, để lộ một con mắt trợn lên nhìn trừng trừng. Trong đống sọ đó còn có những chiếc sọ nhỏ của con trẻ.
    Ngược lại với Đan, Xít đứng sững ngây ra nhìn trân trân, hai mắt nó như lồi dần ra nhưng con ngươi cứ thu nhỏ dần, ánh nhìn trở lên nhọn hoắt, đen tối. Một nỗi căm thù tột độ vùa được tôi cứng thêm trong đôi mắt ấy.
    Bỗng những chiếc sọ cựa mình động đậy, Đan và Xít giật mình lùi lại, trong những chiếc hộp sọ có gì đó đang chuyển động. Rồi chúng nhận ra những chiếc tua dài đang lần mò từ trong những cái miệng há hốc trồi lên, từ những hố mắt toang hoác bò ra. Hóa ra đó là một bầy rết, khoảng hơn chục con đang lúc nhúc ngoi lên. Một bầy Rết bự gớm giếc, con nào con nấy to gần bằng cổ tay, vảy đỏ bầm nổi vằn tía li ti, dài cả 4-5 gang. Chúng đồng loạt lổm ngổm bò ra, trườn từ hốc sọ này sang hốc sọ kia Dấu chân dẫn vào một gò đất trắng xóa thì biến mất. Hai đứa hồi hộp, xác định đây chính là hang ổ nơi ẩn núp của Sói Hai Đầu, thứ chúng đã phải bỏ công vượt cả hành trình gian nan để tìm kiếm.
    Sau một lúc đứng quan sát thật kỹ lưỡng, cẩn thận. Đan và Xít nhìn nhau, nắm tay nhau xiết chặt, thay lời thề sẽ sát cánh đến cùng. Chúng thận trọng vai sát kề vai, từ từ tiến lại gần gò đất. Ở đó có một cửa hang lớn, to như vành cối đá nằm sát mặt đất, bị che gần kín bởi những bụi cỏ roi ngựa rậm rạp cao ngang bụng. Dừng lại, cách cái cửa hang chừng hơn chục bước, tay lăm lăm ngọn lao, Đan đưa mắt nhìn Xít ra hiệu chuẩn bị sẵn sàng, rồi cúi xuống nhặt một cục đá lớn to bằng trái đu đủ ném mạnh vào cửa hang. "Xoạt!" viên đá bay xuyên qua bụi cỏ vào trong mất hút. Hai đứa gồng mình chờ một cái bóng đen trũi lao ra. Nhưng chẳng thấy gì. Thấy vậy Đan nhặt luôn vài viên nữa ném tới tấp, nhưng cũng không hơn, không một tiếng động nào vọng lại, không lọt con gì vọt ra. Đoán chắc con sói không có trong hang, Đan đánh bạo tiến tới sát miệng hốc dùng mũi lao gạt mấy bụi cỏ sang hai bên, Xít tiến lên đứng sát bên bạn.
    Đám cỏ rậm rì vừa được vạch ra, hai đứa bật ôm mặt, thối lui. Đan tái mặt, nó vội ôm ngực chặn một cơn buồn nôn ộc lên cổ họng. Ngay sát miệng hang là một đống gần hai chục cái sọ người nằm chồng đống lên nhau, đám cỏ rạch ra đột ngột, cả hai chục cái sọ nhất thời như cùng trố mắt, há miệng ra nhìn chằm chằm vào hai đứa. Ghê sợ nhất là một trong những chiếc sọ đó vẫn đang bị ăn dở, cái đầu vẫn còn dính thịt nhoe nhoét biến dạng ghê rợn, lớp da đầu cùng mái tóc dài vầy máu rối bù bị lột lên hất ra đằng trước che kín nửa khuôn mặt, để lộ một con mắt trợn lên nhìn trừng trừng. Trong đống sọ đó không thiếu những chiếc sọ nhỏ của con trẻ.
    Ngược lại với Đan, Xít đứng sững ngây ra nhìn trân trân, hai mắt nó như lồi dần ra nhưng con ngươi cứ thu nhỏ dần trở lên nhọn hoắt, đen tối. Một nỗi căm thù tột độ đang được tôi cứng thêm trong đôi mắt ấy. Bỗng những chiếc sọ cựa mình động đậy, Đan và Xít giật mình lùi lại, trong những chiếc hộp sọ có gì đó đang chuyển động. Rồi chúng nhận ra những chiếc tua dài đang lần mò từ trong những cái miệng há hốc trồi lên, từ những hố mắt toang hoác bò ra. Hóa ra đó là một bầy rết, khoảng hơn chục con đang lúc nhúc ngoi lên. Một bầy Rết bự gớm giếc, con nào con nấy to gần bằng cổ tay, vảy đỏ bầm nổi vằn tía li ti, dài cả 4-5 gang. Chúng đồng loạt lổm ngổm bò ra, trườn từ hốc sọ này sang hốc sọ kia, nhìn như một đám dây thừng luồn giữa những cái sọ được rút lên cùng lúc vậy; hai hàng chân chúng khua đều như làn sóng leo thoăn thoắt lên đỉnh những cái xương đầu. Ở đó nhất loạt chúng vươn người đứng dựng lên, những cái chân quào quào vào không khí, còn cái đầu giáp sừng đen bóng to như nắm tay đung đưa theo nhịp của hai chiếc hàm đóng mở như một cái máy. Nhìn chúng như một bầy chim non quái dị, đến giờ ăn đang há mỏ đòi mớm vậy.
    Đan nổi da gà, nó điên tiết phóng luôn một lao vào con Rết ở sát miệng hang. Con Rết quằn quại bụng chảy ra một thứ chất lỏng đen quánh, sền sệt. Nhưng những con khác không hề biết sợ, không lủi trốn; chúng càng vươn người lên cao, miệng ngoác ra khạp khạp như thể đang giận dữ muốn lao vào Đan. Xít nãy giờ chỉ đứng nhìn chằm chằm, hai hàm răng nghiến chèo chẹo; mắt nó tối sầm đầy hung quang. Bất ngờ nó quẳng cây lao xuống đất, chạy lại gần đó vơ một nắm cành khô về chất trước cửa hang. Hiểu ý bạn Đan lập tức móc ống lửa và bùi nhùi ra. Mấy đốm lửa nhỏ xíu Đan vừa ghé miệng thổi bắn ra, chưa kịp bén vào bùi nhùi thì đã bắn dính vào mấy thanh củi. Thật kỳ lạ những khúc củi ấy lập tức bén lửa chấy bùng bùng, cứ như chúng được tẩm nhựa thông vậy. Lửa nhanh chóng lan nhanh phủ kín mớ củi đến mức Xít chẳng còn chỗ để mà cầm. Mà thứ lửa ấy cũng rất kỳ lạ, nó không đỏ rực mà có màu tím nhạt, phơn phớt trắng, và nó cứ phun phì phì như thể bên trong các khúc củi đều có một cái ống thông gió đang thổi ào ào vậy. Đan và Xít hiểu ngay đó là do đám bụi trắng bọc kín bên ngoài tạo lên. Dùng mũi lao đẩy mấy thanh củi vào sâu miệng hang, nhìn ngọn lửa hung dữ phun phè phè thật khoái mắt. Hứng khởi chúng liền khuân luôn mấy đoạn cành gẫy to như bắp chân rải rác gần đó nhét đầy cửa hang xem có cháy vậy không. Phút chốc mấy cành lớn cũng bắt lửa cháy bừng bừng, lửa đùn lửa, cả cái hang như một lò than hồng rực. Thật khoái chí khi nhìn bầy rết to quái dị, hung tợn kia kinh hãi, cong đít bỏ trốn. Nhưng quầng lửa tím vây kín, truy đuổi ráo riết không cho chúng cơ hội thoát thân; lửa xộc vào từng hốc sọ lùa chúng ra, rồi thiêu chúng quằn quại, bật tưng tưng như nướng trên giàn than, bụng chúng phình to nổ bôm bốp, mùi cháy khét lẹt.
    Thứ lửa này tuy cháy rất dữ dội nhưng khói bốc lên lại lơ thơ mỏng như sương, nên nếu đứng từ đằng xa sẽ chẳng thể phát hiện ra nổi. Sau khi phóng hỏa thiêu cái hang sói thật đã tay, hai đứa quay trở ra theo lối cũ. Chúng không chắc sẽ phải đối mặt sớm với con sói trong ngày hôm nay, mà chúng cũng chẳng muốn vậy, vì chúng vẫn còn muốn chọc thêm cho con sói này nổi điên lên hơn nữa. Và quan trọng hơn là chúng cần có thời gian để tìm ra một nơi ưng ý để dẫn dụ con sói tới.
    Vừa hết sức cận trọng đề phòng quan sát, vừa trở lui. Đi một lúc chợt Xít và Đan thấy có những dấu chân sói rẽ sang ngang ở gần một bụi cây, mà lúc vào vì bị che khuất chúng đã không để ý thấy. Dấu chân này rẽ sang phải, thưa thớt hơn, dẫn vào một khu vực cành lá dày rậm, ngổn ngang che ngang đầu mà lối đi cũng hẹp hơn. Hai đứa phân vân đứng nhìn nhau, không biết có nên tiến vào một khu vực nhìn địa thế có vẻ khá hung hiểm như thế? Bởi khu vực này bịt bùng, rậm rạp tầm quan sát khá hạn chế, sẽ rất nguy hiểm nếu con sói rình rập và mật phục ở đây. Phân vân một lúc rồi cuối cùng không nén nổi tò mò, hai đứa quyết định liều lĩnh đi tiếp, khám phá xem cái gì ẩn giấu sau những dấu chân này. Những bước chân rón rén đi thật nhẹ nhàng, bốn con mắt quan sát căng ra hết mức thay cho cả đôi tai. Lối đi không những hẹp còn quanh co khúc khủy, nó càng làm trí tò mò của hai đứa thêm bị kích thích, không hiểu con sói luồn sâu tít vào trong đám cành lá rậm rạp này để làm gì?
    Đi vòng vèo một hồi, với hơi thở bị ghìm sâu trong lồng ngực và quả tim chỉ chực nhảy ra ngoài. Rồi hai đứa cũng thở phào, khi thấy những dấu chân dẫn tới một khoảng trống hình bầu dục, bề ngang chảng lớn hơn hai chục bước chân. Cuối khoảng trống ấy được che chắn bởi một bờ đất dây leo phủ nhằng nhịt, từ đó nhô ra một vách đá mỏng dựng đứng như lưỡi dao. Và ngay dưới nó, trên mặt thềm đá là một vũng nước nhỏ chỉ to bằng vòng tay ôm, nông choèn nhưng lấp xấp nước trong leo lẻo. Nước không hiểu từ đâu rỉ ra chảy dọc theo lưỡi đá, chầm chậm đọng thành từng giọt, lâu lâu mới nhỏ xuống cái vũng được giọt một hiếm hoi. Xít chợt nhận ra, đúng là cả ngày nay trong Rừng Chết này chúng chưa từng thấy một con suối hay lạch nước nào, đây đích thị là nguồn nước uống duy nhất và vô cùng quí báu của con sói: vừa trong sạch, dễ kiếm lại gần nơi hang ổ chẳng cần phải đi xa. Dù là ác thú hay quỉ tinh gì thì nó vẫn cần phải uống nước kia mà! Đúng là may mắn! Xít hồ hởi mừng thầm. Phá nguồn nước này thì đúng là chọc tức con sói phát điên lên rồi! Nó đang háo hức định vun đám bụi trắng xung quanh lấp hết cái vũng ấy thì chợt nhớ ra: Nếu hai đứa cũng phải ở trong khu rừng này vài ngày cũng như con Sói Hai Đầu, chúng biết lấy đâu ra nước mà uống? Nó liền tìm cách ra hiệu cho Đan hiểu suy nghĩ của mình. Đan hiểu ngay ra ý bạn, cả hai cùng chau mày suy nghĩ. Rồi chợt nhớ ra cái gì đó, Đan vỗ vai Xít kéo quay trở lui theo lối cũ. Đi chừng hơn chục bước, nó chỉ vào một hòn đá khá to cỡ hơn vòng ôm. Vừa thấy hòn đá vừa khít, Xít mừng rỡ hiểu ngay ra ý bạn. Nếu đặt hòn đá này đè lên vũng nước, con sói sẽ không thể nào uống nước trong cái vũng đó, dù chỉ là liếm cho đỡ khát. Trong tiết trời nóng nực thế này, đó sẽ là một sự hành hạ vô cùng khổ sở, khi mà nguồn nước mát ở ngay trước mắt mà chẳng thể chạm lưỡi tới. Nó sẽ bị dày vò từ từ trong cơn khát cháy cổ, và chắc chắn không nổi điên lên mới là lạ. Nhưng hai đứa thì vẫn có thể quay lại lấy nước nếu muốn; vì chúng có thể nhấc hòn đá ra, chứ không bất lực như con sói.
    Hai đứa vui mừng vì cái kế ấy, chúng cùng ghé vai luồn tay nhấc bổng hòn đá lên, hòn đá khá nhẹ so với sức trai mười bảy đương sung của hai đứa. Vừa nhấc lên chúng bỗng trố mắt, vì thấy ẩn ngay sau hòn đá ấy là một tảng đá dẹt khác, kỳ lạ là trên đó có sẵn những viên đá nhỏ trơn nhẵn, đen bóng như than và một số thứ vụn vặt khác. Chỉ liếc qua cũng đủ biết, chúng đã được nhặt nhạnh, gom về để lên đó có chủ ý, chứ không thể là vô tình tích tụ ở đó. Hai đứa vội đặt tảng đá xuống đất quay ra xem xét kỹ những thứ kỳ lạ đó. Nhìn kỹ lại thì ngoài ba viên cuội màu đen to nhỏ khác nhau, thì những thứ nho nhỏ khác còn có những mẩu gỗ nâu xỉn, một vài mảnh xương nhỏ như xương ngón chân ngón tay trắng ởn, một nhúm lông thú... và đặc biệt có cả một dải vải đỏ tươi nhàu nát bẩn thỉu. Ngắm nhìn chăm chú một lát, Xít chợt nhớ ra một vài câu chuyện truyền miệng trong dân gian thường kể, rằng loài dã thú khi tu luyện thành tinh, ngoài thích ăn thịt người, thụ hồn người chết, chúng còn dần có thói quen thờ phụng như loài ma quỉ. Đó là chúng tự lập bàn thờ qui phục, thờ phụng một thứ gì đó, với những nghi lễ kỳ quái, những vật thờ kỳ lạ không ai hiểu được. Chỉ những hồn vía đã ngả về âm ty, ngạ quỉ như chúng mới hiểu được!
    Nhìn cái bệ đá này thì quả nó có hơi hướng gì đó rất giống một cái bệ thờ kỳ quái để luyện tinh. Nếu đúng vậy thì quả là ngày hôm nay chúng đã quá gặp may, chỉ trong chưa đầy một buổi đã chèn lấp, đốt phá được ba nơi linh thiêng vô cùng cốt yếu của con sói. Thế này thì, cho dù ranh mãnh, nham hiểm đến mấy, nó cũng khó có thể ngăn nổi cơn điên khi bị chọc phá dồn dập thế này!
    Khỏi cần suy nghĩ nhiều, Xít lấy chân gạt phăng tất cả mấy viên cuội cùng những mẩu xương bắn tung tóe xuống đất. Nó chưa kịp làm gì thêm thì đã thấy Đan đứng tè ồ ồ lên phiến đá, rồi dùng dao bới đất đào một cái hố nhỏ đặt vào đó một cái bẫy chông cỡ to hơn bàn tay, gác que phủ bụi lấp lên. Đó là loại bẫy chông hai đứa tự nghĩ ra nên Xít biết lắm, loại chông này không cắm thẳng mà chúng cắm hơi nghiêng rất khó rút ra và được vót bằng gỗ Đáy ngâm, đâm vào nhức buốt vô cùng, đã thế đế chông lại có gắn một đoạn dây có móc sắt ở đầu do chính tay Đan rèn, nên hễ đã dính bẫy thì dù con mồi có đi đâu cũng để lại vết rất rõ ràng và còn vướng mắc rất khó chịu. Trước đây Đan và Xít chẳng bao giờ dùng đến thứ bẫy ác độc này, chúng chỉ nghịch làm ra rồi để đấy, nhưng lần này thì có vẻ nó đã được dùng rất đúng chỗ.
    Sau khi ngó qua một hồi để chắc chắn không bỏ sót điều gì, hai đứa mới khiêng tảng đá lại chỗ vũng nước, trước khi đặt lên chúng múc thứ nước trong vắt ấy đổ đầy hai ống trong túi, rồi mới lần theo lối cũ mò ra.
    Vẫn chẳng thấy động tĩnh gì của con Sói Hai Đầu dù chúng đã
     
    Chỉnh sửa cuối: 18/5/19 lúc 19:15

Chia sẻ trang này