Gác Chuyển Ngữ [Thiếu nhi, phiêu lưu - VH Nhật] Ico, Lâu đài trong Màn sương - Full - Miyuki Miyabe

Thảo luận trong 'Tác phẩm Phương Đông' bắt đầu bởi Magic Purple, 11/5/15.

  1. Magic Purple

    Magic Purple Gà BT Nhóm Chuyển ngữ

    Bài viết:
    1.252
    Được thích:
    1.345
    Đã thích:
    1.150
    GSP:
    397p
    Tác phẩm đã được đăng tải lên thư viện, bạn vào ĐÂY để đọc tiếp nhé. :)
    ico.png
    (Bìa: TKV Andu)​

    ICO, LÂU ĐÀI TRONG MÀN SƯƠNG
    Tác giả:
    Miyuki Miyabe
    Dịch giả: Magic Purple
    Hiệu đính: conruoinho
    Thể loại: Thiếu nhi, phiêu lưu, fantasy
    Tình trạng: xuất bản 2002, 206 trang A4
    Cảnh báo: không

    Truyện dịch chưa được sự đồng ý của tác giả.
    Truyện dịch từ bản tiếng Anh của Alexander O. Smith.
    ***
    Giới thiệu:
    Ico, một cậu bé có sừng, được đánh dấu để làm Vật tế hy sinh.
    Yorda, một cô bé bị giam cầm trong lồng sắt.
    Cái ngày mà sừng của Ico mọc càng dài ra thì cậu biết đó cũng là ngày mình sẽ bị đem đi làm Vật tế. Những người lính bắt cậu nhốt vào một cỗ quan tài đá trong Lâu đài trong Màn sương. Một cơn động đất làm cỗ quan tài của cậu mở ra và cậu quyết định trốn đi. Trên đường đi, cậu phát hiện Yorda, một cô bé nói một ngôn ngữ khác cũng bị giam cầm. Cậu giúp cô và cả hai cùng trốn khỏi lâu đài. Sau bao gian nan, Yorda bị nữ hoàng hóa thành tượng đá để nhập hồn vào thân xác cô bé. Để cứu cô bé, cậu phải tìm một thanh kiếm kì diệu để giết những sinh vật bóng tối. Liệu Ico có thể cứu Yorda thoát khỏi tay nữ hoàng độc ác để trở về quê hương của mình...

    Tác giả Miyuki Miyabe được trò chơi ICO (một game cho Play Station 2) gợi cảm hứng để sáng tạo ra câu chuyện về Ico.
    Tác giả cũng có đề cập rằng sẽ rất vinh dự nếu độc giả quyết định thử trò chơi sau khi đọc xong cuốn sách, nhưng bà cũng cảnh báo rằng những nội dung trong cuốn sách cũng không giúp đỡ nhiều cho việc vạch ra những chiến lược trong trò chơi.
    (Theo conruoinho )
    ***
    Mục lục
    Chương 1: Theo lời thầy tu nói
    [1] --- [2] --- [3] --- [4]
    [5] --- [6] --- [7] --- [8]
    Chương 2: Lâu đài trong Màn sương
    [1] --- [2] --- [3] --- [4]
    [5] --- [6] --- [7] --- [8]
    Chương 3: Lồng thời gian
    [1] --- [2] --- [3] --- [4]
    [5] --- [6] --- [7] --- [8]
    [9] --- [10] --- [11] --- [12]
    Tác phẩm đã được đăng tải lên thư viện, bạn vào ĐÂY để đọc tiếp nhé. :)

     
    Chỉnh sửa cuối: 20/3/16
    meo_mup, Đan, BimIta3 người khác thích bài này.
  2. Magic Purple

    Magic Purple Gà BT Nhóm Chuyển ngữ

    Bài viết:
    1.252
    Được thích:
    1.345
    Đã thích:
    1.150
    GSP:
    397p
    Một câu chuyện về một nơi vô danh

    Được kể trong một thời đại không được biết đến.


    CHƯƠNG 1. THEO LỜI THẦY TU NÓI

    [1]


    Khung cửi đã trở nên yên lặng. Ông lão đã chú ý sự thiếu vắng của tiếng lách-cách-lách-cách nhịp nhàng của nó trước đó một chút, và bây giờ ông kiên nhẫn chờ đợi nó trở lại. Ông ngồi ở một cái bàn cũ, trên mặt bàn nơi ông đặt vài cuốn sách cổ, bề mặt của nó phủ một lớp vàng hổ phách sau nhiều năm sử dụng. Một cơn gió nhỏ thổi qua cánh cửa sổ mắt cáo thổi tung lề giấy úa vàng và làm những ngọn râu trắng dài của ông run lẫy bẩy.

    Ông hếch đầu lên, căng ra để nghe bất cứ âm thanh nào – tiếng khóc lóc, chẳng hạn.

    Họ đã hoàn thành phòng dệt sớm hơn vài ngày. Tất cả những sự tẩy uế cần thiết đã được thực hiện. Căn phòng ở đó đợi bà ấy bất cứ khi nào bà sẵn sàng bắt đầu – không, ông nghĩ, bà ấy phải bắt đầu ngay tức thì. Thế nhưng Oneh đã khóc lóc, gào thét, nguyền rủa và sẽ không đến gần nó. “Thật quá tàn nhẫn,” bà nói, bám chặt vào áo choàng của ông lão. “Làm ơn dừng nó lại. Đừng bắt tôi làm điều này.”

    Ông không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc để bà khóc đến khi nước mắt bà cạn khô. Sau đó ông nói với bà, giải thích một cách kiên nhẫn, như một người nói chuyện với một đứa trẻ. “Bà đã biết điều này sẽ xảy ra. Bà đã biết nó vào ngày mà thằng bé được sinh ra.”

    Ông đã năn nỉ bà từ lúc hoàng hôn của ngày hôm trước cho đến tận đêm. Cuối cùng, rạng sáng, Oneh đã để ông dẫn bà vào phòng dệt. Từ sự nghiên cứu của mình, ông đã nghe âm thanh nặng nhọc của con thoi trong khung cửi. Đó là một âm thanh lạ lẫm, điều này làm cho sự biến mất của nó thậm chí còn dễ nhận ra hơn.

    Ông lão nhìn qua cửa sổ nơi những lá cây xào xạc trong khu rừng nhỏ. Chim chóc đang hót vang. Ánh sáng của mặt trời rực rỡ, và nó làm ấm căn phòng nơi mà những tia nắng của nó rọi vào. Vẫn không có âm thanh nào của những đứa trẻ đang chơi đùa, và khi dân làng đi lại ra đồng làm việc, họ cũng làm thế trong yên lặng. Những tiếng thở dài muộn phiền nổi lên tại nơi những tiếng thịch thịch của cuốc vang vọng xuống những luống cày. Thậm chí những thợ săn, ông lão tưởng tượng, ngừng cuộc săn đuổi dọc những đường mòn chạy qua những ngọn núi và thở dài xót xa khi họ nhìn xuống làng từ xa.

    Đó là Thời điểm Hiến tế.

    Ông lão là trưởng lão của làng Toksa. Năm nay ông đã bảy mươi tuổi, mười ba năm sau khi thừa kế vị trí từ cha mình. Ông chỉ vừa tiếp nhận chức vị của ông ấy, lòng tràn đầy những ý tưởng về chuyện mình sẽ làm những việc cha ông không thể làm như thế nào, và những chuyện cha mình chưa bao giờ thử làm, khi đứa trẻ được sinh ra. Đứa trẻ bất hạnh đó, chịu số phận là Vật tế.

    Vào lúc đó, cha của trưởng lão đã bệnh rất nặng, cả cơ thể và tinh thần ông suy yếu trầm trọng. Dù vậy, cái đêm khi ông nghe được rằng một đứa trẻ được Muraj và Suzu sinh ra - một đứa trẻ với cặp sừng mọc lên trên đầu – ông đã lao khỏi giường bệnh, gương mặt ông ngập tràn sự đau khổ tột độ. Ông vội vã đến nhà hộ sinh trong làng và bế đứa trẻ sơ sinh trên đôi tay mình, lướt nhẹ những ngón tay mình trên cái đầu mềm của nó cho đến khi ông cảm nhận được cặp sừng.

    Trong lúc trở về nhà, ông triệu con trai mình đến. Ông đóng hết cửa lớn và cửa sổ và vặn nhỏ tim đèn đến khi căn phòng sáng lờ mờ, và khi ông lên tiếng, giọng ông là một tiếng thì thầm, không lớn hơn một ngọn gió đêm.

    “Ta đã không sẵn sàng giao chiếc áo choàng trưởng làng cho con,” ông đã nói. “Thậm chí khi ta thấy những dân làng tôn kính con với lòng tự hào và tin tưởng như thế nào, ta đã giữ con lại. Ta chắc chắn con thỉnh thoảng tự hỏi tại sao như vậy. Ta biết, con không vui, và ta không trách con vì điều đó.”

    Tân trưởng làng ngồi xuống, không nói gì, đầu ông cúi thấp. Ông không dám nhìn vào mắt cha mình. Đêm đó đã biến cha ông người đàn ông già ốm yếu, mệt mỏi thành điều gì đó vừa lạ lùng vừa kinh hãi.

    “Nhưng hãy biết điều này – ta không níu kéo vai trò trưởng lão của mình vì ta không sẵn sàng rời bỏ. Ta chỉ muốn miễn cho con khỏi gánh nặng của việc Hiến tế. Ta đã quá hèn nhát, và trì hoãn điều mà ta biết sớm hay muộn gì cũng phải xảy ra. Ta thật ngu dốt làm sao. Người cai trị trong Lâu đài trong Màn sương nhìn xuyên qua tất cả nhưng mưu đồ nông cạn của chúng ta. Chúng ta còn có thể giải thích gì khác, khi vừa đây thôi vào ngày mà bệnh tật buộc ta phải truyền lại cho con tư cách trưởng lão, thì một đứa trẻ với cặp sừng được sinh ra ở làng chúng ta?”

    Giọng cha ông rung lên như là ông sắp sửa khóc.

    Ở Làng Toksa, có một sự thật là cứ vài thập kỷ, một đứa trẻ với đôi sừng được sinh ra. Đôi sừng nhỏ khi mới sinh – mềm, u tròn lên, chỉ nhận thấy dưới lớp tóc mỏng của đứa bé.

    Đứa trẻ có sừng lớn nhanh và khỏe mạnh hơn những đứa trẻ bình thường. Chân tay nó dài, cơ thể nó khỏe mạnh. Nó sẽ băng qua những cánh đồng như một con nai, nhảy nhót như một con thỏ rừng, leo trèo như một con sóc, và bơi lội như một con cá.

    Trong khi đứa trẻ lớn lên, sừng của nó vẫn sẽ như khi mới sinh, ngủ vùi dưới mái tóc của nó. Không thể phân biệt một đứa trẻ có sừng với những đứa bình thường với chỉ một cái nhìn lướt qua. Chỉ sức mạnh vô biên của nó, một giọng nói có thể được nghe thấy thừ hàng dặm qua khu rừng, và đôi mắt ánh lên sự khôn ngoan trước tuổi làm nó nổi trội hơn.

    Thế nhưng, đôi sừng là một dấu hiệu không thể phủ nhận đứa trẻ này trở thành Vật tế; rằng một ngày nó sẽ phải hoàn thành nhiệm vụ được đặt ra bởi lệ làng; rằng nó phải đi đến Lâu đài trong Màn sương.

    Đôi sừng là dấu hiệu của lời nguyền của lâu đài lên nó và mọi người nó biết.

    Khi đứa trẻ được mười ba tuổi, đôi sừng sẽ để lộ hình dáng thực sự của chúng. Chúng sẽ mọc qua đêm, một cái bên mỗi phía của đầu nó, giống như của một con trâu nhỏ, tách mớ tóc chỗ chúng nhô ra và hướng lên.

    Điều này đánh dấu Thời điểm Hiến tế.

    Lâu đài trong Màn sương đang gọi. Thời gian đã đến. Đứa trẻ phải được hiến tế.

    “Vật tế cuối cùng được sinh ra khi ta chỉ là một đứa trẻ,” cha của trưởng lão nói với ông. “Những cuốn sách cũ nói rằng đôi khi những một trăm năm trôi qua sau khi một Vật tế được sinh ra và gửi đến lâu đài.” Ông cau mày và lắc đầu. “Ta đã hy vọng vận may của chúng ta sẽ tốt. Làm sao mà ta đã cầu nguyện rằng đời con có thể trải qua mà không gặp một vụ Hiến tế – chỉ để có một cái xuất hiện ngay bây giờ, quá sớm! Ta sợ rằng Vật tế trước không đủ hiệu lực.”

    Đó là lý do, cha ông giải thích, Lâu đài trong Màn sương đói lại sớm thế.

    “Tuy nhiên,” ông tiếp tục, “thời gian vẫn còn trước khi đứa trẻ sinh ra tối nay được mười ba tuổi. Ta có thể dạy con tất cả con cần về việc hiến tế Vật tế. Con sẽ phải tham khảo những cuốn sách cổ gia đình mình giữ. Khi đứa trẻ đến tuổi, và Thời điểm Hiến tế đến, một tùy tùng từ nhà thờ ở thủ đô sẽ đến và thu xếp mọi thứ. Con chỉ cần làm theo lời thầy tu nói.”

    Sau đó cha trưởng lão tóm lấy cổ tay ông với một sức mạnh đáng ngạc nhiên. “Dù cho bất cứ chuyện gì xảy ra, con không được để Vật tế trốn thoát. Con không được cho phép nó rời làng. Và con phải khắc sâu vào nó trọng trách của vận mệnh nó, huấn luyện nó thật cụ thể đến khi nó thực sự chấp nhận điều đó và sẽ không bao giờ chọn đấu tranh. Con không được khoan dung hay bạc nhược trái tim. Lâu đài đã chọn nó làm Vật tế, và về điều đó không thể có sai lầm gì.”

    Trưởng lão run sợ, nghĩ về đứa trẻ mới sinh. Đứa trẻ có vẻ đáng yêu, bất lực và vô giá làm sao. Ngay cả khi nó mang theo đôi sừng của Vật tế, nó vẫn chỉ là một đứa bé vô tội. Làm sao trưởng làng có thể lạnh lùng với thứ nhỏ bé như thế? Ông có thể nói những gì với đứa trẻ rằng cuộc đời của nó một ngày sẽ được hiến tế cho Lâu đài của Màn sương?

    Ông không thể chống lại bổn phận của mình với cha. Thay vào đó, bằng một giọng yếu ớt ông hỏi, “Điều gì xảy ra nếu con thành công trong việc giữ đứa trẻ không trốn thoát, để rồi phải xem nó bị ốm? Nếu nó bị thương thì sao? Nếu nó không sống đến tuổi thích hợp?”

    “Vật tế không thể bị ốm,” cha ông nói với sự tự tin vững chắc. “Nó cũng không dễ dàng bị thương. Thực tế, nó sẽ đặc biệt khỏe mạnh. Con chỉ cần nuôi dưỡng nó để trở thành một kẻ cô độc như đại bàng, dễ bảo như bồ câu, và cam kết sâu sắc với số mệnh của nó.”

    Nuôi dưỡng nó?”

    “Phải. Là một trưởng lão, con phải nuôi dưỡng đứa trẻ sinh ra đêm nay như là con của mình.”

    “Nhưng còn về cha mẹ của đứa trẻ?”

    “Một khi mẹ đẻ của nó có thể đi được, cha mẹ phải ra khỏi làng.”

    “Gì cơ? Tại sao?” trưởng làng hỏi, mặc dù ông biết câu trả lời sẽ là gì.

    “Đó là tục lệ,” cha ông trả lời. “Cặp vợ chồng sinh ra đứa trẻ có sừng phải rời khỏi làng Toksa.”

    Sau đó, lần đầu tiên, những nếp nhăn trên gương mặt cha ông giãn ra, và nước mắt lấp lánh ở khóe mắt ông.

    “Ta biết nó nghe có vẻ khắc nghiệt. Nhưng thực tế nó là một sự nhân từ. Hãy tưởng tượng nỗi đau đớn của cha mẹ phải nuôi một đứa trẻ họ biết phải rời bỏ họ khi nó sắp trưởng thành. Nếu sự chia cắt này đã được quy định trước, nó càng nhanh càng tốt. Muraj và Suzu sẽ sống một cuộc đời tốt đẹp ở thủ đô. Họ tự do có một đứa con khác, hoặc ba hoặc năm – bao nhiêu họ muốn. Mặc dù lâu đài tham lam, nó sẽ không lấy đi hơn một đứa trẻ từ một gia đình.”

    Sự đanh thép trong giọng nói của cha ông làm trưởng lão không nói nên lời trong một lúc, đến khi cuối cùng ông thốt ra một cái tên. “Oneh…”

    Vợ ông. Oneh sẽ nghĩ gì? Bà biết rõ lệ làng như ông. Bà sẽ đón nhận tin tức mà sớn thôi họ sẽ trở thành những người tham gia trực tiếp như thế nào?

    “Con sẽ nói với Oneh thế nào?”

    Ông đã có sáu đứa con với vợ mình rồi. Bốn đứa đã chết bởi tai nạn hoặc bệnh dịch trước khi đến tuổi trưởng thành, để lại họ một đứa con trai và một đứa con gái. Chúng lớn lên khỏe mạnh. Con trai của họ đã lấy vợ.

    “Con và Oneh đủ khả năng nuôi dưỡng một đứa trẻ ở tuổi này ư?”

    “Dĩ nhiên. Nó sẽ giống như cháu của con.” Cha của trưởng lão mới mở một nụ cười mỏng, để lộ những lỗ trống nơi mà răng ông đã rụng. “Hãy nghĩ về nó theo cách này. Bởi vì đứa trẻ có sừng đã được sinh ra vào tối nay, cháu trai ruột của con, đứa trẻ cũng sắp được chào đời, sẽ được miễn khỏi số mệnh của nó. Con nên coi đó là vận may của mình.”

    Trưởng làng rùng mình. Cha ông đúng. Bởi vì Vật tế đã được sinh ra tối nay, ngôi làng sẽ sống yên bình trong nhiều năm, có lẽ nhiều thập kỷ. Cháu mình sẽ được tha. Tuy nhiên, ông không thể nó rằng liệu cơn ớn lạnh chạy dọc xương sống của mình là một kiểu của sự nhẹ nhõm hay của sự kinh khủng mà cha ông có thể nói một điều khủng khiếp như thế.

    Cha ông siết chặt hai tay ông một lần nữa, lắc chúng với từng từ. “Hãy biết điều này,” ông nói. “Trưởng lão không bao giờ được sợ hãi. Trưởng lão không bao giờ nghi ngờ. Không ai đổ lỗi cho làng của chúng ta về điều này, họ cũng không đổ lỗi cho con. Chúng ta chỉ là tuân theo tục lệ. Hãy làm mọi thứ mà thầy tu nói con làm. Hoàn thành nhiệm vụ của con, và Lâu đài trong Màn sương sẽ được thỏa mãn.”

    Hãy làm theo thầy tu bảo. Đó là công việc của thầy tu – không ai đổ lỗi cho làng - hoặc trưởng làng – trưởng lão –

    “Trưởng lão!”

    Giọng nói mang ông trở lại mười ba năm trong chốc lát. Trở lại cái tuổi bảy-mươi-của-chính-ông; trở lại với bộ râu dài mọc từ cằm ông; trở lại với đôi vai gầy xương xẩu.

    “Xin lỗi, Trưởng lão, không có ý xâm phạm.”

    Ở cửa, vài người đàn ông của làng đứng vai kề vai, vẫn ăn mặc trang phục làm đồng.

    “Không xâm phạm gì cả, ta chỉ đang đọc một chút.”

    Những người đàn ông trao đổi ánh nhìn đến khi một trong bọn họ cất tiếng.

    “Bà Oneh đang khóc lóc trong phòng dệt.”

    “Bà ấy trở nên hung dữ,” một người đàn ông khác nói, “giống như sự điên dại đã khống chế bà ấy, và bà ấy cố phá khung cửi. Chúng tôi đã giữ bà ấy lại, Trưởng lão, nhưng bà vẫn còn hoang dại.”

    Điều đó giải thích tại sao khung cửi vẫn im ắng.

    “Ta sẽ tự đi,” trưởng lão nói, đặt cả hai tay lên bàn để giúp ông đứng dậy từ ghế.

    Oneh, Oneh dịu dàng. Đã có đủ nước mắt rồi.

    Sẽ mất bao lâu để bà ấy hiểu được không có nước mắt hay cơn thịnh nộ nào có thể thay đổi những điều đã xảy ra? Dù cho bà có giơ nắm tay lên trời cao đến đâu hay bà đập mặt đất khóc than vật vã như thế nào, tất cả chỉ là vô ích.

    Tiếng khóc của họ sẽ không chạm tới lâu đài cổ được xây dựng trên vách đá ở tận cùng thế giới, xa về phía tây nơi mặt trời chìm xuống sau chuyến hành trình hằng ngày của nó. Điều duy nhất có thể giảm bớt cơn thịnh nộ của chủ nhân trong lâu đài, điều mà có thể ngăn chặn lời nguyền của lâu đài thậm chí chỉ cho một khoảng thời gian ngắn, là Vật tế được chọn.
     
    meo_mup, Du Ca, BimIta2 người khác thích bài này.
  3. Magic Purple

    Magic Purple Gà BT Nhóm Chuyển ngữ

    Bài viết:
    1.252
    Được thích:
    1.345
    Đã thích:
    1.150
    GSP:
    397p
    Chương 1.

    [2]

    Những viên đá cuội nhỏ rơi xuống phía trên đầu cậu bé, kêu lanh canh trên sàn cát. Viên đầu tiên, sau đó một viên khác.

    Cậu ngồi dậy, nhìn lên khung cửa sổ nhỏ đặt ở chỗ cao nhất của cái hang. Khung cửa sổ được đẽo từ đá, và mưa gió nhiều năm đã mài mòn cạnh của nó.

    Một khuôn mặt xuất hiện.

    “Suỵt! Này!” một giọng nói gọi xuống. “Tôi biết cậu ở trong đó!”

    “Toto!” cậu bé trả lời với một nụ cười, tự hỏi làm sao bạn cậu có thể leo lên được lên cái cửa sổ như thế.

    “Sao,” Toto nói, “đừng nói với tôi cậu vẫn đang ngủ nhé.”

    Cậu vừa nằm nghiêng – không có nhiều thứ khác để làm.

    “Cậu sẽ gặp rắc rối nếu họ bắt được cậu.”

    Toto nhăn răng cười. “Tôi là chuyên gia chuyện này mà. Chẳng ai thấy tôi cả.”

    “Cậu chắc chứ?”

    “Này, cậu nên cảm ơn tôi. Tôi mang đến cho cậu vài thứ -”

    Toto ném một túi vải trắng vào hang. Cậu bé vồ lấy và nhìn vào trong. Có một quả và một bọc bánh nướng.

    “Cảm ơn!”

    Toto cười toe. “Đừng để họ bắt được cậu ăn những thứ đó,” cậu khuyên. “Lão già mà họ sai chặn ngoài cửa sẽ mang chúng đi.”

    “Ông ấy sẽ không làm thế.”

    Những người canh gác cậu không thân thiện cho lắm, nhưng họ cũng không độc ác. Khi họ mang cho cậu ba bữa ăn một ngày hoặc đến để thắp một ngọn lửa trong lò sưởi của cậu vào những đêm giá lạnh, họ sẽ nhìn xuống sàn hoặc di chuyển về một bên – một cách sợ hãi, hối tiếc – và rời đi ngay khi công việc của họ hoàn thành.

    “Suỵt, Ico.” Toto hạ giọng xuống thành một tiếng thì thào. “Cậu chưa bao giờ nghĩ về việc chạy trốn ư?”

    Ico – đó là tên của cậu – đưa mắt khỏi cửa sổ trên đỉnh hang, để đôi mắt mình di chuyển qua những bức tường xám. Cái hang này nằm ở rìa phía bắc của làng. Ban đầu nó là một ngọn đồi đá nhỏ đến khi những người đàn ông trong làng đào nó bằng tay, đặc biệt để nhốt Vật tế. Ico sẽ ở lại đây đến khi thầy tu tới để dẫn cậu đi khỏi. Nhiều năm đã trôi qua từ khi cấu trúc của hang động làm trơn nhẵn những dấu hiệu để lại trên các bức tường bởi sự chạm trổ và đục đẽo của những thợ đẽo. Ico có thể lần bàn tay mình trên nó và không cảm nhận được gì ngoài những khối đá bình thường.

    Điều đó chỉ ra tục lệ đã xuất hiện và việc hiến tế đã bắt đầu từ lâu lắm rồi.

    Sẽ mất nhiều từ để diễn tả cậu cảm thấy như thế nào vào lúc đó, và tất cả chúng chen lấn trong đầu Ico để được chú ý. Cậu vẫn còn thiếu tự tin để chọn từ cho phù hợp và sắp xếp chúng theo đúng thứ tự. Cậu mới mười ba tuổi.

    “Tôi không thể bỏ trốn,” cuối cùng cậu trả lời.

    Toto siết chặt rìa cửa sổ với cả hai tay và chúi đầu vào sâu hơn. “Dĩ nhiên cậu có thể! Tôi có thể giúp cậu!”

    “Điều đó sẽ không xảy ra.”

    “Ai nói? Tối nay tôi có thể giúp cậu trốn ra, và sau đó chạy nhanh vào rừng. Tôi sẽ phá khóa và cậu được tự do!”

    “Tôi sẽ đi đâu? Tôi sẽ sống ở đâu? Tôi không thể đi sang một ngôi làng khác. Khi họ thấy đôi sừng họ sẽ biết tôi là Vật tế, và họ sẽ lôi tôi trở về.”

    “Vậy thì đừng vào làng. Cậu có thể sống trong núi, đi săn, ăn những quả hạch và quả mọng – cậu thậm chí có thể dọn dẹp một cánh đồng để làm một khu vườn. Cậu không bao giờ bị ốm, và cậu khỏe như một con bò, Ico. Nếu bất kỳ ai có thể làm, cậu có thể.” Toto cau mày. “Dĩ nhiên, tôi sẽ đi với cậu. Hãy cùng nhau thực hiện! Cùng nhau sống trong hoang dã! Nơi đó tốt hơn… chỗ này.”

    Toto nhỏ hơn Ico đúng một tuổi. Cậu nhóc là một người bạn tốt, cậu cũng rất trung thành với gia đình mình, đặc biệt em trai và em gái cậu. Ico không thể tưởng tượng Toto để họ lại. Và tuy nhiên, có một sự thành thật trong giọng nói của Toto làm Ico nghĩ Toto thực sự có ý định về điều cậu ấy nói. Điều đó thực sự đau đớn. Toto đang sẵn sàng vứt đi mọi thứ… vì mình.

    “Cảm ơn, Toto,” Ico nói, cố gắng có vẻ ủ rũ. Giọng cậu vỡ òa.

    “Đừng cảm ơn tôi. Hãy nói là cậu sẽ đi!”

    “Tôi không thể.”

    Toto lắc đầu. “Cậu là rất nhiều thứ, Ico à. Nhưng tôi chưa bao giờ nhận thấy cậu là một kẻ hèn nhát.”

    “Hãy nghĩ về điều gì sẽ xảy ra cho làng nếu tôi bỏ chạy. Không có Vật tế, Lâu đài trong Màn sương sẽ nổi giận.”

    Không chỉ làng. Thủ đô cũng sẽ bị phá hủy, tất cả trong một đêm. Không, cậu nghĩ, cõ lẽ thậm chí sẽ không có thời gian chớp mắt.

    “Vậy điều gì sẽ xảy ra nếu lâu đài nổi giận?” Toto hỏi, tự mình nổi giận. “Nhân tiện đây có điều gì rất đáng sợ về lâu đài? Cha mẹ tôi sẽ không bao giờ nói với tôi về điều đó – Mẹ gần như che tai lại và bỏ chạy khi tôi hỏi những câu hỏi.”

    Đó không phải do cha mẹ Toto không muốn nói về nó – họ bị cấm nói về nó. Đó là một phần của tục lệ của họ, bởi vì họ biết rằng Lâu đài trong Màn sương luôn luôn cảnh giác. Thậm chí không có cả một câu nguyền rủa có thể được thì thầm dưới hơi thở. Và lâu đài không dung thứ cho ai thử thách quyền năng của nó. Không ai.

    “Khi cậu lên mười lăm tuổi, họ sẽ tổ chức một nghi lễ cho cậu,” Ico nói với cậu. “Sau đó cậu sẽ biết nó có nghĩa là gì. Trưởng lão sẽ nói với cậu mọi thứ.”

    “Tuyệt thật,” Toto nói, hơi lớn tiếng, “nhưng tôi muốn biết bây giờ! Làm sao họ mong chờ tôi chỉ ngồi ở đây và chấp nhận nó đến khi họ nghĩ tôi sẵn sàng? Một khi họ dẫn cậu vào lâu đài, cậu biết cậu sẽ không trở lại, đúng không? Vậy thì, chuyện đó không được với tôi đâu nhé. Tôi sẽ không chỉ đứng ngoài và để điều đó xảy ra.”

    “Nhưng, Toto, tôi Vật tế.”

    “Bởi vì cậu có đôi sừng mọc trên đầu ư? Tại sao cái đó biến cậu thành bất cứ thứ gì? Dù sao đi nữa ai đã nghĩ ra tất cả những thứ tào lao này?”

    Chỉ là phải như thế, Ico muốn nói, nhưng cậu giữ lại.

    “Cậu biết điều gì đó, phải không?” Giọng của Toto đột ngột trở nên dịu dàng hơn. “Nói với tôi, Ico. Tôi phải biết.”

    Ico ngồi sụp xuống. Không phải trưởng lão đã nói với cậu – bằng một giọng điệu mà không có chỗ cho sự giải thích – không được nói về điều cậu biết, về điều cậu đã thấy sao?

    Đã qua vài ngày rồi khi đôi sừng của Ico đã đột ngột phát triển trong khoảng một đêm và trưởng lão đã mang cậu đến Núi Cấm. Họ đã cưỡi trên lưng ngựa ba ngày về phía bắc, đi đến nơi thậm chí những thợ săn không dám đặt chân đến. Họ không thấy ai trên đường, không có chim chóc bay trên đầu, không có thỏ trong những bụi cây, không có dấu vết của những con cáo trong lớp bùn mềm do mưa để lại ngày trước đó.

    Tại sao những ngọn núi này bị cấm? Tại sao không ai đi đường này? Tại sao không thấy chim chóc hay con vật nào? Tất cả những câu hỏi của Ico tan chảy như một dòng tuyết mùa xuân khi họ đi đến đỉnh khe núi và cậu thấy điều gì nằm bên phía bên kia.

    “Ta mang cháu đến đây để cho cháu thấy sự kinh khủng mà Lâu đài trong Màn sương đã gây ra, sự tận cùng của cơn thịnh nộ của nó – và ý nghĩa thực sự của sự hiến tế của con,” trưởng làng nói với cậu. “Chỉ có Vật tế có thể chấm dứt cơn thịnh nộ của lâu đài và ngăn chặn thảm kịch này lại xảy ra. Hãy cân nhắc kỹ về điều đó. Hãy khắc sâu cảnh tượng trong tim cháu. Sau đó hoàn thành nhiệm vụ của cháu và đừng nghĩ đến việc chạy trốn.”

    Những lời của trưởng lão vẫn vang trong tai cậu.

    Ico đã biết cậu là Vật tế từ khi cậu là một đứa trẻ. Cậu đã được nuôi dưỡng vì mục đích này chứ không gì khác.

    Cuộc sống hàng ngày của Ico không khác gì với bất kỳ đứa trẻ nào trong làng. Khi cậu hư, cậu bị la rầy; khi cậu ngoan, cậu được khen. Cậu trông nom những cánh đồng và động vật. Cậu học đọc và viết, cậu bơi dưới những dòng sông và leo trèo trên cây. Ban ngày nhanh chóng trôi qua, và cậu ngủ ngon lành vào buổi tối. Trước khi đôi sừng của cậu nhô ra từ dưới tóc cậu, thậm chí Ico thường hoàn toàn quên việc chúng có mặt ở đó.

    Và cho dù là vậy, cậu vẫn biết rằng cậu là Vật tế, rằng cậu khác những đứa trẻ khác. Trưởng lão nói thường nói với cậu điều đó, gần như mỗi ngày. Tuy nhiên những gì cậu đã thấy qua Núi Cấm có một sức ảnh hưởng lớn tới Ico hơn bất kỳ lời nói nào. Nó làm cậu nhận biết một cách đau đớn, vượt ngoài sự nghi ngờ, của trọng lượng của gánh nặng của cậu. Ico vươn tay, đãng trí dùng một ngón tay chạm vào đầu của một cái trong hai cái sừng của cậu. Đây là bằng chứng rằng cậu là người được chọn để ngăn chặn tai họa, để cứu người của cậu.

    Làm sao mình có thể trốn chạy khỏi điều đó?

    Trên đường từ những ngọn núi về nhà, quyết tâm của Ico trở nên cứng như thép. Trong khi trách nhiệm là Vật tế của cậu trước đây chỉ là thứ gì đó mơ hồ, một vai trong một vở kịch xa, bây giờ nó có một hình dạng rõ ràng và xác đinh. Cậu không hề để ý thấy những giọt nước mặt trưởng lão đã rơi khi ông ấy hối hả thúc con ngựa của mình đi trước cậu. Khi họ trở về làng, Ico đã chuyển đến hang dù không ai bảo cậu làm thế.

    “Tôi hiểu rồi!” Toto hét lên từ cửa sổ, làm Ico choáng váng thoát khỏi sự mơ màng của mình.

    “Gì cơ? Nó là gì?”

    “Tôi sẽ đi cùng cậu, Ico. Tôi sẽ đến lâu đài!”

    Ico nhảy lên, đứng lên trên bức tường ngay dưới cửa sổ. “Cậu sẽ không đi đâu cả! Nếu thầy tu phát hiện ra, họ sẽ nhốt cậu lại. Có lẽ những người còn lại trong nhà cậu luôn. Cậu thực sự muốn điều đó xảy ra ư?”

    Toto nuốt khan. “Tại sao họ sẽ làm điều đó? Ai nói tôi không thể thấy lâu đài? Nếu chỉ Vật tế được phép đi, còn thầy tu thì sao? Ông ta phải tự tống giam mình à?”

    “Bây giờ cậu thật buồn cười.”

    “Tại sao tôi phải bận tâm?” Toto càu nhàu. “Cậu thậm chí không đứng về phía của mình.”

    Ico lắc đầu. Cậu nhìn lên gương mặt bạn mình, đỏ lên vì giận dữ, và đột ngột cậu cảm thấy áp lực rời khỏi đôi vai mình, và cậu cười lớn.

    Toto là một người tốt. Một người bạn tốt. Và mình sẽ không bao giờ có thể gặp lại cậu ấy một khi mình rời khỏi.

    Ý nghĩ đó làm cậu cảm thấy cô độc hơn bất cứ điều gì khác.

    Một người bạn tốt… Điều mà chính xác tại sao mình phải đi vào lâu đài.

    “Toto,” cậu nói sau một khoảnh khắc im lặng. “Tôi biết điều gì sẽ xảy ra nếu lâu đài nổi giận. Nhưng tôi không thể nói với cậu. Tôi không thể chống lại tục lệ. Nó giống như khi họ nói chúng ta không được bơi ở chỗ nước sâu vào những ngày gió tây thổi hoặc cưỡi ngựa lên núi mà không cắt móng ngựa của chúng ta. Nó chỉ là thế, và cậu sẽ phải đợi đến nghi lễ của cậu để biết tại sao.” Giọng của Ico điềm đạm và bình thản. “Tuy nhiên, đúng thật là khi Vật tế đi vào lâu đài, nguy hiểm sẽ biến mất. Và cậu biết tôi sẽ không chết, phải không?”

    “Chắc chắn, nhưng cậu sẽ không bao giờ quay trở lại. Có gì khác biệt?”

    “Nó là một khác biệt lớn với tôi!” Ico nói với một nụ cười toe. “Trưởng lão nói với tôi rằng sau khi Vật tế đi vào Lâu đài trong Màn sương, họ trở thành một phần của lâu đài – họ sống mãi mãi.”

    Ico không nói dối. Trưởng lão thực sự đã nói với cậu điều đó. Nó đã làm cậu ngạc nhiên khi lần đầu tiên cậu biết trở thành Vật tế không thực sự là đi chết.

    “Vậy cậu sẽ sống mãi mãi?” Toto nhướng mày. “Cậu chỉ là sẽ đến sống trong lâu đài. Vậy ư?”

    “Chính xác.”

    Cuộc trò chuyện nhanh chóng rơi vào một phạm vi mà Ico ít cảm thấy chắc chắn rằng cậu đúng. Thực tế, cậu không biết cậu sẽ làm gì khi cậu đến lâu đài. Cậu cho là trưởng lão cũng không biết.

    Có thể nói từ khi cậu nghe thấy cậu không phải chết, sự tò mò của cậu về Lâu đài trong Màn sương đã tăng lên. Điều gì sẽ xảy ra ở đó? “Trở thành một phần của lâu đài” có nghĩa là gì?

    Toto chẳng tin chút nào cả. “Làm sao trưởng lão biết điều gì sẽ xảy đến với cậu? Không giống như ông ấy từng là Vật tế.”

    “Thầy tu đã nói với ông ấy.”

    “Vậy những thầy tu biết điều gì sẽ xảy ra với cậu?”

    “Dĩ nhiên. Họ là những học giả lớn ở thủ đô, cậu biết đấy,” Ico giải thích, cố gắng nghe có vẻ tự tin hơn cậu cảm thấy. “Nhưng, Toto, cậu phải hứa với tôi rằng khi thầy tu đến làng cậu sẽ không hỏi ông ấy tất cả những câu hỏi này. Tôi đã không dọa cậu – họ thực sự sẽ nhốt cậu lại. Và tôi không muốn điều đó xảy ra vì tôi. Nếu cậu cố làm điều gì khi họ đến vì tôi, họ có lẽ trừng phạt toàn bộ làng.”

    “Được,” cuối cùng Toto nói, nhưng biểu hiện của cậu rõ ràng là cậu không vui vẻ với sự sắp xếp.

    “Tốt,” Ico nói. “Tôi rất vui.” Và cậu có ý đó. Cậu thở phào nhẹ nhõm.

    “Ừm, không nghĩ là lần cuối cậu nhìn thấy tôi,” Toto gọi lớn. “Và tôi cũng không bỏ cuộc!” Cậu biến mất khỏi khung cửa sổ nhỏ.

    “Cậu có ý gì?” Ico gọi lớn sau cậu.

    “Cậu sẽ biết thôi!” câu trả lời từ xa của cậu ấy vọng đến.

    “Đây không phải một trò chơi! Nó thực sự nghiêm túc! Thực sự nghiêm túc! Cậu nghe tôi không, Toto?”

    “Tôi nghe cậu rõ lắm đây. Đừng quá lo lắng vì điều đó, được chứ? Gặp cậu sau.”

    Và với điều đó, Toto biến mất.

    Trong một lúc, Ico đứng đó, nhìn lên khoảng vuông trống của màn đêm nơi gương mặt bạn cậu đã ở đó.
     
    Chỉnh sửa cuối: 18/5/15
    meo_mup, Du Ca, BimIta1 người khác thích bài này.
  4. Magic Purple

    Magic Purple Gà BT Nhóm Chuyển ngữ

    Bài viết:
    1.252
    Được thích:
    1.345
    Đã thích:
    1.150
    GSP:
    397p
    Chương 1

    [3]

    Oneh nghĩ là do nước mắt của bà làm bà khó nhìn thấy sợi dây trên khung cửi, nhưng bà sớm nhận ra sai lầm của mình. Mặt trời đang lặn. Bóng tối lấp vào các góc của phòng dệt, và khi bà nhìn lên, bà không thể thấy những xà nhà trên đầu mình.

    Oneh lướt qua chiếc ghế ngồi dệt của mình, đi về phía bên kia của khung cửi, và kiểm tra tấm vải. Trong nửa ngày, bà chỉ dệt được độ dài một ngón tay. Họa tiết lộn xộn đến nỗi bà khó có thể nhận ra được.

    Ánh sáng không được phép có trong phòng dệt vì nguy cơ bị cháy; hôm nay bà sẽ không thể tiếp tục làm việc. Bà ấn những ngón tay lên thái dương và cảm thấy cơn đau đầu của mình. Thực sự, bà không mệt mỏi. Có lẽ bởi vì trận khóc của mình. Oneh thở dài. Mình không muốn phải làm công việc này. Mình đã không nuôi nấng thằng bé vì điều này –

    Đó là chỗ bà đã sai lầm, chồng bà, trưởng lão, đã khiển trách. Vợ của trưởng lão không được bắt gặp coi thường luật lệ. Bà có thể thương hại Ico, nhưng thằng bé đã sẵn sàng. Là do bà không có khả năng bỏ qua chuyện này, sự bám víu đầm đìa nước mắt của bà làm thằng bé đau khổ.

    Bà tự hỏi Ico đang như thế nào. Đã mười ngày qua từ khi thằng bé vào hang. Tất cả phụ nữ, ngay cả bà, bị cấm đến gần nơi đó. Bà không một lần được nhìn mặt thằng bé hoặc nghe giọng của nó. Nó có ăn uống đầy đủ? Cái hang hẳn rất tối và lạnh. Nếu thằng bé bị cảm lạnh…

    Đó sẽ là trận cảm lạnh đầu tiên thằng bé từng nhiễm phải trong đời nó. Oneh đã chứng kiến bằng chứng về sự ngoan cường của Ico đủ để biết nó sẽ ổn. Thằng bé có thể rơi ngửa từ trên ngọn cây xuống và đứng dậy trên đôi chân mình một giây sau đó để xòe tay ra và cho bà thấy con chim con nó đã bắt từ tổ của nó. Sức mạnh và kỹ năng của nó đã từng mang rắc rối đến cho nó – giống như lần khi, chỉ sau lễ nghi của nó, thằng bé đã vướng vào một trận chiến với một vài thợ câu cá trẻ về khả năng bơi được sâu hơn và nín thở lâu hơn của nó so với bất cứ ai trong số họ. Hôm đó nó đã đánh lại sáu đứa con trai khác và trở về nhà chỉ với vài vết xây sát. Chúng là những ký ức yêu thích. Những ký ức đáng tự hào.

    Những người khác trong làng nghĩ rằng tình cảm của Oneh dành cho Ico đến từ sự đồng cảm sâu sắc dành cho thằng bé và nỗi phiền muộn của bà là trở thành người phải nuôi nấng nó mặc dù nó không phải con ruột của bà. Thậm chí trưởng lão cũng nghĩ vậy. Nhưng họ đã sai. Ico là ánh sáng của trái tim bà. Bà yêu thương thằng bé nhiều như bất kỳ bà mẹ nào có thể yêu thương đứa con của mình. Nuôi nấng thằng bé là một niềm hạnh phúc.

    Những đứa trẻ hiểu bà – chúng luôn biết về những điều này nhiều hơn người lớn. Những đứa cháu ruột của bà thường hờn dỗi và hỏi bà vì sao bà thích đứa trẻ có sừng hơn chúng.

    “Bởi vì Ico biết vị trí của mình và không cãi lại, và cứ không đòi hỏi hay trêu chọc những đứa trẻ khác,” bà muốn nói với chúng, nhưng bà sẽ kiềm chế lại và thay vào đó nói rằng bà tử tế với nó bởi vì nó là Vật tế. Sau đó cháu bà sẽ mỉm cười và nháy mắt với nhau, vui mừng rằng chúng được sinh ra bình thường, không có sừng.

    Chỉ duy nhất một người lớn khác đã nhìn thấu sự che đậy mong manh không thể chối cãi – anh trai bà, người đã mất được năm năm.

    “Thằng bé làm cho em yêu thích nó, phải không?” ông đã từng nói với bà một lần. “Đừng quên, Oneh, tại sao thằng bé phải quá thuần khiết, tử tế và không mắc lỗi lầm gì. Nó không phải con người. Tâm hồn của nó trống rỗng, và quỷ dữ không thể bám vào một khoảng trống như nó có thể làm với trái tim phức tạp của chúng ta. Sự trống rỗng chỉ hấp thụ tình yêu và ánh sáng, và phản chiếu nó lại. Không nghi ngờ gì khi người nuôi nấng đứa trẻ có sừng dễ dàng yêu thương nó như thế - họ thấy tình yêu của mình phản chiếu lại trong đôi mắt của nó.”

    Ông nhắc nhở Oneh rằng đi đến Lâu đài trong Màn sương không phải là thảm kịch cho thằng bé. “Linh hồn đứa trẻ đã ở trong lâu đài từ ngày nó được sinh ra. Nó trở lại lâu đài để lấy lại linh hồn ấy và trở nên hoàn chỉnh lần đầu tiên trong cuộc đời nó.”

    Oneh đã sinh ra trong một gia đình thương gia ở thủ đô. Bà được giáo dục tốt, và thời thơ ấu của bà trôi qua dễ dàng. Anh trai bà, lớn hơn bà sáu tuổi, đã phục vụ ở trường dòng ở thủ đô và nhận được chứng chỉ để trở thành một thầy tu được phong chức vào tuổi hai mươi hai, tuy nhiên trước buổi nghi lễ ông đã rút lại lời thỉnh cầu và rời bỏ cuộc sống thành phố để về miền quê. Những giáo viên của ông và cha mẹ cật lực phản đối, nhưng anh trai bà không chịu lắng nghe. Ông thuê một căn nhà nhỏ trong một thị trấn nhỏ, nơi ông kiếm sống bằng việc dạy những đứa trẻ địa phương đọc viết, không bao giờ cưới vợ, dành những buổi tối của ông để bước vào những cuốn sách cổ, và sống một cuộc đời khổ hạnh. Ông chưa từng trở về nhà, thậm chí không cả một chuyến viếng thăm. Qua nhiều năm ý kiến của cha mẹ với ông đã giảm bớt đi, và vài lần họ đã gửi tin để hòa giải, nhưng ông luôn từ chối họ, một cách nhẹ nhàng nhưng kiên quyết.

    Một năm sau khi anh trai bà ra đi, Oneh đi kết hôn ở làng Toksa. Bà mười bảy tuổi. Bà có những anh chị em khác, nhưng bà luôn thân thiết nhất với người anh trai dịu dàng, siêng năng. Đó là lý do, gần tới khi cưới, bà lẻn khỏi nhà và cùng với một nữ hầu đến tham làng anh trai bà. Kết hôn có nghĩ là bà sẽ rời gia đình họ, và bà muốn chào tạm biệt ông.

    Anh trai bà vui vẻ khi thấy bà. Bà sửng sốt khi thấy ngôi nhà nghèo nàn của anh mình, tuy nhiên sự rạng rỡ trên mặt ông làm ấm trái tim bà. Đêm đó ông nấu cho bà một bữa ăn đơn giản. Chỉ có nước lọc để uống, nhưng nó mát lạnh và làm khoan khoái.

    “Đi đến Toksa, ư?” anh trai bà hỏi.

    “Em biết nó xa,” bà nói với ông. “Xa với thủ đô hơn bất cứ nơi nào em từng ở. Nhưng đất đai thì màu mỡ, nước thì sạch, và nó gần cả biển và núi, nơi mà có thức ăn để dùng. Người ở Toksa có nhu cầu ít.”

    “Ta cũng đã nghe như thế,” anh trai bà gật đầu, nhìn bà với đôi mắt vẫn trong như nước. “Kể ta biết, cuộc hôn nhân này đã xảy ra như thế nào?”

    Oneh không biết chi tiết. Là con gái của cha mẹ, bổn phận của bà là làm theo họ yêu cầu.

    “Ta đoán,” anh trai bà nói, “rằng cha chúng ta đã đề nghị sự kết hợp. Em đã đề cập rằng người đàn ông sẽ trở thành chồng em là con trai của trưởng lão trong làng à?”

    “Đúng vậy. Điều mà có nghĩa là, một ngày nào đó, em sẽ trợ thành vợ của trưởng lão.” Mặc dù ý nghĩ về việc chuyển đến một nơi xa lạ để cưới một người hoàn toàn xa lạ khiến bà lo lắng, bà cảm thấy chút ít tự hào biết rằng bà sẽ là trở thành một người có vị thế trong ngôi nhà mới của mình.

    “Nói ta biết,” sau đó anh trai bà nói, “em đã biết vai trò mà trưởng lão ở Toksa phải thực hiện theo tục lệ địa phương của họ - một tục lệ không được tiến hành ở bất cứ nơi nào khách chưa?”

    Oneh lắc đầu. Anh trai bà chuyển ánh nhìn khỏi bà sang những bức tường xù xì, trét bùn của ngôi nhà ông.

    “Anh trai?” Oneh nói sau khi ông đã im lặng một lúc.

    Khi ông lên tiếng lại, giọng của ông bình tĩnh như trước, nhưng dường như với bà có một bóng đen lướt qua đôi mắt ông. Đôi mắt ông luôn phản bội những xúc cảm của ông. Điều đó đã đúng từ khi họ là những đứa trẻ.

    “Em biết ta sẽ không bào giờ phảm đối việc kết hôn của em. Toksa là một nơi thanh bình, phồn vinh, như em nói. Em không cần lo lắng về một việc.”

    “Nhưng –”

    “Oneh, em rất mạnh mẽ. Mạnh mẽ hơn cha mẹ nghĩ. Và em có sự khôn ngoan vượt xa tuổi của mình. Em sẽ làm một người vợ tốt.”

    Bà biết anh bà thật lòng trong những điều mình nói, nhưng để nghe sự tán dương đột ngột đó làm Oneh không thoải mái hơn. “Anh nói về tục lệ gì vậy?” bà hỏi.

    “Ta đã sai khi nói ra bất cứ điều gì,” anh trai bà trả lời, nụ cười của ông yếu ớt. “Ta không có ý làm người em gái thân yêu lo lắng với những vấn đề lặt vặt quá sớm trước khi em kết hôn. Không có lý do gì để cảnh giác. Tất cả các ngôi làng đều có tục lệ của họ. Đó là tất cả ý của ta.”

    Nụ cười của anh bà không nhạt đi, nhưng bóng tối trong đôi mắt ông trở nên sâu hơn. Oneh biết rằng ông có điều gì khác để nói, bởi vì bà cũng biết tốt hơn không hỏi quá nhiều câu hỏi tại những thời điểm như thế này. Anh trai bà là một người đàn ông trung thực. Nếu có điều gì đó bà cần phải biết, ông sẽ nói với bà khi thời gian thích hợp.

    “Toksa là một nơi xinh đẹp, hào phóng,” anh trai bà nói, nói một cách chậm chạp. “Em hẳn đã nói, đó là phần thưởng của nó.”

    Oneh không hiểu. Sau tất cả bà định hỏi, khi ông mở miệng cười và quay sang nhìn bà. “Em nhớ viết thư đấy,” ông nói.

    “Em sẽ viết.”

    “Ta biết em sẽ không nhận được thư từ nhà, không với những người ngầm quan sát em. Nhưng ở nhà mới của em, không ai nghĩ hai lần về một đứa em gái trả lời thư anh trai ở xa của nó.”

    Oneh gật đầu, mỉm cười.

    “Và nếu ông chồng chúa tể của em trở nên ghen tỵ, hãy nói ông ấy em viết thư cho người anh kỳ lạ ở thủ đô. Nói với ông ấy tất cả những gì ta làm là đọc sách, đó là bụi từ giữ những trang sách đọng lại trên tóc ta, và ta không còn gì thích thú hơn tản bộ giữa những kệ sách thư viện, ống tay áo dài của ta kéo lê trên sàn nhà phía sau ta.”

    Oneh cười. “Em sẽ nói với ông ấy anh là một học giả nổi tiếng. Rằng trường dòng đã khẩn cầu anh trở thành một thầy tu – không, thầy tu cấp cao.”

    “À,” anh trai bà la lên, “đó là lý do em là đứa em gái yêu thích của ta.” Sau đó ông cười lớn, nhưng thậm chí âm thanh vui vẻ không làm tan biến nỗi buồn khỏi đôi mắt ông.

    Việc trao đổi thư từ của họ bắt đầu sau đó. Họ không viết thường xuyên – tất cả cùng nhau, những lá thư của anh trai bà để vừa vặn trong một cuộn giấy da dê. Ông viết gần như quan tâm đến sự sắp xếp cuộc sống của Oneh, thời tiết, và làm sao năm đó mùa màng năm đó lại đến trễ.

    Mãi đến tận ngày đó, mười ba năm trước, khi Ico được sinh ra và chồng của Oneh mới kể bà nghe mọi điều. Vượt qua cảm giác khi bà sờ bàn tay trên đầu đứa trẻ và cảm thấy chỗ tròn tròn nhô ra một ngày nào đó sẽ trở thành đôi sừng, bà viết một lá thư khác cho anh trai rất khuya đêm đó.

    Cuối cùng em hiểu anh đã nói gì về ngày em thăm anh trước khi kết hôn.

    Câu trả lời của anh bà, khi nó đến, là bức thư dài nhất ông từng viết.

    Bởi vì em là em gái của ta, em biết rõ ràng vị thần Mặt Trời vĩ đại, Sol Raveh, người mà chúng ta cầu nguyện trong các đền thờ, sinh ra tất cả, sửa chữa tất cả, và cai trị tất cả với sức mạnh của tình yêu.

    Dường như với bà giọng của anh trai bà trên trang giấy nghe có vẻ khác hơn nó trước đây. Thậm chí những bức thư được viết theo phong cách thận trọng, tao nhã.

    Tuy nhiên Thần Ánh sáng phải chịu đựng nhiều đau khổ đi qua một con đường ngổn ngang trước khi mang đến yên bình cho vùng đất của chúng ta. Ông ấy đã tiến hành nhiều cuộc chiến và thân chinh nhiều trận đánh. Toksa là vị trí của một trong những chiến trường ấy, đặc biệt ác liệt.

    Khi ông tiếp tục kể cho bà nghe rằng Sol Raveh đã chiến đấu với một kẻ thù hùng mạnh gần Toksa. Kẻ thù đã bị đánh bại và bắt giam thành công, tuy nhiên chiến thắng không đến nếu không có một sự hy sinh: tục lệ lạ của Toksa, và đứa bé sơ sinh đầu tiên với đôi sừng trên đầu nó.

    Vật tế được sinh ra là một người bị giam cầm, thậm chí khi nó là chiến binh của Ánh sáng và một chiếc chìa khóa đá trong bức tường giam giữ kẻ thù. Mặc dù đứa bé có sừng xuất hiện với hình dáng con người, đó không phải là bản chất của nó. Đứa trẻ là con chốt của một sức mạnh vĩ đại hơn. Em phải nuôi dưỡng nó để nó không bao giờ quên rằng đứa trẻ mang một phần của sự thần thánh đó trong mình.

    Oneh nhanh chóng viết thư trả lời. Bà khỏi liệu kẻ thù mà làng Toksa đã khiếp sợ hàng năm dài là chủ nhân của Lâu đài trong Màn sương không. Bà đã hỏi làm sao Vật tế có thể xoa dịu cơn giận của chủ nhân. Ông đáp:

    Ở Toksa, điều này chỉ được Vật tế biết. Chỉ một đứa bé có sừng, hoặc thầy tu đứng đầu, có thể tìm hiểu để biết điều này.

    Có những phần trong lá thư của anh bà có lý, trong khi những điều còn lại thì không. Mặc dù mỗi lá thư kết thúc như nó bắt đầu, với những lời ngợi ca thánh thần, khi bà đọc thư trả lời sau khi trả lời Oneh bắt đầu tự hỏi liệu ông ấy có thực sự tin tưởng vào những điều ông viết.

    Một lần, bà thẳng thắn hỏi ông liệu có môt mối liên hệ giữa lý do tại sao anh trai bà từ bỏ việc trở thành một thầy tu và tục lệ của Toksa. Thực tế, bà đang hỏi liệu ông từng đặt câu hỏi về niềm tin của ông khi còn trẻ. Oneh biết rằng nếu bà đưa lá thư cho bất cứ ai khác biết, họ sẽ lấy nó khỏi bà và ném đi. Thần Ánh sáng vĩ đại. Xuyên suốt lòng nhân từ của ông ấy là vùng đất của chúng ta được ban sự bình yên. Nghi ngờ vào thần thánh là tội lỗi nghiêm trọng.

    Không có thư hồi đáp. Thay vào đó, bà nhận được tin rằng anh trai bà đã qua đời.

    Vật tế được sinh ra là một đứa trẻ bị giam cầm, thậm chí khi nó là một chiến binh của Ánh sáng –”

    Oneh nhắm mắt lại và nói chuyện với bóng ma quen thuộc của anh trai bà trong đầu bà.

    Anh trai, bà nói, với em, Ico là chỉ là một đứa con, một đứa con yêu quý. Làm sao em có thể gửi nó đến lâu đài với một trái tim còn đập?

    “Bà Oneh?”

    Bà nghe thấy một giọng nói nhỏ từ cửa sổ. Oneh nhìn lên. “Con à, Toto?” Thằng bé hẳn đang đứng trên đầu ngón chân đế trông như thế, bà tưởng tượng. “Họ gửi con đến để triệu tập ta à?”

    Mặt trời đã lặn từ lâu, và phòng dệt đã hoàn toàn tối đen. Oneh dò dẫm với đôi bàn tay để tìm lại những trang giấy sao chép từ một cuốn sách cổ mà bà đã chống đỡ cạnh khung cửi và cuốn chúng lại với nhau như một cuộn giấy. Không có ánh sáng, bà thậm chí không thể thấy được chân mình giữa khoảng thời gian mặt trời lặn và khi nó mọc lại vào buổi sáng. Đây là một trong những lý do họ cho bà một người hộ tống đến và rời phòng dệt.

    “Không,” thằng bé thì thầm nhanh chóng. “Cháu tự đến đây. Bí mật.” Cậu nhìn quanh, chầm chậm kiểm tra không ai thấy mình.

    “Vậy thì tại sao cháu ở đây?”

    “Mới đây cháu được biết bà biết nơi thầy tu đến từ thủ đô ở.”

    Thủ đô ở xa. Một kỵ sĩ đã đến mười ngày trước để thông báo sự khởi hành của thầy tu. Đã hai ngày từ khi họ nhận được tin rằng tùy tùng cuối cùng đã đến nơi ở tạm gần Toksa nhất trên đường lớn, nhưng vẫn còn hai ngọn núi cần qua và một dòng sông cạn.

    “Cháu cần biết điều đó để làm gì?”

    Đôi mắt Toto lập lòe trong bóng tối. “Thầy tu đến từ thủ đô thực sự quan trọng, phải không?” Giọng cậu tràn đầy hy vọng. “Nếu thầy tu nói cháu có thể làm gì đó, vậy thì ngay cả trưởng lão cũng không thể bảo cháu không được làm điều đó – đúng không ạ?”

    Oneh mỉm cười thận trọng và bước một bước về phía cửa sổ. “Toto, con đang lên kế hoạch làm điểu gì mà trưởng lão không muốn con làm à?”

    “Không, dĩ nhiên không!” Cậu lắc đầu kịch liệt. “Cháu chỉ muốn biết thầy tu gần như thế nào.”

    “Ta xin lỗi, ta không biết,” Oneh nói dối.

    “Nhưng cháu vừa nói chuyện với Ico, và cậu ấy dường như biết rất nhiều về thầy tu, vậy nên cháu đã nghĩ –”

    Oneh tiến về phía cửa sổ. “Toto! Cháu đã nói chuyện với Ico?”

    “Hả?” Toto nháy mắt. “Ơ, cháu đoán là vậy,” cậu lắp bắp.

    “Cháu đã đến hang động? Làm sao cháu có thể nói chuyện với thằng bé mà không bị người canh gác bắt gặp?”

    “Cháu trèo lên một cái cây và chuyền từ cành này sang cành khác. Sau đó cháu nhảy xuống trên một ngọn đồi đá nhỏ và bò qua những tảng đá đến khi với tới cửa sổ ở trên đỉnh.”

    Oneh lắc đầu. Đây không phải lần đầu tiên bà nghe về trò leo trèo của Toto. Thằng bé và Ico là câu chuyện của những đứa trẻ khác trong làng về những trò đùa táo bạo của chúng.

    “Thằng bé ổn chứ?”

    “Cháu đoán thế. Mặc dù chán chết, bị nhốt bởi chính cậu ấy.”

    Oneh gật đầu, xoay đầu khỏi cửa sổ để giấu đi những giọt nước mắt dâng lên trong đôi mắt bà.

    “Người tức giận à, thưa bà Oneh?” Toto rụt rè hỏi.

    “Làm sao ta có thể giận bạn tốt nhất của Ico đến thăm nó chứ? Ta chắc nó cần có sự bầu bạn. Cảm ơn.”

    Nụ cười của Toto trở lại trên gương mặt cậu. “Bà biết đấy, cháu đang cố gắng đưa cậu ấy trốn đi,” cậu thừa nhận. “Nhưng Ico nói cậu ấy sẽ không trốn. Cậu nói toàn bộ làng sẽ gặp rắc rối nếu cậu làm vậy. Đó là lý do cháu sẽ đến lâu đài với cậu ấy.”

    “Gì?” Oneh nói. “Toto, cháu không thể đi đến Lâu đài trong Màn sương!”

    “Phải, đó là điều Ico đã nói. Cậu ấy nói nếu thầy tu phát hiện ra thì sẽ có ‘rắc rối,’ mặc kệ điều đó có nghĩa gì.” Toto cau mày. “Từ khi nào Ico trở thành một con chuột đồng như thế? Và làm sao cháu phải đợi đến nghi lễ trưởng thành của cháu trước khi cháu biết bất cứ điều này có nghĩa là gì? Loại bạn bè nào mà giữ những bí mật như thế?”

    Oneh hiểu rất rõ thằng bé cảm thấy như thế nào. Bà cũng cảm thấy bị bỏ rơi khi chồng bà mang Ico đi đến Núi Cấm và trở về với một bí mật mà chỉ có hai người bọn họ mới biết. Trưởng lão chưa bao giờ là một người đàn ông nói nhiều, nhưng bây giờ như thể ông đã bôi sáp lên môi. Và Ico ở trong hang… mình đã mất đi nó.

    “Ta sẽ nói với cháu,” bà nói, “nhưng sự thật là, ta không biết nhiều lắm. Trưởng lão nói tất cả chúng ta cần biết là tục lệ bảo vệ của làng cúng ta là một nhiệm vụ linh thiêng và rất, rất quan trọng. Chúng ta không thể chống lại lời của trưởng lão. Gồm cả cháu, Toto.”

    Toto khịt mũi, mặt mày phụng phịu. “Vâng, nhưng thầy tu lớn hơn trưởng lão, phải không? Vậy nên điều ông ấy nói mới có hiệu lực. Đó là lý do cháu đang nghĩ cháu có thể nhờ ông ấy đưa cháu đến lâu đài.”

    Mất một lúc để Oneh tìm lại giọng của mình. “Vậy đó là lý do cháu muốn biết ông ấy đã ở đâu,” bà hỏi.

    “Dạ vâng.”

    “Ico đã đề cập đến rắc rối sẽ có nếu thầy tu biết con định làm gì chưa?”

    Toto nhún vai. “Ừm, chắc chắn rồi, nếu cháu thử lẻn theo ông ấy. Nhưng nếu cháu có được sự cho phép của ông ấy…”

    Oneh lắc đầu. Làm sao bà có thể mong chờ một đứa nhỏ hiểu được khi điều đó vẫn quá khó khăn với bà?

    “Ta thực sự không nghĩ thầy tu sẽ để cháu đi, Toto.”

    “Sẽ không biết được nếu không thử.”

    Oneh thử một cách khác. “Có lẽ - nhưng cháu không phải là người nên đi.”

    “Hả?”

    “Ta sẽ đi với Ico đến Lâu đài trong Màn sương. Ta sẽ yêu cầu thầy tu để ta đi cùng với ông ta.”

    “Bà không được đi theo đường đó, bà Oneh. Bà có lẽ phá vỡ thứ gì đó vì đi vào lâu đài cổ kia.”

    “Thậm chí vậy,” Oneh khăng khăng, “không có nơi nào dành cho một đứa trẻ. Ta chắc thầy tu sẽ đồng ý.”

    “Sau đó cháu sẽ lẻn theo bà,” Toto nói.

    “Cháu không được!” Oneh với qua cửa sổ và đặt một cánh tay lên đầu Toto. “Cháu không thể.”

    “Cháu cũng có thể.”

    “Ta sẽ nói với cha cháu.”

    “Không công bằng –” Toto bắt đầu. Sau đó cậu lùi lại. “Ai đó đang đến!”

    Oneh dán đầu mình khỏi cửa sổ và nhìn thấy một ngọn đuốc tiến đến qua bóng tối. Ai đó từ làng đang đến tìm bà.

    “Chạy đi, Toto. Nhanh!”

    “Cháu sẽ làm tốt hơn thế!” Toto tóm lấy khung cửa sổ và chạy vụt qua bên túp lều trên mái nhà. “Họ sẽ không tìm thấy cháu trên đây.”

    Những lời của trượt dài khi Oneh thấy ngọn đuốc xoay theo một nửa vòng cung nhỏ, và một giọng nói gọi lớn, “Bà Oneh, bà đó à?”

    “Phải,” bà trả lời, đóng cửa sổ và xoay sang mở cửa chính.

    “Xin lỗi tôi đến đưa bà đi khỏi đây trễ,” người đàn ông từ làng nói khi bà bước ra ngoài. Ông ta là một người đàn ông cơ bắp mặc quần áo thợ săn, với một thanh kiếm ngắn bên eo và một cái cung và ống tên quàng qua cái lưng rộng của ông. Oneh nhận ra ông là thủ lĩnh của các thợ săn trong làng. Kỹ năng của ông với cung tên xuất sắc đến nỗi ông có thể đâm qua một quả táo treo trên một cái cây ở xa bên kia bờ sống với mũi tên đầu tiên của mình.

    Phòng dệt được xây nên vội vàng trong một mảng rừng trống ngoài làng. Có lẽ có động vật xung quanh khi màn đêm buông xuống, vì thế tôi sẽ gửi đến một thợ săn, chồng bà đã nói với bà. Nhưng Oneh biết sự thật. Những người đàn ông được trang bị được gửi đến để đảm bảo bà không cố trốn đi.

    Mục đích duy nhất của phòng dệt là để bà làm tấm Phù hiệu để mặc lên người Vật tế.

    Tấm Phù hiệu còn hơn cả một bộ áo choàng đơn giản mặc lên ngoài quần áo của Ico, nhưng nó được dệt bởi một hoa văn đặc biệt được trình bày tỉ mỉ trong những trang của cuốn sách cổ Oneh đã nhận được từ chồng bà. Nó không khó để làm nếu bà làm theo hướng dẫn.

    “Bà sẽ về thẳng lại nhà chứ?”

    “Đi suốt luôn, đúng vậy.” Oneh ôm cuộn giấy vào ngực và đóng cửa căn lều nhỏ phía sau bà. Ngọn đuốc cháy èo sèo và một tia lửa sáng trôi dạt trong không khí, vượt qua đường của bà.

    Người đàn ông chậm chạp bước trước bà. “Tôi tới trễ bởi vì một trong những thợ săn bị thương ở trên núi hôm nay.”

    “Ôi! Tôi hy vọng cậu ấy không bị thương quá nặng?”

    “Cậu ta ngã xuống từ gờ rìa, gãy cả hai chân,” thợ săn trả lời, giọng ông điềm đạm. “Thậm chí nếu cậu ta bình phục, cậu ta sẽ không đi săn lại được. Không chắc chắn cậu ta sẽ còn đi lại được.”

    Tên của thợ săn quen quen. Cậu ta là đứa trẻ vừa qua nghi lễ trưởng thành mùa xuân năm ngoái.

    Oneh lắc đầu. “Thật bất hạnh…”

    “Cậu ta không có kinh nghiệm,” thợ săn nói. “Khi bà leo núi, bà không bao giờ được nhìn về dãy núi phía bắc – thậm chí nếu quang cảnh rõ ràng. Tôi đã nói với cậu ta điều này rất nhiều lần, nhưng cậu ta không nghe.”

    Oneh căng thẳng. “Núi Cấm ư?”

    “Quả vậy,” thợ săn nói.

    “Người ta thấy gì… trên đó?”

    “Không có gì, hầu như lần nào cũng vậy. Nhưng mỗi đứa trẻ biết bà không nên nhìn. Luôn có cơ hội bà có thể thấy gì đó.”

    “Vậy cậu ta đã thấy gì?”

    Người đàn ông trả lời rằng ông không biết.

    “Nhưng làm sao –”

    Ông nhún vai. “Cậu ta cứ lẩm bẩm tất cả những điều vô nghĩa. Tôi e rằng cậu ta cũng đã bị đập đầu.”

    Trong một lúc, Oneh nhắm mắt lại.

    “Ngoài ra, thậm chí nếu cậu ta thấy gì đó và còn biết khôn, cậu ta không nên nói về điều mình đã thấy. Đó là cách tôi được nuôi dạy, và đó là điều tôi sẽ làm ở vị trí của cậu ta. Bà có biết rằng cha tôi là người chỉ huy các thợ săn thời ông ấy? Ông ấy đã kể tôi nghe về một người đàn ông leo lên núi tìm bắn chim cho bữa tối. Đã nói rằng ông ta đã nhìn quá lâu về dãy núi phía bắc.” Người đàn ông dừng lại. “Cơ thể ông trở về, nhưng tâm trí ông ấy không bao giờ quay lại.”

    “Một câu chuyện khủng khiếp.”

    “Nó chỉ là một câu chuyện,” người thợ săn tiếp tục, “nhưng họ nói nó xảy ra ngay Thời điểm Hiến tế.” Người thợ săn dừng và xoay lại. Ánh lửa từ ngọn đuốc của ông ấy trôi về phía bà. Trong ánh sáng của ngọn đuốc, gương mặt người thợ săn trông khắc khổ và tái nhợt. “Bà Oneh…” ông bắt đầu. “Lâu đài biết khi thời điểm đến. Nếu Vật tế không nhanh chóng làm nhiệm vụ của nó, lâu đài mất kiên nhẫn. Và nó sẽ không giống khi bà hay tôi mất kiên nhẫn, bà Oneh. Tính khí xấu của lâu đài cưỡi lên ngọn gió – đó là điều thằng bé thấy hôm nay.”

    Oneh nhìn vào mắt thợ săn. Ông nhìn chằm chằm lại vào bà, không chớp mắt.

    “Lâu đài có thể ở xa ngoài những ngọn núi đó, nhưng cơn giận dữ của nó vươn xa như bầu trời vượt qua đỉnh của chúng.”

    “Ông đang cố gắng nói gì?” Oneh cuối cùng cố gắng hỏi.

    “Tôi biết bà không thích việc dệt,” thợ săn nói, giọng ông sắc lại. “và tôi biết thật khó cho bà để con bà đi. Tôi cũng là một người cha. Nhưng Ico không phải là là con của đàn ông hay phụ nữ. Nó là Vật tế. Và không có gì tốt sẽ đến từ việc níu kéo thời gian của nó.”

    Điều diễn ra với Oneh rằng người thợ săn có lẽ đến trễ để triệu hồi bà bởi vì ông đã bàn bạc với chồng bà, quyết định ông nên nói gì.

    “Tôi không trì hoãn thời gian.”

    “Vậy thì điều đó sẽ ổn,” thợ săn nói sẳng, xoay sang và bắt đầu đi khỏi, bước chân của ông ấy nhanh hơn trước. “Tôi sẽ đến gặp bà vào ngày mai trước bình minh. Nếu chúng ta không hoàn thành chiếc Phù hiệu đó sớm, thầy tu sẽ đến trước khi bà hoàn thành.”

    Oneh theo sau ông, đầu bà cúi thấp.

    Toto cúi mình trên mái nhà, đôi tai cậu vểnh lên, và cậu đã nghe mọi thứ.

    Ai đó bị thương. Đó là loại rắc rối ngay cả Toto cũng hiểu. Nhưng cậu thích thú hơn về điều khác mà thợ săn đã nói – bây giờ cậu biết nơi lâu đài ở đâu.

    Sau đó nó đập vào cậu, một ý tưởng tuyệt vời đến nỗi cậu muốn nhảy lên và nhảy múa vui vẻ ngay lập tức. Oneh nói cậu rằng cậu không thể đòi hỏi sự cho phép của thầy tu được theo Ico, nhưng bà không nói bất cứ điều gì về việc đi trước họ, trước khi người tùy tùng rời làng. Cậu có thể đợi họ trên đường đến ngọn núi, và một khi họ vượt qua, cậu sẽ theo dấu họ phần đường còn lại. Chắc chắn điều đó sẽ đưa cậu đến Lâu đài trong Màn sương.

    Một khi thầy tu rời họ, Toto nghĩ, mình sẽ nhảy ra và thông báo mình sẽ tham gia cùng Ico trong chuyến phiêu lưu của cậu ấy! Toto chắc chắn Oneh sẽ nghỉ ngơi dễ dàng hơn nếu biết cậu sẽ bầu bạn với Ico. Cùng với nhau, không có gì mà Ico và Toto không thể làm.

    Sau đó còn có một ý tưởng hay hơn, và lần này cậu thực sự đã nhảy cẫng lên, đứng trên đỉnh mái. Mình cá là hai chúng ta có thể tìm ông chủ đó trong lâu đài và thách đấu với hắn! Chúng ta có thể thắng!

    “Yaaahooo!”

    Tiếng hét vui vẻ của Toto vang vọng qua đám cây khi cậu nhảy xuống khỏi mái nhà để hạ cánh nhẹ nhàng bên bìa rừng.
     
    meo_mup, BimItaconruoinho thích bài này.
  5. Magic Purple

    Magic Purple Gà BT Nhóm Chuyển ngữ

    Bài viết:
    1.252
    Được thích:
    1.345
    Đã thích:
    1.150
    GSP:
    397p
    Chương 1

    [4]

    Phụ thuộc vào hướng gió thổi, thỉnh thoảng nó sẽ mang theo âm thanh của khung cửi đến hang của Ico. Bởi vì không ai khác trong làng được phép dùng một khung cửi vào ban ngày sau khi cậu vào hang và lúc cậu rời đến lâu đài, bất cứ khi nào cậu nghe thấy tiếng ồn, cậu biết đó là mẹ nuôi của cậu đang dệt tấm Phù hiệu cho cậu. Đang ngồi một mình trong một hang động sáng lờ mờ thật khó xét đoán được thời gian trôi qua. Những cành cây to, rậm che bóng khung cửa sổ hẹp cái mà Toto đã nói chuyện với cậu hôm bữa, chỉ cho ánh sáng vào vừa đủ để nói liệu mặt trời hay mặt trăng đang tỏa sáng. Nhưng Ico biết rằng khi cậu nghe thấy tiếng khung cửi bắt đầu là bắt đầu một ngày khác, và khi nó kết thúc, đó là ban đêm. Vì thế Ico đã đếm được ba ngày, và vào buổi sáng của ngày thứ tư, người canh gác mang thức ăn sáng cho cậu đã nói một điều hoàn toàn không mong đợi.

    “Toto đã mất tích.”

    Cha của Toto là một thợ săn. Vào thời điểm này trong năm ông thức dậy rất sớm để chuẩn bị đi săn, tuy nhiên sáng hôm nay khi ông rời khỏi giường, giường của Toto đã trống trơn. Khi một trong những em gái của Toto thừa nhận thấy cậu lẻn ra khỏi nhà vào nửa đêm, điều đó gây ra một sự quấy động trong làng.

    “Toto đã nói với em gái cậu ta sẽ rời đi và con bé tốt hơn hết là giữ bí mật.”

    “Cậu ấy có nói cậu ấy sẽ đi đâu không?”

    “Không một lời. Không phải điều mà em gái của thằng bé nhớ được. Con bé thậm chí còn đang mơ ngủ để nghĩ phải báo động.”

    Tệ hơn, một trong hai con ngựa đưa tin của làng đã bị mang ra khỏi chuồng trong đêm. Những con ngựa luôn được sẵn sàng trong trường hợp cần để mang một tin nhắn khẩn cấp từ Toksa đến một thị trấn khác. Chúng – một con ngựa trắng tên là Sao Bạc và một con ngựa màu hạt dẻ tên là Mũi Tên Gió – thông minh và chạy nhanh.

    “Đó hẳn là Toto…”

    Bạn của Ico là một người trông nom chuồng ngựa, và những con ngựa biết rõ cậu ấy.

    “Gần như thế,” người canh gác đồng ý, gương mặt ông tối tăm. “Thằng bé đã mang theo quần áo thay đổi và một ít lương khô. Ai biết được kẻ gây rối đó đi đâu? Chúng ta cử người đi tìm nó, nhưng nếu nó đã rời đi trên lưng ngựa vào nửa đêm, mà không biết nó đã đi về hướng nào, họ sẽ không bao giờ tìm ra nó. Đấy, trừ khi cậu có bất cứ ý tưởng nào?”

    Cuộc trò chuyện vài ngày trước trở lại với cậu, và Ico nuốt khan. Toto có thể đi về lâu đài không? Nhưng Toto không biết lâu đài nằm ở đâu – chỉ trưởng lão và Ico biết điều đó. Cậu ấy không thể tự mình đi.

    Tuy nhiên…

    Dù cho dường như đối với những người khác Ico không thể tự kiềm chế bản thân, chỉ bởi vì đầu óc cậu không bao giờ ngừng chuyển động. Cậu đã tua lại cuộc trò chuyện trong đầu mình và nhớ lại đã nói với Toto một cách cụ thể rằng cậu không thể đi đến lâu đài – nhưng Toto đã không bao giờ đồng ý. Có lẽ cậu đã đoán rằng lâu đài nằm cùng hướng với Núi Cấm và đi trước để đón đợi Ico và người tùy tùng từ thủ đô.

    Dĩ nhiên, để thực sự đến được Lâu đài trong Màn sương, bạn phải làm nhiều hơn là chỉ băng qua Núi Cấm. Từ đó, trưởng lão đã nói với cậu, bạn sẽ đi một con đường mòn về hướng tây qua một khu rừng sâu và những vùng núi đá, cùng với một con đường dốc và nguy hiểm phải đi mất vài ngày. Chỉ có thầy tu từ thủ đô biết đường. Sẽ cần có hơn một điều kỳ diệu để Toto tự mình đến được lâu đài.

    Nhưng cậu sẽ có thể đến được chỗ dãy núi.

    “Cậu ấy đã mang con ngựa nào đi?” Ico hỏi.

    “Mũi Tên Gió.”

    Mũi Tên Gió giỏi đi đường đá và dốc. Giống như tên của nó, nó chạy nhanh như một mũi tên qua những khe núi nhỏ hẹp nhất và băng qua những đỉnh núi cao nhất mà không hề sợ hãi hay nao núng.

    “Cậu ấy đã đi tới Núi Cấm,” Ico thì thầm.

    Người canh gác tái nhợt. “Sao cậu biết điều đó?”

    “Không ai trong làng đi về phía bắc để tìm cậu ấy, phải không?”

    “Dĩ nhiên không, nó bị cấm. Không ai đến gần.”

    “Không ai ngoại trừ Toto. Nếu cậu ấy rời đi lúc nửa đêm, cậu ấy giờ đã ở đó.” Và khi cậu ấy nhìn ấy điều gì nằm bên sườn bên kia –

    “Cháu muốn yêu cầu trưởng lão một điều,” Ico đột nhiên nói. “Ông ấy phải cho cháu mượn Sao Bạc. Cháu sẽ bắt kịp Toto và mang cậu ấy trở về.”

    Người canh gác bước lùi lại một bước. “Cậu đang nói về điều thì vậy? Bọn tôi không thể để cậu ra khỏi cái hang này. Cậu biết điều đó.”

    “Nhưng ngoại trừ trưởng lão, chỉ cháu có thể tiến vào Núi Cấm, và giờ ông ấy quá già để cưỡi Sao Bạc.”

    Người canh gác bước lùi một bước nữa đến khi ông dính sát vào cánh cửa. “Ý cậu là cậu đã đến chỗ những ngọn núi?”

    “Phải. Trưởng lão đã dẫn cháu đến đó khi Thời điểm Hiến tế xảy ra.”

    “Tại sao ông ấy làm một điều như thế?”

    Để cháu thực hiện vai trò của mình mà không hỏi gì. Ico nghĩ, nhưng cậu nói, “Chúng ta không có thời gian để nói về những điều này – cháu phải đi theo Toto!”

    Người canh gác quay lại và lao khỏi hang, khóa cánh cửa phía sau ông ta lại. Trái tim Ico đập thình thịch. Cậu bước vòng quanh. Hôm nay cậu không thể nghe thấy âm thanh của khung cửi. Toàn bộ làng hẳn đang lộn xộn. Cậu tự hỏi mẹ nuôi cậu sẽ đón nhận tin tức như thế nào.

    Dường như chỉ chốc lát sau, trưởng lão bước vào. Người canh gác mở cửa cho ông sau đó nhanh chóng rời khỏi, để lại Ico và trưởng lại một mình bên trong.

    “Trưởng lão, cháu –”

    Bàn tay xòe ra của trưởng lão tát vào má Ico mạnh đến nỗi cậu không nói gì được và há hốc miệng. “Trưởng lão?”

    “Cậu đã nhồi nhét vào đầu đứa trẻ đó điều bậy bạ gì?”

    Gương mặt trưởng lão nghiêm khắc, miệng ông méo mó một cách kỳ lạ. Ico chưa bao giờ thấy ông như vậy trước đây, thậm chí không vào ngày ông đưa cậu đến phía bắc.

    “Cháu không nói cậu ấy bất cứ điều gì –”

    “Ta biết Toto mới đây đã đến đây. Ta đã nhìn theo cách khác bởi vì ta biết nó là bạn cậu. Và bây giờ ta thấy là mình đã phạm một sai lầm kinh khủng. Cậu đã bắt nó phải làm điều gì? Cậu đang lên kế hoạch gì?”

    Đầu óc Ico quay cuồng. Lên kế hoạch? Mình? Tại sao mình lại muốn Toto liên quan đến bất cứ điều này? Cậu ấy là bạn tốt nhất của mình. Tạo sao trưởng lão buộc tội mình làm những điều mình không làm? Ico sốc dữ dội đến nỗi cậu thậm chí không nhận ra mặt mình nóng ran lên như thế nào.

    “Ta thừa nhận, ta đã không tưởng tượng được trẻ con lại có thể mưu mô đến thế,” trưởng lão nói, hai tay ông siết chặt thành nắm đấm ở hai bên người, như thể ông đang giữ chúng lại để lại không đánh Ico lần nữa. “Toto biến mất, và cậu rời làng giả vờ đi tìm nó. Với các cậu trên Sao Bạc và Mũi Tên Gió, không thợ săn nào trong làng có thể bắt được các cậu. Hãy thẳng thắn nói với ta – Toto đang đợi ở đâu để gặp cậu? Các cậu sẽ đi đâu một khi các cậu ở cùng nhau? Ta sẽ không phải đề cập rằng không có nơi trú ẩn an toàn cho đứa trẻ có sừng.”

    “Bọn cháu không lên kế hoạch bất cứ điều gì! Cháu thề!”

    “Ngay cả lúc này, cậu còn nói dối ta à?” trưởng làng nói.

    “Đó không phải là lời nói dối! Tại sao ngài không tin cháu?”

    Ico bất chấp bản thân tới ôm trưởng lão, nhưng trưởng lão đẩy hai tay cậu ra và xoay lưng lại với cậu. “Ta đã rất tự hào vào ngày cậu đã sẵn sàng chấp nhận số phận mình như một Vật tế. Ngay cả khi nó lấp đầy lòng ta với nỗi buồn phiền rằng cậu phải gánh vác trọng trách này, ta cảm thấy rất biết ơn. Và bây giờ, cậu đã phản bội tất cả chúng ta.”

    Ico đứng đó, nhìn chằm chằm cái lưng tiều tụy của trưởng lão, không thể nghĩ đến bất cứ điều gì để nói. Cái lưng đó thật lạnh lẽo và cứng rắn, một thanh chắn mà không một lời giải thích hoặc khẩn cầu nào của cậu có thể hy vọng vượt qua.

    Khi Ico còn nhỏ, cậu thường cưỡi trên cái lưng đó. Và cậu đã biết từ khi thời điểm mà đôi sừng của cậu không là gì hơn cục u, mà trước khi cái ngày đó đến khi cậu có thể cưỡi trên lưng của vị trưởng lão yếu ớt, lọm khọm, cậu sẽ phải rời làng.

    “Tấm Phù hiệu sẽ sẵn sàng cho cậu trước khi hết ngày,” trưởng lão nói, vẫn nhìn vào bức tường. “Một khi nó được hoàn thành, một ngọn lửa hiệu trên tháp canh sẽ thông báo cho tùy tùng của thầy tu trong nhà trọ bên kia sông rằng thời gian đã đến. Họ sẽ ở Toksa trong vòng một ngày, và cậu sẽ rời đi với họ không chậm trễ.”

    “Cháu sẽ không đi bất cứ đâu đến khi Toto trở lại làng,” Ico cố gắng nói, thốt ra những chữ.

    “Ta nghĩ cậu sẽ nói điều đó.” Trưởng lão cười khẩy; đó là một âm thanh lạnh lùng, nhạo báng. “Không nghi ngờ gì, trì hoãn thêm thời gian cho cậu.”

    “Cháu không, cháu xin thề!”

    “Bất kể trường hợp nào, Sao Bạc đã rời đi. Một tin nhắn đã đưa đi để báo với thầy tu điều gì đã xảy ra. Chúng ta sẽ đợi ông ấy trả lời trước khi quyết định làm gì với thằng bé. Cho đến lúc đó, chúng ta chỉ có thể tiếp tục tìm kiếm Toto với hy vọng rằng nó phải đánh vật với một tình huống bất ngờ khi đi săn và sẽ tự nguyện trở về. Ta sẽ không gửi ai đi về vùng núi ở phía bắc, để cậu một mình. Kế hoạch của cậu đã thất bại rồi.”

    Ico cảm thấy thứ gì đó lạnh lạnh trên má mình và nâng bàn tay lên chạm nó. Lần đầu tiên, cậu nhận ra cậu đang khóc.

    “Cháu chưa bao giờ nghĩ về việc bỏ chạy khỏi trách nhiệm của mình.”

    Trưởng lão im lặng.

    “Đặc biệt không từ khi chúng ta trở về từ Núi Cấm, và cháu đã thấy điều gì nằm ngoài kia. Trái tim cháu đã không lưỡng lự, không ngay cả một khoảnh khắc. Cháu không thể để điều giống như thế xảy ra cho Toksa, hoặc đến bất kỳ nơi nào khác. Nếu cháu có thể giúp đỡ ngăn chặn nó – nếu đó là số mệnh của cháu – vậy thì cháu chấp nhận nó.”

    Trưởng lão đứng im lặng như một cái cây cổ thụ. Sự chuyển động duy nhất trong hang là đôi môi run rẩy của Ico và những giọt nước mắt rơi xuống từ đôi mắt cậu.

    “Đó không phải là một lời nói dối,” Ico nói. “Cháu không nói dối ngài. Cháu không bao giờ đưa Toto vào nguy hiểm, thậm chí nếu cháu muốn trốn. Cháu không thể.”

    Trưởng lão cúi đầu và nói bằng một giọng nhỏ, thô ráp. “Những cuốn sách cổ nói với chúng ta rằng chúng ta không bao giờ được tin tưởng trái tim mình vào Vật tế. Ta ước sao ta có thể hiểu được ý nghĩa của những từ đó trước lúc này.”

    Với bộ áo choàng dài kéo lê qua lớp đất bẩn phía sau mình, trưởng lão bước loạng choạng khỏi hang. Ico không cố ngăn ông lại. Cậu ngồi đó trong im lặng, khóc nức nở một cách yên tĩnh.

    Ở xa xa, âm thanh của khung cửi bắt đầu.

    Mẹ - mình muốn gặp bà ấy. Bà ấy sẽ hiểu mình cảm thấy thế nào. Giống như bà luôn như thế. “Ta hiểu, Ico,” bà sẽ nói. “Đừng khóc.”

    Hoặc có lẽ điều đó cũng chỉ là một giấc mơ. Có lẽ bà ấy sẽ không bao giờ như thế nữa. Có lẽ để chấp nhận vai trò của cậu là Vật tế là phải chấp nhận rằng trưởng lão, và Oneh, và mọi người khác cậu biết sẽ thay đổi mãi mãi.

    Lần đầu tiên, sự tàn nhẫn của tất cả những điều đó chìm xuống trong trái tim của cậu. Ico lấy hai tay che mặt và khóc thật lớn.


    Đúng, cậu là một còn ngựa tốt, thực sự tốt.

    Những móng guốc của Mũi Tên gió nhảy qua những tảng đá nhẹ nhàng, không bao giờ yếu đi. Cơ thể con ngựa bóng mượt và mềm mại dưới chân Toto, cổ của nó to và chắc khỏe, và đôi mắt nó bừng lên với một ánh sáng rực rỡ màu đen. Mũi Tên Gió phi nước đại về phía trước, cái bờm màu hạt dẻ của nó bay phần phật trong gió.

    Toto chưa bao giờ cảm thấy tồn tại đến thế trong cuộc đời mình. Cậu đã luôn muốn cưỡi ngựa như thế này. Cậu đang rất vui đến nỗi gần như quên nơi cậu đang đi và tại sao cậu lẻn khỏi làng vào lúc khuya.

    Trước lúc ngôi sao bình minh tỏa sáng trên bầu trời, cậu đã đi đến chân những ngọn núi phương bắc. Ở đó, cậu dừng lại để Mũi Tên Gió nghỉ, cho nó uống nước và xoa người nó khi cậu thì thầm những lời cầu nguyện trong tai. Họ đã vất vả băng qua cánh đồng cỏ chia tách làng khỏi dãy núi mà không hề dừng lại. Toto ăn một vài cái bánh quy nướng, uống một ít nước, và đợi cho tia sáng đầu tiên của bình minh trước khi bắt đầu trèo lên Núi Cấm.

    Đây là lần đầu tiên cậu đến nơi này – cậu chưa bao giờ nghe ai đó đi tới đây cho đến gần đây. Thậm chí dưới ánh sáng buổi sáng, dãy núi dường gần có vẻ thanh bình và xanh thẳm chán ngắt. Không đó đường lên trên, nhưng sườn dốc không khó khăn gì, chỉ với cỏ thấp, đầy rêu mọc dưới những cành liễu đu đưa. Mũi Tên Gió tiếp tục bước vững chãi. Toto thỉnh thoảng vuốt ve vào cổ nó để nó khỏi đi quá nhanh. Ngoài ra, cậu dựa về phía trước và lắng nghe âm thanh hài lòng của móng ngựa tạo nên trên đám cỏ phía dưới.

    Trước khi mặt trời chiếu thẳng vào cậu, cậu đã đi được gần nửa đường lên núi. Cậu nhìn xuống bãi cỏ mà họ đã vượt qua. Cậu có thể thấy nó trải dài bằng phẳng. Nó thật xinh đẹp.

    Những ngọn núi này chẳng đáng sợ gì cả, cậu nghĩ. Vậy thì điều gì bị cấm?

    Ngực của Toto căng ra. Một tia sáng hy vọng thắp sáng gương mặt cậu từ bên trong. Trái tim cậu nhảy múa, chạy trước cậu tiến về Lâu đài trong Màn sương. Cậu sẽ đến đó cùng với Ico, đánh bại chủ nhân trong lâu đài, và cứu làng. Sau tất cả không có gì phải sợ. Mọi người đã để bản thân họ bị làm kinh sợ biến thành sự hèn nhát bởi những tin đồn và những câu chuyện. Giá mà họ dám ngẩn cao đầu đối mặt với với nó, họ sẽ nhận ra mình mạnh mẽ hơn nhiều.

    Tiếng bước chân của Mũi Tên Gió phản chiếu trong trái tim của Toto, tỏa sáng hơn với từng bước khi chiến binh nhỏ và chú ngựa hào hiệp của cậu ấy tiến bước về khe núi phía trước.

    Nếu Toto lớn hơn một chút, và đôi mắt cậu giống như đôi mắt của người thợ săn thận trọng hơn một chút, cậu sẽ nhận thấy điều gì đó rất lạ. Ngoài bản thân cậu và con ngựa dưới mình, không có dấu hiệu của sự sống trên những ngọn đồi này. Không có chim chóc ca hát, không có côn trùng kêu vo vo. Chỉ có lá cây đung đưa trong bầu không khí khu rừng mát mẻ. Đây là lý do tại sao thợ săn không bao giờ lang thang ở đây, tại sao nó là điều cấm kỵ để mạo hiểm dưới những cành cây này.

    Nhưng Toto không chú ý gì cả. Mũi Tên Gió cũng không hoảng sợ gì. Cùng với nhau, họ đi tới khe núi. Ở đây khu rừng và bầu trời mở ra quanh họ, và họ có thể thấy hàng dặm ở mỗi hướng. Toto xuống ngựa và đi qua khe núi, chuẩn bị dừng lại ở bên phía kia.

    Cậu thấy điều gì đó làm chần chừ sự tưởng tượng của cậu.

    Một thành phố, được bao bọc bởi những bức tường xám, cao. Nó là thành phố khổng lồ, to lớn, rộng nhất cậu từng thấy. Ít nhất nó rộng lớn hơn Toksa hàng tá lần. Những ngôi nhà là những dinh thự đá khổng lồ, đứng sát bên nhau. Những con đường xếp gạch đan xen giữa chúng. Cậu thấy vài thứ có lẽ là một nhà thờ, với một đường xoắn ốc cao chạm đến bầu trời và một sảnh lớn với một lá cờ bay ở trên nó.

    Và có người. Một đám đông lớn, tràn đầy những con đường.

    Đôi mắt Toto mở to, và miệng cậu há hốc. Sau đó, lần đầu tiên, cậu cảm thấy không thoải mái.

    Tại sao toàn bộ thành phố xám xịt, từ góc này sang góc khác? Và con người nữa – tại sao họ đều màu xám?

    Tại sao không có ai di chuyển?

    Mọi người đứng trên đường, hoàn toàn yên lặng. Khi cậu nheo mắt lại và nhìn, cậu nhận thấy lá cờ cũng không chuyển động. Có lẽ làn gió thổi vào má Toto ở trong khe núi không đi xa tới đây.
     
    meo_mup, BimItaconruoinho thích bài này.
  6. Magic Purple

    Magic Purple Gà BT Nhóm Chuyển ngữ

    Bài viết:
    1.252
    Được thích:
    1.345
    Đã thích:
    1.150
    GSP:
    397p
    Chương 1

    [5]

    Những người đàn ông trong làng trở về tay trắng sau ngày tìm kiếm. Họ cho ngựa uống nước và tay chân nhức mỏi nghỉ ngơi trước cuộc hội ý nhanh và lại ra đi. Những ánh nhìn quyết tâm trong mắt họ suy yếu đi bởi một sự chắc chắn dâng lên rằng Toto đã đi về hướng bắc, về phía dãy núi – mặc dù không ai dám nói ra điều đó.

    Vào buổi chiều, trưởng lão gặp một người đưa tin từ nhà nghỉ bên kia sông, đến để nói với họ rằng thầy tu từ thủ đô đang trở nên mệt mỏi vì chờ đợi.

    Trong phòng dệt, Oneh miệt mài làm việc với khung cửi. Hôm đó bà chỉ dừng một lần, để nhìn chằm chằm vào trưởng lão khi ông đến để đảm bảo bà không lo lắng về Toto thay vì nhiệm vụ của bà.

    Trưởng lão đã gửi lại lời cho người đưa tin, vô cùng lịch sự đề nghị thêm ba ngày nữa. Người đưa tin trở về mang theo cả tin nhắn và bầu không khí oai nghiêm và ông ta ném lại một cái nhìn khinh thường vào những người thợ săn đang vội vã ra vào làng.

    “Nếu tình hình ở đây vượt ngoài khả năng giải quyết của ngài,” người đưa tin nói với trưởng lão, “gửi người của chúng tôi đến để trợ giúp ngài là một vấn đề đơn giản với chúng tôi.” Có một vẻ ngạo mạn trong lời nói của người đàn ông.

    Trưởng lão cúi gập người xuống. “Xin nói với họ không có gì quá nghiêm trọng. Chúng tôi chỉ đang làm tất cả những điều mà chúng tôi cần để tiến hành những chỉ dẫn của mình để phù hợp với những mong muốn của thầy tu. Như thường lệ, chúng tôi vẫn giữ toàn bộ lòng trung thành.”

    Sau khi người đưa tin rời khỏi, trưởng lão đứng siết chặt nắm tay. Ông tự nói với chính mình rằng ông quá giận dữ với sự phản bội của Ico, với tính hấp tấp của Toto, và sự cứng đầu của Oneh – nhưng ông càng cố gắng tập dồn cơn thịnh nộ của mình, cảm giác thực sự của ông lại càng xen vào. Nếu vị thầy tu tự cao tự đại, tự phục vụ đó điên cuồng muốn Vật tế, tại sao ông ta không làm bẩn chính đôi tay của mình? Dù cho thầy tu có tạo ra bất cứ lý do gì, ông biết rằng ông ta không ở lại Toksa bởi vì ông ta không muốn nghe những lời rên rỉ của dân làng khi phải đưa Vật tế ra - để cảm thấy những ánh nhìn chòng chọc buộc tội của dân làng. Thầy tu có thể nhốt Ico trong một cái hang, buộc Oneh dệt tấm Phù hiệu, và im lặng với những câu hỏi dân làng hỏi ông ta… nếu ông ta không phải là một kẻ hèn nhát như thế. Điều đó để lại một vị cay đắng trong miệng trưởng lão để nhận ra rằng không có một phần nhỏ nào của cơn giận dữ của ông hướng trực tiếp đến bản thân ông vì đánh Ico và nói với thằng bé như ông đã làm.

    Một người phụ nữ từ làng đến, thở hổn hển, gọi ông. Người thợ săn đã bị ngã vài ngày trước vừa mới qua đời. Trái tim trưởng lão thậm chí lại chìm xuống sâu hơn, và những vết hằn trên gương mặt ông rắn lại đến nỗi ông trông giống một bức tượng được khắc từ đá hơn một người đàn ông bằng da bằng thịt. Giá mà trái tim ông cũng biến thành đá được thì dễ dàng biết bao. Biến thành đá. Tất cả biến thành đá…


    Toto ngồi dạng chân trên Mũi Tên Gió, há hốc nhìn xuống khung cảnh phía dưới cậu. Đó là lý do không có gì chuyển động.

    Thậm chí lá cờ đang bay từ sảnh đã bị đóng băng khi đang tung bay.

    Toto thúc Mũi Tên Gió xuống sườn núi và tiến thẳng qua cổng thành phố. Con ngựa bước trơn tru với Toto siết chặt dây cương, nhưng Toto không còn can đảm cưỡi như thế nữa. Cậu cúi thấp mình trên lưng ngựa, bám vào cơ thể sống ấm nóng của nó để động viên.

    Thế giới quanh cậu biến thành đá và xám xịt.

    Những người trên đường phố quanh cậu đã bị đóng băng trong thời gian. Một vài người chỉ lên bầu trời, số khác chạy, lấy tay ôm đầu, trong khi vẫn còn những người khác há miệng trong những tiếng kêu yên lặng. Toto tự hỏi họ đã đứng ở đó như thế này bao nhiêu năm rồi. Khi cậu chần chừ vươn tới chạm một người, nó vỡ vụn thành bụi dưới đầu ngón tay cậu.

    Mũi Tên Gió hý lên và Toto kiên định siết chặt dây cương.

    Dù cho cậu đi hướng nào trên đường phố quanh co, những người biến thành đá đang đợi cậu. Đầu tiên, cậu cố tin rằng tất cả những thứ này đều được tạo ra. Có lẽ ai đó quan trọng từ thủ đô đã tạo nên một bộ điêu khắc của toàn bộ một thành phố ở đây vì mục đích nào đó ngoài tầm hiểu biết của Toto. Họ đã tạo nên vô số những bức tượng – toàn bộ những ngôi nhà – và vây quanh hoạt cảnh không lay chuyển được bên trong một bức tường khi họ hoàn thành.

    Nhưng tại sao họ làm thế? Thành phố là một loại bẫy nào đó à? Toto gật đầu, hài lòng với giả thiết của mình. Nó phải là như thế. Khi kẻ thù thấy một thành phố đầy những người không chuẩn bị, đàn ông không có mũ sắt, với những túi đồ trên vai, cầm tay dẫn trẻ em, những người mang giỏ và đang lấy nước, họ sẽ liều lĩnh tấn công. Và sau đó –

    Trí tưởng tượng của Toto thất bại về việc tạo ra giai đoạn hai của kế hoạch. Nó cũng làm cậu thấy quái lạ rằng những bức tượng sẽ kêu la và thét gào và rõ ràng kinh hãi nếu chúng được dự định xuất hiện là một mục tiêu dễ dàng. Và không có gì giải thích được tại sao quá nhiều người bọn họ lại đang chỉ lên trên, về phía bầu trời phương tây.

    Toto không phải là đứa trẻ sáng sủa nhất, nhưng cậu có một con mắt sắc sảo đối với tiểu tiết, và mọi thứ cậu thấy làm suy yếu sự cố gắng duy trì bình tĩnh của cậu. Những cái nhìn của sự kinh hãi khốn khổ trên những gương mặt người đá. Tay giơ lên như thể để né tránh sự tiến gần nhanh chóng của… thứ gì đó. Môi tạo hình những tiếng kêu thất vọng khi không còn thời gian để trốn thoát.

    Cậu tiến tới lối vào một con đường nơi đặt một đống những chiếc thùng, cái này chồng lên cái kia. Toto dừng lại. Xuống ngựa, cậu tiến tới chạm vào một trong những chiếc thùng, và bề mặt của nó vỡ vụn như một lâu đài cát. Vươn cổ ra, cậu nhận thấy một hình dáng dưới những cái thùng – một đứa trẻ cao ngang cậu, ngồi co rúm. Những mảnh vụn của chiếc thùng vỡ đậu lại trên mái tóc đá của nó.

    Thằng bé đang mỉm cười.

    Toto ngay lập tức hiểu được. Thằng bé không phải đang trốn khỏi bất cứ cái gì mà những người khác đang nhìn thấy – nó đang chơi trốn tìm. Dù cho bất cứ điều gì xảy đến cho những người trong thành phố này thì nó đã xảy ra rất nhanh chóng, thằng bé thậm chí không có thời gian để nhận ra nó sắp chết.

    Một cách miễn cưỡng, Toto thừa nhận điều cậu đã biết được một lúc. Thành phố này không phải là công trình điêu khắc hùng vĩ. Đây là lý do tại sao dãy núi ở phương bắc bị cấm. Đây là lời nguyền của Lâu đài trong Màn sương.

    Chủ nhân của lâu đài có khả năng tiêu diệt toàn bộ một thành phố được tường bao quanh chỉ trong khoảng cách của một hơi thở.

    Đây là điều mà Ico đã thấy. Đây là điều mà cậu ấy muốn nói là “rắc rối,” tại sao cậu ấy lại quyết tâm hy sinh bản thân mình cho làng như thế.

    Mũi Tên Gió hý một tiếng nhỏ và cọ mũi lên vai Toto. Toto đứng dậy, xoa cổ con ngựa, không thể rời mắt khỏi đứa bé đá. Ở cuối đường, cậu thấy một cái chuồng ngựa. Những con ngựa vẫn còn ở bên trong, bờm của chúng là một màu xám tro đồng đều. Toto cảm nhận sâu sắc được sự ấm áp của Mũi Tên Gió dưới tay mình, sự mềm mại của cái bờm, và sự bốc mùi của nó. Cậu phác họa việc Mũi Tên Gió biến thành đá, một cơ thể xám lạnh giống như những con ngựa khác.

    Mũi Tên Gió hý lớn hơn, móng guốc trước của nó nhấc lên khỏi mặt đất. Toto kéo dây cương và nhìn vào nó, khi cậu nhận ra điều gì đó ở bầu trời phương tây – điều gì đó không nên có. Đó là một màn sương mỏng màu đen, hoặc có lẽ một đám côn trùng ở xa. Khi màn sương trôi dạt lại gần hơn, nó bắt đầu kết hợp lại thành một hình dáng. Cậu nhìn thấy một cái trán rộng, một cái sống mũi thẳng, và mái tóc đen bồng bềnh. Cuối cùng cậu thấy một đôi mắt.

    Đó là gương mặt của một người phụ nữ, che phủ bầu trời phía trên cậu.

    Toto nghe thấy một giọng nói không có tiếng.

    Ngươi là ai?

    Toto nhớ từng chơi với Ico trong một cái hang gần làng. Họ đã đi vào sâu hơn bất kỳ đứa trẻ nào dám và khám phá ra một cái hồ dưới mặt đất. Nước trong như tinh thể, và một ánh sáng yếu ớt lóe lên ở dưới đáy. Ico và Toto đã ném những viên đá xuống hồ. Những tiếng vang của những tiếng tung tóe dội lại khỏi các bức tường của hang, theo bởi một tiếng tung tóe khác và một tiếng vang khác. Họ tiếp tục ném đá đến khi tiếng vang chồng lên một tiếng khác, tạo nên một âm nhạc lạ lùng mà nghe gần như một lời cầu nguyện buổi chiều. Đó là điều mà giọng nói này làm cậu nhớ về - mặc dù gương mặt người phụ nữ treo trên bầu trời, giọng nói của bà dường như vang vọng từ sâu trong lòng đất. Hoặc có lẽ bà đang nói trực tiếp vào tâm hồn của Toto.

    Ngươi là ai? Tại sao ngươi ở đây?

    Môi bà méo mó như cờ hiệu trong gió.

    Kẻ không mời mà đến.

    Bây giờ Mũi Tên Gió ngẩng lên và lắc bờm, và dây cương trượt khỏi tay Toto. Trước khi cậu có thể lấy lại chúng, con ngựa chạy đi một cách điên dại.

    “Mũi Tên Gió!” Toto hét lên sau nó.

    Con ngựa đá vào một đám những gương mặt đá. Trong bầu trời phía trên, người phụ nữ chuyển ánh nhìn chằm chằm theo nó. Môi của màn sương đen mím lại và bà thổi một hơi thở nhẹ.

    Toto cảm thấy một cơn gió lạnh lẽo thổi qua đầu mình. Hơi thở quét xuống đường, tóm được Mũi Tên Gió trong chốc lát và vây quanh bộ lông màu hạt dẻ xinh đẹp của nó. Toto quan sát khi cái đuôi rậm rạp của nó, guốc sau của nó, chân của nó, và cuối cùng lưng và bờm của nó biến thành màu xám.

    Tiếng thét của Mũi Tên Gió kết thúc một cách bất ngờ; nó đã đông thành đá, chân trước giơ lên, móng guốc cách một người khác từ thành phố đá vài centimet.

    Hơi thở của Toto ngừng lại. Mũi Tên Gió –

    “Không!”

    Một tiếng thét xé toạc khỏi cổ họng của Toto và cậu bắt đầu chạy. Mình phải trốn thoát. Mình phải ra khỏi nơi này – tránh khỏi bà ta. Mình phải sống sót ra khỏi đây, trở về làng của mình.

    Toto chạy trong một tình trạng choáng váng. Cậu không dám nhìn phía sau mình, nhưng cậu có thể cảm nhận gương mặt đó đang trôi ở đó trên bầu trời, đang đuổi theo, cùng với cách cậu hiểu mà không cần nhìn rằng gương mặt đó đang mỉm cười.

    Cậu đẩy ngã một đám đông tượng đá trên đường của mình, nhảy qua đống vỡ nát, và rẽ vào một góc. Một người phụ nữ mang một giỏ hoa xám tro vỡ vụn thành từng mảnh dưới chân cậu khi cậu va phải bà theo hướng khác. Ho do đám bụi, Toto thậm chí còn chạy nhanh hơn. Giá mà cậu có thể tới được tường thành phố, cái cổng nơi cậu đã vào. Đường nào vậy? Phải, trái? Mình ở đâu thế này?

    Cậu cảm thấy một cơn gió lạnh lẽo trên đầu mình, và một tiếng thét vang lên trong cổ họng cậu khi cậu vấp và ngã trên mặt đất. Chỉ phía trước cậu nhìn thấy một cánh cửa của một ngôi nhà mở, dựng mở bởi một cây gậy. Bên trong tối hơn ngoài đường, nhưng vẫn cùng dạng xám xịt. Mọi thứ bên trong cũng đã bị biến thành đá.

    Một cơn gió nữa đuổi qua trên đầu, và Toto xông vào ngôi nhà. Khi cậu lao qua cánh cửa, có gì đó đánh trúng chân cậu và vỡ vụn với một tiếng ồn lớn – một cái ghế hoặc một con người, cậu không chắc. Ngoài khóe mắt, cậu thấy một cái nhìn lướt qua của đám xoáy đen của gương mặt người phụ nữ bên ngoài cửa sổ. Nó oằn lên khi di chuyển, đầu tiên phồng lên, sau đó mỏng lại thành một sợi dây, nhanh chóng theo cậu như một đám côn trùng giận dữ.

    Toto xô đẩy gạch vụn trong phòng qua một bên bằng cả hai tay, với tới một miếng đắp tường dưới cửa sổ. Cậu ngồi sụp xuống, dựa lưng vào bức tường. Cậu hết hơi, và trái tim cậu cảm giác như nó có thể nhảy ra khỏi cổ họng cậu.

    Gương mặt không tạo tiếng ồn khi nó di chuyển. Bởi vì, nó khác hơn một đám côn trùng kêu vo vo, và nó làm cậu khó khăn hơn để đứng dậy sau khi cậu nhận thấy điều có cảm giác giống như an toàn dựa vào bức tường. Liệu như nếu cậu liều lĩnh nhìn trộm bên ngoài chỉ để thấy gương mặt lấp đầy bầu trời, đôi mắt đen đó nhìn chằm chằm vào cậu? Cậu ước cậu có cách nào đó đoán được nó có thể ở đâu.

    Một giọt nước mắt rơi xuống má cậu – hình như cậu đã khóc với nỗi kinh hoàng, mặc dù cậu đã không chú ý cho đến bây giờ. Toto buộc bản thân điều hòa hơi thở, và chà xát hai tay lên mặt.

    Cậu nhìn quanh căn phòng.

    Một cái bàn được tạc từ thứ gì đó từng là gỗ bên cạnh chân cậu. Có một tấm đệm tròn trên nền và một cái ghế nằm trên đó. Mọi thứ là màu của tro. Một tấm thảm thêu treo trên bức tường đối diện cửa sổ, đại loại đó là một sản phẩm đặc biệt của những thợ dệt Toksa. Cậu vẫn có thể nhìn thấy được thiết kế: một sự miêu tả rắc rối của mặt trời, mặt trăng và những ngôi sao chuyển động vòng tròn trên bầu trời. Mặc dù giờ nó có màu nâu xám, Toto có thể tưởng tượng nó từng trông như thế nào, lấp lánh và tỏa sáng – một kiệt tác. Tấm vải hẳn mềm, nhưng nặng, những sợi chỉ xa hoa trên bề mặt. Giờ nó giống một ổ bánh mì mỏng khô, cứng giòn dính trên tường hơn.

    Mình tự hỏi thành phố đã như thế này bao lâu rồi. Đã bao lâu từ lần cuối cùng thành phố còn sống? Một quả có hình dáng hoàn hảo đặt cạnh cậu trên sàn. Vỏ của nó sạch. Cậu dùng một ngón tay chạm nó một cách nhẹ nhàng, và bề mặt nó vỡ vụn, để lại một dấu tròn trong hình dáng của đầu ngón tay cậu. Cậu tóm lấy nó và bóp nó hết sức có thể; trái cây rã ra thành bụi xám chảy qua giữa những ngón tay của cậu. Trong thời gian, Toto nghĩ, đó là tất cả những thứ còn lại của nơi này. Bụi.

    Khi Toto hít một hơi rùng mình khác, cậu nhận thấy điều gì đó – một đôi mắt gần nền nhà ở bên kia căn phòng. Chúng đang nhìn theo hướng của cậu. Dần dần, cậu nhận ra được hình dáng của một con người mảnh khảnh, với mái tóc dài của một người phụ nữ, nằm nghiêng. Cô có những đặc điểm xinh đẹp và nằm với tai phải chạm đất. Vai của cô uốn cong, và hai chân cô khụy xuống chỗ đầu gối, như thể cô đang ngồi co rúm trên một chiếc ghế. Thậm chí trong dạng đá, những đường nét mềm mại của hình dáng của cô, giống như những cành của một cây liễu, rất xinh đẹp.

    Đôi mắt cô mở to trong cái nhìn chằm chằm bằng đá. Cô có vẻ như đang cười với Toto. Có lẽ cô ấy là chị hay mẹ của ai đó. Cậu tự hỏi những lời cuối cùng của cô là gì – cô đã nghĩ gì khi mình chết.

    “Tôi xin lỗi,” Toto thì thầm, lấy hai tay ôm mặt. Cậu bắt đầu khóc. Mình không bao giờ nên đến đây. Mình không nên đặt chân vào nơi này. Mình thật là ngu ngốc.

    Bây giờ cậu khóc nức nở, không thể kiềm nén bản thân lâu hơn, và đôi vai cậu nặng trĩu. Chuyển động hẳn đã làm náo động bức tường phía sau cậu, để cậu nghe thấy một tiếng ồn lớn và âm thanh của thứ gì đó vụn nát. Toto nhảy lên và nhìn thấy rằng một thanh giữ những cánh cửa chớp cửa sổ mở ở bên ngoài đã rơi xuống và đổ sụp thành bụi.

    Bây giờ trên đầu gối của mình, Toto bò khỏi cửa sổ. Cậu thấy gương mặt bay trên bầu trời, kéo theo tiếng ồn. Dạ dày Toto cuộn lại.

    Bà ta sẽ tìm thấy mình!

    Không còn lối thoát ngoài kia. Cậu cân nhắc việc di chuyển vào một phòng khác. Cậu có thể thấy một cánh cửa, nhưng một cái tủ lớn đã rơi xuống trước nó, và cậu không không nghĩ cậu có thể kịp leo qua nó. Cậu nhìn quanh để tìm bất cứ lối thoát khác.

    Toto nhận ra một khe hở trên một bức tường khác. Cậu di chuyển, nhanh như một con thỏ rừng, nhảy bổ vào khe hở và sau đó ngã chúi đầu. Khi cậu bắt đầu ngã sụp xuống, cậu nhận ra cậu đang trên một chiếc cầu thang dẫn đến một căn hầm.

    Ở dưới đáy, đầu cậu đập vào một bức tường, làm sao bay bay trước mắt cậu, và cậu nghe thấy một tiếng ồn rơi vỡ đáng kinh ngạc từ phía trên. Một lúc sau đó, ánh sáng tiến vào qua lối cửa ở trên đầu cầu thang tỏa sáng lờ mờ.

    Toto ngồi dậy và nhìn xung quanh trong ánh sáng yếu ớt. Nơi mà cậu đã lăn qua hầm, mọi thứ vỡ tan, giống như quả trái cây trên lầu.

    Mình bị bẫy…

    Toto nhìn lên tia nắng mỏng chiếu sáng qua một cái lỗ trong đống gạch vụn ở trên. Nó trông như những mẩu của ngôi nhà đã rơi xuống bậc thứ ba của cầu thang. Cậu tự hỏi liệu cậu có thể dùng tay để lau nó đi.

    Nếu mình đi lên đó, con quái vật đó sẽ đang đợi mình.

    Toto xoay lại về bóng tối của tầng hầm. Không khí lạnh và mùi bụi giống như ở trên. Nó có vẻ rộng đối với một căn phòng dưới mặt đất. Có lẽ điều đó có nghĩa là một lối thoát khác.

    Toto bắt đầu bò theo nền nhà, tìm kiếm. Hai tay cậu chỉ chạm tảng đá lạnh dưới cậu. Cậu mò mẫm về phía phải và tìm thấy một bức tường khác. Cậu đâm vào nó với những ngón tay một lúc, sau đó dừng lại.

    Chờ đã, đó không phải là một bức tường. Nó là một phần của đồ nội thất. Nó bị chia thành từng phần – và có gì đó ở bên trong.

    Trong bóng tối, gương mặt Toto mang lên một biểu hiện nghiêm túc, trưởng thành – kiểu mà cậu chưa bao giờ thể hiện trước bất cứ ai trước đây, thậm chí không cả Ico. Cậu bắt đầu chăm chú thăm dò lỗ hổng với những ngón tay của mình, cảm thấy những hình dáng của các vật thể, gõ nhẹ chúng với ngón tay mình. Cậu bọc những đầu ngón tay quanh một vật.

    Nó di chuyển và rớt vào tay Toto. Cậu cẩn thận nhặt nó lên và mang nó ra ánh sáng ở dưới chân cầu thang.

    Đó là một cuốn sách. Cậu đã tìm thấy một kệ sách.

    Dĩ nhiên cuốn sách là đá. Cậu không thể mở nó ra, và ngón tay cậu để lại những vết lõm nhỏ trên bìa. Trong ánh sáng mờ mờ thật khó để nhận ra con chữ, nhưng cậu có thể thấy đủ để nói rằng chúng được viết bằng những ký tự lạ lẫm.

    Toto được gợi nhớ về những kệ sách ở trong nhà trưởng lão. Cậu và Ico đã từng bị khiển trách khi họ lẻn vào và xem. Trong ngôi nhà đó, mỗi phần của bức tường, trừ cánh cửa ra, được phủ kín bởi sách. Cuốn sách đá cậu nắm trong tay giờ trông rất giống những cuốn trong phòng đọc của trưởng lão.

    Có lẽ nơi này cũng là một phòng đọc? Cậu tự hỏi liệu chủ nhân của ngôi nhà này từng là một người quan trọng giống trưởng lão. Một học giả của những trí tuệ cổ xưa. Toto cố gắng cẩn thận, tuy nhiên ngay cả nắm tay bình tĩnh của cậu trên cuốn sách làm nó vỡ và nát vụn. Cậu đặt nó nhẹ nhàng trên nền nhà và tiếp tục cuộc tìm kiếm của mình, quét qua mặt đất bằng hai tay. Tiến về cuối căn phòng nó quá tối đến nỗi cậu không thể thấy đầu mũi của chính mình. Tuy nhiên, cậu có thể khám phá rằng ba trong số những bức tường ở đây là kệ sách, tất cả được lấp đầy tràn.

    Bằng cách nào đó, nó làm cậu thoải mái. Trưởng lão luôn nói rằng chúng nên đọc. Học tập, ông thường nói với họ. Kiến thức làm một người đàn ông mạnh mẽ. Toto chưa bao giờ thực sự lắng nghe. Tất cả những gì thợ săn cần là một con mắt sắc sảo và một bàn tay kiên định. Cậu có thể để lại việc học tập cho những người chậm chân.

    Tuy nhiên, trong thành phố huyền bí này, đang ẩn giấu từ điều gì đó còn kinh khủng hơn bóng tối quanh cậu, hạt giống nhỏ bé của việc tôn trọng kiến thức đó đã được ươm mần bên trong cậu khuấy động và thì thầm với cậu bằng một giọng nhỏ.

    Nơi này an toàn.

    Nơi này được bảo vệ.

    Hoặc, Toto nghĩ, có lẽ mình phát điên và mình đang nghe những điều này.

    Cậu đang đứng trong một pháo đài sách – một pháo đài không có lối thoát nào khác ngoài những bậc cầu thang kia.

    Không có gì để làm với nó ngoài tìm một lối lên và thoát ra. Nếu cậu đợi quá lâu, mặt trời sẽ lặn và cậu sẽ bị để lại để đối phó trong bóng tối thăm thẳm.

    Chờ đã –

    Có lẽ tốt hơn để cậu di chuyển gạch vụn và đi lên lầu sau khi mặt trời lặn. Nếu gương mặt không thể thấy cậu, làm sao nó có thể tìm cậu? Một khi bóng tối buông xuống trên thành phố, sẽ có rất nhiều nơi Toto có thể trốn.

    Mình là một thợ săn, Toto nghĩ một cách giận dữ, đặt một nắm tay lên ngực mình. Cậu có thể chạy trong đêm. Cậu sẽ không lạc đường. Cậu chỉ cần nhìn lên những ngôi sao và phán đoán độ cao của mặt trăng và cậu sẽ có thể tìm đường ra khỏi thành phố và trở về nhà.

    Sẽ khó khăn vì không có Mũi Tên Gió.

    Toto rít răng và giữ lại lo lắng cậu có thể cảm thấy đang lớn lên bên trong mình. Sẽ quá dễ để chết đuối trong sự tự hối tiếc. Nhưng điều đó không thể nào được, cậu nghĩ. Không khóc lóc nữa. Mình phải về nhà.

    Được! Quên nơi cậu ở trong một lúc, Toto đứng thẳng dậy. Khi cậu làm thế, khuỷ tay áo trái của cậu đập phải thứ gì đó mạnh đến nỗi cậu thở hổn hển đau đớn. Bất kể cái gì cậu đã đập phải đổ sụp xuống với một tiếng thịch – có lẽ, một mẩu nhỏ đồ nội thất cậu không chú ý.

    Toto cảm thấy thứ gì đó di chuyển qua không khí, và cậu nhảy lùi lại đúng lúc. Thứ gì đó lớn hơn rất nhiều bất kể cái gì khuỷ tay của cậu chỉ chạm phải đột ngột đổ ầm cạnh tai cậu mà đổ sụp xuống nền nhà với một âm thanh đổ vỡ phản lại.

    Toto phải che miệng và mũi lại khỏi bụi. Cậu đoán dù cho thứ nhỏ bé nào cậu làm náo động thì đã va lại vào một trong những kệ sách và làm toàn bộ mọi thứ đổ xuống.

    Sau khi đợi bụi lắng xuống, cậu bắt đầu cảm nhận xung quanh với hai tay mình, nhanh chóng tìm ra một núi sách vỡ tan. Thứ gì đó sáng mờ mờ giữa những mảnh vỡ.

    Đầu tiên, cậu nghi ngờ đôi mắt mình. Cậu không thể bắt được ánh sáng từ trên cầu thang; phần này của nền nhà tối đen, điều này có nghĩa là thứ gì đó ở đây đang tự mình tỏa sáng. Nó có một tia sáng yếu ớt nhợt nhạt, xinh đẹp, giống như Ngôi Sao của Thợ săn đó, có thể thấy được ngay cả trong những đêm đầy mây.

    Toto cảm nhận qua từng chồng sách bằng cả hai tay, nhanh chóng lấy được vật sáng lập lòe. Đó là một cuốn sách, không phải sách đá, mà là sách giấy. Nó có cảm giác cũ và bị phong hóa, và cậu không cảm nhận sai lầm về nó trên đôi tay mình.

    Toto nhanh chóng di chuyển tới chỗ ánh sáng và bắt đầu kiểm tra thứ tìm thấy của cậu. Cuốn sách mỏng, với một tấm bìa trắng. Thậm chí khi cầm trực tiếp dưới ánh sáng đến từ cầu thang, cuốn sách rõ ràng tự tỏa ra ánh sáng của nó.

    Một cách cẩn thận, cậu phủi lớp bụi trên bìa của nó. Ánh sáng của cuốn sách sáng lên. Năm từ được viết trên mặt trước với kiểu chữ Toto chưa bao giờ biết, nhưng cậu nhận ra nó có cùng kiểu chữ dùng trong những cuốn sách cổ ở trong làng.

    Trưởng lão có thể đọc cuốn sách này.

    Hơn cả nội dung của nó, Toto tự hỏi làm sao cuốn sách này – một cuốn sách nhỏ – đã xoay sở tránh được lời nguyền khủng khiếp mà Lâu đài trong Màn sương đã đặt lên thành phố này. Và tại sao nó lại tỏa ra thứ ánh sáng trắng thuần khiết như vậy?

    Bất kể cuốn sách là gì, nó hẳn thực sự rất mạnh mẽ để đứng vững với cơn thịnh nộ của lâu đài. Có lẽ, Toto nghĩ, nó cũng có thể cứu mình.

    Toto kiểm tra lớp đá vụn phủ trên bậc cầu thang, sau đó bắt đầu làm việc, nhặt lên một mẩu một lần, di chuyển cẩn thận hết sức có thể để không tạo một âm thanh. Trước khi cậu di chuyển đủ để đi qua, mặt trời đã lặn. Tuy nhiên, Toto duy trì cúi mình ở dưới chân cầu thang, kiên nhẫn chờ đợi. Đến đây, màn đêm, cậu nghĩ. Mặt trăng, làm ơn đừng xuất hiện. Treo bóng tối giống như một tấm màn trên đường đi của mình và để mình ra khỏi đây sống sót!

    Cậu ngủ lơ mơ trong khi chờ đợi, ôm cuốn sách tỏa sáng vào ngực với cả hai tay, giống như một chiến binh ôm cung tên của mình hoặc giáo trước trận chiến, gần đến nỗi nó gần như trở thành một phần của cơ thể cậu.

    Khi tất cả đã rơi vào bóng tối của màn đêm, Toto leo lên các bậc thang. Cuốn sách tò mò trong hai cánh tay cậu tỏa sáng, trao cho cậu lòng dũng cảm và thắp sáng mặt đất dưới chân cậu. Cậu nhận thấy cậu có thể làm ánh sáng ngừng một cách đơn giản bằng việc đặt bàn tay cậu che đi bìa của nó. Điều đó sẽ giữ cậu an toàn khỏi đôi mắt cảnh giác từ gương mặt trên bầu trời.

    Toto bắt đầu chạy qua những tảng đá đang ngủ của thành phố. Cậu không bị lạc. Tuy cậu khiếp đảm, nhưng bản năng thợ săn của cậu không bỏ rơi cậu lúc này.

    Cậu đến chỗ Mũi Tên Gió, và trong một khoảnh khắc, nước mắt dâng lên trong đôi mắt cậu, và cậu dừng lại. Toto vuốt ve cái bờm cứng ngắc của con ngựa bằng một tay và ôm lấy lưng nó. Tôi xin lỗi. Tôi không bao giờ nên mang cậu đến đây. Và bây giờ tôi phải để cậu ở đây một mình.

    “Nhưng tôi sẽ quay lại vì cậu ngày nào đó, tôi hứa.”

    Với lời thề thì thầm đó, Toto tiến đến cổng thành phố.

    Cậu thoát khỏi thành phố bị nguyền rủa. Toto chạy xuống chân Núi Cấm mà không dừng lại. Hơi thở của cậu dữ dội, ngực cậu đau, và những cơ bắp của cậu gào thét với sự kiệt sức, nhưng cậu không nghỉ ngơi. Nếu cậu không chạy bây giờ, cậu sẽ quá trễ.

    Trong cánh tay của Toto, cuốn sách phát sáng.

    Khi cậu bắt đầu trèo, mặt trăng để lộ gương mặt nó ở xa bên khu rừng. Như thể nó đã đợi cho cậu tìm được chỗ ấn náu trong rừng cây.

    Dưới ánh trăng, cuốn sách thậm chí tỏa sáng rực rỡ hơn. Dường như đối với Toto điều đó, bằng vài ý nghĩa nào đó ngoài tầm hiểu biết của cậu, ánh sáng mặt trăng và ánh sáng của cuốn sách đang mỉm cười với nhau.

    Chỉ còn một chút nữa là đến khe núi. Thậm chí những thợ săn giỏi nhất của làng không thể chạy như thế. Nhưng Toto chạy và chạy nhanh hơn, cứ như là đôi chân cậu bị bỏ bùa.
     
    meo_mupBimIta thích bài này.
  7. Magic Purple

    Magic Purple Gà BT Nhóm Chuyển ngữ

    Bài viết:
    1.252
    Được thích:
    1.345
    Đã thích:
    1.150
    GSP:
    397p
    Chương 1

    [6]

    Trưởng lão thức dậy cảm thấy thậm chí còn kiệt sức sau một đêm ngủ chập chờn hơn ông có khi ông nằm xuống vào đêm hôm trước. Đôi mắt ông mở ra ngay tiếng hét đầu tiên ở cửa của ông.

    “Trưởng lão! Chúng tôi đã tìm thấy thằng bé! Chúng tôi đã tìm thấy Toto!”

    Ông ngồi dậy và mời người đàn ông vào. Gương mặt của một trong những thợ săn già dặn xuất hiện ở cửa ra vào của ông. “Giờ họ đang mang thằng bé vào.”

    Một nhóm tìm kiếm đã ra ngoài vào lúc bình minh đã phát hiện ra Toto đang nằm trên một cánh đồng.

    “Thằng bé thế nào?”

    “Quá yếu để có thể nói chuyện. Nhưng đôi mắt nó vẫn mở, và nó có thể nghe thấy chúng ta.”

    Trưởng lão nhanh chóng mặc quần áo và đi ra ngoài nhìn thấy một sự rối loạn ở cổng làng. Nhóm tìm kiếm đã trở về, mang theo Toto giữa họ trên một tấm ván gỗ lớn. Oneh chạy ra từ phía sau, nhưng trưởng lão xua bà đi. “Đến phòng dệt, ngay bây giờ.”

    “Nhưng –”

    “Bà không phải làm điều gì ngoài việc dệt tấm Phù hiệu. Ta yêu cầu điều đó.”

    Đôi vai gầy của Oneh rũ xuống và bà lui đi.

    Trưởng lão nhanh chóng đến nhà Toto. Cha của Toto là một thợ săn và ngoài ra là một thợ thủ công, khéo léo tạo nên những dụng cụ cần thiết để đi săn. Ông không phải là một người đàn ông dễ dàng hoảng sợ, nhưng gương mặt ông tái nhợt và cứng ngắc khi ông thấy những người khác mang con trai mình qua cánh cửa. Trưởng lão đoán rằng người phụ nữ mà ông có thể nghe thấy tiếng kêu khóc từ bên trong nhà là mẹ Toto.

    “Mọi người đã gọi bác sĩ chưa?” ông hỏi một trong những người đàn ông đang đứng đó.

    “Chúng tôi đã gửi một người đàn ông cưỡi Sao Bạc để đưa ông ấy về, Trưởng lão.”

    Bên trong, những người mang Toto nhẹ nhàng nâng cậu lên giường. Cha cậu vuốt ve mái tóc của Toto và mẹ cậu ôm cậu, vẫn đang khóc, trong khi em trai và em gái cậu chen lấn qua đám người, khóc lóc và kêu gào tên của Toto.

    Đôi mắt Toto run rẩy, và trưởng lão thấy môi cậu chuyển động, nhưng không có âm thanh. Mặc dù cậu bị phủ trong bụi bặm và những vết cào xước, cậu không có bất cứ vết thương nghiêm trọng nào. Hai chân cậu đặt mềm rũ trên giường và hai cánh tay cậu đang siết chặt trên ngực.

    Trưởng lão chú ý rằng Toto đang ôm thứ gì đó. Ông hít một hơi thở, và bằng một giọng to, rõ ràng, thông báo, “Mọi người, cảm ơn vì đã mang Toto trở về cho chúng ta một cách an toàn. Đây là lúc cho tất cả vui vẻ. Tuy nhiên, ta phải yêu cầu rằng, trong một lúc, mọi người hãy để ta một mình với thằng bé. Có vài điều rất quan trọng ta phải thảo luận với cậu ấy.”

    Thậm chí hầu hết những người đàn ông không nhận ra trưởng lão đang ở trong số bọn họ đến khi ông lên tiếng. Nhanh chóng, họ bước khỏi để ông có thể tới chỗ thằng bé, nhưng cha mẹ Toto sẽ không rời khỏi thằng bé.

    “Ta xin lỗi,” trưởng lão xin lỗi họ, “nhưng bổn phận của ta yêu cầu rằng ta phải nói chuyện riêng với Toto.” Trưởng lão lần lượt nhìn từng gương mặt của họ. “Bác sĩ sẽ nhanh chóng ở đây. Ta chỉ cần một lúc trước khi ông ấy đến.”

    Số mệnh của làng chúng ta có thể sẽ phụ thuộc rất lớn vào điều đó, ông nghĩ.

    Cuối cùng, họ dường như hiểu được. Cha Toto nhẹ nhàng chạm vai vợ ông và họ đứng dậy. Nước mắt chảy từng dòng trên gương mặt bà, mẹ cậu sờ đầu và má Toto trước khi bà rời đi.

    Khi mọi người đã đi khỏi, trưởng lão túm chiếc áo choàng của mình và vội vã đến bên giường của Toto nơi mà ông quỳ xuống.

    “Toto. Cháu có biết ta là ai không?”

    Đầu Toto gật nhẹ.

    “Cháu có thể nói không?”

    Đôi môi khô, nứt nẻ của cậu tách ra. “T-Trưởng lão…”

    Trưởng lão đặt một bàn tay lên trán Toto. Nó ẩm ướt và lạnh lẽo như đất sét không bao giờ gặp ánh nắng mặt trời. Ông xoa người cậu và bàn tay ông cảm thấy được một lớp bụi xám bao phủ. Cảm giác của nó giữa những ngón tay của ông gửi một cơn ơn lạnh lên xương sống trưởng lão, và ông hồi tưởng lại những gì ông đã thấy từ khe núi trong Núi Cấm.

    Trưởng lão chạm một tay lên cánh tay Toto sau đó đến hai chân cậu. Mọi chỗ ông chạm tới đều cảm thấy lạnh, và mọi chỗ bị bao bọc bởi cùng thứ tro bụi. Quần áo cậu ngấm mùi của thành phố đá.

    “Cháu đã đi ra khỏi dãy núi.”

    Toto chớp mắt và gật đầu.

    “Cháu đã đi qua khe núi và xuống bên kia. Và sao đó vào thành phố.”

    Toto lại gật đầu.

    “Cháu đã thấy những người biến thành đá?”

    Môi Toto tạo thành những từ Cháu đã.

    “Vào cháu đã thấy gì đó khác. Gì thế?”

    Để trả lời, một giọt nước mắt lăn xuống từ khóe mắt của Toto, và toàn bộ cơ thể cậu bắt đầu run rẩy.

    “Cháu đã gặp ai đó, phải không? Ai? Cháu đã thấy gì trong thành phố chết chóc đó?”

    Hơi thở của Toto nhanh mặc dù cậu đang cố gắng để nặn ra sức mạnh cuối cùng của mình từ cơ thể bé nhỏ của cậu. “G-gương mặt.”

    “Một gương mặt? Loại gương mặt nào?”

    “Một phụ nữ… một gương mặt phụ nữ. Cháu… sợ,” cậu cố gắng kiềm chế những giọt nước mắt.

    Lòng thương xót dâng lên trong trái tim trưởng lão, nhưng nỗi sợ của ông còn lớn hơn. Hai tay ông siết chặt thành nắm đấm. “Bà ta đã đuổi theo cháu à?”

    Toto nhắm mắt và gật đầu. Máu của trưởng lão lạnh lại, và trái tim ông bắt đầu đập dữ dội trong ngực mình.

    “Cháy đã đến nơi cháu không bao giờ nên đến và làm điều cháu không bao giờ nên làm.”

    Răng Toto va lập cập. “Cháu – cháu xin lỗi.”

    Toto cố gắng di chuyển hai cánh tay trên ngực mình, nhưng chúng có vẻ dính cùng nhau. Những cơ bắp mảnh khảnh của Toto căng ra và những lớp tro bụi phủ trên da cậu vỡ ra và bắt đầu bong ra, giống như gỉ rơi ra từ sắt.

    “Cháu đã tìm thấy… cái này,” Toto nói, cuối cùng nới lỏng hai cánh tay đủ để trưởng lão có thể thấy chúng ôm cái gì.

    Nó là một cuốn sách – một cuốn sách cổ.

    “Cuốn sách…”

    Trưởng lão nhẹ nhàng tóm lấy hai cổ tay Toto, giúp cậu giãn cái ôm ra.

    “Cuốn sách đã bảo vệ cháu,” Toto nói với một giọng thì thầm khàn khàn, và đôi mắt cậu nhìn lên trưởng lão. Cậu đang cố gắng để đưa ông cuốn sách.

    Khi mà trưởng lão giúp Toto tách hai cánh tay cậu đủ xa, cuốn sách dễ dàng trượt ra. Nhanh chóng, trưởng lão bắt lấy nó trong tay và nâng nó lên.

    Bìa sách phủ trong bụi xám, nhưng trưởng lão có thể nói rằng mảnh vải buộc là một ánh sáng trắng. Mùi của bụi lấp đầy lỗ mũi của ông – cùng với mùi gió đã mang khi ông đứng nhìn xuống thành phố.

    Trưởng lão cẩn thận phủi bìa trước và đọc những loạt chữ ngắn chạy trên nó.

    Cuốn sách Ánh sáng.

    Mắt ông nhíu lại. Làm sao có thể?

    “Toto,” ông nói, đôi mắt vẫn nhìn chằm chằm cuốn sách, “cháu tìm thấy cái này ở đâu? Cháu có thực sự tìm thấy cái này trong thành phố không?” Ông tóm lấy vai cậu và lắc, giọng ông trở nên lớn hơn. Nhưng đôi mắt Toto đã mất đi sự tập trung của chúng, và cánh tay cậu rớt xuống mềm rũ hai bên, nhiệm vụ của chúng đã hoàn thành.

    “Trả lời ta, cậu bé!”

    Cái nhìn chằm chằm của Toto từ từ trôi đi, đi đến dừng lại một lát trên gương mặt trưởng lão. Miệng cậu chuyển động. “Ánh… sáng.”

    “Ánh sáng? Điều gì về ánh sáng?” Trưởng lão đưa tai tới miệng Toto, căng ra để nghe. “Nói với ta về ánh sáng, Toto!”

    Sau đó trưởng lão nghĩ ông nghe thấy thằng bé thì thầm Cháu xin lỗi, nhưng bất cứ điều gì cậu nói tiếp theo bị mất trong tiếng thét của trưởng lão.

    Khi ông ngồi đó trên giường, cơ thể Toto bắt đầu cứng lại, bắt đầu ở những đầu ngón tay của cậu. Dường như một làn sóng xám cuốn qua cậu, phủ toàn bộ cơ thể cậu trong khi trưởng lão quan sát.

    “Toto!” Trưởng lão với tới như thể tóm lấy Toto khỏi cơn sóng đó, nhưng nơi ông chạm vai của đứa trẻ nó đã lạnh và cứng rồi. Một hơi thở sau, cằm, mũi và má cậu biến thành đá.

    Đôi mắt Toto mở to, mặc dù cậu thấy gì đó ở đó, treo trên cậu – nhưng trước khi có tập trung lại, con ngươi cậu co lại và biến thành đá. Trưởng lão ngay lập tức ngả người về phía cậu như thể ông có thể bắt được trong mắt cậu một ảnh phản chiếu của thứ Toto đang nhìn vào, nhưng trước đó, thậm chí tóc của cậu đã chuyển sang xám và cứng ngắt.

    Cơn choáng váng đến với trưởng lão, và ông lảo đảo, đánh rơi cuốn sách trên hai tay và dựa vào giường đứa trẻ để chống đỡ. Cuốn sách nảy bật lên trên giường với một âm thanh nhẹ, sau đó nằm phẳng trên mặt sau cuốn sách bên cạnh má đứa trẻ.

    Cuốn sách Ánh sáng.

    Cuốn sách dừng lại, chạm bên mặt của đứa trẻ như thể để đánh nó lần cuối. Toto vẫn đang khóc khi phần da cuối cùng hoàn toàn biến thành đá.

    Hai bàn tay run rẩy, trưởng lão cầm cuốn sách lên và siết chặt nó trong vòng tay, chặt như đứa trẻ đã làm cho đến một khoảnh khắc trước đó.

    Nó không nên tồn tại. Ông đã nghĩ là nó đã mất tích từ lâu, mất vào một quá khứ xa xôi.

    Nó đã bảo vệ thằng bé.

    Trưởng lão nâng cuốn sách lên ngang tầm mắt. Nó tỏa sáng với một ánh sáng ổn định. Mặc dù nó bị bụi bao phủ từ đá bị nguyền của thành phố, bản thân ánh sáng của nó trong sạch và tinh khiết. Cuốn sách hít thở trong tay trưởng lão, rót sức mạnh nó giữ trong hai tấm bìa sang ông lão.

    Trưởng lão cảm thấy cơn run rẩy trong tay chân ông dừng lại, và hơi thở của ông bắt đầu dễ dàng hơn khi ánh sáng thanh tẩy cậu bé đến cốt lõi bên trong của cậu.

    “Thần Ánh sáng,” trưởng lão thì thầm. “Kiến thức cổ xưa, người giám hộ của sự thuần khiết bất diệt.”

    Một giọt nước mắt rơi xuống gò má nhăn nheo của ông, nấn ná một chốc lát trên cằm ông trước khi rơi xuống giống như giọt mưa xuân đầu tiên rơi xuống vụ mùa sinh sôi rơi xuống ngay trên má phải Toto. Ông nhìn cuốn sách. “Người đã gọi Toto làm việc này.”

    Ngài đã ẩn nấp nơi sâu thẳm, đợi chờ năm này sang năm khác đến khi thời gian thích hợp cho ngài trở lại để gặp tôi trong nỗi bối rối và sợ hãi.

    Trưởng lão cúi đầu xuống để chạm vào bìa cuốn sách, và với tất cả cơ thể và tinh thần của mình, ông cầu nguyện. Khi cuối cùng ông nhìn lên, ông nhẹ nhàng lấy tay xoa đầu Toto.

    “Cháu đã làm điều đó, Toto gan dạ. Cháu đã làm điều đó.”

    Trưởng lão đứng dậy.


    Không còn thời gian để trì hoãn. Trưởng lão gọi tất cả dân làng lại và nhanh chóng ra chỉ thị.

    “Trong ba ngày tiếp theo, không có săn bắn gì cả. Đàn ông phải đứng ở bốn góc của làng với lửa được thắp sáng, canh gác theo ca. Lửa phải sáng cả ngày và đêm. Phụ nữ phải làm sạch cả làng bằng nước và muối, và hoạt động mỗi khung cửi chúng ta có. Trẻ em, khi mặt trời vẫn còn trên bầu trời, các cháu phải hát những bài ca hội hè. Những ai có thể chơi nhạc cụ, mang chúng đến và chơi. Khi mặt trời lặn và cổng làng đóng, tất cả phải ở bên trong, ngoại trừ những người canh gác, và không ai được gây ra một tiếng động. Để cơ thể mọi người nghỉ ngơi và ngủ với đôi tay nắm chặt, điều đó mọi người có thể ngăn chặn lối vào những cơn ác mộng đêm. Khi bình minh lên, chúng ta sẽ làm lại vào hôm sau những gì chúng ta đã làm hôm nay. Ba ngày tiếp theo này là quan trọng nhất.”

    Dân làng nhìn trưởng lão hoang mang. Những chỉ thị của ông về việc hoạt động tất cả những khung cửi bay thẳng vào mặt của mệnh lệnh trước của ông rằng chỉ duy nhất khung cửi trong phòng dệt có thể được dùng trong suốt Thời điểm Hiến tế. Một số người tự hỏi liệu ông ấy có phát điên không – nhưng trưởng lão không cho phép thảo thuận.

    “Ta cần mọi người thực hiện những mệnh lệnh mới này, và thực hiện chúng thật tốt. Vào buổi sáng của ngày thứ tư, chúng ta sẽ bắn lửa hiệu và gọi thầy tu từ nhà nghỉ của ông ấy. Ông ta sẽ đến vào ngày hôm đó và đưa Ico đi với ông ta tới Lâu đài trong Màn sương.”

    “Nhưng, Trưởng lão, tại sao lửa canh gác thắp sáng quanh làng nếu chúng ta đang không chuẩn chị cho chiến tranh? Điều gì đang xảy ra? Tại sao phải làm những việc này mà không có lý do?”

    “Có một lý do,” trưởng lão đáp lại kiên quyết. “Và đây chiến tranh.”

    Khi tất cả chỉ thị được đưa ra, trưởng lão rời đến phòng dệt. Không một lời, ông cầm tay Oneh khỏi con suốt và xé nửa tấm Phù hiệu đã dệt từ khung cửi, suýt nữa làm bà giật điếng người.

    “Chồng này, ông đang làm gì đó?” bà kêu lên, gương mặt bà đỏ ửng lên. “Điều này có nghĩa là gì?”

    Trưởng lão đặt hai tay lên vai Oneh. “Khi kiến thức và lòng can đảm từng bị chia tách giờ lại được ràng buộc với nhau, sau đó màn sương bị nguyền rủa từ lâu sẽ nâng lên, và ánh sáng từ cổ xưa sẽ tái sinh trên mặt đất.”

    “Gì…”

    Trưởng lão đưa tay vào bên trong áo choàng và lôi ra cuốn sách, mở bìa của nó ra và đưa cho bà thấy. “Nhìn xem. Thấy thiết kế được vẽ trên đây chứ? Nhìn xem nó giống tấm hình của tấm Phù hiệu ta đã đưa cho bà như thế nào?”

    Oneh nhìn giữ chồng và cuốn sách mở. Ông đúng. Sự tương đồng với tấm Phù hiệu thật ấn tượng, mặc dù nó không phải là một sự phù hợp hoàn hảo.

    Đây là tấm Phù hiệu bà phải dệt cho Toto. Ném tất cả những thứ bà đã làm tới giờ đi. Bà phải làm tấm Phù hiệu mới này nhanh hết sức có thể. Chúng ta không có thời gian. Chúng ta phải cùng nhau dệt nó trong khi sức mạnh của làng vẫn còn giữ được.”

    Một tia sáng ánh lên trong đôi mắt chồng bà. Là ánh sáng đó, hơn cả những lời của ông, làm bà xúc động.

    “Tấm Phù hiệu mới này sẽ cứu được Ico chứ?” Bà hỏi, tóm lấy ống tay áo của chồng bà.

    Trưởng lão gật đầu. “Phải, ta cầu nguyện thế. Và sau đó Ico sẽ cứu tất cả chúng ta.”
     
    meo_mupconruoinho thích bài này.
  8. Magic Purple

    Magic Purple Gà BT Nhóm Chuyển ngữ

    Bài viết:
    1.252
    Được thích:
    1.345
    Đã thích:
    1.150
    GSP:
    397p
    Chương 1

    [7]

    Một tia sáng mỏng trôi lên từ dưới đáy hồ nước, quét qua Ico như một cơn gió tươi mát.

    “Nghĩ là nó sâu chứ?”

    “Có lẽ.”

    “Chúng ta có thể thử bơi xuống. Tôi cá là nó đi đâu đó,” Toto nói, ném xuống một viên đá nhỏ.

    “Ở đây lạnh, nhưng tôi thích thế.”

    “Phải. Thực sự làm sạch cả lồng ngực.”

    Chúng là những ký ức, Ico nghĩ. Điều này giờ đang không xảy ra. Tụi mình đang khám phá cái hang. Tụi mình tìm thấy một hồ nước. Mình suýt nữa đánh rơi ngọn đuốc của mình…

    Ico bắt đầu mở mắt.

    Một tia sáng mỏng dần lộ qua cánh cửa sổ nhỏ ở trên đỉnh hang. Có lẽ, bình minh, cậu nghĩ. Cơ thể cậu lạnh đến tận xương, mọi thứ đau nhức. Cậu không thể ngủ ngon vào buổi tối hôm trước bởi vì lạnh. Điều đó giải thích giấc mơ của mình.

    Đi xuống cái hang đó với Toto không dễ dàng gì. Có rất nhiều vách đá dốc lên và dốc xuống. Nhưng nhờ vào cái lạnh cậu thậm chí không đổ một giọt mồ hôi. Cậu nhớ âm thanh của hàm răng mình va chạm lập cập vang vọng qua những bức tường của hang động.

    Ánh sáng lân tinh lờ mờ ở đáy hồ thật đẹp, tuy nhiên thoáng qua – một con ma nhảy múa mặc một chiếc áo dài ma quái. Cậu có thể nhắm mắt lại và thấy điều đó. Có Toto, đang đứng cạnh cậu, đôi mắt lấp lánh, thích thú bởi ánh sáng trong nước.

    Mọi việc trong làng bên ngoài cái hang của cậu trở nên bận rộn ba ngày cuối cùng này. Cậu nghe thấy tiếng trống, chuông và trẻ em ca hát, bắt đầu với tia sáng đầu tiên của buổi sáng và tiếp tục đến khi màn đêm buông xuống. Có lẽ, cậu nghĩ, đây là cách họ chào đón thầy tu.

    Cậu tự hỏi Toto đang làm gì. Cậu không thể hình dung cậu ấy đang ca hát với những đứa trẻ khác.

    “Cậu đã nhét vào đầu đứa trẻ ấy điều bậy bạ gì?”

    Ico đã không thể ăn hay ngủ suốt một ngày sau chuyến thăm của trưởng lão. Tất cả cậu muốn làm là đập đầu mình vào bức tường hang. Nhưng một ngày sau, người lính gác đã nói với cậu rằng Toto đã trở về. Khóc với sự nhẹ nhõm, Ico van xin người lính gác kể cho cậu nghe họ đã tìm thấy Toto như thế nào. “Cậu ấy có bị thương không? Tại sao cậu ấy bỏ đi? Cháu có thể gặp cậu ấy, chỉ một lát thôi được không?”

    Người lính gác im lặng.

    “Đừng lo lắng về Toto,” trưởng lão đã nói với cậu vào lần tới thăm sau đó. “Tất cả những gì cháu cần là lo lắng về việc hoàn thành vai trò là một Vật tế của mình.” Giọng ông nghe có vẻ tự tin và thanh thản, nhưng nỗi cay đắng làm đổi màu gương mặt ông.

    “Chắc chắn phải ăn gì đó. Cháu sẽ rời đi sớm thôi.”

    Sau đó trưởng lão rời đi, và Ico lại ở một mình trong hang. Bầu bạn duy nhất cậu tìm thấy là trong những giấc mơ của mình.

    Ico tiếp tục đi vòng vòng quanh hang, xoay hai cánh tay và duỗi hai chân để giữ cơ thể cậu linh hoạt. Cậu chỉ vừa mới kết thúc một vòng của bài thể dục này khi cậu chú ý thấy điều gì đó bất thường. Im lặng. Không có tiếng hát hay âm nhạc sáng nay. Cậu cũng không thể nghe thấy tiếng khung cửi.

    Điều gì đó đã thay đổi.

    Một bóng hình xuất hiện ở lối vào hang. Ico dụi mắt. Đó là trưởng lão. Bộ áo choàng dài của ông kéo lê trên mặt đất, và đôi vai gầy của ông bị ném ra sau khi ông bước vào. Oneh theo ngay sau ông.

    “Mẹ!” Ico hét lên. Oneh mỉm cười với cậu, nhưng ngay sau đó những giọt nước mắt bắt đầu tuôn thành dòng từ đôi mắt bà.

    Bà định chạy đến chỗ cậu, nhưng trưởng lão đưa tay ra, giữ bà lại. Ông lấy tấm vải tuyệt đẹp mà bà cầm trong hay cánh tay và cung kính đặt nó trên một cánh tay, gật đầu khi ông kiểm tra nó.

    “Ico!” Oneh gọi, dang rộng hai tay. Ico liếc nhìn gương mặt trưởng lão, nhưng tất cả những gì cậu thấy là sự ân cần. Khoảnh khắc tiếp theo, Ico chạy vào vòng tay của Oneh.

    “Ico, Ico yêu dấu của ta, đứa con thân yêu của ta.” Oneh gọi đi gọi lại tên cậu, như một bài hát, và bà ôm chặt cậu và vuốt ve mái tóc cậu. “Con hẳn là đã cô đơn lắm – thật buồn làm sao,” bà lặp lại, khóc lóc. “Xin hãy tha thứ cho chúng ta. Chúng ta đã ép buộc điều này lên con. Nếu chúng ta mạnh mẽ hơn –”

    “Mẹ…”

    Trong vòng tay Oneh, Ico nhìn về phía trưởng lão. Chỉ mới vài ngày từ khi ông tát vào má Ico, nhưng có vẻ như thể ông đã già đi vài tuổi. Tuy nhiên, cái nhìn dịu sàng, tràn đầy uy quyền, đã bay đi khỏi đôi mắt ông khi Thời điểm Hiến tế đã đến, trở lại. Đây là trưởng lão người đã nuôi dưỡng Ico. Ông ấy đã trở lại.

    “Đến lúc rồi, Oneh,” trưởng lão nói dịu dàng, và sau đó ông mỉm cười. “Cũng thật khó cho ta. Nhưng chúng ta phải nói lời tạm biệt. Buổi Hiến tế không chờ đợi ai.”

    Oneh gật đầu, đôi mắt bà đẫm nước mắt. Bà ôm đầu Ico lần cuối trước khi để cậu đi và bước lùi lại đứng cạnh trưởng lão.

    Ông nói. “Đêm qua, chúng ta đã thắp lửa hiệu. Tùy tùng của thầy tu sẽ đến trước trưa. Khi nghi lễ hoàn thành, cháu sẽ rời đến Lâu đài trong Màn sương.”

    Ico nuốt khan, nhanh chóng lau đi một giọt nước mắt còn nán lại trên má mình, và ngồi thẳng lên. “Cháu hiểu.”

    Cậu đã muốn nghe có vẻ kiên quyết hơn một chút, nhưng giọng cậu bị nghẹt bởi nước mắt, và cậu không thể nói gì hơn điều đó. Tuy nhiên, cậu cố gắng bắt gặp ánh nhìn chằm chằm trực tiếp của trưởng lão, để cho thấy sự quyết tâm của cậu là không hề nao núng. Cháu sẽ không khóc hay hét nữa, dù cho bất kể chuyện gì. Cháu sẽ không hờn dỗi, cháu sẽ không hỏi.

    Nhưng một lát sau, khi trưởng lão và Oneh quỳ cung kính trước cậu, Ico không thể giữ miệng mình khỏi há hốc.

    “Trưởng lão?”

    Ico sắp sửa quỳ với họ trên sàn khi một câu nói mạnh mẽ từ trưởng lão dừng cậu lại. “Đứng yên.”

    Sau đó Oneh mỉm cười với cậu và đan những ngón tay tại trước mặt bà, cúi đầu cầu nguyện.

    Đang quỳ, đôi mắt trưởng lão ngang tầm với vai Ico. Nhìn xuống ông, Ico được gợi nhớ lại về giấc mơ cậu có trước khi thức dậy. Đôi mắt ông ấy có cùng ánh sáng như trong hồ nước.

    “Cháu là ánh sáng của hy vọng của chúng ta,” trưởng lão ngâm.

    Ico đã từng nghe giọng cầu nguyện âm vang của trưởng lão nhiều lần trước đó. Cầu nguyện cho mùa màng, cầu nguyện cho săn bắn – một giọng nói vang xa và rộng, gọi to đến vòm thần thánh, đấng Sáng tạo của tất cả các sinh linh trên thế giới này.

    Bây giờ giọng nói đó trực tiếp tới Ico.

    “Kiến thức và lòng dũng cảm đã chia tách từ lâu lại trở lại đây một lần nữa. Cháu là thanh kiếm của chúng ta, ánh đèn hiệu của chúng ta.”

    Một nụ cười dịu dàng từ trưởng lão ngăn cản câu hỏi của Ico trước khi cậu có thể hỏi nói.

    “Lại đây.”

    Ico bước nửa bước về phía trước. Trưởng lão trải tấm vải tuyệt đẹp ông treo trên tay mình.

    Ở trung tâm của tấm vải có một lỗ rộng đủ để Ico đưa đầu vào, như một chiếc tunic. Họa tiết của nó được thêu bằng ba màu: trắng, chàm và đỏ thẫm rất nhạt. Màu sắc quấn vào nhau trong một hoa văn phức tạp. Ico nghĩ cậu nhận thấy những hình dáng trong những họa tiết trông giống như những chữ cái cổ hơn là những cuộn xoáy ngẫu nhiên.

    “Mặc nó lên,” trưởng lão nói, nâng tấm tunic trong hai tay. “Đây là tấm Phù hiệu của cháu.”

    Ico mặc tấm Phù hiệu vào. Nó còn không tới được eo cậu, nhưng nó rộng đúng như vai cậu và nằm đẹp đẽ trên ngực và lưng cậu.

    Ico cảm thấy ngực mình trở nên ấm áp, như thể một bàn tay đang nhấn lên nó, thẳng vào trái tim cậu.

    Cậu nghe thấy một âm thanh giống như một tiếng sáo nhỏ đang chơi ở xa. Ico dang hai cánh tay và nhìn xuống bản thân mình. Mỗi sợi vải để dệt tấm Phù hiệu đang phát sáng. Như thể là ánh sáng đã bắt đầu chảy như máu qua những huyết mạch của mẫu thiết kế. Một ánh sáng màu bạc đi từ đầu này đến cầu kia, vòng này đến vòng kia.

    Và sau khi ánh sáng mờ đi theo cùng sự ấm áp, nhưng chúng không biến mất. Hơn thế, cậu cảm thấy như thể ánh sáng và sự ấm áp đã chuyển từ tấm Phù hiệu sang cậu.

    “Đấy,” trưởng lão nói, đôi mắt ông lấp lánh. “Đúng vậy. Tấm Phù hiệu nhận ra cháu.”

    Oneh lại đang khóc, hai tay bà che mặt.

    “Trưởng lão, nó là gì vậy?” Ico hỏi.

    Trưởng lão đứng dậy và nhẹ nhàng đặt hai bàn tay lên vai Ico trước khi trả lời. “Tấm Phù hiệu được mỗi Vật tế mặc. Tuy nhiên, của cháu lại khác. Không đứa trẻ nào khác được gửi đến Lâu đài trong Màn sương từng mặc một cái như thế này.”

    Ico đưa bàn tay theo tấm vải. Chạm vào nó thật mượt mà, nhưng giờ ánh sáng đã mờ đi, nó cảm thấy không khác biệt gì hơn những tấm vải mới dệt.

    “Những sợi chỉ này đã được thấm đẫm với một lời cầu nguyện,” trưởng lão nói, chỉ vào mẫu trang trí. “Vào thời xa xưa, những lời cầu nguyện này là nguồn hy vọng duy nhất của chúng ta để một ngày nào đó chúng ta có thể đứng lên và xua đi bóng tối đang cai trị chúng ta.”

    Cái này là một kiểu thần thoại nào đó ư? Ý ông ấy bóng tối là gì? Chủ nhân của lâu đài ư? Nhưng bây giờ nó như nhau, Ico nghĩ. Họ vẫn sợ Lâu đài trong Màn sương. Đó là lý do họ phải gửi Vật tế. Hoặc đã từng có một thời gian khi Lâu đài trong Màn sương đã thống trị họ thậm chí còn mãnh liệt hơn nó làm bây giờ?

    “Ta không có ý làm cháu bối rối,” trưởng lão nói. “Ta chỉ có thể nói chút ít về quá khứ, vì rất nhiều kiến thức của chúng ta đã bị mất từ thời xa xưa. Có rất nhiều điều ngay cả ta cũng không hiểu. Nhưng, Ico, có một điều ta có thể nói với sự chắc chắn.” Trưởng lão lắc nhẹ vai Ico. “Hôm nay cháu mang hy vọng của chúng ta trên lưng cháu khi cháu đi đến lâu đài. Ta xin lỗi ta không biết điều gì chờ đợi cháu ở đó hay điều gì cháu phải đối mặt. Nhưng ta biết rằng cháu sẽ chiến thắng. Bởi vì ta biết rằng cháu một ngày nào đó sẽ trở về từ lâu đài và trở về làng chúng ta.”

    Ico không thể tin được điều mình đang nghe. Một Vật tế… trở về lại nhà ư?

    “Bây giờ hãy đi đến lâu đài và xem điều gì ở đó bằng đôi mắt của cháu. Lắng nghe với đôi tai cháu. Cháu sẽ chiến thắng.” Những lời của trưởng lão vang dội trong trái tim Ico. Chúng rơi xuống sâu thẳm nơi cái hồ bên trong cậu, dâng lên trở lại trong âm thanh chiến thắng vang dội.

    Vẫn quỳ trên đầu gối, Oneh nghiêng tới và ôm Ico. “Chúng ta sẽ đợi con,” bà nói qua nước mắt. “Chúng ta sẽ đợi con về nhà. Đừng bao giờ quên điều đó.”

    Một cơn run rẩy chạy qua người Ico. Cậu không còn lạnh hay hoảng sợ nữa – nó là thứ gì đó khác, ngân vang trong cậu, lấp đầy cậu với sự tự tin.

    “Là Toto đã tìm thấy những lời cầu nguyện được dệt lên tấm Phù hiệu cháu mặc.”

    Đôi mắt Ico mở to. Cậu tóm lấy ống tay áo dài của trưởng lão. “Toto ổn chứ ạ? Cậu ấy đã đến dãy núi, phải không?”

    Nụ cười của trưởng lão nhạt đi, và gương mặt ông khoác lên một vẻ nghiêm trọng. “Phải. Toto đã đến cùng dãy núi mà chúng ta đến và thấy cùng cảnh tượng.” Thành phố kinh khủng đó.

    “Và lời cầu nguyện này – nó đến từ thành phố ạ?”

    Trưởng lão gật đầu.

    Ký ức của Ico về thành phố được bao bọc bởi đá dâng lên lại trong đầu cậu. Cậu tự hỏi Toto đã đi đâu ở những đường phố đầy tro đó. Cậu ấy đã bước đi ở đâu, và cậu ấy tìm thấy lời cầu nguyện như thế nào?

    “Ta xin lỗi đã nghi ngờ ý định của cháu,” trưởng lão nói, giọng ông khàn khàn.

    Ico lắc đầu. Cậu không quan tâm về điều đó nữa. “Toto ổn chứ ạ?”

    “Thằng bé ổn.” Câu trả lời nhanh chóng của trưởng lão không cho hỏi thêm gì.

    Ico nhìn vào đôi mắt ông. “Khi cháu trở về từ Lâu đài trong Màn sương, cháu sẽ lại thấy cậu ấy, phải không?”

    “Dĩ nhiên.”

    Ico cắn môi. Cháu e là không.

    Oneh đứng dậy, lau những giọt nước mắt dọc trên mặt bà với một ống tay áo. Thấy cái nhìn kiên định trên gương mặt Ico làm bà thoải mái. Bà mỉm cười. “Giờ, Ico,” bà nói, “con phải trả lại tấm Phù hiệu của con cho ta.”

    Bà gọi tên cậu giống như bà từng khi cậu sống ở nhà họ. Ico, người con lại đầy bùn rồi. Thay quần áo ngay. Bữa tối sẽ sẵn sàng nhanh thôi.

    “Con không thể mặc nó ư?”

    Một ánh nhìn bí ẩn đi từ đôi mắt trưởng lão và ông mỉm cười với thằng bé. “Thực ra,” ông nói, “đó là nhiệm vụ của thầy tu để đặt tấm Phù hiệu lên người Vật tế ở lễ khởi hành của cháu. Chúng ta chỉ mang nó đến đây cho cháu bởi vì chúng ta muốn được thấy bằng chính mắt mình rằng tấm Phù hiệu thực sự là của cháu, rằng cháu là người được chọn, và rằng cháu phù hợp để mặt nó.”

    “Đó là tại sao,” Oneh tiếp tục, “khi con nói chuyện với thầy tu, con không được đề cập rằng chúng ta đã gặp ở đây sáng nay, và con phải không vì bất cứ lý do gì mà nói với ông ấy rằng tấm Phù hiệu của con đặc biệt, rằng nó không giống những tấm khác.”

    Ico gật đầu, nhưng cậu chợt lóe lên một suy nghĩ. “Trưởng lão. Thầy tu đến từ thủ đô sẽ không hài lòng khi biết tấm Phù hiệu của cháu đặc biệt, giống như ngài và mẹ ư? Tại sao cháu phải giữ kín điều đó?”

    “Cháu thông minh,” trưởng lão đáp, né tránh câu hỏi. “Sự thông minh của cháu là kiến thức. Nó rơi vào cháu để tìm kiếm sự can đảm từ lâu có quan hệ với kiến thức này và cho chúng ta ánh sáng một lần nữa.”
     
    meo_mupxiaofang thích bài này.
  9. Magic Purple

    Magic Purple Gà BT Nhóm Chuyển ngữ

    Bài viết:
    1.252
    Được thích:
    1.345
    Đã thích:
    1.150
    GSP:
    397p
    Chương 1

    [8]
    Ba con ngựa đen đi theo một hàng, giẫm lên cỏ khô dưới móng guốc của chúng.

    Thầy tu đã đến Làng Toksa, được hộ tống bởi hai lính gác điện thờ. Những cánh đồng lấp lánh dưới ánh mặt trời rực rỡ, và một cơn gió nhẹ làm lá cây kêu xào xạc.

    Sự im lặng buông xuống làng. Mọi người ăn mặc chỉnh chu cho buổi nghi lễ và quét dọn đường xá, nơi mà họ quỳ xuống để chào mừng đoàn tùy tùng. Mọi người kiệt sức – trẻ em vì phải nhảy múa và ca hát đến khi Oneh hoàn thành việc dệt tấm Phù hiệu, người lớn vì đứng canh gác ngày và đêm. Hơn một đứa trẻ ngủ ngon lành trên lưng mẹ chúng.

    Họ đã kiên nhẫn quá lâu, và bây giờ sự kết thúc đang gần bên. Một khi thầy tu đến và đi, cuộc sống của làng sẽ trở lại bình thường.

    Nói lớn, chỉ chỏ bất cứ ai trong đoàn tùy tùng hoàn toàn bị cấm. Cũng không được phép nhìn thẳng vào họ hay ngựa của họ.

    Sau khi đoàn tùy tùng đã chào hỏi trưởng lão và vợ ông trước nhà trưởng lão, họ bắt đầu chuẩn bị cho nghi lễ khởi hành. Từ điểm này trở đi, chỉ có trưởng lão, vợ ông, và ba thợ săn đặc biệt được chọn sẽ được cho phép tham gia tiến trình. Những dân làng còn lại buộc phải ở trong nhà, im lặng, những cánh cửa sổ của họ đóng lại.

    Thầy tu cởi bỏ chiếc áo choàng đi đường màu đen của mình, để lộ bộ áo choàng trắng tinh khiết bên dưới. Từ một chiếc túi yên bằng da, ông rút ra một chiếc áo thụng dài được dệt với một họa tiết phức tạp và một bình nhỏ đựng nước thánh. Ngâm một lời cầu nguyện, thầy tu chạm những đầu ngón tay của ông lên vai, ngực và viền của chiếc áo thụng.

    Nghi lễ khởi hành là một sự kiện tốt đẹp, gần như vui vẻ - mặc dù sự xuất hiện kỳ lạ của thầy tu, đầu ông bị một tấm vải che đi đến tận vai, không có những lỗ trống cho mắt ông hay thậm chí mũi của ông. Tấm vải được làm từ một chất liệu dệt thưa mà thầy tu có thể nhìn qua được, nhưng không ai có thể nhìn vào.

    Hai lính gác điện thờ đi theo sau ông một khoảng ngắn. Họ mặc áo giáo đi đường nhẹ được tạo hình từ những chuỗi xích và da thuộc, với hai thanh kiếm treo bên thắt lưng của họ và những đôi ủng da dệt cứng trên chân họ. Gương mặt họ cũng bị che bởi những chiếc mũ sắt bạc – những chiếc mũ sắt có sừng.

    Một người có đôi sừng giống y của Ico, trong khi người kia chỉ giống với của Ico về kích thước và vị trí, nhưng với đầu xoay xuống vai thay vì hướng lên.

    Đây không phải là cách ăn mặc đặc trưng của lính gác điện thờ. Thậm chí trưởng lão chỉ thấy những chiếc mũ sắt này một lần trước đây, trong một bức tranh minh họa trong một trong những cuốn sách của ông. Họ chỉ phải mặc vào Thời điểm Hiến tế.

    Di chuyển một cách chậm chạp, thầy tu rút ra cây quyền trượng của mình ở bên thắt lưng và giơ nó lên ngang tầm mắt. Một quả cầu tròn trên đỉnh của nó lấp lánh dưới ánh sáng mặt trời. Sau đó ông bước vào một vòng tròn ngay bên trong cổng làng, dùng cây quyền trượng của ông để vẽ một đường lên nền đất. Ông đi về phía đông, tây, bắc và nam của vòng tròn, dừng lại ở một chỗ để yêu cầu sự giúp đỡ của những linh hồn đất những người canh gác các hướng chính, và gõ nhẹ lên mặt đất với đầu của cây quyền trượng. Với tấm vải kéo qua đầu thầy tu, trưởng lão không thể nào nhận biết được những lời nói.

    Thầy tu quỳ xuống trung tâm của vòng tròn và bắt đầu cầu nguyện. Ngay cả hai người lính canh điện thờ cũng lui lại xa hơn đến nơi trưởng lão quỳ bên cạnh Oneh, bà đang run dữ dội đến nỗi gần như đổ sụp.

    Trưởng lão vươn tới, và với đầu ngón tay của ông, nhẹ nhàng chạm vào tấm Phù hiệu được gấp gọn gàng trên tay bà. Cử chỉ đó có vẻ làm bà bình tĩnh lại.

    “Ông có thể mang Vật tế đến đây,” thầy tu nói, quay mặt sang trưởng lão. Trưởng lão nhìn quanh và giơ cánh tay về phía một trong những thợ săn đang đứng đợi. Người thợ săn ngay lập tức xoay đi và xuống đường đi tới hang.

    Chốc lát sau, Ico xuất hiện.

    Ba người thợ săn đi với cậu, một đi trước và hai đi phía sau. Tất cả bọn họ mặc trang phục đặc biệt dành riêng cho lễ hội mùa màng. Trên lưng mình họ mang cung tên chưa từng khai hỏa và mũi tên với đầu chưa bao giờ nếm vị máu. Họ không có kiếm, nhưng mỗi người mang một cây đuốc. Những cây đuốc nổ lép bép và làm xông lên một làn khói đen như mực trong ánh sáng ban ngày.

    Ico đã tắm rửa và thay quần áo đơn giản rồi – một chiếc áo sơ mi đỏ bằng sợi gai và quần dài trắng vải thô. Trên chân mình, cậu mang đôi giày da thoải mái của mình, mòn đi sau vài năm sử dụng. Đôi môi cậu tạo thành một đường thẳng trên mặt cậu. Ico dừng lại ngay trước vòng tròn trên mặt đất.

    “Tới đây,” thầy tu ra lệnh. “Tới và quỳ trước ta.”

    Ico làm theo lời ông bảo. Phía sau họ, trưởng lão nhận thấy một giọt nước mắt từ gương mặt cúi xuống của Oneh.

    Thầy tu gõ nhẹ lên cả hai vai Ico bằng cây trượng của mình, sau đó chạm nhẹ đầu của nó lên đầu cậu, tụng kinh cầu nguyện suốt thời gian đó.

    “Đứng dậy.”

    Ico đứng dậy, và thầy tu chạm vào cả hai bên thắt lưng cậu, sau đó đầu gối trái và phải của cậu.

    “Xoay vòng.”

    Ico xoay. Trưởng lão có thể cảm thấy cái nhìn chằm chằm của cậu lên mình. Không thể lên tiếng, trưởng lão thì thầm những lời động viên trong tim mình. Cạnh ông, Oneh đấu tranh để giữ bản thân không nhìn lên.

    Thầy tu gõ lên hai vai Ico một lần cuối, sau đó chạm cây quyền trượng vào thắt lưng cậu.

    “Xoay lại và quỳ xuống.”

    Thầy tu nâng lọ nước thánh lên và vẩy nó qua đôi sừng của Ico.

    Những vết ẩm nhỏ tạo nên trên bộ quần áo mới của Ico ở nơi mà nước bắn tung tóe.

    Thầy tu đưa cái lọ rỗng cho một trong những người lính gác, sau đó giữ cây quyền trượng bằng hai tay, đặt ngang so với mặt đất. Ông mang nó lên độ cao của vai cậu, nâng nó qua đầu cậu khi ông tụng một lời cầu nguyện mới.

    Đột nhiên một tia sáng rực rỡ lấp lánh theo vòng tròn mà thầy tu đã vẽ trên mặt đất – như thể một vòng bạc đã lơ lửng từ mặt đất phía dưới họ.

    Với một tiếng whoosh, vòng tròn biến mất.

    Ico đứng dậy, mắt mở to. Thầy tu chầm chậm hạ thấp hai cánh tay mình và, giữ thẳng đứng cây quyền trượng, mang nó đến trước ngực ông. Đầu của cây quyền trượng lấp lánh.

    “Nghi lễ hoàn thành. Cậu ta chính là Vật tế thực sự và đúng đắn. Máu trở lại với máu, thời gian trôi qua, và Thần Mặt Trời chỉ ra con đường mà chúng ta những con người phải đi.”

    Thầy tu xoay sang đối mặt với trưởng lão, biểu hiện của ông giấu dưới tấm vải.

    “Tấm Phù hiệu.”

    Trưởng lão lê chân tiến về phía trước trên hai đầu gối của mình, đầu cúi thấp, và duỗi hai cánh tay của mình xa hết sức để ông có thể đưa cho cho thầy tu tấm vải được thêu.

    Thầy tu nhận nó và giữ nó giữa hai tay. Sau đó ông dừng lại.

    Trưởng lão có thể cảm thấy máu chảy lên đầu ông. Trái tim ông đập trong cổ họng ông.

    Liệu ông ấy có chú ý rằng tấm Phù hiệu này khác biệt thì sao? Liệu ông ấy nhận ra rằng nó chỉ được làm cho Ico thì sao?

    “Bước lên trước, Vật tế,” thầy tu nói. Ông đặt tấm Phù hiệu lên đầu Ico.

    Tấm Phù hiệu xếp nếp trên ngực và lưng Ico, trao sự sống cho bộ quần áo đơn giản kia của cậu. Trưởng lão phải thừa nhận, nó trông đẹp đẽ trên người cậu. Một cơn gió nhẹ thổi qua làng, nâng mép của tấm tunic lên, và khi nó lắng xuống lại, nó dường như trở thành một phần của cơ thể mảnh khảnh của Ico.

    Đôi mắt đen của cậu nhìn không chớp mắt vào cái đầu bị che đi của thầy tu.

    “Đến lúc phải rời đi,” thầy tu thông báo. “Mang ngựa lại.”


    Trưởng lão và Oneh đứng ở cổng làng, nắm tay, quan sát đến khi đoàn tùy tùng của thầy tu đi khỏi tầm mắt.

    “Thằng bé sẽ trở lại, phải không?” Oneh thì thầm vào tai chồng, giọng bà đẫm nước mắt.

    “Phải,” ông trả lời dễ dàng. Tấm Phù hiệu sẽ bảo vệ nó. Nó phải thế.


    Khi trên lưng ngựa, những lính gác điện thờ lấy xích sắt còng cổ tay Ico lại. Ico với thầy tu ngồi sau cậu cưỡi trên cùng một con ngựa. “Cậu không được nói chuyện trong chuyến đi,” thầy tu nói với cậu. “Thậm chí nếu cậu nói gì đó, chúng ta sẽ không trả lời. Cậu phải theo mệnh lệnh của chúng ta. Chúng ta sẽ mất năm ngày để đến Lâu đài trong Màn sương. Chúng ta sẽ cưỡi ngựa với cậu trên toàn bộ đoạn đường, nhưng hãy biết rằng nếu chúng ta thấy cậu muốn làm bất cứ điều gì khác thường, chúng ta sẽ chém cậu ngay lập tức. Cậu đã được cảnh báo.”

    Ico trả lời rằng nó không có ý đi bỏ chạy, nhưng thậm chí thầy tu dường như chẳng lắng nghe khi ông giữ dây cương.

    Với xiềng sắt trên cổ tay cậu và sợi xích giữ chúng gần nhau, Ico không thể bám lên cổ con ngựa. Nếu con ngựa quyết định dừng lại sau khi phi nước đại, cậu có thể sẽ ngã. Tuy nhiên chưa có dấu hiệu nguy hiểm gì bởi tốc độ cả. Hai người lính gác cho những con ngựa đi đều đều nhưng chậm. Họ không nói một lời nào với nhau, họ cũng dường như không tham khảo bất kỳ tấm bản đồ nào.

    Đoán là họ biết đường, Ico nghĩ.

    Họ vượt qua vùng đồng cỏ, tiến về phía bắc theo cùng con đường mòn Ico đã đi cùng trưởng lão. Những ký ức ngập tràn đầu Ico. Chỉ những suy nghĩ về việc thấy lại thành phố đá ngoài Núi Cấm làm cậu lạnh người.

    Mình tự hỏi Toto đang như thế nào? Mình ước mình gặp được cậu ấy trước khi rời đi.

    Họ tới được chân núi trước trời tối, nhưng đoàn tùy tùng đổi hướng khỏi con đường nhỏ Ico và trưởng lão đã đi. Họ theo chân đồi về hướng tây một lúc, dừng lại nơi rừng cây rậm rạp.

    “Gần đây có một con suối. Hãy để ngựa nghỉ ngơi đi,” thầy tu ra lệnh, xuống ngựa phía sau ông. Một trong những lính gác đến và bế Ico xuống ngựa, tiếp tục giữ sợi xích gắn với xiềng sắt của Ico trong khi người lính gác kia dẫn ngựa đi uống nước.

    Thầy tu nhìn lên cánh rừng bao phủ sườn núi, sau đó ông rút cây quyền trượng của mình ra và bắt đầu cầu nguyện. Có lúc, ông đẩy mạnh hai cánh tay trực tiếp qua đầu về phía bầu trời, và đầu của cây quyền trượng phát sáng rực rỡ.

    Ico há hốc. Ở nơi trước đó không có gì ngoài cánh rừng rậm rạp, những nhánh cây tách ra với một âm thanh xào xạc lớn, để lộ một con đường lên núi.

    Một câu thần chú bảo hộ. Ico đã nghe về những điều này trong các câu chuyện. Một bùa chú được đặt trên đường này mà chỉ thầy tu có thể tìm thấy nó.

    Cánh rừng chết im lặng, ngoại trừ tiếng lộp cộp của móng ngựa trên những tảng đá trắng của con đường. Ico tự hỏi họ đã đi bao xa khi họ đến một khu rừng thưa nhỏ và cậu nhận ra ngôi sao đầu tiên của buổi tối trên đầu họ.

    Họ cắm trại ở đó đêm đó, bên kia sườn núi, để đôi chân họ nghỉ ngơi quanh một đống lửa trại nhỏ khi họ làm bữa tối. Ico ăn đầu tiên. Họ không tháo xích của cậu, vì vậy cậu phải dựa vào cái tô của cậu như một con chó.

    Oneh sẽ nói chuyện với mình nếu bà ấy thấy mình ăn như vậy ở nhà.

    Khi Ico ăn xong, một trong những người lính gác tiến đến và nhanh chóng trùm một cái bao bố qua đầu Ico. Cậu cảm thấy xích cuốn quanh chân mình.

    “Cậu nên nghỉ ngơi. Trước bình minh chúng ta sẽ đi lại đi tiếp.”

    Trong bóng tối bên trong cái bao bố, Ico căng tai lên. Tất cả những gì nó có thể nghe thấy là tiếng gió.

    Những lính canh này hẳn là phát điên, phải giữ im lặng như thế.

    Ico nhận ra rằng họ có lẽ sẽ phải tháo những cái mũ che đầu của họ xuống để ăn – đó là lý do tại sao họ đã che đi đôi mắt cậu. Mình không được thấy mặt họ.

    Ico ngủ trên cỏ, thỉnh thoảng nghe thấy tiếng khụt khịt của ngựa.


    Họ vượt qua Núi Cấm mà không thấy con đường Ico đã đi trước đây hay thành phố đá. Bên ngoài, họ tìm thấy những cánh đồng cỏ và những ngọn đồi nghiêng thoai thoải. Vào ngày thứ ba, họ lội qua một con sông. Khi họ đi khỏi dãy núi âm thanh của cuộc sống lại trở về.

    Tuy nhiên, có một sự vắng mặt đáng chú ý của người và làng mạc. Tất cả những gì Ico có thể thấy theo mỗi hướng là bãi cỏ, cây cối và thỉnh thoảng là chim chóc.

    Để cho mình chút thoải mái trên đường đi, Ico đã quyết định làm bạn với những con ngựa. Khi họ dừng lại để nghỉ ngơi, cậu sẽ lẻn tới chỗ chúng và vỗ nhẹ cổ chúng. Tất cả ba con ngựa đều khỏe mạnh và sung sức và bước đi nhẹ nhàng mà không để lộ dấu hiệu của sự mệt mỏi. Những con ngựa này được đối xử tốt hơn những con ngựa họ dùng để làm nông ở Toksa nhiều.

    Một trong những người lính gác – người với đôi sừng xoay xuống trên mũ sắt của ông ấy – sẽ để Ico chạm và nói chuyện với những con ngựa. Nhưng người kia, khi ông ta chú ý, sẽ ngay lập tức nhảy lên và hung dữ ném Ico đi. Một lần, khi ông ấy đẩy cậu mạnh đến nỗi Ico đã ngã ra mặt đất.

    Thầy tu, về phần ông, chỉ nhận biết sự tồn tại của Ico. Ico không nghĩ thầy tu từng nhìn cậu lấy một lần. Giữa tấm vải trên đầu ông, những ống tay áo dài của ông, và đôi giày dệt cao, Ico không thể thấy được da của người đàn ông. Đôi khi, cậu tự hỏi liệu thực sự có một người ở dưới lớp áo choàng đó không.

    Vào ngày thứ tư, Ico phát hiện ra một mùi thơm tò mò trong không khí, toàn bộ đều lạ lẫm với cậu, và khác với từ những khu rừng và những cánh đồng cỏ mà họ đã vượt qua. Ico ngửi ngửi không khí, và người lính canh với đôi sừng chĩa xuống, người đột nhiên cưỡi ngựa kế bên, thì thầm, “Đó là mùi của biển.”

    Ico cảm thấy sự bồn chồn của thầy tu, và có một tiếng rắc lớn. Người bảo vệ nhanh chóng kéo dây cương và lùi lại phía sau họ. Trong vài bước, tiếng móng ngựa do dự, nhưng chúng nhanh chóng lấy lại nhịp điệu bình thường của chúng.

    Gần biển có nghĩa là gần lâu đài.

    Vào buổi sáng ngày thứ năm, họ đang đi theo một con đường thoai thoải qua một cánh rừng gỗ cứng khi Ico nhận ra những con chim trắng bay lượn vòng tròn trên đầu. Giờ đây mùi của biển đã mạnh hơn trong không khí.

    Những con chim biển. Mình ước Toto ở đây để thấy chúng.

    Chẳng bao lâu, Ico nghe thấy âm thanh của gió. Ít nhất, rằng đó là thứ cậu nghĩ nó là – nhưng không có khuấy động trong không khí qua khu rừng quanh họ. Khi cậu nghe gần hơn, cậu có thể nghe thấy nó đập tới, sau đó trượt đi. Chúng hẳn là những con sóng!

    Con đường đi lên đồi, nhanh chóng trở nên rất dốc. Những con ngựa hý lên với sự cố gắng. Trên đỉnh đồi, khu rừng tách ra về hai hướng.

    Giờ đây họ có thể thấy bầu trời. Bên trên những con sóng vỗ, Ico nghe thấy một trong những lính gác thở hổn hển.
     
    meo_mupconruoinho thích bài này.
  10. Magic Purple

    Magic Purple Gà BT Nhóm Chuyển ngữ

    Bài viết:
    1.252
    Được thích:
    1.345
    Đã thích:
    1.150
    GSP:
    397p
    Chương 2. Lâu đài trong Màn sương

    [1]

    Họ đã tới bìa rừng.

    Chim chóc ríu rít trong ánh nắng mặt trời, và từ đâu đó phía trên cao xuất hiện tiếng kêu sắc bén của một con chim ưng đang đuổi theo con mồi của nó.

    Hai cột đá bị phong hóa sừng sững dưới ánh sáng lốm đốm xuyên qua đám lá ở bìa rừng. Dấu vết mặt đất bị giẫm nhẹ mà họ đang theo kết thúc ở đây tại một cầu thang đá dẫn vào một khu rừng thưa.

    Người lính gác đi trước thúc con ngựa của ông tiến lên, và đôi móng guốc leo núi của nó tạo một tiếng lách cách lớn trên đá. Những bậc thang bị phong hóa ở các mép. Một vài tảng đá phủ rêu, và số khác đã hoàn toàn biến mất, nhưng không nghi ngờ chúng đã được đặt ở đó bởi những bàn tay con người.

    Con ngựa chở Ico và thầy tu đi theo, dây cương của nó kêu lách cách, một giọt mồ hôi lấp lánh trên cổ nó. Ba con ngựa đứng cạnh nhau trên bậc thang đá vỡ họ tìm thấy trên đỉnh cầu thang. Ico nheo mắt dưới ánh nắng chói chang, cảm thấy một cơn gió nhẹ lướt qua mặt cậu. Một cơn chóng mặt đột ngột đến với Ico khi cậu nhận ra họ thực sự đứng trên đỉnh của một vách đá cao chót vót nhìn ra biển.

    Xa xa phía dưới, mặt nước lấp lánh trong ánh mặt trời. Đó là lần đầu tiên Ico ở biển – nhưng cậu không dành chú ý đến sự hiền hòa của dòng chảy hay sự lấp lánh của những con sóng trắng đổ vào chân vách đá. Vùng nước chỉ là một vịnh nhỏ, và tất cả sự chú ý của Ico được tập trung vài thứ nằm trên đỉnh bên kia của một vách đá khác giống như vách đá chỗ họ đứng.

    Một lâu đài đồ sộ bằng những tảng đá to lớn thô kệch, một hình bóng đen thẫm dựa vào bầu trời pha lê xanh, chiếm lĩnh lấy khung cảnh. Lâu đài không mọc lên như phát triển từ bề mặt vách đá mặc dù bản thân nó được tạc từ đá. Nó gần như là kiểu sai lầm nào đó của tự nhiên đã tạo nên khối đá bị xói mòn thành hình dáng của một lâu đài mà con người có thể xây dựng nên. Nó trông vững chắc. Những đường cong duy nhất trong cấu trúc của nó là những cột nghiêng tao nhã chống đỡ bức tường bên ngoài, chân của chúng được cắm chắc chắn dưới những con sóng.

    Ico không thể tưởng tượng thứ gì đó trông khác lạ hơn Lâu đài trong Màn sương mà cậu đã thấy trong những giấc mơ và cơn ác mộng của mình. Có lẽ đó là bầu trời xanh trong trên đầu hay âm thanh vui vẻ của chim chóc trên cây. Tuy nhiên, không có gì u ám, khiếp sợ, hay thậm chí hơi giống điềm xấu về lâu đài trên đỉnh vách đá. Nó đẹp đẽ, thậm chí tao nhã – một dinh thự nguy nga, cổ xưa.

    “Vậy đây là nó…” người lính gác với đôi sừng chĩa lên trên chiếc mũ sắt của mình thốt ra.

    Con ngựa chở thầy tu và Ico hý vang và giơ hai chân trước của nó lên, mang sự chú ý của Ico trở lại với mặt nước. Một cơn gió biển mạnh thổi, làm gợn sóng mép của tấm Phù hiệu nơi nó rũ xuống qua ngực và lưng cậu. Bên kia của lâu đài đối mặt với họ sừng sững một cổng đá lớn, những cánh cửa của nó mở rộng. Nhưng không có cách nào để tới chỗ nó.

    Ico nhận ra rằng bậc đá mà giờ họ đứng trên đó đã từng là một phần của một cây cầu dẫn đến lâu đài. Cây cầu đã từng đủ rộng lớn cho ba con ngựa đi qua theo hàng ngang. Nhưng giờ đây, chỉ vài bước phía trước, tảng đá kết thúc. Cậu giữ một tay qua đôi mắt mình để che chúng khỏi mặt trời và nhìn thấy phần kết thúc bên kia của cây cầu ở chân cổng lâu đài. Nó cũng kết thúc bất ngờ nơi những vách đá bắt đầu. Giữa họ, chỉ có bầu trời.

    Ngươi không được vào.

    Ngươi không được rời đi.

    Vịnh nhỏ giữa hai vách đá tạo thành một hào nước ấn tượng hơn bất cứ hào nước nào được tạo bởi con người.

    Lần đầu tiên từ lúc đến, Ico nhận thấy một vẻ kỳ quái không thể phủ nhận được với khung cảnh xinh đẹp. Khi đôi mắt cậu thích nghi với ánh sáng, cậu chú ý rằng mặc dù bầu trời xanh ở trên đầu, một đám mây trắng mỏng treo trên mỗi phần của lâu đài. Sao mình không phát hiện điều đó từ trước nhỉ?

    “Xuống vách đá,” thầy tu nói từ sâu thẳm cái mũ trùm đầu của mình. Ông kéo dây cương, dẫn con ngựa của họ sang bên trái của bậc thang, nơi Ico phát hiện ra một đỉnh đèo dốc quanh co thẳng xuống vách đá. Ba con ngựa đi theo hàng một xuống con đường đất bị giẫm đạp không đáng kể. Không rào chắn, hay bất cứ thứ gì khác để ngăn cản họ khỏi sẩy chân một cái là bay vèo xuống mép, thế nhưng thầy tu vẫn nắm cương nhẹ nhàng.

    Toàn bộ đường đi xuống, Ico nghển cổ để nhìn lên lâu đài. Cậu không thể rời mắt khỏi nó. Một tia sáng thu hút mắt cậu – ánh nắng mặt trời phản chiếu từ hai khối cầu lớn ở trên đỉnh cột mỗi bên của cổng chính.

    Ico cảm thấy một sự xôn xao trong ngực mình.

    Ngươi đã đến với ta.

    Cuối cùng.

    Chẳng mấy chốc cánh cổng ở cao phía trên họ và mặt biển gần bên dưới. Những con chim biển trắng nhảy lò cò từ tảng đá này sang tảng đá khác, và những xoáy nước cuộn xoáy trong vịnh. Một kết cấu đá nhỏ đứng ở chân vách đá, mái của nó được chống đỡ bởi những cây cột mảnh khảnh. Không khí mát mẻ dưới bóng của vách đá, và bụi nước từ những tảng đá để lại một sự ớn lạnh mỏng manh trên hai cánh tay trần của Ico.

    Những người cùng đi xuống ngựa. Một cầu tàu bằng gỗ ngắn với những cây cọc mục nát kéo dài vào mặt nước phía trước kết cấu đá. Bên cạnh nó, một chiếc thuyền có mái chèo nhỏ đã được kéo lên bờ. Trong khi hai người lính gác di chuyển chiếc thuyền đến một cái kênh nước nhỏ dẫn vào vịnh, thầy tu đứng trên một mô đất trồi lên, nhìn ra biển.

    Ico căng đôi tai lên, nghĩ rằng cậu có thể nghe thấy những từ của lời cầu nguyện của thầy tu, nhưng nếu ông ấy nói bất cứ điều gì, nó lại bị mất đi trong tiếng gầm của sóng.

    Khi chiếc thuyền sẵn sàng, hai người lính gác vẫy họ lên thuyền. Khi Ico tiến đến đuôi thuyền, một trong hai người giơ tay ra để giúp cậu lên, nhưng thay vì thế Ico nhảy, hạ cánh trực tiếp ở giữa thuyền nhẹ nhàng đến nỗi chiếc thuyền không hề rung lắc trong nước.

    Ico cho rằng người lính gác đang cười bên trong chiếc mũ sắt của mình – cùng cách mà Oneh sẽ cười bất cứ khi nào bà thấy Ico nhảy hay leo trèo.

    “Nhẹ nhàng như vậy hẳn là rất tuyệt ,” bà sẽ nói.

    Nhưng dù cho người lính gác mang biểu hiện gì, nó không thể kéo dài lâu. Ông xoay lưng lại với Ico, một linh cảm hối tiếc rõ ràng sau lưng ông.

    Chèo thuyền là nhiệm vụ của người lính gác kia. Thầy tu ngồi ở mũi thuyền, vẫn hoàn toàn bất động, ngoại trừ chuyển động truyền đi do nước phía dưới họ. Một con chim biển với nhúm lông trắng tinh phía trước ngực nó và một cái mỏ đỏ lướt qua những con sóng về phía chiếc thuyền nhỏ của họ, chỉ vừa bay là là trên đầu thầy tu. Dù vậy, ông vẫn không rùng mình. Ico quét hai cánh tay mình bên mạn thuyền, chạm vào dòng nước chảy qua. Qua những con sóng trong suốt cậu thấy những hình dáng của cá bơi phía dưới.

    Họ cắt qua dòng chảy của thủy triều, từ từ tiến về phía bờ đối diện. Ico nhìn lên lại về phía lâu đài. Bầy trời được tách ra thành những đường cong mềm mại bởi những khung cửa tò vò cao mọc lên giữa những cột đá của bức tường bên ngoài. Người lính gác chèo thuyền về phía bên trái của lâu đài, và chẳng mấy chốc bức tường bên bắt đầu xuất hiện trong tầm mắt. Ico nhận ra rằng lâu đài không phải là một cấu trúc đơn lẻ mà đúng hơn là một bộ sưu tập của vài ngọn tháp. Những đường ống màu đồng và những đường đắp cao bằng đá hẹp kéo dài từ những bức tường tháp, trải dài qua những khe hổng để nối các ngọn tháp lại với nhau. Lâu đài rộng lớn đến nỗi Ico nhận thấy thật khó để nhìn hết nó một lần.

    Lúc trước khi chiếc thuyền trượt vào dưới bóng của lâu đài, Ico thấy những quả cầu trước cổng chập chờn một lần cuối cùng.

    Khi họ đến gần bờ, chiếc thuyền đổi hướng xa hơn về bên trái, tiến đến bên kia của lâu đài. Từ đây, không thể nào nói được đâu là nơi những vách đá dốc đứng phía trên họ kết thúc và Lâu đài trong Màn sương bắt đầu. Lâu đài này đang trở thành một phần của mặt đất phía dưới nó ư, Ico mơ màng tự hỏi, hay những vách đá đang từ từ nuốt toàn bộ lâu đài?

    “Tiến vào hang động,” thầy tu gọi từ mũi thuyền, giơ tay lên và chỉ. Phía trước, một cái hang mở ra trên mặt đá. Cái hang trông giống như có được tạo nên tự nhiên, nhưng nó được gia cố thêm ở bên kia với bằng những cột đá. Người lính gác xoay thuyền về phía lối vào.

    Khi họ chèo vào trong, bóng tối buông quanh họ. Con thuyền thận trọng tiến tới, một đứa trẻ sợ bị khiển trách, và âm thanh của sóng biển biến mất.

    Phía trước họ, một khung lưới sắt được làm từ những khúc gỗ to buộc vào nhau chắn đường của họ. Thầy tu nhìn lên những tảng đá bên phải và gọi người lính gác với đôi sừng chĩa xuống. “Bây giờ.”

    Người lính gác nhẹ nhàng nhảy từ thuyền lên rìa đá của hang động và biến mất vào bóng tối. Con thuyền tiếp tục trôi về phía trước, và chỉ khi mũi thuyền sắp sửa chạm phải những khúc gỗ, toàn bộ khung lưới sắt được nâng lên khỏi những con sóng với một tiếng ồn cọt kẹt lớn, cho phép họ đi qua.

    Người lính gác xuất hiện lại ở đầu bên kia hang và nhảy trở lại trên thuyền với một tiếng thịch lớn.

    Không lâu sau đó, một cầu tàu gỗ nho nhỏ trông rất giống như cầu tàu nơi họ vừa rời khỏi dần dần xuất hiện trước mắt họ. Nó thậm chí còn giống với cái cầu tàu khác trên đường đi mà những cọc gỗ của nó đã mục rữa, để lại những tấm ván phía trên nghiêng bề phía mặt nước.

    Thầy tu là người đầu tiên lên bờ khi họ tới được cầu tàu. Người lính gác phía sau Ico đẩy nhẹ vào lưng cậu. Mặc dù họ vẫn ở bên trong hang động, trần ở đây cao hơn nhiều, và cái hang dường như mở rộng xa hơn về phía trước. Một con đường cát dẫn đi từ cầu tàu, tách ra thành bên phải và bên trái.

    “Lấy thanh kiếm,” thầy tu nói.

    Người lính gác với đôi sừng chĩa xuống gật đầu và đi xuống lối đi bên phải, biến mất dưới một hành lang bằng đá.

    Ico đứng kiểm tra chỗ xung quanh cậu đến khi thần tu gõ lên vai cậu, ra dấu rằng cậu nên đi xuống lối đi bên tay trái. Họ bắt đầu đi, cát ẩm tạo nên một âm thanh khôi hài không thích hợp xì xụp dưới đôi giày da của Ico.

    Một cái lỗ trống tròn mở ra trong bức tường hang. Họ đi qua, và mặt sàn dưới chân họ giờ trơn nhẵn. Họ không còn đi trên đá và đá cuội nữa; hành lang ở đây được tạc từ đá.

    Ico nhìn xung quanh, đôi mắt cậu mở to.

    Cậu chưa bao giờ ở trong một nơi như này trước kia. Nó tương tự như một đại sảnh, với những mặt bên dựng thẳng đứng lên như một ống khói. Bản thân căn phòng là một hình tròn hoàn hảo, và nó làm cậu đau cổ để nhìn lên trần nhà ở xa phía trên.

    Một cầu thang xoắn ốc, và vài chỗ có những chiếc thang, xếp thành hàng ở bức tường ngoài căn phòng và đã từng để cho ai đó leo thẳng lên phía trên. Nhưng khi Ico nhìn gần hơn, cậu thấy rằng những bậc thang đã rời khỏi vị trí.

    Một cột hình trụ to dựng lên từ trung tâm căn phòng, tiến thẳng lên trên đỉnh – mặc dù, khi Ico xem xét nó, phần cấu trúc quá rộng lớn đối với một cây cột. Nó hẳn là được đặt ở đây vì mục đích nào đó khác hơn là chống đỡ phần mái.

    Lối đi bằng phẳng trải dài đến giữa căn phòng và kết thúc tại cây cột trung tâm đó, nơi Ico nhận ra hai tượng đá, đại khái có chiều cao của con người. Hai bức tượng vuông vức, các mặt của nó chạm nhau ở những góc cạnh sắc nét, tuy nhiên chúng có những thứ trông giống như cơ thể, chân và thậm chí đầu, hoàn toàn với đôi mắt được tạc.

    Ico chưa bao giờ thấy những bức tượng như này ở bất cứ đâu quanh Toksa. Hình dáng của chúng tương tự như những bức tượng nhỏ mà những người đi xa cầu nguyện sự bảo trợ trên đường đi.

    Thầy tu từ từ tiến đến hai bức tượng. Người lính với đôi sừng chĩa lên trên đứng lại với Ico.

    “Cậu có lạnh không?” ông ấy hỏi bằng một giọng yếu ớt đến nỗi Ico có thể nói nó đến từ một hơi thở.

    Ico lắc đầu. Người lính gác không nói gì thêm, nhưng ông ấy chà xát hai cánh tay mình như thể để nó Ừm, tôi cũng vậy. Hoặc có lẽ cử chỉ của ông ấy có nghĩa là Tôi sợ.

    Những bước chân nặng nề tiến tới. Người lính gác kia đã trở lại. Ico giật mình khi thấy ông ấy cầm một thanh kiếm khổng lồ. Không nghi ngờ những bước chân của ông ấy đang được kéo lê. Thanh kiếm dài đến nỗi nếu người lính gác đặt mũi kiếm của nó lên mặt đất, cán của nó có thể cao tới vai ông ấy. Nó được bọc lại, mặc dù nó trông như hai lưỡi bởi hình dáng của nó, với một sợi xích gắn nơi chuôi kiếm. Cán kiến to như cổ tay của Ico, nó có màu bạc mờ của kim loại cũ.

    Người lính gác chần chừ, nhìn về phía thầy tu. Thầy tu gật đầu và biểu thị với hai tay rằng người lính gác nên đứng trước hai bức tượng. Người lính gác bước vài bước tới trước. Ông ấy liếc nhìn người lính gác kia, người đang đứng cạnh Ico. Gương mặt của cả hai người đàn ông đều được giấu kỹ dưới chiếc mũ sắt của họ, nhưng Ico nghĩ cậu có thể tưởng tượng biểu hiện của họ: họ đang kinh hãi.

    “Rút kiếm ra,” thầy tu yêu cầu. “Không có gì phải khiếp đảm.”

    Giữ lưỡi kiếm ngang với sàn, người lính gác nắm chặt cán kiếm bằng tay phải. Hai cánh tay của ông run run với sức nặng của lưỡi kiếm. Mặc dù lưỡi kiếm trông cổ, nó trượt khỏi bao kiếm mà không gây một tiếng động, giống như một lưỡi kiếm của một người lính được bôi trơn tốt.

    Một ánh sáng lóe lên trong ánh sáng mờ mờ của căn phòng.

    Ico nhắm đôi mắt lại và giơ hai tay lên trước mặt cậu. Ánh sáng truyền qua mí mắt cậu sáng nhức nhối.

    Cậu rụt rè mở mắt ra để xem và thấy người lính đang đứng, chân dạng ra, căng hai vai để giữ thanh kiếm ngang. Một ánh sáng rực rỡ tỏa ra từ lưỡi kiếm bao bọc lấy cơ thể người đàn ông. Ánh sáng rộng ra, bao bọc hai người lính gác, Ico, và thầy tu.

    Ico nhận ra rằng ánh sáng không chỉ đến từ lưỡi kiếm – hai bức tượng cũng tỏa sáng. Ánh sáng của chúng dội lại ánh sáng rực rỡ của thanh kiếm, và cả hai tỏa sáng hơn đến khi một tia sáng đi từ một bức tượng sang bức tượng kia và chúng đâm xuống ở giữa với một tiếng rắc lớn, tách ra để lộ một lối đi bên ngoài. Ánh sáng mờ đi.

    “Bọc thanh kiếm lại,” thầy tu ra lệnh. Người lính gác nhìn xuống, hoang mang. Màu của lưỡi kiếm đã trở lại màu bạc đục. Sau một lát chần chừ, ông ấy cung kính tra lại thanh kiếm vào bao của nó.

    Thầy tu dẫn họ đi giữa hai bức tượng. Ico với tới để chạm vào một bức tượng khi họ đi qua. Tượng đá lạnh dưới những đầu ngón tay của cậu. Ánh sáng đó đến từ đâu? cậu tự hỏi. Ico phát hiện một khoảng trống ở một bên của bức tượng với một vết chạm khắc nhỏ bên trong nó. Cậu nhìn gần hơn và nhận thấy nó là một mô tả của một con quỷ nhỏ. Nó giống thứ gì đó từ một câu chuyện cổ tích.

    Lối đi mở hướng vào cột trung tâm. Ở ngay trung tâm là một cái bục nhỏ giống như một cái núm đồng nhô lên từ mặt sàn, với những tấm thép chĩa ra từng dải từ bục.

    Thầy tu nói gì đó rất nhỏ với người lính gác không có kiếm mà Ico không nghe thấy được. Ông ấy đi qua núm đồng, kéo thứ gì đó giống như một cái đòn bẩy cạnh nó, và toàn bộ thiết bị bắt đầu quay từ từ. Với một tiếng dội lại lanh lảnh, mặt sàn bắt đầu nâng lên và Ico suýt ngã.

    Căn phòng đang đi lên!

    Ico với tới và chạm vào một trong những bức tường, cảm thấy nó lướt qua những đầu ngón tay cậu. Một âm thanh trầm rung động phía dưới họ, và cậu có thể cảm thấy những sự rung động đi lên qua căn phòng. Họ tiếp tục lên cao.

    Về tất cả những điều Ico đã mong chờ để tìm thấy trong Lâu đài trong Màn sương, đây không phải là một trong các điều đó. “Thật ngạc nhiên,” cậu thì thầm.

    Người lính gác tử tế trao cho cậu một cái gật đầu trấn an. Thầy tu đứng xoay lưng lại với Ico, trong khi người kia giữ thanh kiếm với mũi của nó chống lên sàn, nắm chặt cán nó bằng hai tay như thể ông ấy sợ nó thể đi mất nếu không không giữ chặt.

    Tiếng lanh lảnh dừng lại.

    Họ đã lên đến trên đỉnh của cây cột. Ở đây có một cặp tượng đá khác. Lần này, người lính gác bước về phía trước và kéo thanh kiếm với chỉ một cái gật đầu từ thầy tu. Lại một lần nữa, ánh sáng rực rỡ chạy qua hai bức tượng và chúng tách ra.

    Ngay khi đường đi thông suốt, thầy tu bước qua, mép của bộ áo choàng của ông lơ lửng trên sàn.


    Không có dấu hiệu nào của sự sống. Những âm thanh duy nhất chính là những bước chân của họ và tiếng kim loại lạch cạch của áo chuỗi giáp của hai lính gác. Lâu đài bị bỏ hoang.

    Đầu tiên, Ico nghĩ họ đã tiến vào một căn phòng với một trần thấp, nhưng khi cậu đi vào xa hơn, cậu nhận ra sai lầm của mình. Căn phòng chỉ có vẻ thấp bở vì họ đã bước vào phía dưới một cái cầu thang rộng lớn đi lên từ trung tâm của một căn phòng rộng mênh mông. Ico hít một hơi thở sâu, run rẩy khi cậu thở ra.

    Bạn có thể tổ chức một lễ hội với mọi người ở Toksa ở đây và vẫn không lấp đầy được nơi này. Những tảng đá nhỏ bao lấy sàn nhiều như số ngôi sao cậu có thể thấy được từ tháp canh của làng, và Ico nghi ngờ rằng có bất kỳ người thợ săn nào trong làng đủ mạnh để bắn một mũi tên có thể chạm tới trần nhà hình vòm.

    Tất cả những thứ này để làm gì?

    Những hốc đá tạo thành một mạng lưới dọc theo các bức tường, mỗi cái hốc chứa một cái thùng giống như quan tài lạ lùng với những góc tròn. Không, Ico nhận ra. Không chỉ giống quan tài. Chúng là những cỗ quan tài đá.

    Ico theo thầy tu lên các bậc thang, nhớ lại một câu chuyện Oneh đã kể cho cậu.

    Ngày xửa ngày xưa, câu chuyện bắt đầu, những linh hồn độc ác được sinh ra trong khoảng trống tách biệt bầu trời và mặt đất. Cảm thấy phẫn uất vì chúng thiếu một vương quốc của chính mình, chúng đánh cắp những đứa trẻ con người và cướp lấy linh hồn của đám trẻ. Nhưng khi chúng nhận ra rằng những linh hồn bị đánh cắp không thể lấp đầy sự trống rỗng bên trong trái tim chúng, chúng sục sôi giận dữ đến khi cơn thịnh nộ của chúng biến thành như những con quỷ nhỏ bên trong chúng.

    Mặc dù chúng đã tạo những con quỷ, những linh hồn trống rỗng yếu hơn chính sự giận dữ của chúng, và chúng nhanh chóng bị buộc tuân theo mệnh lệnh của lũ quỷ. Quẫn trí, đấng Sáng tạo vội vàng lấp đầy những linh hồn trống rỗng bằng linh hồn của chính chúng, nghĩ là điều này có thể xoa dịu chúng. Nhưng những con quỷ trong trái tim của những linh hồn bắt lấy những linh hồn đó và ngấu nghiến chúng, vì vậy dù cho đấng Sáng tạo đưa bao nhiêu linh hồn vào những linh hồn trống rỗng, chúng không bao giờ thỏa mãn mà còn thậm chí trở nên đói khát hơn trước.

    Lúng túng, đấng Sáng tạo tập hợp lại những pháp sư từ khắp nơi trên trái đất và yêu cầu họ tạo ra những cỗ quan tài đá để giam giữ những lính hồn trống rỗng cùng với những con quỷ của chúng. Đó là những người đã đau khổi khi những linh hồn trống rỗng bắt con cái của họ, vì vậy đó phải là những con người tống giam chúng, đấng Sáng tạo tuyên bố.

    Những cỗ quan tài họ làm ra trông như những quả trứng dài và được phủ với những câu thần chú thanh lọc và xoa dịu được tạc nên. Những pháp sư niệm những câu thần chú của họ, làm thấm đẫm những vết tạc với sức mạnh, và những cỗ quan tài bắt đầu phát sáng. Giống như thiêu thân lao vào lửa, những linh hồn trống rỗng bị kéo vào ánh sáng và vì thế bị giam giữ vĩnh viễn.

    Ico nhìn qua những cỗ quan tài đá xếp hàng trên những bức tường. Những cái này cũng được tạc với những chữ cái và họa tiết cổ. Tay Ico chạm vào tấm Phù hiệu trên ngực cậu. Những vòng xoắn của các họa tiết không hoàn toàn khác với các họa tiết trên đá. Ico cũng không để đọc được nó, mặc dù cậu nghĩ những họa tiết trên cỗ quan tài trông hơi giống những hình dáng bên ngoài của con người.

    Nó có nghĩa là gì?

    “Đây là tấm Phù hiệu của cháu,” trưởng lão đã nói khi ông đặt tấm tunic lên đầu Ico. “Tấm Phù hiệu này đã nhận ra cháu.”

    Trưởng lão có một tia sáng hy vọng trong đôi mắt ông khi ông trao cho Ico tấm Phù hiệu – vậy tại sao mình không thể nghĩ về điều gì khác ngoài những câu chuyện đáng sợ khi mình nhìn vào những tảng đá này? Ico ấn một tay vào ngực mình, ép chặt tấm vải vào da cậu.

    Trong khi Ico đứng choáng váng, thầy tu tiến đến bức tường và nhìn lên một trong những cỗ quan tài.

    “Đó,” ông nói, chỉ vào một cái trông không khác biệt gì với hàng trăm cái khác ngoại trừ một điều: nó phát ra một ánh sáng màu xanh da trời nhạt, co dãn như một trái tim đang đập.

    Khi thầy tu đan những ngón tay của ông lại và bắt đầu tụng một lời cầu nguyện chỉ dành riêng cho dịp này, cỗ quan tài đá trượt về phía trước trên đáy của nó, hiện ra từ bức tường với tiếng kèn kẹt nặng nề của đá đè trên đá. Hai người lính gác bước lui lại nửa bước, đôi sừng trên cái mũ sắt của họ chạm vào nhau khi họ đi, gửi đi một âm thanh kêu vang qua sảnh.

    Nắp của cỗ quan tài từ từ mở ra.

    “Mang Vật tế lại,” thầy tu ra lệnh. Hai người lính gác cứng đờ và trao đổi những ánh nhìn. Ngay cả không nhìn thấy gương mặt họ, rõ ràng rằng không ai trong bọn họ dám làm nhiệm vụ tiếp theo của mình.

    “Ngươi.” Thầy tu chỉ người lính gác với đôi sừng chĩa lên. “Mang thằng bé lại.”

    Đôi vai chuỗi giáp của người lính gác kia hạ xuống với sự khuây khỏa khi bạn của ông xoay lại đi về phía Ico, kéo lê đôi chân mình khi ông ấy đi.

    Ico ngắm nghía những người huấn luyện của mình khi người lính gác tiến đến. Những người này đã được chọn để bảo vệ Vật tế, một công việc hết sức danh giá. Họ chắc chắn được tán dương trên chuyến trở về thủ đô của mình. Ngay cả trước khi họ nhận trách nhiệm này, những lính gác đền thờ được hưởng đặc quyền như những người bảo vệ niềm tin. Họ là những chiến binh thần thánh của Thần Mặt trời, người bảo vệ của những linh hồn. Họ cũng là những người đàn ông của quyền lực – bất kể liệu quyền lực đó không đến từ họ mà từ những thầy tu phía sau họ – những người sử dụng quyền lực lên những viên chức của nhà thờ và thủ đô. Họ đã chịu đựng những cuộc huấn luyện khắc nghiệt để giành được thứ hạng của mình. Cả lòng trung thành của họ đối với vương quốc và niềm tin của họ vào đấng Sáng tạo người tạo ra bầu trời và mặt đất và đặt những linh hồn vào nhân loại không thể sai lầm.

    Và tuy nhiên, là con của những người cha và cũng là những người cha, thật không phải là một nhiệm vụ dễ dàng khi đưa đứa trẻ khỏe mạnh, vô tội đang đứng trước họ vào một số mệnh không biết.

    Thầy tu đã giảng giải cho họ trước khi họ rời thủ đôi. “Lâu đài trong Màn sương không yêu cầu chúng ta nhẫn tâm. Lòng trắc ẩn các ngươi sẽ cảm thấy với Vật tế và nỗi buồn các người sẽ cảm nhận với việc để lại thằng bé đều cần thiết cho sự thành công của nghi lễ. Lâu đài sẽ không chỉ hài lòng với Vật tế. Chúng ta cũng phải trao ra nỗi đau trong trái tim chúng ta để làm thỏa mãn nó.”

    Buồn bã không sao cả. Khóc than không sao cả. Cảm thấy giận dữ không sao cả.

    Nhưng không được bỏ chạy. Lâu đài phải có quyền được hưởng của nó.

    Thầy tu đi qua Vật tế và đặt một bàn tay lên vai cậu. Cậu bé có sừng nhìn lên ông, mặc dù rõ ràng từ biểu hiện của thằng bé thì đầu óc cậu đang ở một nơi khác.

    Thầy tu biết rằng người lính gác có một đứa con – một thằng bé xấp xỉ tuổi với Vật tế. Ông biết nỗi đau mà người đó đã cảm thấy trong chuyến đi của họ bất cứ khi nào người lính nhìn thấy xiềng xích trên hai tay Vật tế. Làm sao ông ấy không tưởng tượng, Nếu nó là con mình thì sao?

    Nhưng nếu họ không dâng Vật tế, cơn giận dữ của lâu đài sẽ không dịu đi. Và nếu cơn thịnh nộ của lâu dài được giải phóng, sẽ không còn có tương lai cho thế giới loài người.

    Mặc dù đấng Sáng tạo của chúng ta tốt, thầy tu nghĩ, đấng Sáng tạo của chúng ta không có quyền tuyệt đối. Kẻ thù của đấng Sáng tạo của chúng ta là kẻ thù của hòa bình trên thế giới này – liên kết với quỷ dữ, kẻ tạo ra từ một hiệp ước với âm phủ. Vì vậy loài người phải đổ máu và dâng vật tế, và liên minh với vị thần, rằng quỷ dữ sẽ bị đẩy lùi. Chúng ta có thể làm gì khác?

    Tha thứ cho ta, thầy tu thì thầm sâu trong tim ông.

    “Cầm lấy tay tôi,” cuối cùng người lính gác nói, giơ cánh tay về phía Ico, cảm ơn tấm mặt che đi những giọt nước mắt của ông.

    Người lính gác nhẹ nhàng nâng cậu khỏi sàn nhà. Với những bước đi nặng nề, ông mang cậu đến cỗ quan tài đá nằm rung động với ánh sáng, gầm gừ… thèm khát.
     
    meo_mupconruoinho thích bài này.
  11. Magic Purple

    Magic Purple Gà BT Nhóm Chuyển ngữ

    Bài viết:
    1.252
    Được thích:
    1.345
    Đã thích:
    1.150
    GSP:
    397p
    Chương 2

    [2]

    “Đừng giận chúng ta. Đây là vì lợi ích của làng,” thầy tu nói khi ông đóng nắp quan tài. Đó là điều đầu tiên mà ông ấy đã nói với Ico từ khi chuyến đi của họ bắt đầu, và cũng là điều cuối cùng.

    Không có lời xin lỗi trong những lời nói của ông, không có lời khẩn cầu. Giọng nói phía sau tấm vải trùm vải đó điềm đạm và lạnh lùng.

    Lợi ích của làng…

    Lần đầu tiên, cậu cảm thấy tức giận. Điều này không chỉ vì Toksa, Ico nghĩ với bản thân mình, nhớ lại thành phố đá cậu đã thấy từ khe núi. Thật không công bằng khi đổ lỗi lên toàn bộ tục lệ Hiến tế của làng. Đó không phải là lỗi của họ.

    Bên trong cỗ quan tài rộng rãi. Ngồi, đầu cậu thậm chí không chạm đến phía trên, nhưng hai tay cậu đã bị cùm vào một cái gông gỗ đóng chặt vào mặt dưới của cỗ quan tài, buộc Ico phải đứng đưa lưng lên trước, quỳ xuống giống như một tên tội phạm bị đặt ở quảng trường làng như một lời cảnh báo đến những người khác.

    Nhưng mình đã không làm bất cứ điều gì sai trái… phải không?

    Có một cửa sổ nhỏ trên nắp cỗ quan tài, nhưng để nhìn ra, Ico phải vặn cổ đến nỗi nó nhanh chóng trở nên đau nhức và cậu phải từ bỏ. Vì vậy cậu đứng, lắng nghe những bước chân của thầy tu và hai người lính gác biến mất dần phía sau cậu.

    Một lát sau, cậu cảm thấy những tiếng vang của sàn nhà chuyển động. Thầy tu và hai người lính gác đang rời đi.

    Mình cô độc.

    Sự im lặng trở lại đại sảnh – sự im lặng của Lâu đài trong Màn sương. Sự im lặng mà bản thân nó hẳn là chủ nhân của lâu đài, Ico nghĩ, nó đã thống trị nơi này rất lâu. Ít nhất, với cậu nó có vẻ như thế.

    Ico có thể nghe thấy nhịp tim mình đập – thịch thịch. Cậu hít một hơi run rẩy. Suốt một lúc lâu cậu đứng đó, cô độc, chỉ hít thở.

    Không có gì xảy ra.

    Mình phải đứng khom lưng như vậy mãi mãi ư? Mình phải đói đến chết trong cỗ quan tài này ư? Đó là bổn phận của một Vật tế như mình ư?

    Hình ảnh của gương mặt trưởng lão xuất hiện trong đầu Ico. Cậu có thể nghe thấy giọng nói của Oneh trong tai mình. Chúng ta sẽ đợi con trở về nhà.

    Vậy là mình phải về nhà… nhưng bằng cách nào?

    Cậu cảm thấy một rung động nhẹ, không hơn một cái lông vẫy nhẹ trong gió. Cỗ quan tài đang đu đưa.

    Đầu tiên, cậu nghĩ rằng cậu đang tưởng tượng ra nó. Cậu đã không ăn gì từ bữa ăn nhỏ ban sáng. Có lẽ mình đang bắt đầu run rẩy vì đói. Có lẽ mình đang choáng váng.

    Nhưng sự rung lắc chỉ trở nên mạnh hơn, và cậu buộc phải thừa nhận rằng đó không phải cậu – cỗ quan tài đá quanh cậu đang rung lắc.

    Cỗ quan tài lắc lên, xuống, và sang bên với sự thô bạo tăng lên. Hai tay bị trói vào cái khung gỗ, Ico căng hai chân và nuốt lại nỗi sợ. Một tiếng ầm ầm nhỏ đi kèm với những rung động tăng lên, lấp đầy tai cậu. Dường như toàn bộ sảnh quanh cậu rung lắc. Ngay cả không khí cũng kêu thảm thiết với những chấn động.

    Không bao lâu, chuyển động lắc lư trở nên quá mức chịu đựng của cỗ quan tài, và cái khung gỗ rời ra khỏi đáy. Cơ chế mà thầy tu đã dùng để đẩy cỗ quan tài của Ico vào chỗ trống của nó đảo nghịch lại, ném cỗ quan tài ra. Nó đập lên sàn nhà, làm vỡ nắp và làm Ico bay vào không trung. Cơ thể cậu dựng dậy, thế giới quanh xung quanh cậu, và ngay lập tức cậu va vào những tảng đá lạnh lẽo của sàn nhà. Sừng bên phải của cậu đập vào sàn, phát ra một tiếng leng keng rỗng tuếch, trước khi mọi thứ mờ đi thành màu đen.


    Mưa đang rơi bên ngoài, một trận mưa như trút.

    Ico đang trèo lên một ngọn tháp cao đến nỗi khiến cậu chóng mặt. Nhìn lên từ dưới đáy, đỉnh tháp bị biến mất trong những cái bóng.

    Một cầu thang đá xoắn quanh bức tường bên trong của ngọn tháp, cổ xưa và đổ nát như chính ngọn tháp. Cầu thang có một lan can ở ngang tầm mắt Ico, với những cái gai giống như ngọn giáo nhô ra đi theo đến đỉnh của nó.

    Sấm đùng đùng, và Ico lưỡng lự. Màn đêm đã buông xuống và một cơn bão đã thổi vào, mặc dù Ico không thể chắc chắn khi nào.

    Nửa đường lên ngọn tháp, Ico hụt hơi. Trời lạnh. Một tấm rèm rách treo trên cửa sổ phía trước cậu, bay phần phật trong cơn gió dữ dội của cơn bão. Không khí lạnh thổi qua cửa sổ và những tảng đá lạnh lẽo của bức tường làm Ico lạnh thấu xương.

    Chớp lóe lên, sáng chói trong mắt Ico – nhưng trong khoảnh khắc chiếu sáng đó, cậu nhận ra thứ gì đó đang treo ở xa phía trên cậu. Một bàn tay thận trọng ấn vào bức tường để được hỗ trợ, cậu nhìn săm soi vào bóng tối. Đó là gì? Cái bóng đem tương tự một cái lồng chim, nhưng nó sẽ giữ một con chim lớn hơn rất nhiều bất cứ con nào mà Ico từng thấy. Dường như nó bị treo từ trần của ngọn tháp. Nhanh chóng bước đi, Ico lại bắt đầu trèo. Trong vòng hai hay ba vòng tròn nữa quanh ngọn tháp cậu sẽ tới chỗ cái lồng.

    Cậu càng đến gần cái lồng hơn, cái lồng dường như càng không có vẻ bình thường. Mặc dù chim chóc ở Toksa được cho phép tự do đi lang thang, chim sơn ca, được cho là có sức mạnh để tránh những linh hồn quỷ dữ, và chim vũ bão, những con hát trên bàn thờ vào thời gian lễ hội và được cho là báo trước tương lai, thường được giữ trong những cái lồng dệt phức tạp bằng những cây sậy dài, mềm và những cành liễu non. Không lạ gì khi vẻ đẹp của lồng lại ganh đua với tiếng hót của con chim.

    Cái lồng này chẳng hề tao nhã tí nào. Nó dường như được làm bởi sắt đen, và nó trông nặng vô cùng. Sợi xích treo nó còn to hơn cả cánh tay của Ico, và những khoảng trống giữa những chấn song dày của nó vừa vặn một bàn tay xòe ra. Những gai thép mọc tỏa tròn ra từ phía mép đáy của cái lồng, chức năng của nó là làm nản lòng việc giải cứu hơn là ngăn cản bất cứ thứ gì ở bên trong khỏi thoát ra ngoài.

    Cái lồng đu đưa chầm chậm trong gió mạnh. Ico chạy lên cao hơn. Cậu chỉ còn vài bước để có thể thấy cái gì ở bên trong khi cậu chú ý thấy thứ gì đó đang nhỏ giọt từ dưới đáy lồng. Cậu dừng lại và chống lên lan can để nhìn gần hơn. Đó là… nước ư? Tọp, tọp. Tọp. Những giọt rơi đều đều lên sàn của ngọn tháp, để lại những vòng tròn sẫm màu trên đá. Không, không sẫm màu, Ico nhận ra. Đen. Bất kể nó là thứ gì nhỏ xuống từ cái lồng, nó còn đen hơn cả hắc ín, màu của bóng tối bị tan ra.

    Thứ gì đó ở trong kia!

    Những giọt đặc gợi Ico nhớ về các thợ săn khi họ trở về làng, con mồi bị buộc trên yên ngựa, máu nhỏ giọt qua móng ngựa. Thứ gì đó còn sống bên trong cái lồng, và nó đang chảy máu đen.

    Bên ngoài sấm đánh đùng đùng, như thể để cảnh báo Ico không được leo lên cao hơn. Tuy nhiên, cậu tiếp tục lên. Đáy của cái lồng giờ ở ngang tầm mắt. Cậu nghển cổ để nhìn vào bên trong… và không thấy gì cả. Nó trống không.

    Chờ đã…

    Thứ gì đó di chuyển ở một góc lồng bị che bóng, mặc dù quá tối để nhận ra cái gì.

    Ai đó ở trong đó ư?

    Ico đóng băng khi một hình bóng nâng đầu nó lên và đối mặt với cậu. Hình bóng đó mảnh khảnh, duyên dáng, giống như một bóng diễn viên trong một đêm trăng tròn. Những đường nét khó để nhận ra trong bóng tối, nhưng hình bóng đang di chuyển, yên lặng. Ico chỉ có thể nhận thấy hình cong của viền cổ áo và đường cong của một bên vai.

    Cắn lại tiếng hét dâng lên trong cổ họng mình, Ico lùi lại dựa vào bức tường phía sau cậu, cảm thấy tảng đá rắn chắc phía sau vai và lưng cậu. Cậu không còn chắc chắn hình bóng đó đang nhìn cậu – cậu không thể thấy miệng hay đôi mắt nào cả. Tuy nhiên Ico cảm thấy nó nhìn chằm chằm lên cậu.

    Chớp lóe sáng và sấm gầm vang, vẽ nên hình bóng trong lồng.

    Có ai đó ở kia. Đang nhìn thẳng vào mình.

    Với đôi mắt tập trung vào tầm nhìn phía trước mình, Ico không hề nhận thấy cái bóng đen đang căng ra trên bức tường mà cậu đã tìm thấy để ẩn náu. Cái bóng đen hình thành gần đầu ngón tay trái của cậu và nhanh chóng căng ra, đến khi nó đủ lớn để nuốt chửng cậu.

    Trước khi cậu giật mình bởi cái lạnh sau lưng mình, đã quá trễ. Cái bóng đã bắt đầu hiện ra từ bức tường, nhấn chìm Ico giống như cát lún. Ico cảm thấy bản thân bị kéo lùi lại, bị hút vào – cậu vùng vẫy, tóm lấy bất cứ thứ gì cậu có thể với tới, nhưng hai tay cậu nắm lại trong không trung. Cái bóng hình đen trong lồng chim nhìn cậu. Vào khoảnh khắc cuối cùng, cậu nhận ra đó là máu đen nhỏ xuống từ cái lồng đã thấm qua ngọn tháp, trèo lên bức tường, và nhấn chìm cậu – tuy nhiên bây giờ cậu không thể làm bất cứ điều gì với nó.


    Ico mở mắt ra.

    Nó là một giấc mơ. Mình chỉ đang mơ thôi.

    Ico đang nằm thẳng người, úp mặt xuống sàn, cánh tay và cẳng chân dang rộng. Trong một lúc, cậu hài lòng với việc nằm ở đó. Cậu không muốn di chuyển đến khi cậu hiểu được ít nhất một chút ít chuyện gì đã xảy ra với cậu, hoặc cậu ở đâu.

    Mình vẫn ở trong lâu đài.

    Cậu ngồi dậy và nhìn quanh, kiểm tra xem mình có bị thương và thấy không sao cả. Cậu đứng dậy và cố gắng duỗi hai chân. Cậu nhảy một chút. Không có gì bị đau cả; cậu cảm thấy khỏe mạnh như mọi khi.

    Khi cậu nắm được tình hình xung quanh mình, cậu nhận thấy cỗ quan tài đá nằm như một chiếc xe cút kít bị lật úp cách chỗ cậu đã tỉnh giấc một khoảng ngắn. Nắp và bản lề kim loại của nó đã vỡ. Ico nhặt một mảnh đá vỡ lên. Nó thô ráp và lạnh lẽo.

    Cỗ quan tài không còn tỏa sáng nữa.

    Nó đã chết, Ico nghĩ. Cỗ quan tài đã mở miệng và nuốt chửng cậu – nhưng Ico là thuốc độc đối với nó. Nó đã phun cậu ra, sau khi chịu đựng một liều thuốc chết người. Thứ gì là chất độc đối với cái quan tài có thể cũng là chất độc đối với Lâu đài trong Màn sương. Tấm Phù hiệu gợn sóng trên ngực và lưng cậu, mặc dù không có cơn gió rõ rệt nào thổi trong đại sảnh. Bởi vì tấm Phù hiệu là của cậu, vì vậy cậu cũng là Vật tế - đôi sừng của cậu đủ chứng minh điều đó. Tuy nhiên cỗ quan tài đã vỡ, không giữ được cậu.

    Điều đó có nghĩa là gì?

    Những bộ quan tài đá nhiều vô kể ở trong những cái hốc tường của chúng vẫn nằm im lìm như lần đầu tiên Ico thấy chúng. Tất cả đều ở vị trí của chúng, trừ cái đã giữ cậu.

    Ánh sáng yếu ớt tràn vào qua một cánh cửa sổ nhỏ. Có vẻ như thời gian đã trôi qua không nhiều lắm kể từ lúc cậu bị đánh ngã; mưa và sấm đã là một câu chuyện bịa đặt của giấc mơ của cậu. Tuy nhiên ký ức của cậu về hình bóng đen ở trong cái lồng rõ ràng như thể là cậu đã thấy nó bằng đôi mắt của mình. Đó là chủ nhân của lâu đài ư? Chủ nhân tự mình lộ diện để hù dọa mình ư?

    Ico khum hai bàn tay lên miệng. “Này!” cậu gọi.

    Âm thanh dội lại từ bức tường ở xa trong sảnh, mang theo giọng cậu trở lại với cậu.

    Cậu gọi lại lần nữa. “Có ai ở đó không?”

    Những tiếng vang là câu trả lời duy nhất của cậu. Thầy tu và hai người lính gác đã rời đi. Cậu nhìn lên những cỗ quan tài đá im lặng quanh mình lần nữa – Ico nghĩ về những Vật tế ở bên trong, đang biến thành tro bụi, trở thành một phần của Lâu đài trong Màn sương.

    Chỉ Ico tự do.

    Tự do rời đi. Trưởng lão và Oneh đang đợi cậu trở về Toksa.


    Việc kiểm tra kỹ hơn những bức tường ở đại sảnh để lộ ra rằng chúng bị nứt nẻ với tuổi tác. Những chiếc thang được đặt bên ngoài những cỗ quan tài để tạo lối lên những tầng đá cao hơn vòng quanh căn phòng, nhưng chúng đã cũ và ọp ẹp.

    Ico chạy vòng tròn, lắng nghe âm thanh của những bước chân của cậu trên đá, mang theo bởi sự tò mò, tự hỏi liệu có bất cứ ai ở đó hay liệu có ai đó trong một trong những cỗ quan tài có thể nghe thấy cậu và gọi giúp đỡ. Thậm chí cậu còn thử trèo lên vài cái thang. Cậu không tìm thấy ai cả, nhưng trong chuyến lang thang của mình cậu đã nhận thấy thứ gì đó ở phía trên cùng cầu thang – thứ gì đó trông giống như một cái đòn bẩy bằng gỗ nhô ra từ bức tường.

    Ico chạy lên các bậc thang. Nó thực sự là một cái đòn bẩy. Nó trông giống như có thể di chuyển lên xuống. Đứng trên đầu ngón chân cậu có thể với tới nó.

    Cái đòn bẫy cứng ngắc. Nó có lẽ đã không được sử dụng rất nhiều năm. Ico kéo với tất cả sức mạnh của mình. Mặt cậu chuyển sang đỏ ửng. Phần của cái đòn bẫy gỗ phản đối cách xử lý này bằng việc gãy ra và rơi từng mảnh trên mặt cậu.

    Cuối cùng, sức mạnh của Ico chiến thắng và cái đòn bẫy trượt xuống dưới. Một hơi thở sau đó, cậu nghe thấy một âm thanh lớn đến từ một phần khác của sảnh gần bên.

    Ico nhìn xuống từ lan can của cầu thang và nhận thấy rằng ô cửa rộng ngay bên dưới đã mở ra – nó là một cánh cửa gỗ đối diện với cánh cửa mà cậu đã vào với thầy tu và hai người lính gác. Trước đó, cậu đã cố gắng mở nó ra, nhưng dù kéo và đẩy như thế nào cũng không thể làm nó xê dịch. Bề mặt của cánh cửa lồi lõm và đầy sẹo, làm cậu nghĩ rằng, nếu như vậy, cậu có thể bằng cách nào đó đập vỡ nó – nhưng việc tìm ra một đòn bẩy ma thuật để mở nó còn hơn cả hoàn hảo!

    Cười toe, Ico chạy xuống các bậc và qua cánh cửa, nhận thấy bản thân ở trong một căn phòng khác, chật hơn cái sảnh cậu đã rời đi, với vài mặt phẳng thẳng đứng mọc trên sàn. Cậu tự hỏi phòng này để làm gì.

    Một âm thanh răng rắc làm cậu dừng lại. Cậu nhìn lên thấy rằng trần nhà ở đây không cao như ở đại sảnh, và những ngọn đuốc được đặt trên những bức tường. Chúng cháy với ngọn lửa màu đỏ.

    Ánh nhìn của những ngọn lửa lung linh cách nào đó làm thoải mái – nó nhắc cậu nhớ về lò sưởi ở nhà – đến khi cậu chợt nảy ra một suy nghĩ bối rối.

    Ai đã thắp những ngọn đuốc này?

    Thầy tu chắc đã thắp chúng trên đường ra khỏi lâu đài – nhưng điều đó thật vô lý. Ico đã nghe thấy sàn nhà vòng tròn hạ xuống ngay khi họ đặt cậu vào cỗ quan tài. Và nếu họ đã đi qua cánh cửa gỗ, ai đã nâng thanh đòn bẫy để đóng nó lại? Tại sao lại thắp những ngọn đuốc ở đây chứ? Nếu chủ nhân của lâu đài đã thắp nó, nó là để đón chào Vật tế tươi mới ư?

    Lâu đài trong Màn sương đang sống.

    Ico lắc đầu. Chẳng có lý nào khi nghĩ về điều đó; cậu sẽ chỉ tự hù dọa bản thân. May mắn, sự gia tăng độ cao trên sàn không quá cao để cậu trèo lên được. Cậu dường như đã phục hồi từ cú ngã của mình, và những chuyển động của đôi tay và chân nhanh và mạnh mẽ.

    Cậu đi đến tầng cao hơn và thấy mình ở đường cụt. Nhìn lên, cậu thấy một tầng cao khác trên mình, nhưng cậu sẽ phải biết bay để lên tới đó. Sau đó cậu nhận thấy một sợi xích dày treo trên trần. Nó trông như thể thứ gì đó từng đã được treo từ đuôi của nó, nhưng những năm gỉ sắt đã làm sợi xích đánh rơi vật mang của nó, để những mắt xích treo không mục đích.

    Ico nhớ về cái lồng chim sắt trong giấc mơ của cậu và rùng mình. Cậu nhảy lên, tóm lấy đuôi sợi xích, và bắt đầu, tay này tiếp tay kia, trèo lên. Cậu đã luôn giỏi việc leo trèo với những sợi dây, và những mắt xích trong sợi xích thậm chí khiến nó dễ dàng hơn. Khi cậu đủ gần tới tầng cao nhất của sàn, cậu dùng trọng lượng của mình để đánh đu, và khi nó bắt đầu đu đưa, cậu chạm tới rìa với hai chân và hạ cánh. Mình đã làm được. Mình có thể làm điều này.

    Một hàng những ô cửa sổ vuông vức được cắt gọt trên bức tường trước mặt cậu. Cậu nhảy đến một ô cửa, dùng hai tay bắt lấy mép cửa và kéo bản thân mình lên để tìm một căn phòng rộng hơn ở bên phía bên kia. Còn hơn thế nữa. Đó là lúc để tìm một lối ra và rời nơi này mãi mãi.
     
    meo_mupconruoinho thích bài này.
  12. Magic Purple

    Magic Purple Gà BT Nhóm Chuyển ngữ

    Bài viết:
    1.252
    Được thích:
    1.345
    Đã thích:
    1.150
    GSP:
    397p
    Chương 2

    [3]

    Ico nhảy từ mép của cửa sổ sang phòng bên cạnh – và quá trễ nhận ra rằng khoảng cách đến bên kia dài hơn cậu đã tưởng tượng nhiều. Gió rít trong hai tai cậu.

    Trước khi cậu có thể ân hận vì sai lầm của mình, hai chân của Ico chạm sàn đá với một tiếng bụp. Bụi nhiều năm dâng lên quanh cậu như khói trắng.

    Cậu rùng mình và nhìn lên ô cửa sổ trên đầu. Cậu thường nhảy từ trên cây và nhảy xuống các mái nhà hồi ở Toksa, nhưng chưa bao giờ từ quá cao như thế. Tuy nhiên cậu không bị thương ở đâu, và hai chân cậu cùng đầu gối vẫn vững vàng. Cậu biết mình dẻo dai hơn những đứa trẻ khác ở cùng tuổi – nhưng cậu thậm chí đã trở nên mạnh hơn từ khi đến lâu đài ư?

    Có thể là tấm Phù hiệu của mình?

    Tuy là mạnh mẽ như vậy, cậu vẫn thấy đói. Và khát. Mình tự hỏi liệu có nước ở quanh đây. Cậu vểnh đôi tay mình lên và lắng nghe, nhưng tất cả những gì cậu có thể nghe là tiếng tanh tách của những ngọn đuốc ở cao trên những bức tường.

    Căn phòng cậu đã vào rất rộng. Cậu đoán nó khoảng một nửa kích thước của phòng quan tài. Cũng có những bức tượng ở đây – không chỉ là một cặp, mà là bốn bức, đứng hàng ngang, chặn đường của cậu. Ánh sáng đến từ một khe hở ở ngay trên các bức tượng, chỉ ra một lối đi hay kiểu phòng nào đó nằm ngoài chúng. Nhưng cậu sẽ không thể di chuyển những bức tượng mà không có thanh kiếm kỳ lạ kia. Có vẻ như không có lối thoát khác.

    Ngay trước cậu là một phần đá nhẵn, một bục tròn hơi nổi lên trên sàn xung quanh. Ico kinh ngạc bởi độ cao không thể tin được của những bức tường và trần. Mặc dù hình dạng của căn phòng ở dưới sàn là hình vuông, khi những bức tường dựng lên, chúng bắt đầu uốn cong. Khi đôi mắt cậu theo những bức tường lên trên, cậu nhận thấy một cầu thang xoắn ốc cuốn quanh bên trong bức tường, leo lên trần. Đây là nơi trong giấc mơ của mình! Cùng cầu thang, với cùng lan can gai nhọn. Và không chỉ tương tự – giống hệt ở mỗi khía cạnh.

    Ico thở hổn hển và nhìn lên lại. Nếu đây thực sự là nơi từ giấc mơ của cậu, vậy thì sẽ có một cái lồng – và nó ở đó, ngay gần trên đỉnh, đáy của nó được chiếu sáng mờ mờ bởi ánh sáng từ cửa sổ.

    Ico nhìn xuống chân mình và nhận ra – cái bục tròn là một bậc để đón cái lồng.

    Một cơn rùng mình chạy xuống xương sống của cậu, và da gà nổi lên trên hai cánh tay cậu. Những sự kiện trong giấc mơ của cậu chạy qua đầu cậu. Thận trọng, cậu đi lên mép bục. Cậu dừng và nhìn lên trên lại, nửa mong chờ thấy máu đen nhỏ giọt xuống từ trần nhà. Nhưng không có gì.

    Không có nơi nào để đi ngoài đi lên.

    Có những chiếc thang ở cả hai phía căn phòng. Ico chọn cái thang dẫn đến vòng tròn thấp nhất của cầu thang xoắn ốc. Thật ngạc nhiên, những thanh ngang của cái thang dường như còn tốt, và chúng giữ được trọng lượng của Ico không một lời phàn nàn. Ico vội vàng leo lên một trong những cái thang và nhanh chóng trèo lên những bậc cầu thang. Những sự kiện trong giấc mơ của cậu lại đang tái diễn lại, chỉ là nơi từng có một cơn bão dữ dội, bây giờ ánh nắng mặt trời ùa vào qua những cánh cửa sổ. Sau khi cậu đã đi lên khá xa, cậu thấy cùng cánh cửa sổ ở trên mình, với tấm rèm phấp phới trong gió chính xác như nó làm trong giấc mơ của cậu.

    Cậu càng leo lên xa hơn, cậu càng có thể thấy cái lồng rõ ràng hơn. Trái tim Ico bắt đầu nhảy trong lồng ngực cậu. Bây giờ bất cứ lúc nào mình sẽ thấy cái hình dáng đen kỳ lạ đó. Sau đó máu sẽ nhỏ giọt, và nó sẽ nhìn vào mình, và…

    Ico dừng lại.

    gì đó ở trong lồng. Nhưng nó không phải màu đen; nó màu trắng. Và không chỉ màu trắng nào đó, mà là một màu trắng tỏa sáng dịu dàng, giống như một con đom đóm bay nhẹ nhàng theo mép nước vào buổi tối.

    Nó không phải là một cái bóng, mà là một con người.

    “Có ai ở đó không?” Ico tiến đến lan can và gọi về phía cái lồng. “Cậu là ai?”

    Phía sau những chấn song, cái bóng trắng di chuyển.

    “Cậu đang làm gì ở đó?” Ico hỏi, sau đó vội vàng bổ sung, “Đợi đã. Tôi sẽ đưa cậu xuống.”

    Ico bắt đầu treo lên cầu thang, cảm thấy trái tim cậu đang nhảy múa trong ngực mình. Có một tù nhân trong Lâu đài trong Màn sương! Người đó là một Vật tế giống như mình ư? Tại sao họ lại ở trong một cái lồng thay vì một cỗ quan tài? Mình phải đưa họ ra!

    Khi cậu chạy, tâm trí cậu quay cuồng, cậu đột nhiên đến nơi mà cầu thang đã sập, để lại một khoảng trống lớn. Ở xa bên kia, những bậc thang tiếp tục lên trên. Nhưng thậm chí với một cú chạy đà, cậu không nghĩ cậu có thể nhảy qua.

    Ico nhìn lên ô cửa sổ trên tường bên phải cậu. Nó cao hơn cầu thang, tuy nhiên nếu cậu nhảy, cậu có thể tóm lấy phần mép. Cậu không thể chắc chắn nó dẫn đến đâu, nhưng cậu đang hết những sự lựa chọn. Nhấc bản thân mình lên, cậu níu lấy mép của cửa sổ và đâm đầu ra ngoài. Ico há hốc khi cậu thấy rằng nó mở trên một hành lang lớn. Cậu có thể nghe thấy tiếng gầm từ xa của biển và những tiếng kêu yếu ớt của những con chim biển.

    Bên ngoài hành lang, Ico lác mắt vì ánh sáng rực rỡ. Không khí sạch, khô hanh lấp đầy phổi cậu. Cậu đang lên một trong những ngọn tháp. Bầu trời ở đây có cảm giác gần hơn rất nhiều, như thể cậu có thể với tới và tóm lấy một trong những đám mây. Gần bên mọc lên những ngọn tháp khác của lâu đài, với những bờ đường đắp cao liên kết với cấu trúc phức tạp bên dưới. Có những ô cửa sổ ở mọi nơi, nhưng không có sự sống nào chuyển động sau chúng. Những vách đá dựng đứng ở xa, và xa phía dưới, biển lại đâm vào hòn đảo. Nhưng không ở đâu cậu có thể nhìn thấy điều đó mà không bị bao phủ trong màn sương.

    Mình đang thực sự ở đây.

    Một cơn gió mạnh thổi. Ico đi quanh hành lang và trèo trở lại vào trong cửa sổ xa hơn một chút gần chu vi của ngọn tháp. Ngay cả bên trong, gió vẫn rít trong tai cậu. Nhưng Ico không sợ - ngược lại, không khí động viên cậu. Ngửi thấy mùi biển trong gió và thấy bầu trời tươi sáng ở trên có nghĩa là cậu không bị mắc kẹt ở đây, không thể di chuyển. Thế giới tự nhiên quanh lâu đài đang sống và thịnh vượng. Nếu có có thể tìm được lối ra, cậu sẽ trở lại thế giới đó.

    Xa hơn một chút trên cầu thang, cậu đến ngõ cụt thực sự. Lan can chặn lại hai bên, và có một cánh cửa bằng gỗ ở bên phải. Cánh cửa có cùng hình dáng như cái Ico đã đi qua khi cậu rời đại sảnh, chỉ hơi lớn hơn. Cạnh cánh cửa cậu thấy một cái đòn bẩy tương tự cái mà cậu đã tìm thấy trong sảnh, chỉ là cái này được đặt trên sàn. Nó không kháng cự khi cậu kéo nó. Cậu nghĩ rằng nó có thể mở cánh cửa, nhưng cậu đã nhầm. Thay vào đó, phía sau cậu, cái lồng di chuyển.

    Với một tiếng thét lớn, sợi xích giữ cái lồng bắt đầu đi xuống từ một cái tời trên trần, và cái lồng bắt đầu hạ xuống về phía chân tháp. Ico đi lên lan can để nhìn xuống theo cái lồng. Nó hạ xuống xa hơn và xa hơn, đến khi cậu gần như nhìn xuống trên đỉnh của nó. Bên trong cậu có thể thấy hình dáng màu trắng nằm trên sàn của cái lồng.

    Cậu đang nghĩ cậu có đúng về cái bục tròn là một bậc để cái lồng đặt lên, khi những sợi dây xích tạo nên một tiếng thét khác, và cái lồng ngưng chuyển động đi xuống của nó lại. Sự dừng lại đột ngột làm cái lồng đua đưa qua lại. Nó chưa chạm tới bục – nó đã dừng lại ở giữa đường.

    Ico thử lại cái đòn bẩy, nhưng không có gì xảy ra. Cậu nghĩ rằng cái lồng đã vướng phải gì đó trên đường, nhưng quá xa về phía dưới để cậu thấy được rõ ràng từ nơi cậu đứng. Ico phóng xuống cầu thang, lau mồ hôi khỏi trán khi cậu chạy. Cổ họng cậu đau vì khát.

    Cái lồng đã dừng lại với đáy của nó treo xấp xỉ độ cao của đầu bốn bức tượng. Ico tới chân cầu thang, nơi cậu có thể nhìn trực tiếp vào bên trong cái lồng. Hình bóng trắng đứng ở giữ lồng. Đó là một phụ nữ.

    Cơ thể cô ấy mảnh khảnh, với một đường cong thanh nhã trên cổ cô, và mặc một cái váy trắng kỳ lạ dài đến đầu gối cô. Cô đang nhìn xuống chân mình, và mặc dù bây giờ cô hẳn đã chú ý thấy Ico, cô không nhìn cậu. Ico lại gọi cô ấy, nhưng tự mình dừng lại. Cậu không biết nói gì. Trước đó cô ấy đã không trả lời cậu. Có lẽ cô ấy không thể nghe thấy cậu nói gì cả.

    Mặc dù cậu có một vấn đề lớn hơn. Sao cậu có thể hạ thấp cái lồng đoạn đường còn lại xuống sàn?

    Ico hít một hơi và trầm tư. Cậu có thể cảm thấy mồ hôi đang khô trên da mình. Giá mà mình có thể đến gần hơn để xem cái lồng đó. Một gờ tường hẹp chạy theo rìa căn phòng, và nó trông như nó có thể dẫn cậu lên trên nơi ánh sáng đang xuyên qua đầu những bức tượng. Gờ tường mở rộng ở đó, nhô ra gần như là một mái hiên. Cậu sẽ có một tầm nhìn rõ ràng về cái lồng.

    Ico bò xuống thang và chạy đến cái thang sinh đôi của nó ở bên kia phòng. Cậu trèo lên nó và bắt đầu chạy qua gờ tường, không khi nào rời mắt khỏi cô gái bên trong lồng. Cô ấy đứng không cử động. Trong một khoảnh khắc cậu tự hỏi liệu rằng sau tất cả cái hình dáng tỏa ánh sáng trắng đó không phải là con người mà là loại linh hồn nào đó được cho hình dáng chăng.

    Cậu nhớ lại về những tiên nữ rừng Oneh đã kể với cậu trong những câu chuyện. Họ là những sinh vật tử tế, dịu dàng những người yêu tất cả các sự sống trong rừng, và thậm chí bảo vệ những người sống bằng sự hào phóng của rừng. Khi họ tìm thấy một lữ khách lạc đường hay một thợ săn bị thương, họ sẽ xuất hiện dưới hình dáng của một cô gái trẻ để giúp những người đó.

    Ico dừng lại khi cậu tới bức tường trên bốn bức tượng. Người phụ nữ ở trong lồng quay lưng lại với cậu, và cô ấy vẫn không di chuyển. Từ đây có thể không nghi ngờ gì rằng cô ấy sẽ có thể nghe được nếu cậu nói. Mình nên gọi cô ấy không? Có lẽ cô ấy có thể dùng sức mở cái lồng. Ico gạt bỏ suy nghĩ ngay khi nó lóe lên trong cậu. Hai cánh tay của cô thậm chí còn mảnh khảnh hơn tay cậu. Cô ấy có thể chỉ vỏn vẹn làm đung đưa những chấn song của cái lồng vững chắc đó, chứ đừng nói phá vỡ chúng.

    Giờ sao?

    Ico nhìn sợi xích giữ cái lồng gần hơn và thấy ngạc nhiên rằng mặc dù những mắt xích to, chúng bị phủ gỉ sét. Thậm chí một số dường như hư hại. Có lẽ cái lồng không chắc chắn như cậu đã nghĩ lần đầu tiên.

    Ico biết cậu phải làm gì. Từ phía trên đỉnh của cái lồng, cậu và cô gái có thể làm việc cùng nhau, dùng trọng lượng kết hợp của họ để giải phóng cô. Miễn là cậu tránh được những cái gai trông nguy hiểm nhô ra từ mép trên đầu và dưới đáy, nó trông không quá khó khăn.

    Ico nhảy và hạ xuống dễ dàng trên mái của cái lồng, làm nó lắc lư qua một bên. Cậu đã đúng một nửa về sợi xích – dù cho nó bị hư hại, nó yếu hơn nhiều so với cậu đã tưởng tượng. Trọng lượng bổ sung của cậu đủ để làm gãy một trong những mắt xích, và cái lồng rơi xuống cái bục phía dưới, thăng bằng tiếp đất. Tác động của sự va chạm làm Ico ngã khỏi mái và làm sợi xích bị đứt bật lại đập vào bức tường, làm rớt xuống một ngọn đuốc, nó rơi xuống với một âm thanh nhẹ nhàng bên cạnh cậu. Ngọn đuốc vẫn đang cháy. Cậu liếc nhanh nó trước khi quay lại chú ý vào cái lồng. Vẫn nằm trên mặt đất, cậu thắc mắc quan sát khi cô gái mặc đồ trắng bước qua cánh cửa lồng.

    Người phụ nữ rón rén đi qua ngưỡng cửa của cái lồng, giống như ai đó đang lội qua một vùng nước nông. Đôi mắt Ico rơi trên đường cong dịu dàng của chân cô. Cô đi chân trần, và một ánh sáng trắng ngập tràn da cô xuống tận những đầu ngón chân.

    Cô nhìn lại quanh cái lồng đã giữ mình, sau đó nhìn những bức tường đá trong căn phòng, và sau đó cuối cùng nhìn xuống Ico. Cô ấy chắc chắn là một phụ nữ, nhưng trẻ hơn rất nhiều so với cậu đã đoán từ một khoảng cách xa. Thực sự cô ấy giống một cô gái hơn. Tuy nhiên, cô đứng cao hơn Ico và trông lớn hơn một chút.

    Mái tóc màu hạt dẻ của cô cắt ngắn, nhẹ nhàng rơi trên má cô. Đôi mắt cô có cùng màu với mái tóc, và chúng nhìn chằm chằm vào mặt Ico. Côi ấy hẳn là một linh hồn, Ico nghĩ. Một linh hồn bị giam cầm ở đây. Không có cô gái con người nào có thể xinh đẹp thế này.

    Đôi môi cô chuyển động, và cô lên tiếng – dù cho căn phòng đang yên tĩnh, ngoại trừ tiếng những ngọn đuốc tanh tách, Ico không thể biết được những lời của cô ấy. Dù cho nó là gì, cậu chắc rằng chúng không giống bất cứ gì cậu đã nghe trước đó.

    Cô bước qua sàn không gây tiếng động, đi đến gần hơn, nói gì đó. Cô ấy đang nói chuyện với mình. Nhưng Ico không thể hiểu.

    “Cậu là…” cậu bắt đầu, cuối cùng tập trung dũng khí để lên tiếng, “cậu cũng là Vật tế à?” Đã có ai đó giam giữ cô ấy bên trong lâu đài này và để cô ấy bên trong cái lồng đó ư? Họ cũng đã bắt giam những linh hồn ở đây ư? Ico không thể tìm được những lời chính xác cho câu hỏi của mình. Thay vào đó tự cử động, nói với cô rằng cậu là một Vật tế, rằng họ mang cậu đến lâu đài bởi vì cậu có đôi sừng.

    Cô gái đi đến chỗ Ico và duyên dáng quỳ xuống. Cô duỗi thẳng hai tay về phía má của Ico.

    Những ngón tay trắng nhợt nhạt đó. Đôi mắt như đá quý. Tất cả rạng ngời với cùng ánh sáng thanh tao mà cậu và Toto đã thấy dâng lên từ dưới đáy hồ trong hang.

    Đôi mắt Ico mở to khi cậu chú ý thấy một đám khói đen như mực xuất hiện phía sau cô.
     
    meo_mupconruoinho thích bài này.
  13. Magic Purple

    Magic Purple Gà BT Nhóm Chuyển ngữ

    Bài viết:
    1.252
    Được thích:
    1.345
    Đã thích:
    1.150
    GSP:
    397p
    Chương 2

    [4]

    Ở đâu có khói, ở đó có lửa, Ico nghĩ – nhưng những ngọn lửa duy nhất trong phòng là những ngọn đuốc bập bùng trên những bức tường. Cái gì đang cháy?

    Một lát sau suy nghĩ đó bị xua đi khi hai cánh tay to hiện ra từ đám khói cuộn xoáy phía sau cô gái và nhấc cô lên. Cái hình dáng đen xoay đi và bắt đầu di chuyển về góc phòng, mang theo cô gái trên vai nó. Cô gái hét nhanh một tiếng, nhưng đám khói dường như không chú ý.

    Nó đang đi, Ico nhận ra, chết lặng người. Hình dáng của nó gần như con người, nhưng nó không có vật chất ngoài khói đen như mực, một màn sương đen. Nó thậm chí có một cái đầu, phồng lên và chẳng ra hình thù gì - ở trên đầu có đôi sừng, giống y của Ico.

    Đó không phải là khói – nó là một sinh vật, một con quái vật.

    Nhận thấy rõ điều đó như một cái tát vào mặt Ico, khiến cậu bật dậy và theo sinh vật đó.

    Nó di chuyển không một tiếng động, lướt nhanh qua phòng như một đám sương. Ngay cả với cái lưng của nó xoay lại, Ico vẫn có thể nhìn thấy ánh sáng từ đôi mắt của sinh vật đó. Chúng to như nắm tay của Ico, không có con ngươi hay mí mắt, lập lòe như những ngôi sao băng ngay trước khi chúng nhấp nháy sau khi cắt qua bầu trời đêm.

    Cô gái gục người mềm nhũn trên vai của nó.

    Ico chú ý điều gì đó mà cậu chưa thấy trước đó trên những tảng đá ở trong góc phòng – một cái đĩa đen, đen như sinh vật bóng tối. Trong một lúc, cậu nhầm nó là một vũng nước, nhưng sau đó nó bắt đầu chuyển động. Cậu nhận ra nó cũng làm từ màn sương đen lờ mờ. Cái đĩa sôi sục và bắt đầu nổi bong bóng như thể nó đang sôi.

    Sinh vật tiến tới mép và quỳ trước nó. Nó nhét một trong hai cái chân của nó vào và bắt đầu chìm trong cái vực cuộn xoáy. Với cô gái vẫn trên vai nó, toàn bộ cơ thể nó bắt đầu tan vào sàn nhà.

    Trong vòng vài hơi thở, sinh vật đó đã chìm tới eo nó, mọi thứ khác biến mất phía dưới vòng tròn đen như mực. Cô gái với cả hai tay ra, đang cố gắng tóm lấy mép hồ. Nó đang kéo cô xuống, mang cô xuống dưới. Cô gái lắc đầu, làm xõa mái tóc màu hạt dẻ xinh đẹp của cô, và nắm chặt lấy mặt đất với tất cả sức mạnh của hai cánh tay mảnh khảnh của mình. Nhưng lực của cái hồ lớn hơn – cô ấy sẽ không bao giờ tự mình thoát được.

    Ico chạy nhanh đến nỗi cậu gần như ngã về phía trước, vươn tới cô gái. Trong sự choáng váng và sợ hãi của mình, cậu không lên tiếng được. Cậu tóm lấy cổ tay cô gái và kéo với tất cả khả năng của mình. Cái vực đen kéo lại, đến khi Ico sợ là cậu có thể giật cánh tay cô khỏi khớp vai. Vai cậu gây ra một tiếng răng rắc với sự cố gắng, và đôi giày của cậu trượt trên sàn đá. Ico đổ nhào xuống mặt đất.

    Cú ngã mang tay kia của cậu đến gần hơn để cô gái với tới, và nhanh chóng cậu nắm cả hai tay trên hai cổ tay của cô. Bước lùi lại phía sau, Ico dùng hai chân kéo để lôi cô gái khỏi cái vực đen cuộn xoáy.

    Cuối cùng, những đầu ngón chân của đôi chân trần của cô rời khỏi mép của cái vực đen và cô ngã xuống sàn. Ico nới lỏng nắm tay siết chặt hai cổ tay cô gái, sau đó quỳ xuống tảng đá, thở hổn hển.

    Cô gái đang thở không đều, như thể cô vừa bị chết đuối. Phía sau cô, cái vực đen đang bắt đầu khuấy động.

    “Sinh vật đó là gì vậy?” cậu hỏi, đầu óc cậu chạy đua. Cậu phải đưa cô tránh khỏi cái vực. Họ cần phải chạy khỏi nơi này. “Tại sao chúng theo cậu?”

    Cô gái nằm trên sàn, thở hổn hển. Ico cảm thấy chính trái tim mình dâng lên trong cổ họng, làm cậu nghẹt thở. Cậu đặt một tay lên ngực mình, chạm vào tấm Phù hiệu. Mình cần phải bình tĩnh. Cậu hít một hơi thở sâu, nhưng ngay trước khi cậu có thể thở ra, cô gái biến mất phía sau một tấm màn bóng tối cuộn xoáy.

    Ico há hốc. Một trong những sinh vật bóng tối khác đang kéo cô xuống, lần này về phía góc phòng xa nơi cậu nhận thấy một cái vực đang cuộn xoáy khác. Đang chờ đợi.

    Lần này, cơn giận dữ của Ico nổi lên nhanh hơn sự sợ hãi của cậu, và cậu chạy tới sinh vật đó đấm dữ dội những nắm tay mình vào lưng nó – nhưng tất cả những gì cậu chạm vào là không khí. Bất kể cậu đánh mạnh như thế nào, nó giống như đang cố gắng đấm vào một đám mây.

    Bước đi lảo đảo và thỉnh thoảng khụy gối xuống, cô gái đang bị kéo đi. Bất kể cậu đấm, đá hay ném mình vào sinh vật đó nhiều như thế nào, nó dường như không cảm thấy gì. Đường nét của đám khói hơi thay đổi bất cứ nơi nào tay chân cậu chạm vào nó, nhưng không nhiều.

    Mình tiêu diệt thứ này như thế nào?

    Ico xoay tít nhanh đến nỗi nó làm cổ cậu đau. Bây giờ cô gái ở xa hơn, gần cái vực đen hơn. Tệ hơn, có nhiều hơn một sinh vật màu đen trong phòng. Chúng ở khắp nơi – những đôi mắt, phát ra một ánh sáng trắng mờ đục. Một số chần chừ gần Ico, số khác theo cô gái, gia nhập với con giữ cô ấy. Khi cậu cố gắng chạy theo cô, hai trong số chúng đi tới và chặn đường cậu.

    Mình không thể đánh chúng, mình không thể đá chúng – Mình cần một vũ khí.

    Âm thanh tanh tách của những ngọn đuốc đang cháy đến tai cậu, và cậu có câu trả lời. Lửa. Thứ gì tốt hơn có thể đẩy lùi bóng tối chứ?

    Ngọn đuốc vẫn nằm cạnh cái lồng bị rơi, kêu xèo xèo. Ico đi thẳng tới ngọn đuốc, nhặt nó lên bằng cả hai tay và xoay sang xông tới những sinh vật kia.

    Với cú đánh đầu tiên của Ico, ngọn lửa nhỏ trên đầu đuốc tắt ngúm – ngọn đuốc của cậu đã trở thành một cây gậy.

    Nhưng cú đánh tiếp theo của cậu cắt qua eo một trong những sinh vật, và vẻ bên ngoài của nó bị mất đi hình dáng, cuộn qua không khí như khói loãng. Bóng đen to lớn biến mất trước cậu, chỉ để lại hai con mắt kỳ lạ lơ lửng trong không trung, được vây quanh bởi một làn khói mỏng.

    Dũng khí căng lên trong ngực Ico. Cậu vung gậy tới lui, tiến đến chỗ cô gái. Cô ấy đang bị lôi xuống cái vực xoáy tít ở phía xa bên kia căn phòng rồi, hai cánh tay đen của một trong những sinh vật vòng quanh eo cô.

    Vút, vút! Ico có thể cảm thấy gió khi cậu vung gậy của mình, tách lớp màn khói ra. Cuối cùng, cậu tiến tới chỗ cô gái. Cậu vung gậy vào cổ của sinh vật đang giữ cô, và khói xoáy tít. Đôi mắt của sinh vật di chuyển, con mắt phải di chuyển từ bên trái, và đường nét của vai nó tan biến.

    “Tóm lấy!”

    Ico duỗi bàn tay trái của mình ra, hét với cô gái. Cô đã chìm xuống đến đầu gối.

    Trong thời gian một hơi thở, chỉ đủ để nháy mắt, cô chần chừ. Đôi mắt cô nhìn chằm chằm vào đôi mắt của Ico, thắc mắc, cố gắng săm soi vào đáy tâm hồn cậu. Nơi cái nhìn chằm chằm của cô rơi lên cậu, cậu cảm thấy mát lạnh, như thể nước sạch chảy qua người cậu. Ico thở hổn hển với sự xúc động.

    Cô duỗi tay ra và tóm lấy tay cậu.

    Những ngón tay của họ chạm nhau, sau đó lòng bàn tay, và nó có cảm giác như một dòng điện chạy giữa tay họ, tinh khiết và ấm áp. Nó làm Ico nhớ về ngọn gió nam thổi từ dãy núi mà được những thợ săn trong làng Toksa quý trọng, bảo vệ một chuyến đi săn tốt đẹp. Nó là một cơn gió nhẹ, đầy những ký ức yêu thích và hạnh phúc. Đầy an toàn. Nó bao bọc lấy cậu trong chốc lát, và căn phòng di chuyển quanh cậu.


    Ico đang ngồi trên cùng sàn đá, nhìn lên cùng những bức tường đá, cùng trần nhà cao. Những ngọn đuốc lung linh trên đế.

    Cái lồng sắt gai nằm trên bục tròn. Nó không bị vỡ, nó không nghiêng. Nó đứng trống rỗng, và cánh cửa đóng lại.

    Bên cạnh cái lồng có một ông lão. Ông đang dựa lên một cây gậy và mặc áo choàng được dệt sợi óng ánh bạc trông nặng nề. Một viên đá quý được chạm khắc phức tạp trang trí trên cây gậy của ông ta. Ico nhận ra nó ngay lập tức. Nó là một quả cầu thiên thể - một quả bóng có hình cầu chỉ ra những vị trí của mặt trăng và những ngôi sao, được các nhà chiêm tinh sử dụng để tiên đoán mong muốn của ông trời.

    Mái tóc của ông lão dài, râu ông cũng dài. Cả hai đều trắng. Ông lắc nhẹ đầu, và Ico bắt được một cái nhìn lướt qua trên gương mặt ông ấy. Đôi lông mày rậm rạp của ông mọc dài đến nỗi chúng muốn che đi cả đôi mắt ông, nhưng chúng vẫn không thể che được nỗi buồn của ông.

    “Không có cách nào để sử dụng kiến thức cổ xưa,” ông lão lẩm bẩm, chỉ về cái lồng với đầu gậy của ông. “Chủ nhân của chúng ta đã lạc đường. Không có điểm đến cho con đường của chúng ta. Nó chỉ dẫn vào bóng tối.”

    Ico nhìn quanh lần nữa. Cùng căn phòng đó – nhưng không có bụi bặm trên sàn. Cũng không có những khối đá trên tường bị sứt mẻ hay nứt vỡ. Cái lồng tỏa sáng rực rỡ, giống như thép mới luyện.

    “Đây là một sai lầm, một sai lầm kinh khủng,” ông lão nói, giọng ông giống như một tiếng rên rỉ. “Lâu đài này tiến đến sự diệt vong.”


    Ico thở hổn hển. Như thể là cậu đã ở dưới nước rất lâu và chỉ vừa ngoi lên mặt nước. Giống như trái tim của cậu chìm xuống một nơi khác rất lâu, và chỉ vừa trở lại.

    Tầm nhìn của cậu trở lại. Cô gái đang ở trước cậu, những ngón tay của họ đan vào nhau. Cậu cảm nhận được cây gậy gỗ bị siết chặt trong tay kia của cậu.

    Dưới chân cậu, một vực khói đen xoáy tít trên mặt đất. Một đôi mắt đi lên khỏi cái vực, theo sau bởi cái hình dáng đen quen thuộc đó.

    Chúng đến từ những cái vực.

    Nhanh chóng di chuyển, Ico đánh vào đầu của sinh vật mới hình thành với cây gậy của mình. Vẫn nắm tay cô gái, cậu xoay quanh và đánh một trong những sinh vật hiện ra phía sau họ. Nó tan biến, chỉ để lại đôi mắt trôi lơ lửng trong không trung. Khi cậu quan sát, khói bắt đầu kết hợp lại quanh đôi mắt, tạo nên một sinh vật mới tại nơi mà thứ trước đó đã đứng. Tất cả những điều này xảy ra chỉ trong chốc lát, tuy nhiên nhiều sinh vật hơn đã tạo thành hình dáng khỏi cái vực ở góc phòng rồi.

    Chúng ta phải chạy. Ico nhìn lên, nhưng bốn bức tượng vẫn đứng đó, chặn lối thoát của họ. Cửa sổ mà cậu lần đầu tiên đã qua để vào phòng ở quá cao để cậu với tới, và không có cách nào để trèo lên. Hai cái thang trong phòng cũng không đủ cao, cứ cho là thậm chí cậu có thể giật chúng ta khỏi chỗ buộc cố định của chúng trên bức tường mà không làm gãy chúng.

    Hoảng loạn, cậu vung gậy, thả tay cô gái ra khi cậu làm thế. Cô ngước mắt lên khi cậu bỏ tay cô ra và bắt đầu đi chậm chạp về phía bốn bức tượng. Những sinh vật tiến tới.

    Ico nhanh chóng chạy đến chỗ cô gái, suýt nữa mất một chiếc giày khi cậu làm thế. Cô gái chỉ nhìn qua Ico trước khi trở lại nhìn chằm chằm những bức tượng. Vẫn di chuyển lảo đảo về phía những bức tượng, cô lẩm bẩm gì đó bằng những từ cậu không thể hiểu được.

    Lại một lần nữa, Ico nắm lấy tay cô gái. Lần này, cậu có thể cảm thấy cô ấy đang kéo cậu. Cô muốn đi về phía những bức tượng. “Đó là đường cùng!” Ico hét lên, kéo mạnh cô lại. Cô lắc đầu như thể bực mình và kéo cậu lại. Đôi mắt cô nhìn chăm chú vào những bức tượng, và biểu hiện của cô nói rằng Tôi phải đi.

    Chỉ mất khoảnh khắc sao lãng đó những sinh vật kia đã vây quanh Ico. Ico quay lưng lại với cô gái và vung gậy của mình theo những vòng tròn rộng. Cô gái di chuyển chậm chạp nhưng nhẹ nhàng. Cô tránh cây gậy khi nó đến quá gần, và khi Ico, hụt hơi bởi nỗ lực đẩy lùi những sinh vật, giảm đi sự bảo vệ của cậu, cô giơ cánh tay dài, mảnh khảnh của mình và chỉ về những bức tượng. Tôi biết, tôi biết. Những bức tượng! Ico tóm lấy tay cô gái và bắt đầu chạy. Mái tóc cô và tấm khăn choàng trên bộ váy trắng của cô dập dờn trong gió.

    Họ băng qua căng phòng, vượt qua cái lồng bị rơi. Bước chân của cô gái trở nên nhanh hơn, và cô chạy trước cậu – một linh hồn rừng xanh dẫn một người thợ săn đến nơi an toàn. Bốn bức tượng xuất hiện trước họ.

    Đột nhiên, một tia sáng trắng rực rỡ cắt qua không trung. Cô gái dừng lại như thể cô đã va phải một bức tường vô hình và bước lùi lại một bước. Ico lưỡng lự và dừng lại cạnh cô.

    Ánh sáng trắng đang đến từ những bức tượng, giống như khi người lính gác khua thanh kiếm lạ đó. Cô gái giơ một tay lên như thể để che gương mặt mình. Ico nhận ra một trong những sinh vật màu đen khác, hai cánh tay dang ra, tấn công sườn cô. Nhưng lúc sinh vật đi vào ánh sáng, nó biến mất như một cơn gió thổi bay khói đi, không để lại dấu vết gì. Không ngay cả một đôi mắt phát sáng. Ánh sáng nhảy từ bức tượng này sang bức tượng kia, hội tụ với nhau ở một điểm nơi mà nó dường như vẽ ra một họa tiết nhanh trong không trung trước khi biến mất hoàn toàn.

    Với một tiếng ầm ầm nhỏ, những bức tượng bắt đầu chuyển động. Giống như những người lính hành quân thay đổi đội hình giữa tiến trình, hai bức tượng bên ngoài di chuyển về trước, tạo đường cho hai bức tượng còn lại trượt qua hai bên, mở đường cho Ico và cô gái.

    Há hốc, Ico nhìn quanh căn phòng. Những cái vực khói đang sôi trên sàn đang bốc hơi, và chúng nhanh chóng biến mất hoàn toàn. Nơi mà chúng từng ở, sàn đá trông không khác biệt gì trước khi những sinh vật xuất hiện.

    Cô gái từ từ hạ tay mình xuống. Cô dường như không ngạc nhiên ít nhất cũng không hoảng sợ. Vai cô thả lõng, và hai cánh tay cô buông thõng hai bên.

    Chúng đã biến mất.

    Với một cái cổ họng khô, Ico nuốt và đặt một tay lên ngực mình để làm dịu đi nhịp đập của trái tim cậu. Cô ấy đã tống khứ bọn chúng. Thậm chí cô ấy đã mở cánh cửa.

    Cô gái đứng bất động, nhìn xuống sàn. Ico đi về phía cô, bước đi im lặng – mặc dù cậu không thể nói được tại sao cậu cần làm vậy.

    “Cậu đã làm điều đó như thế nào?”

    Cô gái quay lại, nhìn vào chân cậu, nhưng cô không nói gì.

    “Ôi, được rồi. Cậu không hiểu tôi. Ý tôi là, cậu không nói ngôn ngữ của tôi. Ừm, xin lỗi.”

    Cô gái chớp mắt. Đôi lông mi dài của cô run rẩy.

    “Nhìn kìa,” Ico nói, “chúng ta cần ra khỏi đây trước khi những sinh vật đó trở lại. Đi với tôi, được chứ? Cùng tìm đường ra ngoài.”

    Ico nhận ra cậu vẫn đang cầm cây gậy trong tay mình. Nó không thực sự là thứ cậu đã phác họa khi cậu nghĩ về một vũ khí, nhưng nó đã hoàn thành một công việc đáng khâm phục là đẩy lùi những cái bóng. Cậu quyết định cậu tốt hơn hết là giữ lấy nó. Cậu nắm vững nắm tay mình trên cây gậy và đưa tay trái mình ra, phủi tay áo cô gái. Cậu cố gắng nhìn vào mặt cô, nhưng cô không bắt gặp cái nhìn của cậu. Cô chỉ nhìn vào cánh tay vươn ra của cậu, và trong một lúc, cô không di chuyển.

    Cuối cùng, cô quyết định và tóm chặt lấy tay Ico.

    Tay cô mềm mại trong tay cậu, với những ngón tay dài mảnh khảnh và những móng tay mỏng manh giống như những cánh hoa mới nở của một bông hoa. Lại một lần nữa, một cảm giác giống như một cơn gió nhẹ chuyển từ tay cô sang tay cậu. Ico nhớ lại việc nhúng đầu vào những hồ nước lạnh vào một ngày nóng bức giữa mùa hè. Ngay lập tức, bụi bẩn của ngày được rửa sạch, khiến cậu cảm thấy sạch sẽ tận xương.

    Trong một lúc năng lượng chảy vào người cậu cảm thấy rất tốt, Ico nhắm mắt lại. Cậu không còn mệt mỏi nữa. Cơn đói của cậu tan biến đi. Cậu cảm thấy không khát. Ngay cả sự đau đớn chỗ chân cậu vì nhảy xuống từ trên đỉnh lồng giảm đi.

    Lại một lần nữa, một cảnh mộng đến khi đôi mắt cậu nhắm lại – thứ gì đó đã từng ở đó, nhưng không còn nữa.

    Bốn bức tượng – những thứ mà cô gái đã di chuyển một lúc trước đó – đã xếp thành hai hàng. Một hình dáng trong bộ áo choàng màu đen rũ xuống và một tấm mạng đen dài quỳ phía trước chúng, quay lưng lại với chúng, đang cầu nguyện.

    Hình dáng đó cúi thấp đến nỗi khó để nhận ra bất cứ chi tiết nào, nhưng Ico quyết định đó là một người phụ nữ. Trong một lát, cậu nghĩ bà ấy có thể đang giữ thứ gì đó trong hai tay bà, nhưng cậu quyết định đó chỉ là những ngón tay đan vào nhau của bà.

    Hoàn toàn bất ngờ, một tia sáng rực rỡ giống như tia chớp bắn từ ngực người phụ nữ, đập vào mỗi bức tượng. Những bức tượng bắt đầu chuyển động, xếp hàng lại để chặn lối vào căn phòng, giống như chúng vốn từng thế khi lần đầu tiên Ico thấy chúng.

    Khi những bức tượng dừng lại, người đang quỳ đứng lên. Tấm mạng rớt khỏi gương mặt bà – hoặc có lẽ bà ta đã dùng tay lấy nó đi. Ico nhìn lướt qua một má trắng và một mái tóc được bện lại thành một bím tóc công phu. Đó một người phụ nữ.

    Tầm nhìn mờ đi. Ico mở mắt.

    Vẫn đang cần tay cậu, cô gái đứng nhìn chằm chằm phía trước họ. Mình tự hỏi liệu cô gái cũng thấy nó.

    Ico nghĩ lại về ông lão cậu đã thấy khi lần đầu tiên cậu nắm tay cô gái. Ông ta đã không cầu nguyện im lặng như người phụ nữ mặc đồ đen; ông ta đã tức giận. Có lẽ quả cầu thiên thể trên cây gậy của ông ta cho rằng ông ta đại loại là học giả nào đó. Có lẽ một học giả rất vĩ đại, Ico nghĩ. Trưởng lão có những cuốn sách với những bức vẽ của thượng đế trong chúng, nhưng ngay cả khi ông ấy không có một thiết bị như thế.

    Vậy người phụ nữ mặc đồ đen là ai? Bà ấy đang cầu nguyện để thổi sự sống vào những bức tượng hay gì đó khác? Có lẽ, Ico nghĩ với một sự hiểu biết đột ngột, bà ấy đang thực hiện một câu thần chú bảo trợ. Có lẽ tất cả những bức tượng đó được dùng để khóa những cánh cửa và bắt giam thứ gì đó. Không có một người bình thường nào có thể làm đồ vật di chuyển như thế. Bà ấy là một phù thủy ư?

    Phù thủy là những câu chuyện cũ rích trong những câu chuyện thần tiên Ico đã nghe khi lớn lên. Họ là những người đi theo của bóng tối, đầy tớ của những vị thần ác những kẻ chiến đấu chống lại đấng Sáng tạo. Phù thủy là những phụ nữ đã chết vì chiến tranh và trong khi họ giống con người ở hình dáng, trái tim họ lấp đầy những lời nguyền bóng tối do những vị thần ác niệm. Dù cho họ đi bất cứ đâu, bóng tối đi theo, ngay cả trước ánh sáng của ban ngày.

    Có một thứ như thế trong Lâu đài trong Màn sương ư? Chủ nhân của lâu đài là một phù thủy ư?

    Ico lắc đầu. Nghĩ về nó chẳng đưa cậu đi đến đâu. Cậu thậm chí còn không biết những hình ảnh này là gì, hoặc tại sao cậu thấy chúng. Cậu chỉ biết rằng nó xảy ra bất cứ khi nào cậu nắm tay cô gái.

    Cậu liếc nhìn cô. Cô trông không buồn hay thậm chí hoảng sợ. Cô cũng không cười hay dường như bận tâm với thế giới quanh cô gì cả. Mặc dù cô ở ngay cạnh cậu, và cậu có thể nhìn thẳng vào gương mặt cô, cậu cảm thấy như cô đang đứng ở bên phía khác của một tấm màn sương.

    Về vấn đề đó, cô ấy là ai?

    Cô có thể mở những cánh cửa được đóng lại bằng phép thuật bởi người phụ nữ mặc đồ đen. Cô mang trong mình sức mạnh giống như sức mạnh được thanh kiếm đó nắm giữ.

    Ico kéo nhẹ tay cô. Cô nhìn về hướng cậu – hoặc hơn nữa, cô xoay mặt mình về phía cậu, nhưng đôi mắt cô không nhìn cậu.

    Mình biết cô ấy cao hơn mình, có lẽ lớn hơn một chút… và không gì khác. Cậu cố gắng nhìn chằm chằm vào đôi mắt màu hạt dẻ của cô, cố gắng để xem liệu có bí mật nào đó ẩn giấu dưới đôi lông mi của cô không, nhưng nó trống rỗng.

    Mắt cậu di chuyển đến chiếc khăn choàng cô khoác trên vai. Nếu khăn choàng của cô có cùng sức mạnh chống lại lâu đài như Phù hiệu của cậu có vẻ có thì sao? Cô không có sừng trên đầu, nhưng cô đã bị giữ trong cái lồng. Cậu chắc chắn cô là một loại vật tế nào đó. Giống như trưởng lão và Oneh đã lo lắng cho cậu, ai đó lo lắng cho cô, và họ đã đưa cho cô chiếc khăn choàng như một sự bảo vệ vì vậy một ngày nào đó cô có thể trở về với họ.

    “Đi thôi,” Ico rạng rỡ nói. Dù cho cô gái là ai, hai thì tốt hơn một.
     
    meo_mupconruoinho thích bài này.
  14. Magic Purple

    Magic Purple Gà BT Nhóm Chuyển ngữ

    Bài viết:
    1.252
    Được thích:
    1.345
    Đã thích:
    1.150
    GSP:
    397p
    Chương 2

    [5]

    Căn phòng bên ngoài những bức tượng nhỏ hơn và lại được tách thành hai tầng. Ico tự hỏi tại sao lâu đài lại được xây dựng theo một cách bất tiện như vậy. Nó có vẻ như có những tầng sàn khác nhau mọi nơi, làm không thể nào đi thẳng qua được.

    Sự gia tăng trong phòng này rất cao, nhưng Ico nhảy lên với hai tay vươn ra và tóm lấy mép. Để lại phía sau, cô gái loạng choạng không vững trên đôi chân mình, có vẻ bị lạc. Cậu chỉ rời mắt khỏi cô một lát, nhưng khi cậu nhìn lại cậu thấy cô đã quay lại và đang đi về phía căn phòng với cái lồng.

    và những sinh vật!

    “Đường này!” Ico hét lên. Cậu trượt hai cánh tay mình trên mép sàn, với xuống về phía cô. “Tóm lấy tay tôi, tôi sẽ kéo cậu lên.”

    Cậu biết cô sẽ không hiểu lời của cậu, vì vậy cậu ra hiệu để truyền đạt ý mình. Cuối cùng, cô gái với tay cho cậu và tóm lấy hai tay cậu. Ico dốc hết sức mình để kéo cô lên – và lấy làm ngạc nhiên.

    Cô ấy nhẹ quá!

    Điều này không hề giống khi cậu chiến đấu để kéo cô ra khỏi màn sương đen cuộn xoáy. Mặc dù tất cả trọng lượng của cô ở trong hai cánh tay cậu, cô chỉ nặng hơn cái rổ cậu thường dùng để mang củi về nhà. Ico nhìn chằm chằm làn da trắng của cô và ánh sáng dường như tràn ngập cô.

    Cô ấy một linh hồn!

    Nhưng sau đó cậu thấy chiếc khăn choàng trên vai cô dập dờn.

    Một linh hồn hít thở. Và có ngón tay và ngón chân. Và tóc.

    Ico nhận ra cậu đang nhìn chằm chằm cô gái và đỏ mặt. Cô dường như không chú ý.

    “Tôi nghĩ chúng ta có thể ra ngoài từ đây.” Từ tầng cao hơn này, cậu có thể thấy một lối thoát hình vòm dẫn từ căn phòng qua nơi tràn ngập ánh sáng mặt trời rực rỡ. “Đi nào. Lối này!”

    Ico vẫy tay, thúc giục cô về phía trước. Cậu chạy qua cánh cổng tò vò, và sau đó dừng và đứng lại trong ngạc nhiên.

    Họ đang đứng ở điểm cuối của một cái cầu đá thẳng dài. Phía cuối bên kia quá xa làm cậu chỉ vừa vặn nhận ra nó.

    Cậu có thể nghe thấy biển từ đây. Có một lan can bằng những khối đá chồng lên nhau, và cậu nghiêng về phía nó, cảm thấy chóng mặt, như là cậu đã từng khi cậu nhìn xuống từ ngọn tháp giữ cái lồng. Biển xanh trải dài phía dưới cậu. Những đám mây trôi dạt trên đầu, và cậu có thể nghe thấy tiếng kêu của những con chim biển đến từ khắp mọi hướng.

    Gió thì thầm trong tai cậu. Tấm Phù hiệu dập dờn trên ngực cậu.

    Ở một góc của lan can cầu có một bức tượng. Ico bước đến gần hơn và nhìn lên nó, mê mẩn, chốc lát quên đi cô gái phía sau mình. Đó là một bức tượng của một hiệp sĩ. Ông ấy mặc một chiếc áo giáp, và hai chân ông cũng được bọc sắt, mặc dù hầu như cơ thể ông được che phủ bởi một chiếc áo choàng dài bọc quanh trước người. Đầu ông đội một chiếc mũ sắt, hình dáng giống như những cái mà lính gác đã đội, trọn vẹn với đôi sừng. Đôi sừng của ông chĩa lên, và sừng bên phải đã bị vỡ.

    Bức tượng của người hiệp sĩ quay về phía với họ, xoay lưng lại với cây cầu, với hai cánh tay giấu dưới chiếc áo choàng của ông. Đây không phải là một bức tượng của ai đó trong cuộc chiến đấu. Ông ấy có vẻ gần như quá trầm ngâm để là một hiệp sĩ đúng nghĩa. Bức tượng bị phong hóa và rỗ do nhiều năm dài tiếp xúc với các hiện tượng khí tượng, và mặc dù những đường nét của khuôn mặt đã mòn đi từ lâu, Ico không nghĩ ông ấy trông đặc biệt lạnh lùng hay oai nghiêm như người được mong chờ trông giống một chiến binh vĩ đại.

    Có lẽ bức tượng đã được làm để tưởng nhớ ai đó phụng sự cho lâu đài chăng? Cậu đã nghe được rằng có nhiều bức tượng như này ở thủ đô được dựng lên để vinh danh các cựu lính gác thành phố, hoặc những người đã chiến thắng những trận chiến vĩ đại để bảo vệ đất nước của họ. Những người đá đó ngồi dạng chân trên ngựa, vung roi da hoặc kiếm của họ, ra lệnh cho người của họ, một bức tranh hoàn hảo của ngày mà khi sự trung thành và quả cảm của họ đã tỏa sáng rực rỡ nhất.

    Nhưng hiệp sĩ này trông như ông ấy chỉ đang suy nghĩ. Kỳ lạ.

    Ico đứng trên bức tường đá thấp phía dưới bức tượng để nhìn kỹ hơn. Bức tường cao đến khoảng thắt lưng Ico, và nó hẹp. Cậu cố gắng không nhìn xuống biển xa phía dưới mình ở bên kia. Giữ thăng bằng, cậu xoay mặt sang bức tượng.

    Nhìn nghiêng, người hiệp sĩ không mất đi biểu hiện trầm tư của mình. Ico chú ý thấy những đốm nhỏ trên một phần áo choàng của ông ấy. Những giọt máu ư? Không, có lẽ chúng chỉ là những vết bẩn do mưa.

    Cậu đoán rằng bức tượng rất già. Có lẽ thậm chí già như Lâu đài trong Màn sương. Cậu tự hỏi cái sừng trên mũ của hiệp sĩ đã vỡ từ khi nào. Chỗ vỡ nhẵn và sạch.

    Đôi mắt Ico mở to. Từ vị trí thuận lợi mới của cậu nó hoàn toàn rõ ràng: đôi sừng không ở trên chiếc mũ sắt của ông ấy, chúng mọc từ trên đầu ông. Mặc dù chiếc mũ sắt giống với những cái của các lính gác đền thờ, mũ của người hiệp sĩ này hơi rộng hơn ở phần gáy, tạo nên một cái bát trên đầu ông. Những khe nhỏ đã được cắt bỏ ở trên tai để đôi sừng của ông vừa qua.

    Ông ấy là một Vật tế, giống như mình. Nhưng làm sao một Vật tế có thể trở thành một hiệp sĩ? Điều đó có nghĩa là gì?

    Bởi sự sao lãng của mình, Ico suýt nữa trượt chân và ngã từ lan can. Biển lấp đầy tầm nhìn của cậu. Với một tiếng kêu ăng ẳng, cậu vẫy hai cánh tay mình và cố gắng nghiêng người để cậu ngã lại vào những khối đá ở chân bức tượng.

    Cậu nghe thấy âm thanh của một tiếng thở hổn hển bên cạnh. Đó là cô gái, đứng cạnh ô cửa tò vò. Cô đưa hai tay lên miệng, trông hoảng hốt.

    “Ôi, này, xin lỗi vì điều đó! Tôi không định ngã trên mép đâu, thật đấy!”

    Ico mỉm cười với cô gái. Từ từ, hai tay cô buông thõng xuống hai bên người. Sau đó cô đi về phía cậu và đứng cạnh cậu, nhìn lên bức tượng. Đó là lần đầu tiên cậu thấy cô ấy nhìn trực tiếp vào bất cứ cái gì.

    Một cơn gió biển mạnh bắt lấy mái tóc cô, làm nó nhảy múa cùng hai hàng lông mi dài của cô. Cô chớp mắt vài lần, nhưng ánh nhìn chằm chằm của cô chưa khi nào rời khỏi bức tượng người hiệp sĩ.

    “Tôi tự hỏi liệu họ có đặt ông ấy trong một cỗ quan tài giống như cái họ đã đặt tôi vào không,” Ico nhẹ nhàng nói. “Nhưng ông ấy nhìn quá già – có lẽ một thời gian dài trước đây họ không làm hiến tế, và ông ấy chỉ là một hiệp sĩ phụng sự ở đây tại lâu đài.”

    Đôi môi cô gái hơi mấp máy. Đầu tiên, Ico nghĩ đó là gió, nhưng sau đó cậu nhận ra cô ấy đang thì thầm điều gì đó. Nó nghe như – một cái tên. Giống như thứ gì đó cô nhớ lại từ một quá khứ xa xôi, nói nó ra chỉ để xem liệu nó nghe có đúng không.

    “Cậu biết đây là ai ư?”

    Cô gái không trả lời. Ico nắm tay cô gái, nửa mong chờ và nửa lo sợ cảnh mộng cậu biết sẽ đến.

    Trong một lúc, Ico nghĩ không có gì thay đổi. Sau đó bức tượng của hiệp sĩ di chuyển.

    Nó xoay đầu lại, nhìn về hướng của Ico. Cậu cảm thấy một cái nhìn chằm chằm trầm tư về phía cậu từ hai lỗ trong tấm mặt của hiệp sĩ.

    Những mảnh giáp của người hiệp sĩ va chạm nhau kêu lanh canh khi ông ấy bước xuống từ lan can đá. Một ngọn gió bắt lấy áo choàng của ông khi ông đứng cạnh Ico, làm nó bay dập dờn.

    Ico không thể nói gì; cậu đơn giản là đứng đó nhìn lên người hiệp sĩ. Cậu không cảm thấy sợ hay nguy hiểm gì. Ngay cả sự ngạc nhiên của cậu cũng mờ đi sau chốc lát, được gió mang đi.

    Có gì đó dâng lên trong ngực cậu, một cảm giác cực kỳ quen thuộc, giống như một ký ức cũ từ tuổi thơ. Tại sao người hiệp sĩ này trông quen thuộc vậy? Là bởi vì đôi sừng của ông ấy ư?

    Người hiệp sĩ duỗi một cánh tay ra và chiếc áo choàng rơi xuống, để lộ một chiếc áo sơ mi lụa dưới áo giáp. Những nắm bụi nhỏ rơi xuống từ tay áo.

    Ico đột nhiên nhận rằng rằng người hiệp sĩ không phải là một bức tượng. Ông ấy không được tạc từ đá. Đây từng là một người đàn ông, một người đàn ông với máu chảy trong huyết quản của mình. Chỉ giống như sức mạnh hắc ám nào đó đã biến thành phố có tường bao quanh ngoài Núi Cấm thành đá, vì vậy nó đã biến người đàn ông này thành một bức tượng.

    Bức tượng đặt một tay lên vai phải của Ico. Nắm tay của ông mạnh mẽ, nhưng dịu dàng. Làm Ico ngạc nhiên nhiều hơn nữa, nó thậm chí có cảm giác ấm áp.

    Có một ánh sáng dịu dàng trong đôi mắt hiệp sĩ khi ông nhìn vào mắt Ico. Mặc dù chiếc mũ sắt của ông che đi toàn bộ khuôn mặt của ông tới tận cằm, Ico chắc chắn ông mỉm cười. Ông ấy trông như trưởng lão, bất cứ khi nào ông ấy dạy mình thứ gì đó. “Hãy lắng nghe thật tốt, Ico, và cháu sẽ học được.”

    Không, không chỉ có thế. Có gì đó khác. Nó có cảm giác như – nó có cảm giác như cha cậu đang nhìn cậu. Nhưng mình thậm chí không biết cha mình, Ico nghĩ. Làm sao ai đó có thể trông giống ông ấy – ai đó mà gương mặt của họ mình thậm chí không thể thấy?

    Sau đó cậu nghe thấy hiệp sĩ nói.

    Con trai ta.

    Những lời đó vang lên trong đầu Ico. Đôi tai cậu chẳng nghe được gì.

    Hãy tha thứ cho sai lầm của ta, con trai – tất cả những đứa con của ta phải chịu đựng thử thách này.

    Bàn tay của hiệp sĩ rời khỏi vai Ico. Đầu ông xoay lại, nhìn lên ngọn tháp mà từ đó Ico và cô gái đã thoát ra, sau đó nhìn lại cái cầu đá dài qua biển, và cuối cùng ngoài những con sóng.

    Ông nói lại trong giọng nói im lặng đó.

    Lâu đài trong Màn sương!
    Sự oán hận mạnh như vậy.
    Tội ác sâu như vậy.
    Nhiều năm đền tội tàn nhẫn như vậy.
    Một ngàn năm thời gian không xóa bỏ được bản án của ta.
    Những năm tháng cằn cỗi dành để bị giam cầm ở đây.
    Ngay cả bây giờ nó tra tấn cơ thể ta, trói buộc ta vào nơi này.
    Nhưng, con trai ta.


    Bức tượng nhìn lại Ico.

    Ta cũng biết tình yêu ở đây.

    Sau đó hiệp sĩ bình tĩnh trở lại, hất áo khoác phía sau ông khi ông đi về phía cây cầu đá. Với mỗi bước đi đôi ủng thép của ông tạo một âm thanh nặng nề trên đá, và áo choàng của ông quất trong gió phía sau ông.

    Hiệp sĩ qua cầu, đi về phía màn sương trắng.

    Ico tìm thấy giọng nói của mình. “Đợi đã!”

    Cậu chạy, vẫn giữ tay cô gái trong tay mình. Cậu điên cuồng chạy. Đôi giày da của cậu kêu kèn kẹt ồn ào trên những khối đá cổ. Cậu lao tới phía trước với tốc độ mà cô gái đi chân trần gần như ngã khi cậu kéo cô theo.

    “Đợi đã! Làm ơn, đợi đã! Ông là ai? Ông là –”

    Hiệp sĩ biến mất vào màn sương.

    Đột nhiên, Ico cảm thấy một tiếng động ầm ầm dưới chân mình. Cây cầu đu đưa, và Ico suýt ngã. Cậu vung hai cánh tay, đánh rơi cả cây gậy của mình và tay cô gái. Phía dưới họ, cây cầu rạn nứt, sụp đổ. Ico nhảy lên không trung, chỉ tiếp đất trên phía xa của chỗ gãy.

    Cậu nghe thấy một tiếng hét phía sau mình – cô gái đang loạng choạng trên chỗ nứt đang rộng ra trên cầu. Cô vung hai tay và chân, tuyệt vọng tóm lấy bất cứ thứ gì hỗ trợ cô, nhưng cô không thể với tới mép cầu. Cô ngã, rơi thẳng xuống dưới với những khối đá vỡ, váy và chiếc khăn choàng của cô quất mạnh trong gió.

    Ico lao tới, chỉ vừa kịp bắt lấy tay cô. Cô gái lảo đảo, hai chân cô vẽ ra một đường vòng cung qua không trung mà gần như chạm tới bên dưới cây cầu. Sức đẩy của cú nhảy của Ico làm bản thân cậu trượt khỏi cây cầu. Cậu cố tìm chỗ bám trên những khối đá với những đầu của đôi giày của mình và dùng hai tay không của mình tóm giữ lấy mép cầu, cuối cùng dừng lại ngay tại nơi vai cậu đã vượt qua mép cầu.

    Đôi mắt cô gái mở to với sự kinh hoàng, và gió quất tóc cô vào mặt cô.

    “Ổn rồi, đừng sợ!” Ico bắt đầu kéo cô gái lên. “Cậu sẽ không rơi, tôi tóm được cậu rồi.”

    Cẩn thận, cẩn thận. Tay trái của cô gái với tới mép của chỗ gãy, và cô tóm lấy. Bây giờ đầu cô vượt qua mép cầu. Cậu kéo cô đến khi vai cô lại ở trên mặt cầu, và cô an toàn.

    Với một cú nhảy, cô đứng trên cầu. Ico dẫn cô đến một khoảng cách an toàn từ mép cầu trước khi cậu rốt cuộc thư giãn, nằm xuống một lát. Cô gái đổ sụp xuống bên cạnh cậu trên cây cầu. Đôi vai gầy của cô đang run rẩy. Cô có một ánh nhìn kinh hãi trong mắt mình, và hơi thở của cô dữ dội như gió quất quanh họ.

    “Suýt nữa thì tiêu.” Ico nhận ra cậu đang ướt đẫm mồ hôi. “Xin lỗi. Đó là lỗi của tôi. Tôi đã không nên chạy như thế.”

    Cô gái hạ đôi mắt xuống và lắc đầu.

    “Lâu đài này rất cũ, phải không?” Ico tiếp tục. “Có thể có những phần khác không an toàn. Chúng ta tốt hơn là chú ý hơn.”

    Cô gái hít một hơi thở sâu và ngồi dậy, nhìn lại về phía bên kia của cây cầu.

    Mặc dù không khí ở đây dày đặc sương, giờ họ ở đủ gần để nhìn về phía cuối bên kia. Nhiều bức tượng hơn. Thần chú bảo vệ. Lần này có hai trong số chúng, đứng sát vào nhau, chặn đường của họ.

    Người hiệp sĩ hẳn đã đi qua chỗ này, nhưng không còn thấy ông ấy ở đâu cả.

    Quỳ lên, Ico nhìn lại qua khoảng trống trên cầu đến nơi họ đã đứng trước đó. Có người hiệp sĩ trên bức tường, lưng ông xoay về phía họ, được bọc trong chiếc áo choàng của ông.

    Vậy đó chỉ là một cảnh mộng khác. Cậu đã tưởng tượng giọng nói cậu nghe thấy trong đầu mình ư?

    Cô gái đứng dậy và vuốt phẳng váy của mình. Ico nhìn lên cô.

    “Bức tượng đó ở bên kia,” cậu nói, chỉ. Cô xoay lại để nhìn người hiệp sĩ. “Cậu biết đấy, ông ấy đã từng là một con người. Ông ấy không phải là một bức tượng, mà là một người đàn đông đã bị biến thành đá. Tôi đã thấy ông ấy –”

    Cô gái không nói gì. Thay vào đó, cô nhấc tay lên, chải lại mái tóc che mắt cô.

    “Lâu đài cũng đã nguyền hiệp sĩ đó, giống như tôi. Nó đã giam giữ ông ấy ở đây. Ông ấy là một Vật tế, giống như tôi. Điều tôi không thể hiểu được là, tại sao một hiệp sĩ vĩ đại như thế lại trở thành một Vật tế? Tôi đã nghĩ là lâu đài chỉ bắt những đứa trẻ.”

    Hình ảnh của người hiệp sĩ bước đi chầm chậm xuống lan can đá và băng qua cầu lấp đầy tâm trí Ico.

    Bây giờ cậu nghĩ về nó, khi áo choàng của hiệp sĩ đã bay phía sau lưng ông, Ico đã thấy một chiếc áo giáp và váy bọc sắt, nhưng cậu không thấy thanh kiếm nào – chắc chắn không có vũ khí nào phù hợp với một hiệp sĩ trong bộ áo giáp giống như của ông ấy.

    “Cậu đã nói điều gì đó khi cậu đứng cạnh người hiệp sĩ, phải không? Với tôi nó nghe như cậu đang nói một cái tên. Cậu có biết ông ấy không?”

    Cô gái đứng quay lưng lại với Ico, im lặng. Có lẽ cô ấy không thể nghe thấy mình qua cơn gió.

    Con trai ta, hiệp sĩ đã gọi cậu. Nó để lại một âm vang ngọt ngào cay đắng trong ngực Ico sẽ không bao giờ biến mất.

    Những đứa con của ta những người phải chịu đựng thử thách này.

    Ico không biết tên hay mặt cha mẹ cậu. Trưởng lão đã giải thích với cậu rằng đó cũng là một phần của tục lệ. Sau khi cha mẹ cậu rời làng, không có cách nào để liên lạc với họ, cũng như không có bất cứ lý do gì để làm vậy.

    Ông ấy là cha mình ư? Nhưng nếu cha cậu là một Vật tế, sao ông có thể sống lâu đến thế? Nếu ông được sinh ra với đôi sừng đó, ông sẽ được mang đến lâu đài giống như Ico và đặt trong quan tài. Ông sẽ không có cơ hội để trở thành cha mình.

    Ngay cả bây giờ nó tra tấn cơ thể ta, trói buộc ta lại nơi này.

    Ico đứng với một tiếng thở dài. Cậu phủi bụi khỏi đầu gối mình, nhiều bụi như cô gái, sau đó nhặt cây gậy gỗ của mình từ chỗ nó nằm trên cây cầu đá. Nhờ điều kỳ diệu nào đó, nó đã không bị mất đi khi cây cầu đổ sụp.

    “Không đi lại lối đó.”

    Khoảng trống trên cây cầu quá lớn để Ico có thể nhảy. Cây cầu đã gãy, chết. Một phần của lâu đài đã chết đi, giống như cỗ quan tài đã đã giữ cậu khi cậu lần đầu tiên đến.

    Có lẽ đây là một phần ảnh hưởng của tấm Phù hiệu của cậu lên lâu đài. Có sức mạnh hơn nhà tù của cậu trao cho cậu hy vọng – nhưng nó cũng là một nguồn đe dọa, bởi vì cậu đang nhanh chóng biết được. Chúng ta phải cẩn thận hơn từ đây.

    “Tôi không muốn trở lại đó.”

    Cô gái xoay về phía cậu và làm cậu ngạc nhiên, cô cười nhạt. Cô ấy thật xinh đẹp. Cậu nghĩ nụ cười của cô trông như một bông hoa nở rộ, đung đưa nhẹ nhàng trong một ngọn gió rừng, để những cánh hoa của nó bay trong gió. Cậu gần như có thể ngửi được hương hoa từ hơi thở của cô.

    Nắm tay nhau, họ băng qua phần còn lại của cây cầu cũ. Hai bức tượng đá và những điều bí ẩn chúng giữ phía sau những gương mặt không biểu hiện gì đang đợi họ.
     
    meo_mupconruoinho thích bài này.
  15. Magic Purple

    Magic Purple Gà BT Nhóm Chuyển ngữ

    Bài viết:
    1.252
    Được thích:
    1.345
    Đã thích:
    1.150
    GSP:
    397p
    Chương 2

    [6]

    Một lần nữa ánh sáng lóe lên qua không trung, và những tượng đá trượt qua mỗi bên. Ico chú ý thấy cô gái đang chớp mắt trong ánh sáng. Cô ấy trông gần như là hoảng sợ. Cô ấy cũng không biết tại sao những bức tượng di chuyển nhiều hơn mình là mấy.

    “Nó đau à?”

    Một ánh nhìn chằm chằm trống rỗng.

    Cô ấy không biết mình đang nói gì.

    Trong căn phòng này có một cánh cửa gỗ nhỏ và một cầu thang chạy quanh bên trong phòng, xoắn lên những bức tường. Họ đã ở đủ cao rồi. Ico muốn tránh khỏi đi đến bất cứ đâu cao hơn nếu cậu có thể. Chúng ta phải đi xuống bất cứ nơi nào chúng ta có thể nếu chúng ta có đang ra ngoài.

    May mắn, cánh cửa mở ra một cách dễ dàng.

    “Cậu chờ ở đây. Tôi sẽ đi xem liệu nó có an toàn không.”

    Qua cánh cửa, Ico chỉ tìm thấy sự thất vọng. Cậu đang đứng trên một ban công nhỏ nhìn ra một vực sâu lớn. Một ban công tương tự nhô ra từ xa bên kia. Nó trông như một cây cầu từng bắc qua khoảng trống ở đây, nhưng giờ nó không còn lại gì. Cậu nhìn xuống và ngay lập tức cảm thấy chóng mặt.

    Xa, xa phía dưới cậu có thể thấy màu xanh của cây cối và một ít màu trắng nơi chỗ đất khô nào đó lộ ra. Có lẽ một cái sân? Từ vị trí thuận lợi của cậu trên ban công, trông như cậu có thể đi vào ngọn tháp ở xa phía bên kia, nhưng không có đường đi xuống đó từ độ cao này.

    Đoán là chúng ta sẽ đi lên cầu thang từ bây giờ. Tiu nghỉu, cậu quay trở lại qua cánh cửa khi cậu nghe thấy cô gái hét lên.

    Ico chạy, sau đó đóng băng khi cậu trở lại căn phòng. Những sinh vật bóng tối đã trở lại, vây quanh cô gái như những con kền kền quanh một cái xác. Một vực xoáy tít đã mở ở một góc của căn phòng nhỏ.

    Máu dâng lên trong đầu Ico và cậu xông vào đám sinh vật, vung cây gậy của cậu. Có vài con lớn hơn với đôi sừng mọc trên đầu chúng, giống như những con đã tấn công họ trong phòng với cái lồng. Chúng nhảy múa một cách kỳ lạ, tránh những cuộc tấn công của cậu, di chuyển thành bầy quanh cô gái với những đôi mắt phát ra ánh sáng trắng đục. Nhưng Ico không còn sợ chúng nữa. Mình không quan tâm chúng là gì. Mình sẽ gửi chúng lại nơi chúng đến, không thành vấn đề dù cho bao nhiêu con trong bọn chúng mọc ra những đôi sừng xấu xí của chúng.

    “Nhận lấy cái này, và này, và này!”

    Cảm giác thật tốt, chém không khí với cây gậy của cậu, ném chúng về không gì cả. Nhưng cái vực vẫn sôi sục ở góc phòng. Vài đôi mắt phát ánh sáng trắng đi nhẹ nhàng quanh phòng, những hình bóng từ từ kết hợp thành một khối quanh họ.

    Cô gái lại hét lên, và khi Ico nhìn, cậu thấy một sinh vật bóng đen khác, lần này với đôi cánh như một con chim, tóm lấy cổ chiếc váy của cô và cố gắng bay đi với cô. Tóc của Ico dựng đứng trên gáy. Gì cơ, chúng cũng có thể bay ư? Cô gái vùng vẫy dữ dội khi sinh vật đó mang cô về phía đỉnh cầu thang.

    Ico chạy lên cầu thang, một đôi mắt lướt qua đầu cậu.

    - Ngừng lại, không được làm vậy.

    Ico siết chặt cây gậy của mình, những khớp ngón tay cậu trắng toát. Đám sinh vật đang nói ư?

    - Ngươi là một trong số chúng ta. Tại sao ngươi cản trở chúng ta? Tại sao ngươi không cho chúng ta thấy sự tử tế?

    Nó không phải là một giọng nói đơn lẻ, mà ra một tiếng đồng thanh, đang van nài, đang yêu cầu, đang khiển trách.

    Giờ cậu đã chắc chắn về nó. Đám sinh vật đang nói chuyện với nhau ngay khi chúng lượn quanh phòng, bay qua, xoay tròn quanh cậu.

    - Ngươi là một trong chúng ta.

    “Ngươi sai rồi!” Ico hét lên, khua cây gậy của mình. Một trong những sinh vật trước mặt cậu di chuyển sang một bên, nghiêng về phía cậu, nhìn chăm chú xuống.

    - Ngươi giống chúng ta. Chúng ta cũng là Vật tế.

    - Đôi sừng của ngươi, tấm Phù hiệu của ngươi.

    - Chúng ta đã trao mạng sống của chúng ta vào những khối đá. Trong khi cơ thể chúng ta thối rữa, linh hồn của chúng ta ở trong lâu đài bị nguyền rủa. Chúng ta đã sống những cuộc sống bất tử khác trong lạnh lẽo và bụi bặm.

    - Chúng ta bị trói buộc vào Lâu đài trong Màn sương khi chúng ta trói buộc cùng với lâu đài.

    - Không được cố gắng ngăn cản chúng ta.

    Ngực trĩu xuống, Ico giữ vững cây gậy của mình, nhưng hai tay cậu đang quá run rẩy để cậu có thể nhắm chính xác. Sinh vật có cánh đã biến mất với cô gái.

    - Vật tế bé nhỏ, đứa trẻ tài năng được tấm Phù hiệu bảo vệ. Đừng ngăn cản chúng ta. Làm ơn. Hãy cho thấy sự tử tế.

    “Không đời nào…” Ico thì thầm, nghiến chặt hàm răng để ngăn răng cậu va đập. “Các ngươi đang nói dối!” cậu hét lên. “Ta không giống các ngươi!”

    Ico hét đến khi cậu hết hơi, sau đó chạy lên phần cầu thang còn lại. Ở trên đỉnh, cậu thấy một cái vực đen khác đang sôi sục ở giữa một đầu cầu thang hẹp. Cô gái đang chìm vào nó, đã chìm tới cằm trong bóng tối rồi.

    Ném cây gậy của mình qua một bên, Ico nhảy tới mặt đất và chọc hai bàn tay mình tới khủy tay vào cái vực. Cậu tóm tay đôi vai mảnh khảnh của cô gái. Đôi mắt của cô gái u ám, phản chiếu lại màu đen dưới họ, và cơ thể phát ra ánh sáng trắng của cô đã hòa với bóng tối xoáy tít rồi. Tuy vậy, khi cô chú ý thấy Ico đang cố gắng kéo cô ra, một tia hy vọng xuất hiện trong đôi mắt cô, và cô nhẹ nhàng tỏa sáng, giống như một đám than hồng.

    “Bám lấy, chỉ một chút nữa!”

    Ico đã cố gắng để giải phóng cơ thể phía trên của cô khỏi cái vực xoáy khi thứ gì đó đẩy cậu từ phía sau, làm cậu ngã nhào qua cái vực. Cậu cuộn chân qua đầu và ngửa ra. Cậu nhìn quanh thấy một trong những sinh vật lượn lờ ngay trên cô gái. Miệng cô đang nửa mở trong một tiếng hét yên lặng, nhìn lên đám khói lấp đầy tầm nhìn của cô. Cô chằm chằm nhìn thẳng vào đôi mắt phát sáng mờ đục của sinh vật.

    Sinh vật kia săm soi nhìn lại cô.

    Nó lắc đầu, và cơ thể cô gái chìm xuống sâu hơn vào cái vực. Cô gái đi xuống chậm nhưng đều. Sinh vật kia giơ những cánh tay có móng vuốt ra – mặc dù nó trông ít đe dọa cô và giống nó đang cầu xin cô hơn, đầu của nó hạ xuống gần như tôn kính.

    Với một khởi đầu, Ico nhận ra rằng sinh vật đó đang nói chuyện với cô. Gọi cô, giống như những cái bóng đã gọi Ico. Và cô đang lắng nghe nó.

    Cằm của cô gái biến mất bên dưới màn khói đen đục ngầu. Hai tay cô từ từ buông mép khối đá bên ngoài cái vực. Sinh vật gật đầu và đưa hai bàn tay có móng vuốt lại với nhau trong một cử chỉ cảm ơn.

    Nó đang cầu nguyện cho cô.

    Cho đến bây giờ, khói đen đã lên được một nửa má cô. Đôi mắt to của cô không còn màu hạt dẻ nữa mà đen như mực đen quanh cô. Cái vực đang thắng cô.

    Cô ấy đang từ bỏ!

    KHÔNG! Một giọng nói khác vang lên trong đầu Ico, nhưng trước khi cậu có thể nghĩ nó của ai, một cảnh mộng lấp đầy giác quan của cậu.

    Trong cảnh mộng, cậu thấy cô gái chìm xuống. Đầu cô biến mất dưới bóng tối xoáy tít, để lại một mớ tóc cuối cùng cuộn xoáy trong không trung trước khi nó cũng biến mất. Sau đó một tia sáng rực rỡ - giống như ánh sáng lóe lên bất cứ khi nào những bức tượng tách ra – phun ra từ giữa cái vực đang sôi. Chớp kêu tanh tách trong không trung.

    Ánh chớp trở thành một vòng tròn bay qua không trung – nó đánh vào các sinh vật, làm bay hơi chúng trong chốc lát. Cái vực đen biến mất và vòng-tròn-vẫn-mở-rộng tiến tới Ico.

    Ico che mắt mình khỏi ánh sáng, hét lên, miệng mở to – và sau đó cậu biến thành đá. Giống như những người ở thành phố có tường bao quanh đó. Giống như bức tượng ở cuối cây cầu cũ.

    KHÔNG!

    Giọng nói lại đến với cậu, một cảnh báo khẩn cấp.

    Sau đó cảnh mộng mờ đi, và khi Ico được thả ra, cậu run rẩy và hét lên, xông về cái vực. Tất cả cậu có thể thấy của cô gái giờ là trán cô. Cô ấy đang chìm!

    Cậu thọc tay vào cái vực, những ngón tay của cậu quét qua làn da mềm trên má cô. Cậu nắm chặt cô, chụp bằng móng với những ngón tay của cậu và kéo như thể cuộc sống của cậu phụ thuộc vào điều đó. Cuối cùng, cậu cố gắng tóm được khăn choàng của cô. Cô lại vùng vẫy cánh tay và nó chạm vào tay cậu.

    “Không! Tôi sẽ không thả cậu ra!”

    Bây giờ gương mặt cô ở trên bóng tối cuộn xoáy. Cô thở hổn hển, nửa chết đuối. Nỗi sợ hãi trên gương mặt cô làm xóc lên một nguồn năng lượng mới qua Ico. Mình phải cứu cô ấy!

    Ico kéo, mất hết khái niệm thời gian, và khi cô gái cuối cùng ra khỏi cái vực, cậu nhe răng ra và gầm lên với những sinh vật quanh họ. Sau đó cậu vòng hai cánh tay qua cơ thể mềm nhũn của cô gái, và bế cô lên, nhảy từ mép của tầng cao hơn.

    Họ tiếp đất trên sàn đá phía dưới, gần bức tường. Ico để cô gái ở đó một lát, tìm lại gậy của mình và vung xung quanh giận dữ đến nỗi cậu đánh vào bức tường. Hai cánh tay cậu bị ảnh hưởng bởi cú va chạm. Cậu vẫn vung nó, biến những sinh vật trở lại thành khói. Cậu bắt được một trong những con có cánh với một cú đi xuống, đập nó xuống sàn. Ico gầm lên khi cậu đấm túi bụi vào đám sinh vật.

    Cuối cùng khi cậu nhìn lên, cái vực đen trên sàn đang bốc hơi. Ánh sáng biến mất khỏi những đôi mắt còn lại của đám sinh vật và chúng mờ đi. Cuộc tấn công đã kết thúc.

    Hết hơi và run rẩy, Ico nhận thấy má mình ươn ướt. Nước mắt chảy thành dòng trên mặt cậu.

    Ico thả tay cầm gậy ra. Đầu của cây gậy tạo một tiếng động nhỏ khi nó đập vào sàn. Cậu nhìn quanh và thấy cô gái đang ngồi trên đầu gối cạnh bức tường, hai tay cô che lấy mặt. Cô đan những ngón tay lại, chạm chúng trên trán cô – giống cử chỉ mà sinh vật kia đã làm trước cái vực trên đỉnh cầu thang. Cô ấy đang cầu nguyện. Hoặc có lẽ cô đang cầu xin sự tha thứ.


    Thật khó để tiếp tục cuộc tìm kiếm của họ để tìm đường ra khỏi lâu đài. Nhưng nếu họ ở lại đây, những sinh vật có thể trở lại. Dĩ nhiên, không có cách nào chắc chắn những sinh vật đó sẽ không nằm đợi sẵn dù cho họ đi đâu. Đây là lãnh thổ của những cái bóng – chúng không lang thang mò mẫm chung quanh lâu đài như Ico.

    Tuy nhiên, họ không thể ngồi ở đây mãi được. Thậm chí nếu Ico không thể thoát được trong khi trời vẫn còn sáng ngoài kia, ít nhất cậu có thể dẫn cô gái đến một tầng thấp hơn.

    Ico gọi cô gái, nói rằng họ nên đi, nhưng cậu không dám cầm tay cô. Cậu cảm thấy như thể trái tim cậu đã vỡ tan thành một ngàn mảnh và những suy nghĩ của cậu rối tung. Những điều bí ẩn của lâu đài sâu thẳm, và những cảnh mộng cậu nhìn thấy khi cậu nắm tay cô gái có thể cho cậu những câu trả lời – nhưng cậu sợ. Cậu có cảm giác rằng một khi cậu biết, cậu sẽ vĩnh viễn thay đổi. Cậu có thể không bao giờ trở lại được.

    Cậu cố gắng nhớ gương mặt của Oneh. Giọng nói hớn hở của Toto.

    Tại sao ngươi không cho chúng ta thấy sự tử tế?

    Ngươi là một trong chúng ta.

    Những lời của đám sinh vật trở lại với cậu, xua tan đi những ký ức của cậu về nhà. Ý của chúng là gì về việc bị trói buộc vào lâu đài và trói buộc lâu đài?

    Đừng cố gắng ngăn chúng ta.

    Tại sao chúng lại cố gắng mang cô gái xuống với chúng? Cậu đang ngáng đường chúng bằng cách cố cứu cô gái ư? Nhân tiện, cô gái là ai?

    Trong phòng tiếp theo có một bức tường ở trên một sân thượng lớn phía dưới một trần cao được chống đỡ bởi những cột đá vuông vức. Trái tim Ico mệt mỏi hơn là cơ thể, nhưng vẫn mất một nỗ lực lớn để trèo lên bức tường. Cậu phải chiến đấu lại với cảm giác rằng cậu không muốn đi xa hơn.

    Ở trên đỉnh, cậu xoay lại và gọi cô gái. Cô đứng lại.

    “Sao vậy? Nếu cậu không đi lên, chúng ta sẽ mắc kẹt ở đây.”

    Cậu không nghĩ cô ấy đang chần chừ. Cô trông như không muốn đi.

    “Có thứ gì đó trên này làm cậu sợ ư?” Ico hỏi. Sau đó thứ gì đó bên trong cậu khiến cậu tiếp tục. “Cậu biết đường quanh lâu đài này, đúng chứ?” Ico bị ngạc nhiên bởi chính những lời của mình. Tại sao mình lại nghĩ như thế?

    Cô gái đứng cách bức tường mọc lên ở giữa căn phòng một khoảng cách ngắn, nhìn lên Ico. Đôi chân trần của cô di chuyển qua sàn đá và cô xoay đi khỏi cậu. Cô bắt đầu đi trở lại đường mà họ đã đi.

    “Cậu không muốn thoát khỏi đây với tôi ư? Cậu muốn ở lại đây ư?”

    Cô gái dừng lại bên cạnh cánh cửa tò vò dẫn đến căn phòng cuối cùng.

    “Những sinh vật đó sẽ lại đến tìm cậu. Chúng đang theo cậu. Cậu biết điều đó.”

    Đầu cô gục xuống, để lộ gáy mình, và cô đặt một tay nhẹ nhàng lên mặt của cánh cửa. Sau đó cô đi qua cánh cửa.

    Ico đứng cô độc trên tầng cao hơn, dùng hai cánh tay ôm lấy bản thân mình. Ánh sáng mặt trời tràn vào giữa những cột vuông thắp sáng cậu từ phía sau, khiến cậu trông giống như bức tượng của hiệp sĩ trên cầu.

    Bây giờ thứ gì đó khác nói trong cậu với một giọng thì thầm nhỏ. Đừng đi. Đó là tất cả hiệu lực. Cậu khum hai tay trên miệng, hít một hơi thở sâu và hét lên, dùng tiếng gọi những thợ săn dùng để tìm nhau trong rừng. “Hueeeh!”

    Cô gái chần chừ ở bên kia cánh cửa, chiếc váy bay dập dờn của cô khiến hình dáng trắng mảnh khảnh của cô dường như lơ lửng trên sàn đá.

    Ico nghiêng tới, cẩn thẩn để không mất thăng bằng, và đưa tay cậu xa hết sức có thể. “Đi nào. Đi với tôi.”

    Cô gái xoay lại và bước gần hơn. Cô bắt đầu bước về phía cậu trên đôi chân lảo đảo, không chắc chắn đến khi cô nắm tay Ico. Cậu siết chặt và cảm thấy cô siết chặt lại – yếu ớt, nhưng nó đủ rồi.

    Bên ngoài những cây cột, mái dẫn đường lên không gian mở. Nơi này rộng hơn một sân thượng - dường như họ đang ở trên đỉnh ngọn tháp. Ở một góc một chiếc cầu thang khác mọc lên một phần được nâng lên nhỏ của mái – có lẽ một tháp canh, Ico nghĩ.

    Mặt trời rực rỡ, và bầu trời xanh có vẻ gần. Đây là nơi đầu tiên cậu đã đến trong lâu đài nơi mà không có bất cứ cái bóng nào từ mặt trời.

    “Trông giống loại tầng quan sát nào đó,” Ico nói với cô gái. Cô nheo mắt dưới ánh nắng mặt trời khi cơn gió nhẹ nhàng làm mái tóc và khăn choàng của cô gợn sóng. Không khí trên này không có mùi của biển. Nó có mùi giống như gỗ. Những con chim biển ở đây yên lặng.

    Họ đi lên cầu thang đến nơi cao nhất của ngọn tháp, nơi Ico có thể thấy rằng nó tạo thành một mình bán nguyệt bao quanh một hàng cây xinh đẹp phía dưới. Che mắt mình khỏi mặt trời, cậu nhìn quanh, sau đó đi qua tầng nóc và đi xuống cầu thang cậu đã nhận ra ở bên kia, nơi một lối đi hẹp chạy theo bên hông của tòa nhà. Ở đó, một cái thang hẹp đi xuống một cái bục nhỏ, bên cạnh là một đường ray dài. Ngọn tháp che bóng họ khỏi mặt trời, nhưng họ vẫn còn ở xa với mắt đất phía dưới.

    Ico nhảy xuống trên đường ray, theo chúng về bên trái cậu nơi cậu nhanh chóng nhận ra nó dẫn họ đến đâu. Ở phía cuối đường ray là một chiếc xe đẩy nhỏ, đỉnh phẳng với một lan can cao bao bọc các hướng. Cậu đã thấy thứ gì đó giống thế trước đây ở trong hầm mỏ ngay ngoài Toksa.

    Những bánh xe của xe đẩy nằm ngay ngắn trên đường ray. Ico trèo lên trên, và cái xe đẩy kêu ken két nhưng không di chuyển. Cậu tìm thấy một cái đòn bẩy và đẩy nó, và cái xe đẩy bắt đầu di chuyển tới lui. Vậy đây là cách nó di chuyển, Ico cảm thấy đầy sức sống mới. Mình có thể lái cái này, và nếu bất cứ sinh vật nào tấn công, gậy của mình sẽ di chuyển nhanh hơn nhiều!
     
    conruoinho thích bài này.
  16. Magic Purple

    Magic Purple Gà BT Nhóm Chuyển ngữ

    Bài viết:
    1.252
    Được thích:
    1.345
    Đã thích:
    1.150
    GSP:
    397p
    Chương 2
    [7]

    “Hueeeeh!”

    Ico phấn khởi gọi cô gái. Cậu hoạt động thanh đòn bẩy trên chiếc xe đẩy, nhảy lên để nó chạy nhanh hơn, hưởng thụ cảm giác của gió trên mặt mình. Cô gái đang đứng ở mép bậc thềm. Cô xoay về phía âm thanh của giọng nói của cậu.

    Ico vẫy. “Đi thôi, lên đây!”

    Cậu vươn ra và nắm tay cô gái, nhấc cô lên chiếc xe đẩy. Cô nhìn quanh chiếc xe đẩy với một chút ngạc nhiên trong đôi mắt mình, sau đó đứng cạnh cậu và giữ rào chắn bằng hai tay.

    “Đúng vậy,” Ico nói. “Giữ chặt. Sẵn sàng chưa? Đi thôi!”

    Chiếc xe đẩy bắt đầu với một tiếng ken két, nhưng khi họ bắt đầu đi, những bánh xe lăn dễ dàng, như thể cái xe chưa bao giờ bị ruồng bỏ cả. Họ tăng tốc, và cô gái quỳ xuống, vẫn nắm chặt thanh rào chắn mảnh khảnh.

    Ico mỉm cười và nắm tay cô, giữ chắc đòn bẩy với tay kia.

    “Được rồi, nó an toàn. Gió có cảm giác tốt phải không nào?”

    Đường ray chạy dọc rìa của tòa nhà theo một đường thẳng. Ico hít một hơi thở sâu, cảm thấy không khí ùa qua cơ thể cậu và xóa tan đi bóng tối còn sót lại của ngọn tháp. Trong một lúc, cậu quên đi những câu hỏi, những nghi ngờ và nỗi sợ hãi của mình với những gì sắp xảy ra.

    Phía trước, đường ray hơi cong về bên phải. Ico làm chậm chiếc xe đẩy lại. Cảm thấy gió lăn tăn theo tấm Phù hiệu trên ngực cậu, cậu xoay sang cô gái với một nụ cười.

    Cô gái đã biến mất. Ở chỗ cô đứng có một bé gái chỉ ba hay bốn tuổi. Cô bé đang mặc một chiếc váy không tay dài xuống tận mắt cá chân mình. Thay vì một chiếc khăn choàng, chiếc váy có cổ áo được thêu với những họa tiết hình bông hoa xinh xắn. Mái tóc của cô bé dài, và cô cột nó thành một cái đuôi ngựa sau lưng. Nó lấp lánh một ánh vàng sáng, như sợi lanh.

    Cô bé giữ thanh chắn của chiếc xe đẩy với hai bàn tay nhỏ xíu của mình và cười lớn. Tiếng cười làm cho đôi mắt màu hạt dẻ của cô bé tỏa một ánh sáng màu hổ phách rực rỡ.

    “Nhanh hơn! Nhanh hơn!” cô bé gọi. “Trò này vui phải không, Cha?”

    Thế giới lướt nhanh qua họ. Mặc dù tiếng cười của cô bé vẫn vang lên trong tai cậu, Ico thấy ràng cô bé đang nhìn cậu, nói chuyện với cậu. Giống như cô bé biết cậu. Hoặc có lẽ cô bé thấy ai đó khác ở đây, không phải mình.

    Sau đó cô bé đang cầu xin cậu, vẫn bằng giọng con nít, tươi sáng đó, muốn biết liệu cậu sẽ lại chơi với cô bé vào chuyến thăm nhà tiếp theo không. Liệu cậu sẽ cho cô bé cưỡi chiếc xe đẩy một lần nữa, để hứa rằng cậu sẽ làm thế.

    Chiếc xe đẩy tăng tốc như gió, làm lưỡi Ico cảm thấy khô khi cậu mở miệng nói.

    “Cảm ơn, Cha!” cô bé đang nói. “Cảm ơn!”

    Với một sự khởi đầu, Ico nhận ra rằng cô bé đã biến mất, được thay thế bằng cô gái cậu đã cứu từ cái lồng – vẫn nắm tay cậu, tay kia của cô nắm chặt thanh kim loại của rào chắn. Sự chuyển tiếp giữa cảnh mộng và thực tại đã trở nên quá liền mạch đến nỗi khó để nói cái nào là cái nào.

    Họ đang tiến đến khúc cua. Ico dùng nhiều lực hơn lên đòn bẫy. Chiếc xe đẩy lắc lư phản đối, sau đó bắt đầu chậm lại, quán tính của nó khiến nó chạy trơn tru qua khúc cua.

    Cô bé đó là ai? Cô bé đó là phiên bản nhỏ hơn của cô gái bên cạnh cậu ư? Ico cảm thấy như cậu đang mơ với đôi mắt mở, như là cậu đã lao vào ký ức của ai đó khác – những ký ức vui vẻ của một thời thơ ấu đã qua lâu rồi.

    Cảm ơn, Cha!

    Đường ray chạy theo rìa của vách đá. Ngoài đó, Ico chỉ có thể thấy bầu trời xanh và biển phía dưới. Mình tốt hơn là đi chậm hơn.

    Khi cậu nhìn lên khỏi thanh đòn bẫy, Ico chú ý thấy nhiều sinh vật bóng đêm hơn đang đứng dọc theo bức tường phía trên họ, như là chúng đang quan sát chiếc xe đẩy dừng lại. Chúng chỉ ở đó trong chốc lát, nhưng Ico cảm thấy đôi mắt phát ra ánh sáng trắng của chúng đang theo lối đi của họ.

    Chúng đang không đuổi theo chúng ta.

    Điều gì đó về cách mà những sinh vật đứng đó khiến chúng trông cô độc. Hoặc có lẽ chỉ là một cảnh mộng khác. Nó trở nên khó khăn hơn để Ico phân biệt.

    Xa hơn ở phía trước, đường ray kết thúc ở một bậc thềm khác. Ico cẩn thận thả thanh đòn bẩy ra. Chiếc xe đẩy chậm lại, bánh của nó tạo một tiếng ồn lạch cạch lớn trước khi chiếc xe dừng lại.

    Ico leo lên bậc thềm, chắc chắn rằng những sinh vật bóng tối sẽ đang đợi, nhưng không có gì cả. Cậu thấy một lối đi với một mái tò vò dẫn đến phía cuối của bậc thềm đầy nắng. Ít nhất nó không phải là đường cụt. Cậu nắm tay cô gái và giúp cô ra khỏi xe.

    Qua cánh cửa tò vò, họ đi theo một hành lang hẹp, dẫn ra một sân thượng với những cây cột vuông vức. Sân thượng dẫn đến ban công của môt cái sảnh rộng lớn khác với một cái trần cao, nhọn. Một cái lưới những thanh xà to bắt qua trên đầu, chống đỡ cho một cái đèn chùm thắp sáng với hàng tá những ngọn nến treo ở giữa sảnh.

    Một cây cầu bắc đến bên kia sảnh. Để cô gái ở lại phía sau một lát, cậu đi về phía giữa cây cầu, kiểm tra nó cẩn thận với từng bước. Cậu nắm lấy lan can và nhìn xuống. Phía dưới, cậu thấy những phần còn lại của đồ đạc mục nát. Ở đây là một cái chân đèn bị đổ, ở kia là một cái bệ nơi một bức tượng phụ nữ từng đứng, bản thân bức tượng giờ nằm vỡ trên sàn. Đại sảnh gần như tròn, và cậu có thể thấy một cánh cửa đôi dẫn ra bên ngoài. Cả hai cánh cửa đều mở rộng, để ánh sáng mặt trời tràn vào – có lẽ từ sân. Cậu có thể thấy bãi cỏ xanh ở ngoài ngưỡng cửa.

    Ico tự hỏi chiếc xe đã đưa họ xuống bao xa. Họ đã di chuyển khá nhanh – họ hẳn đã đi xuống được rất xa trong lâu đài.

    Suy nghĩ đó làm Ico thoải mái. Có lẽ nếu chúng ta có thể đi xuống những cánh cửa đó, chúng ta có thể ra ngoài.

    Vấn đề duy nhất là, dường như không có bất cứ đường nào để đi từ trên cây cầu trên tầng hai xuống dưới tầng đại sảnh. Những cầu thang cậu có thể thấy đi lên trên trần, không có đi xuống sàn bên dưới, tạo thành một dạng lối đi hẹp dường như không có mục đích.

    Có lẽ, cậu nghĩ, trong quá khứ xa xăm, những người phụ nữ và hiệp sĩ được trang bị tốt sẽ đi tới lui trên lối đi và cây cầu, vẫy xuống những vị khách trên sàn nhà phía dưới để tổ chức một chiến thắng vĩ đại trong trận chiến nào đó. Những lời chúc mừng sẽ dâng lên từ cả hai tầng khi họ đón chào người anh hùng của họ…

    Đúng vậy, nếu bất cứ ai từng thực sự sống trong Lâu đài trong Màn sương.

    Cậu đi xa hơn một chút, mỗi bước cọt kẹt nhắc cậu nhớ đến những thiệt hại nhiều năm đã gây ra trên cây cầu, để mặc nó rạn nứt và sứt mẻ nhiều chỗ. Phía cuối nơi nó gặp bên kia của căn phòng là bấp bênh nhất. Ở đó, một vết nứt dài như khoảng cách từ khủy tay đến cổ tay của cậu rộng như lòng bàn tay cậu đã mở ra trên nó. Cậu có thể thấy qua sàn của đại sảnh. Cậu nhét những ngón tay của mình vào vết nứt, làm những mảnh đá vỡ rơi xuống sàn.

    Cẩn thận đi lại về phía cô gái, Ico lắc đầu. “Cái sảnh này thật đẹp, nhưng thiết kế thật lạ lùng. Không có đường nào để đi xuống phần thấp hơn. Chúng ta phải tìm một đường khác.”

    Cô gái lắc đầu làm Ico ngạc nhiên.

    Cô ấy hiểu mình ư?

    “Có lẽ nếu chúng ta có một sợi dây…” Cậu nhún vai và đưa tay mình về phía cô gái. Cô chần chừ trước khi cầm lấy.

    “Tôi tự hỏi liệu chúng ta có thể trèo từ mép xuống bức tường đó không,” Ico nói, nhìn quanh, Chỉ khi đó, cậu thấy cô bé với bộ váy không tay và tóc cột duôi ngựa vàng hoe chạy xuống phía bên phải căn phòng.

    Lại cảnh mộng!

    Một người đàn ông mặc quần dài rộng lùng thùng và một chiếc áo tunic bay dập dờn nhẹ nhàng xuất hiện phía sau cô bé, sải bước chầm chậm theo lối đi. Ngay trước khi Ico có thời gian để gọi, cô bé vấp phải gấu váy và ngã. Cô bé la hét và lao về phía trước, bắt lấy bản thân mình trên sàn đá bằng hai tay. Cô bé bắt đầu khóc.

    Khi cô bé vấp ngã, người đàn ông bước nhanh lên, đưa hai cánh tay về phía cô bé. “Ta đã nói với con không được chạy như thế.” Ông bế cô bé lên, nhấc cô bé lên vai ông. “Con đã trở thành một đứa trẻ nghịch ngợm làm sao, Yorda.”

    Giọng ông dịu dàng. Ôm cô bé dưới cánh tay trái của mình, ông lau má cô bé bằng tay kia. Lau khô những giọt nước mắt của cô bé. Một chiếc nhẫn trên ngón tay của ông, được trạm trổ sâu, bắt lấy ánh sáng –

    Ico kéo tay mình khỏi cô gái, run rẩy và nhảy về phía sau. Cậu thả ra quá đột ngột làm cô lảo đảo và suýt ngã.

    “Cậu – cậu là ai?” Ico hỏi. “Mỗi lần tôi nắm tay cậu, tôi thấy những thứ. Nó rất thật. Và tất cả chúng đều ở ngay đây, trong lâu đài. Nó giống như tôi có thể thấy quá khứ đang diễn ra lại trước mắt tôi. Cậu là ai? Cậu đã từng sống ở đây ư?” Cậu nói tất cả trong một hơi thở, trở nên chắc chắn hơn với mỗi từ mà những cảnh mộng cậu đang thấy là những ký ức của cô.

    “Yorda… đó là tên của cậu?” Hai tay siết chặt thành nắm đấm, cậu đi về phía cô. “Đúng vậy, phải không? Tóc của cậu dài hơn khi cậu còn bé. Cậu từng chạy xuống những hành lang ở đây và lái chiếc xe đẩy. Cha cậu cũng ở đây…”

    Cô gái chầm chậm lắc đầu từ bên này sang bên kia.

    Ý của cô ấy là cô ấy không hiểu ư? Hay cô ấy đang nói mình sai rồi?

    “Tôi không biết ý của cậu là gì nếu cậu chỉ lắc đầu như thế!” Ico thốt ra, không thể kiềm chế sự bực tức của mình. Giọng của Ico dội lại khỏi trần. Cậu tưởng tượng rằng thậm chí cái đèn chùm đu đưa một chút.

    Cô gái không trả lời. Không một âm thanh, cô đi về phía cây cầu. Khi cô tới được chỗ vết nứt lớn, cô dừng lại và nhìn chằm chằm xuống. Sau đó cô trở lại đứng ngay dưới chùm đèn, giơ một ngón tay và chỉ lên.

    “Gì cơ? Cậu đang cố gắng nói điều gì?” Ico nói, giữ khoảng cách của mình. “Nó là gì?”

    Cô gái giữ ngón tay mình giơ lên.

    “Gì cơ? Cái đèn chùm?” Ico giận dữ hỏi.

    Cô gái gật đầu.

    “Tôi nên làm gì với cái đó?”

    Ico chống hai tay lên thắt lưng của mình và nhìn chằm chằm cô gái. Cô hạ thấp tay xuống và đôi vai cô rũ xuống – một cô bé bị khiển trách.

    Ico nguyền rủa bản thân vì để cơn giận của mình thoát ra. Có đủ thứ để lo lắng trong lâu đài này mà không làm cô ấy sợ rồi. Cậu cảm thấy sự bực tức của mình tan đi.

    “Nhìn này, tôi không chắc cậu đang cố nói gì với tôi,” cậu bắt đầu, hít một hơi thở sâu. “Nhưng nếu nó sẽ làm cậu vui, tôi sẽ đi kiểm tra chùm đèn đó. Cậu lại đây, được chứ? Tôi không muốn cậu đứng dưới thứ đó.”

    Cô gái nhanh chóng bước lại gần đầu cầu. Ico đi lên cầu thang theo bức tường. Có những hàng cửa sổ nhỏ đặt ở bên kia sảnh – nếu cậu dùng những bậu cửa sổ như những chỗ để bíu tay, cậu có thể trèo lên được những thanh xà.

    Nó không khó như cậu đã tưởng tượng. Cậu nhanh chóng đặt tay mình lên trên một trong những thanh xà lớn. Cẩn thận kéo mình lên, cậu đứng lên trên. Thanh xà trơn vì bụi, nhưng gỗ có cảm giác vững chắc dưới cậu và đủ rộng để đi qua. Đôi giày da của Ico để lại những dấu sạch sẽ trong bụi trắng.

    Cậu tiến về phía chùm đèn, sau đó quỳ xuống, kiểm tra những cái chốt giữ nó với thanh xà. Vài khung kim loại giữ một sợi xích sắt đi thẳng xuống một cột trung tâm trên chùm đèn, mặc dù một nửa trong số chúng đã gỉ sét và nứt vỡ, và phần còn lại bị biến dạng nặng nề.

    Có lẽ cô ấy đang nói với mình rằng đi trên cầu nguy hiểm bởi vì chùm đèn có thể rơi trên đầu tụi mình? Nhưng sau đó cậu tự hỏi làm sao cô ấy chú ý được từ dưới mặt đất. Và nếu nó giống như rơi, tại sao cô ấy đứng dưới nó?

    Ico nghển cổ để nhìn xuống bên kia chùm đèn, cẩn thận không để chân mình trượt. Cô gái đang làm như Ico đã bảo cô, đứng ở xa bên kia, nhìn lên cậu với một biểu hiện lo lắng trên gương mặt cô. Cậu cố vẫy cô. Cô không đáp lại. Không có những cử chỉ có ích khác hay hướng dẫn xuất hiện để giúp đỡ.

    Ico ngồi xuống trên thanh xà, để hai chân thõng xuống một bên. Trên này mát và tối. Tránh xa khỏi cô gái, cậu cảm thấy thư giãn. Ý nghĩ đó làm cậu cảm thấy tội lỗi. Tại sao tránh xa khỏi cô ấy làm mình thấy thư giãn? Nhưng nó là sự thật.

    Cậu cảm thấy như cậu đã phải chạy từ lúc cậu thoát khỏi cỗ quan tài đó. Cậu thậm chí không có một khoảnh khắc ngồi xuống và suy nghĩ, hay ngay cả chỉ để thở. Đây là một sự nghỉ ngơi vui vẻ.

    Thậm chí không nhận ra điều đó, Ico đang chà xát tấm Phù hiệu trên ngực cậu. Nó làm cậu bình tĩnh và trao cho cậu sức mạnh. Mình sẽ ra khỏi đây. Mình sẽ về nhà. Mọi người đang đợi mình. Những cánh cửa bên ngoài ở ngay dưới đó. Mình có thể thấy chúng. Mình chỉ cần phải tìm ra đường để đi xuống đó, và chúng ta sẽ đi trên bãi cỏ, trong ánh nắng mặt trời.

    Sẽ có rất nhiều thời gian để thắc mắc cô gái là ai và những lời của đám sinh vật bóng tối có nghĩa là gì một khi cậu an toàn bên ngoài. Có lẽ trưởng lão sẽ biết điều gì đó. Cậu có thể hỏi.

    Không có điểm nào trong suy nghĩ quá khó khăn về nó bây giờ hay lo lắng về những cảnh mộng bất cứ khi nào cậu nắm tay cô gái. Có lẽ đó chỉ là lâu đài đang cố gắng hù dọa cậu. Có lẽ nó chẳng liên quan gì với cô gái cả.

    Vậy thì tại sao cậu lại rất chắc chắn nó có liên quan?

    Như là thứ gì đó đen tối đã cư trú trong ngực cậu, không ngừng thì thầm với cậu. Hẳn là những sinh vật đó. Khi mình đang chiến đấu với chúng, mình đã lấy một ít của chúng vào trong mình. Giống như hít thở phải khói từ một ngọn lửa. Bây giờ nó mắc kẹt trong phổi mình, và nó đang tô đen chúng từ bên trong.

    Đột nhiên một giọng nói vang lên trong tai Ico.

    - Ngươi không thể thoát khỏi nơi này.
    - Ngươi không được rời đi.
    - Ngươi không được mang con bé đi.
    - Trả lại con bé cho cái lồng. Con bé thuộc về lâu đài.
    - Đó là lý do tại sao những ký ức của con bé tràn đầy nơi này. Đó là lý do chúng trở lại khi ngươi chạm con bé.


    “Im lặng, im lặng!” Ico hét, cố gắng để nhấn chìm những giọng nói trong đầu mình. Sau đó cậu thấy nó – thứ gì đó treo từ rào chắn được chạm khắc của cây cầu dưới cái đèn chùm. Và không chỉ một thứ, mà rất nhiều. Chúng có chân, đu đưa trong không khí.

    Họ là người, treo xuống từ rào chắn. Đầu hướng lên, chân lơ lửng trong không trung.

    Họ đang làm gì?

    Ico căng mắt ra. Sau đó cậu hiểu, và điều đó có cảm giác như một cú đánh vào ngực cậu. Họ không chỉ đang treo – họ đã bị treo.

    Một số là những hiệp sĩ vẫn mặc chiếc áo giáp nhẹ của mình. Có lẽ những lính gác, Ico nghĩ. Cũng có những phụ nữ, mặc những bộ váy giống như áo choàng của tu sĩ màu trắng. Những thiếu nữ trong những chiếc váy lót dài với hoa cài trên tóc họ. Ngay cả một nông dân, gấu quần và cổ tay áo của ông cột chặt, vì vậy không giống như bắt gặp khi ông ấy vung lưỡi hái ở trên cánh đồng của mình, và một cái nón trên đầu ông để che gương mặt ông khỏi mặt trời.

    Nhưng không có ánh sáng mặt trời ở đây. Gương mặt họ đều tái nhợt và nhăn nhó trong sự đau đớn. Những cái lưỡi đen thò ra từ miệng họ, và những ngón tay của họ đông cứng tại chỗ, bám lấy những sợi dây quanh cổ họ. Chỗ những cánh tay và chân của họ lộ ra, chúng ướt sũng máu. Bây giờ cậu có thể thấy nó, đang nhỏ giọt.

    Ico bị gây chú ý bởi một sự tương tự đột ngột giữa miếng pha lê treo trên chiếc đèn chùm và những cơ thể treo từ cây cầu bên dưới – một cái đèn chùm khủng khiếp, kéo dài theo chiều dài của căn phòng. Ở chỗ của những ngọn nến, những xác chết. Ở chỗ của ánh sáng, máu, tràn trên sàn đại sảnh.

    Đây là một cảnh mộng khác ư?

    Những xác chết đu đưa từ bên này sang bên kia. Bên dưới những ngọn nến-xác chết treo, Ico thấy hiệp sĩ cậu đã gặp trên cây cầu cổ. Ông bước đi chầm chậm, tiến xa hơn vào lâu đài. Bước chân của ông không vội vàng mà vững chắc. Ông đi qua sảnh mà không chần chừ, xoay qua liếc nhìn một cái khung cảnh đẫm máu trên đầu ông. Những người hiệp sĩ quen thuộc với chết chóc với tất cả sự khủng khiếp của nó. Máu từ những xác chết nhỏ xuống trên một cái sừng còn lại của ông và chảy xuống chỗ cong của chiếc mũ sắt của ông. Một số thậm chí nhỏ trên trán ông, nhưng ông ông đưa tay lên lau nó đi.

    Ông sẽ đi đâu? Ông sẽ gặp ai?

    Từ vị trí thuận lợi của cậu ở trên cái đèn chùm, Ico có thể thấy hai má hốc hác và đôi môi tái mét của hiệp sĩ. Áo choàng của ông đung đưa với mỗi bước đi. Như với bức tượng, hiệp sĩ không mang kiếm. Tuy nhiên, Ico cảm thấy sự can đảm và quyết tâm rất lớn trong quai hàm của ông và và ánh nhìn tối tăm của đôi mắt ông. Ông ấy đang trên đường ra trận.

    “Ông là ai?” Ico hỏi lớn. Cậu có ý muốn nó là một thách thức, nhưng nó nói ra chỉ hơn tiếng rên rỉ một chút. Sau đó căn phòng thay đổi và cậu trở về thực tại – hoặc có lẽ sự tỉnh táo. Cơ thể cậu đu đưa với sự trở về bất ngờ của cậu, làm cậu di chuyển trên thanh xà và mất thăng bằng. Những thanh xà xoáy tít quanh cậu, và Ico ngã ngửa phía trên chùm đèn. Tay và chân cậu đập vào những ngọn nến, làm những mảng sáp khô cũ lơ lửng xuống dưới.

    Ico nhăn nhó, ngồi dậy một nửa, hai chân cậu dạng ra trên chùm đèn. Chân trái cậu đã va vào vài ngọn nến và vẫn đang dính trên ngoài mép. Điều tốt là mình không mất đôi giày của mình, Ico nghĩ. Cậu cố gắng không tạo bất cứ chuyển động đột ngột ngày, chỉ tập trung vào việc thở một cách điều hòa.

    Rắc…

    Bụi rơi thành dòng từ cái đèn chùm. Những cái giá đỡ giữ nó với thanh xà cong lên.

    Cú ngã của cậu lên trên cái đèn chùm đã là cú đẩy cuối cùng chúng cần. Cái giá đầu tiên vỡ ra với một tiếng bộp lớn, và nhanh chóng tất cả chúng đều bắt đầu gãy răng rắc, cái này sau cái kia, giống như những người lính hoảng loạn ngã khỏi đội hình.

    Cái đèn chùm rời thanh xà và dường như dừng lại ở giữa không trung trong những khoảnh khắc ngắn ngủi nhất, như là nó mong muốn chống lại trọng lực chỉ lần này và ở lại nơi nó đã ở từ rất lâu rồi.

    Ico ngồi dậy hơi trễ, tay cậu để trượt thanh xà chỉ hơn hai cemtimet. Cái đèn chùm tạo một tiếng rít khi nó rơi, và cậu có thể cảm thấy gió trong tóc mình. Đèn chùm rơi khỏi bên dưới chân cậu. Cậu cảm thấy bản thân mình vỡ ra thành từng mảnh, linh hồn cậu thoát khỏi miệng cậu bằng một tiếng thét không nên lời. Nhẹ hơn cơ thể cậu, linh hồn cậu còn ở chỗ cũ, treo trong không trung, trong khi phần còn lại của cậu lao thẳng xuống.

    Không có gì khác để bám vào, Ico tóm lấy cọc trung tâm của đèn chùm, sợi xích sắt đã đi lên thanh xà quất vô dụng từ đỉnh của nó. Với một tiếng va đập loảng xoảng không thể tin được, cái đèn chùm rơi xuống trên cầu. Nó chỉ đủ rộng để kéo dài từ bên này sang bên kia, vòng tròn ngoài cùng của đèn chùm rơi thẳng trên đầu của rào chắn. Những ngọn nến bay khỏi đế của đèn chùm, vòng qua rào chắn và rơi xuống căn phòng phía dưới. Ico lăn thành một quả bóng ở giữa chùm đèn và tránh những gai nhọn từng giữ những ngọn nến. Bụi dâng lên thành một đám mây lớn. Ico nhìn lên và nhảy khỏi mép với một tiếng hét khi sợi xích sắt đuổi theo sau cái đèn chùm. Sợi xích cuộn mình như một con rắn trước khi rơi xuống qua đèn chùm, sau đó kéo theo chính nó.

    Bụi làm mắt Ico cay xè. Ngay cả miệng cậu cũng nếm được vị của nó. Ico đứng dậy, lảo đảo. Cậu thấy cô gái, vẫn đứng phía cuối cây cầu, hai tay đưa lên miệng. Đôi mắt cô mở to với sự ngạc nhiên.

    “Ổn rồi –” cậu bắt đầu gọi lớn, khi một tiếng ồn lớn tới tai cậu.

    Thứ gì đó đang rạn nứt. Cậu cảm thấy một chuyển động lắc lư, và cây cầu oằn dưới cậu. Đèn chùm lao xuống trước, trượt xuống rào chắn.

    Trước khi Ico có thể phản ứng, phía bên kia của cây cầu gãy răng rắc, rơi từ chỗ của nó ở rìa của tầng hai. Hình như, cây cầu bị hỏng nhiều như những giá đỡ bảo vệ chùm đèn.

    Với một âm thanh làm rung lắc mặt đất phía dưới họ, một nửa cây cầu rơi xuống sàn, tạo thành một đường trượt bắt đầu trên tầng hai nơi cô gái đứng và kết thúc đi thẳng xuống cạnh cánh cửa đôi dẫn ra bãi cỏ xanh bên ngoài.

    Ico cưỡi đèn chùm khi nó trượt xuống cây cầu gãy, chạy trên đỉnh rào chắn giống như một đứa trẻ chơi đùa. Nó nhanh chóng tăng tốc, vụt đi khi nó đập vào phía dưới đáy và cho Ico bay.

    Lần này cậu ngã đập mặt xuống và tiếp đất trên bụng của mình, té một cái muốn trúng cả gió. Bụi lấp đầy đại sảnh như màn sương, và trong im lặng, cậu nghe thấy tiếng vang vọng lanh canh của những ngọn nến bay khỏi đèn chùm và đánh xuống mặt đất trước khi lăn đến một điểm dừng.

    Ico nằm trên sàn một lúc lâu, kiểm tra để chắc chắn cậu vẫn có đầy đủ tay chân. Mình vẫn đang thở. Không có gì bị gãy. Mình không chảy máu. Cậu chờ đến khi cậu có thể nghe thấy không có gì di chuyển quanh mình trước khi đứng dậy. Khi cậu ngồi dậy, cậu thấy rằng cây cầu sụp đổ tạo thành một lối đi trông vững chắc từ tần hai xuống tới nơi cậu ngồi. Đèn chùm đã bật ra và rơi xuống qua một bên.

    Cô gái vẫn đang đứng tại chỗ qua toàn bộ thử thách, hai tay đặt lên miệng sốc. Ico đứng dậy và đi tới cây cầu nghiêng để nhìn lên cô.

    “Này!” cậu gọi. “Nó không đẹp lắm, nhưng tôi nghĩ cậu có thể đi xuống đó. Đi nào. Chỉ cần quan sát nơi cậu bước thôi.”

    Có lẽ cô còn hoảng sợ, nhưng cô gái không di chuyển. Ico trèo lên chỗ dốc của cây cầu, dùng hai tay mình để bò lên bằng cả bốn chi.

    “Nếu cậu sợ, cậu có thể trượt xuống trên mông. Nó giống như một đường trượt.”

    Cô gái lắc đầu. Cô đột nhiên mỉm cười. Nhưng thể để nói, Đó hầu như không phải điều để gợi ý cho một tiểu thư.

    Thứ gì đó chạm vào trái tim Ico – dịu dàng và ấm áp – nhắc cậu nhớ về một thời quá khứ đã qua lâu rồi.

    “Cậu có thể đi một chút một lần. Cậu sẽ không ngã đâu,” cậu nói, mỉm cười và vui khi cô đã mỉm cười với cậu.

    Cuối cùng, cậu phải giúp cô đi xuống cả đoạn đường, một mắt luôn luôn để trên rào chắn nơi những cơ thể trong cảnh mộng của cậu đã treo. Cậu tự hỏi liệu những sợi dây có để lại bất cứ dấu hiệu nào không, và nó làm dạ dày cậu quặn lại.

    Rào chắn được bọc trong bụi tích lũy qua nhiều năm dài, cộng thêm một tầng mới từ vụ sập vừa đây. Tảng đá chạm vào thô ráp và làm đau tay cậu.

    Khi cậu cuối cùng tới được phía dưới cùng với cô gái, Ico phủi bụi khỏi người và vuốt phẳng tấm Phù hiệu. Cậu cầm một cây nến đã rơi dưới chân cậu lên, nghĩ rằng nó có thể hữu ích sau này. Nhét nó vào quần, cậu nhìn quanh tìm thứ gì đó có thể dùng như một vũ khí để thay thế cây đuốc tắt ngúm cậu đã để lại ở trên. Cuối cùng, cậu giải quyết với một chân ghế. Cậu cầm nó lên. Nó có trọng lượng hoàn hảo trong tay cậu.

    Cậu nhìn qua cô gái và thấy cô xoay lưng lại với cậu và đang nhìn qua căn phòng theo hướng hiệp sĩ đã đi trong cảnh mộng của Ico trên cái đèn chùm. Cô đang nhìn chăm chú, sự lo lắng trên gương mặt cô. Giống như cô có thể cảm hấy thứ gì đó đang kéo mạnh vào ký ức của cô ở đó.

    Im lặng, Ico kéo nhẹ chiếc khăn của cô. Cô nhìn lại và đôi mắt họ chạm nhau.

    Ico có nhiều câu hỏi, nhiều nghi ngờ, nhưng làn gió trong lành thổi qua cánh cửa đôi mở và bãi cỏ sáng ngời bên ngoài thổi chúng khỏi đầu óc cậu và vẫy ra hiệu cậu ra ngoài.

    Nắm tay nhau, họ đi qua cánh cửa. Ico có thể cảm thấy sự mềm mại của mặt đất và cỏ qua đôi giày da của mình. Nó trao cho cậu hy vọng và lấp đầy cậu với nguồn năng lượng mới.

    Quanh bãi cỏ rộng dưới ánh nắng mặt trời là một sân thượng và một lối đi dẫn đến một cây cầu cong lớn đang đợi họ.
     
    conruoinho thích bài này.
  17. Magic Purple

    Magic Purple Gà BT Nhóm Chuyển ngữ

    Bài viết:
    1.252
    Được thích:
    1.345
    Đã thích:
    1.150
    GSP:
    397p
    Chương 2

    [8]

    Mặc dù bên trong của lâu đài là một mê cung, ngoài đây không có gì ngăn cản được họ. Có lẽ đó là khoảng cách giữa đôi mắt cậu và mặt trời cùng bầu trời bên trên khiến cậu cảm thấy tự do. Ở đây, những bức tường cao xung quanh vườn chặn gió rít liên miên trong các hành lang của những ngọn tháp và qua những ban công cao.

    Họ đi tắt qua sân cỏ, đi qua dưới một cây cầu đi bộ nhỏ. Cũng có một cây cầu kéo ở đây, nhưng không mất nhiều thời gian để Ico tìm được cách hạ thấp nó, và họ đi qua không khó khăn gì. Một lát sau, họ đến một kênh nước sâu, hai người họ đứng trên đó, tạo thành những cái bóng của họ ở trên kênh. Nước ở một khoảng cách khá xa dưới họ và quá tối để Ico nhận ra hình phản chiếu của họ một cách rõ ràng. Tuy nhiên, cậu có thể thấy những hình bóng mà họ tạo nên trên mặt nước, điều này bằng cách nào đó làm cậu an tâm. Nếu cô gái có một hình phản chiếu, vậy là cô ấy không phải là một linh hồn hay một con ma.

    Một ống dẫn bằng đồng thau dày chạy theo bức tường bên trên kênh. Ống dẫn leo lên mặt của những bức tường – thứ mà quá cao để Ico đo được – xoắn lại và cong xuống trước khi biến mất vào lâu đài. Trưởng lão đã dạy với cậu rằng người ta có những ống dẫn như vậy ở thủ đô để mang nước đến trung tâm thị trấn, vì thế người ta sẽ không phải đào giếng hay đi lấy nước từ sông. Cậu đã thấy rất nhiều ống dẫn khi những người lính gác chèo thuyền chở cậu qua cái vịnh nhỏ khi cầu đầu tiên cậu đến lâu đài, và vì vậy hẳn có rất nhiều ống dẫn chạy theo những bức tường này vì sự thuận tiện của những người sống ở đây – nhưng điều gì khiến tất cả họ đều bỏ chạy cả? Tuy nhiên nó từng hoạt động, không có vẻ như bây giờ nó đang hoạt động và có lẽ đã không hoạt động suốt một thời gian.

    Nó làm cậu thất vọng vì biết quá ít về lâu đài. Những điều kỳ diệu cậu thấy ở đây có thể đã cũ rích trong những đền thờ của thủ đô, nhưng cậu không có cách nào biết được. Cậu tự hỏi liệu cậu có bao giờ có cơ hội để tìm ra không. Họ trở lại giữa sân. Ánh sáng mặt trời chiếu sáng trên bãi cỏ, và nó đủ nóng để khiến Ico đổ mồi hôi. Phía trước họ, cầu thang dẫn đến một cánh cửa tò vò bằng đá nặng nề.

    “Chỉ một chút nữa,” cậu nói với cô gái, sau đó nhanh chóng, kéo cô theo. Cậu không muốn bị bắt trong một nơi rộng lớn như thế này bị vây quanh bởi những sinh vật bóng tối đó.

    Mồ hôi nhỏ giọt từ trán cậu, nhưng cậu ngẫm nghĩ thật lạ lùng làm sao khi từ lúc cậu gặp cô gái, cậu không còn cảm thấy đói cũng không mệt nữa. Bình thường cậu sẽ không bao giờ có thể chạy xa như vậy mà không ngừng lại.

    Cả hai chạy đến cánh cửa tò vò, khi Ico thấy điều mà cậu đã mong đợi tìm thấy – một nơi trong lâu đài cậu đã thấy trước khi tiến vào những bức tường của nó. Họ ở cổng trước. Những cánh cửa của nó vẫn mở rộng, chỉ ra về phía biển.

    “Chúng ta làm được rồi!” Ico gần như reo mừng. Cậu chỉ về cánh cổng. “Bây giờ chúng ta có thể ra khỏi đây!”

    Cậu cảm thấy choáng váng với sự khuây khỏa. Không thể đứng vững, cậu nắm hai tay cô gái và nhảy lên vì vui mừng.

    Thứ duy nhất giữa họ và cánh cổng to lớn kia là một đoạn đường dài, rộng như bản thân cánh cổng, được phủ bởi cỏ mềm. Đá cuội đã được rải xuống giữa lối đi, và những đôi đuốc cao đứng giống như những lính gác đứng mỗi bên. Những ngọn đuốc trở nên vô dụng dưới mặt trời, nhưng ngay cả thế chúng dường như đón chào cậu, vẫy như duỗi hai cánh tay ra, chỉ cho cậu lối ra.

    “Đi thôi!”

    Nắm tay cô gái kéo đi, cậu chạy. Chạy. Chạy! Tâm trí Ico đã ở trước cậu rồi, lơ lủng đâu đó gần cánh cổng. Bây giờ cậu sẽ không để bất cứ điều gì ngáng đường họ. Cánh cổng rộng đến nỗi ngay cả khi cậu chạy, cậu cũng không cảm thấy mình đến gần hơn chút nào. Nó giống như đuổi theo mặt trăng. Không, mình sẽ đến đó. Mỗi bước đang đưa mình lại gần hơn để trốn thoát. Gần hơn đến tự do.

    Cánh cổng dựng đứng trước họ. Cậu tự hỏi loại đá nào được dùng để xây dựng một không trình khổng lồ như thế. Từ khoảng cách này, cậu không thể thấy bất cứ đường phân giới nào mà người ta có thể mong chờ vào thứ gì đó quá rộng lớn.

    Phía trên bản lề mỗi cánh cổng có những quả cầu tròn lớn, yên lặng lấp lánh dưới ánh nắng mặt trời. Cậu nhớ đã bắt được một cái nhìn lướt qua của một trong số chúng từ con thuyền trên đường cậu vào, phản chiếu ánh sáng mặt trời lên cậu.

    Ngay sau đó, cô gái kêu một tiếng kinh hãi. Tay họ bị tách mạnh ra.

    Cô gái đã ngã trên đá cuội, đổ nhào tới chân của một trong những bệ đuốc. Ico đang di chuyển quá nhanh đến nỗi cậu ngã về phía trước, vấp phải chính chân mình. Khi cậu đứng dậy, cậu đóng băng với điều cậu thấy. Vẫn đang la hét, cô gái đang cào mặt và cơ thể mình, hai chân cô quằn quại đau đớn.

    “Gì vậy? Có chuyện gì?” cậu hỏi, lê bước về phía cô nhưng không thể chạm vào cô. Cô quằn quại và xoay như thể đang cháy. Thứ gì đó không thấy được đang tấn công cô, những móng vuốt vô hình cào xé người cô. Ico chạy quanh, tìm kiếm nhiều sinh vật bóng tối hơn. Nhưng không có gì trong sân ngoài mặt trời và bãi cỏ.

    Họ đã đi được một nửa đường đến cổng chính. Nếu họ đứng dậy và chạy, họ sẽ nhanh chóng ở đó. Có vị muối trong gió. Chỉ xa hơn một chút và họ sẽ có thể nghe thấy những ngọn sóng.

    Ico cảm thấy gió trên má mình – không phải cơn gió nhẹ thổi vào từ biển, mà là cơn gió lạnh lẽo, mạnh đổ xô xuống từ Lâu đài trong Màn sương.

    Ico nhướng mắt và thấy thứ gì đó tụ tập trong không trung bên trên cô gái. Đó là gió – cậu có thể thấy nó. Nó kết hợp với nhau thành những sợi dây, những roi da nhỏ tạo thành trong không khí mỏng, sau đó bện lại. Vô số những lưỡi chớp lóe lên mà không có âm thanh trong bóng tối tập trung của đám mây.

    Riêng rẽ, những sợi dây không có hình dáng hay màu sắc, nhưng khi chúng ùa lại cùng nhau, chúng tạo thành một hình dáng ở trên bầu trời kia – một tập hợp của những hạt bụi đen hấp thụ ánh sáng, trở nên mạnh hơn khi chúng kết hợp lại, tỏa ra một thứ rực rỡ ngược lại của ánh sáng.

    Vẫn quỳ trên đầu gối, Ico ôm lấy bản thân. Sau đó hai tay cậu rơi xuống mặt đất và miệng cậu há hốc khi cậu thấy hình dáng kết hợp lại phía trên cô gái. Không phải là một sinh vật khói xuất hiện ở đó. Mặc dù nó mang hình dáng giống chúng rất nhiều, hình dáng của nó giống con người hơn nhiều bất cứ sinh vật nào cậu đã thấy trong lâu đài.

    Một người phụ nữ. Bà ta mặc một chiếc áo dài bay dập dờn quanh người, với đường thêu thanh nhã trên tay áo và viền. Mặt bà ta nhỏ và hốc hác, với đôi má trũng và cái cằm nhọn. Da bà ta trắng hếu, những đường nét của bà ta tỏa ra cùng ánh sáng mờ mờ như đôi mắt của những sinh vật bóng tối. Nhưng không giống những sinh vật, đôi mắt người phụ nữ này là những hố đen. Mặc dù bà ta không có con ngươi, Ico có thể nói là bà ta đang nhìn thẳng vào cậu. Bà ta dang hai cánh tay ra như một con chim ưng đang nhào xuống, ống tay áo của bà dâng lên cuồn cuộn.

    Đây cũng chính là người phụ nữ mặc đồ đen Ico đã thấy đang cầu nguyện trước những bức tượng trong cảnh mộng của mình.

    Tiếng ngân vang của một cái chuông đến từ đâu đó trong Lâu đài trong Màn sương. Tiếng chuông kêu chậm và trầm, và với dấu hiệu của nó, những cánh cửa khổng lồ của cánh cổng phía sau Ico bắt đầu đóng lại, cắt ngang gió biển. Cô gái vẫn nằm trên mặt đất, bất tỉnh. Ico thở hổn hển và cố gắng tóm lấy cô. Đứng dậy! Chúng ta phải đi! Cánh cổng đang đóng lại –

    Sau đó, trôi lơ lửng trên họ, những đợt sóng của màn sương đen cuốn qua chân bà, người phụ nữ mặc đồ đen nói. “Ngươi là ai?” bà ta hỏi, giọng bà ta xoắn và uốn qua không khí như thể là bản thân giọng nói của bà ta được tạo từ khói. “Ngươi đang làm gì ở đây?” Âm thanh của giọng bà ta vang lên và rơi xuống, giống như một cuộc trò chuyện nghe được từ bên ngoài một bức tường.

    Ico giữ cánh tay mình qua người cô gái, che chở cho cô. Cậu nhìn chằm chằm vào người phụ nữ mặc đồ đen, hơi thở của cậu hổn hển qua cái miệng mở của cậu. Cậu không thể nhìn đi. Cậu không thể di chuyển.

    Mình không nên trả lời bà ta. Trưởng lão, Oneh, và mỗi câu chuyện đáng sợ nào cậu từng được nghe đều bảo bạn rằng nếu bạn có bao giờ gặp một con quỷ trong rừng, thậm chí nếu nó gọi tên bạn, bạn cũng không được trả lời. Trả lời, và nó sẽ có linh hồn của bạn. Thay vào đó, bạn phải nhắm mắt lại và tự nói với bản thân rằng những điều bạn thấy không tồn tại. Đóng cửa trái tim bạn với nó, không thì con quỷ sẽ đánh cắp đường vào nó.

    “Ta thấy đôi sừng bẩn thỉu của ngươi, nhóc. Ngươi là một Vật tế. Một Vật tế đang làm gì khi rời khỏi cỗ quan tài đá của mình, đi thẳng ra đây?” Ngay cả khi cậu nhắm mắt lại và ấn hai tay trên tai mình, giọng của người phụ nữ cũng không biến mất.

    Cậu mở mắt ra lại, và chúng bắt gặp cái nhìn chằm chằm màu đen của người phụ nữ, hai cái hốc đen giống như những đầm lầy không dò được. Ico run rẩy và bò lùi lại. Tay phải cậu theo phản xạ sờ đến tấm Phù hiệu trên ngực cậu.

    Đôi mắt người phụ nữ, những vết sẹo đen trên gương mặt trắng toát của bà ta, nhíu lại. “Thứ này là gì đấy?”

    Chuông vang lên, âm thanh của nó dội lại qua sân. Những cánh cổng giờ đã đóng được một nửa. Những cái bóng của chúng trải dài hoàn toàn đến chỗ Ico và cô gái nằm trên mặt đất.

    “Ta hiểu rồi,” người phụ nữ nói, gật đầu. “Ngươi là một Vật tế đặc biệt may mắn. Hãy cảm ơn vận may của ngươi và rời khỏi lâu đài của ta. Ta đã tha mạng cho ngươi một lần. Đi đi trước khi ta thay đổi trái tim.”

    Lâu đài của ta – người phụ nữ này là chủ nhân của lâu đài ư?
    “A-ai? –” Ico lắp bắp, cố gắng để dứng dậy. Sau đó cậu đứng lên trước mặt người phụ nữ. “Bà là chủ nhân ở đây ư?” cậu hỏi, quên đi những lời cảnh báo lúc đó.

    “Phải. Ta là chủ nhân của Lâu đài trong Màn sương. Ta là nữ hoàng của tất cả những kẻ sống trong bóng của nó.”

    Người phụ nữ di chuyển tay phải của bà ta, nâng một ngón tay và chỉ thẳng vào mũi Ico. Mặc dù điều cậu cảm nhận bây giờ rất khác, bằng cách nào đó cử chỉ đó nhắc cậu nhớ về cách mà cô gái đã chỉ vào cậu khi lần đầu tiên cô bước khỏi cái lồng.

    Nữ hoàng của lâu đài gầy kinh khủng, thậm chí xuống cả những ngón tay của bà. Bà ta không chỉ già – bà ta gần như một bộ xương. Chiếc móng tay nhọn trên ngón tay đưa ra của bà ta lóe sáng như một mẩu đá vỏ chai.

    “Vật tế. Cuộc sống của ngươi trong tay ta. Nếu ngươi không muốn phải chịu đựng số phận như những người bạn của ngươi, hãy rời đi. Ngay.”

    Nỗi sợ của cậu trộn lẫn với quyết tâm của cậu, và trái tim cậu chạy đua. Cậu chạy đến bên cô gái và cố gắng bế cô ấy trên tay mình.

    “Bỏ tay ngươi khỏi con bé!” nữ hoàng nói, giọng bà ta chém vào không khí. Một cơn gió sắc, lạnh lẽo đập vào cổ Ico như một lưỡi kiếm.

    “Con bé không phải để ngươi chạm vào, Vật tế. Ngươi có biết con bé này là ai không?”

    Tôi muốn biết.

    Cậu rùng mình và nhìn lên nữ hoàng. Cậu muốn nghe có vẻ thách thức, nhưng giọng cậu run run một cách đáng thương. “Cô ấy là ai không quan trọng! Cô ấy bị giam giữ lại ở đây. Cô ấy là một Vật tế, giống tôi! Tôi sẽ mang cô ấy đi với mình!”

    Cái cằm nhọn của nữ hoàng nâng lên và gương mặt bà ta méo mó. Hai chân Ico đông cứng dưới cậu. Nữ hoàng bắt đầu cười.

    Cô gái cử động, đặt hai cánh tay dưới cô và ngồi dậy nửa người để nhìn lên nữ hoàng. Cô trông như cô sắp sửa khóc.

    Ico bước đến bên cạnh, quỳ xuống bên cô gái. Cậu đặt tay lên vai cô và có thể cảm nhận sự run rẩy của cô. Cô gái bị chết khiếp bởi cái nhìn của nữ hoàng.

    Nữ hoàng cảm thấy bà đang bị quan sát, và tiếng cười của bà ta nhạt đi khi bà ta nhìn xuống cô gái. Mặc dù cô vẫn nửa nằm trên mặt đất, Ico cảm thấy sự lùi lại của cô trước cái nhìn chằm chằm của nữ hoàng.

    Nữ hoàng bây giờ nói còn chậm hơn, dệt những lời của bà khi bà ta gọi cô gái. “Yorda,” bà nói, “Yorda thân yêu của ta.”

    Lần này, Ico do dự. Bàn tay cậu căng ra trên vai cô gái và cậu nhìn nữ hoàng. Bà ta giờ chỉ nhìn chằm chằm cô gái. Khi cô xúc động bởi nữ hoàng, nữ hoàng cũng không rời mắt khỏi cô. Đôi mắt họ gặp nhau.

    “Con có nghe thấy đứa trẻ trân tráo này đã nói gì không? Nó đã gọi con là một Vật tế! Thật thô lỗ khủng khiếp. Nó không biết rằng con là con gái yêu thương của ta ư?”

    Ico cảm thấy sức mạnh rời bỏ đôi chân cậu. Hai cánh tay cậu buông xuống mặt đất.

    Yorda không trả lời nhưng thay vào đó cúi mặt xuống đất như thể cô ấy có thể thoát khỏi đôi mắt của nữ hoàng. Cô đưa tay lên miệng. Ngay cả những ngón tay của cô cũng run rẩy.

    “Điều đó không thể đúng,” Ico nói lắp bắp. “Không đời nào cô ấy lại là con gái bà!”

    “Ồ?” Nữ hoàng nhìn cậu, mỉm cười. “Ngươi nghi ngờ lời của ta? Ngươi ngu ngốc như sự cứng đầu của mình!”

    Ico nhanh chóng đứng dậy và xông tới chỗ nữ hoàng. Cười lớn, bà ta vẫy bàn tay xương xẩu vào cậu – cử chỉ nhẹ nhất của bà ta đủ để làm cậu ngã nhào lên đá.

    “Ngươi nên biết vị trí của mình, Vật tế - và nó ở xa, xa khỏi ta.” Nụ cười của nữ hoàng nhạt đi và đôi mắt bà ta phát sáng như ngọn lửa đen trong quanh cảnh mặt trăng nhợt nhạt của gương mặt bà ta. “Ta nên giết ngươi chỉ vì việc dẫn con bé đi quanh lâu đài!”

    Ico đứng trên đôi chân lảo đảo. “Nếu cô ấy thực sự là con gái bà, tại sao bà lại giam cầm cô ấy trong lồng? Điều đó thật vô lý!”

    Cái cằm nhọn của nữ hoàng nâng lên và bà ta lại cười – một tiếng cười ngắn, như tiếng sủa của một con chó. “Tên Vật tế hèn hạ dám khiển trách ta! Ta chọn làm gì với con gái ta không phải là mối quan tâm của ngươi.”

    Ico lại xông đến chỗ bà ta. Nữ hoàng giơ một móng tay giống móng vuốt lên, nhưng Yorda bước vào giữa họ. Không một lời, Yorda dang hai cánh tay ra trước Ico, giữ cậu lại. Ico nhìn vào đôi mắt cô và cô lắc đầu, cầu xin cậu.

    Đôi mắt nữ hoàng nhíu lại. “Hãy nhìn điều đó xem. Dường như Yorda thương hại ngươi.” Bà ta có vẻ sửng sốt nhiều hơn là buồn phiền. “May mắn của ngươi được gấp đôi, Vật tế thấp hèn. Ta sẽ tha mạng cho ngươi một lần thứ hai, vì lợi ích của Yorda. Bây giờ hãy rời đi. Tuy nhiên ta sẽ không chịu đựng được để ngươi rời đi bằng cổng chính qua nơi mà người từng bước vào trong vinh quang, được vây quanh bởi những tiếng reo hò và ngưỡng mộ của người dân của ta.”

    Gần như như thể chúng đang đợi cho những lời đó, cánh cổng khổng lồ đóng lại hoàn toàn, làm rung mặt đất với tiếng ồn. Ánh sáng đang tuông qua bị chặt phăng đi, ném toàn bộ cái sân vào bóng tối.

    Tiếng ngân vang của cái chuông dừng lại.

    “Ta chắc chắn một loài bò sát trong đất như ngươi sẽ không gặp khó khăn gì để tìm một lối thoát thích hợp. Luồn lách từ một vết nứt trong bức tường nếu ngươi phải, tên sâu bọ khốn khổ. Hoặc có lẽ ngươi sẽ thích dùng móng vuốt của mình đào vào lòng đất hơn và thoát qua một đường hầm do chính ngươi tạo ra chăng? Nhưng ngươi sẽ tìm được một cách, và ngươi sẽ rời đi.”

    Mặc dù không có gió, tấm Phù hiệu của Ico vẫn chuyển động. Nữ hoàng cau mày, đôi mắt bà ta lóe lên. Ico hồi tưởng lại nữ hoàng cau mày trước đó khi cậu chạm vào tấm Phù hiệu của mình – như là bà ta thấy nó khó chịu.

    Cậu bắt đầu di về phía nữ hoàng, đặt tay mình trực tiếp lên tấm Phù hiệu và tập trung toàn bộ suy nghĩ của cậu lên nó. Được bọc trong chiếc áo choàng của bóng đen cuộn xoáy, nữ hoàng nhìn chằm chằm xuống cậu. Ico nhìn chằm chằm lại.

    “Nếu bà thực sự là chủ nhân của tòa lâu đài này, vậy thì những Vật tế được hiến tế cho bà, đúng chứ? Tại sao? Tất cả những điều đó để làm gì?” Ico hỏi nhanh, đôi chân cậu vững trãi. “Những sinh vật khói đen trong lâu đài đó – chúng cũng là những Vật tế, phải không? Bà đã biến chúng những những thứ như thế với phép thuật của bà. Bà chẳng phải là một nữ hoàng gì cả. Nữ hoàng là những người tốt, quý phái với trái tim nhân từ. Họ không bắt những người vô tội hiến tế con cái của họ. Bà là một kẻ dối trá. Bà là một mụ phù thủy!”

    Càng nói, cậu càng trở nên giận dữ hơn, đến khi Ico gần như đang hét lên. Nữ hoàng vẫy tay như thể đập bay một con ruồi, và Ico ngã về phía sau. Lần này cậu thậm chí bay đi xa hơn, tạo một đường vòng cung qua không trung trước khi cậu tiếp đất bằng vai trên đá sỏi trước tiên. Máu dâng lên trên má cậu nơi nó đập vào mặt đất.

    Ico cảm thấy choáng váng, và cậu đau khắp người. Cậu đang có vấn đề với việc hít thở, và những chấm trắng lấp đầy tầm nhìn của cậu.

    “Rên rỉ đủ rồi đấy, sinh vật bé nhỏ,” nữ hoàng nói bằng giọng lạnh lùng, vang vọng. “Bây giờ, Yorda. Trở về lâu đài. Không phí thời gian với Vật tế này nữa. Con quên mất mình là ai rồi.”

    Ico chớp mắt, nhưng tầm nhìn của cậu vẫn không rõ ràng. Cậu cố gắng tập trung vào nữ hoàng, vẫn lơ lửng trong không trung, và Yorda phía dưới bà, cúi người trên đám sỏi và co rúm trong sợ hãi.

    “Đừng nghe bà ta, Yorda!”

    Ico nghe thấy giọng nói của chính cậu có vẻ như nó đến với cậu từ một nơi rất xa. Lưỡi cậu không di chuyển theo cách mà cậu muốn nó làm. Cậu nghĩ cậu thấy nữ hoàng ra hiệu, và lần thứ ba cậu bay qua không trung, đập mạnh vào mặt đất khi cậu tiếp đất bên cạnh cô gái. Bà ta đang chơi đùa với mình. Ico cảm thấy như xương sườn cậu có thể gãy. Những vết cắt phủ lên đầu gối và khủy tay cậu.

    Yorda ném người qua Ico, bảo vệ cậu với cơ thể mình. Cô nhìn lên nữ hoàng, lắc đầu, cầu xin.

    “Tại sao con lại cho thấy sự khoan dung với kẻ hèn hạ thế?” nữ hoàng hỏi. “Lâu đài này một ngày nào đó sẽ là của con. Con là cơ thể của ta. Con sẽ thống trị Lâu đài trong Màn sương với trái tim ta, và đợi cho đến ngày khi chúng ta thống trị trong vinh quang một lần nữa. Đừng nói với ta con đã quên?”

    Trong trạng thái nửa tỉnh táo của mình, Ico lờ mờ biết được Yorda đang khóc.

    “Hoặc có lẽ con đã mệt mỏi vì phải chờ đợi? Tuy nhiên, con không thể chống lại số mệnh của con. Nghe cho kỹ đây, Yorda. Con và ta là một. Khi thời điểm đến, con sẽ nhận ra đây là một phước lành vĩ đại.”

    Hình dáng của nữ hoàng bắt đầu mờ đi. Ico quyết định không phải thị lực của cậu hỏng, bà ta thực sự đang rời đi. “Vật tế,” bà ta gọi cậu. “Hãy rời đi ngay. Ngươi sẽ không có một cơ hội khác đâu. Và đừng tốn thời gian của ngươi với con gái ta. Con bé sống ở một thế giới khác xa với mấy thằng nhóc có sừng.”

    Bộ váy đen của màn sương của nữ hoàng tiêu tan. Sau đó, trong một sự ngược lại của màn thể hiện đến uy nghi của mình, bà ta tan ra thành gió.

    Ico nằm dài ra trên đường đá cuội. Yorda gần bên cậu, tay đặt trên những tảng đá, đang khóc. Đó là âm thanh duy nhất trong sân. Ico nhìn qua Yorda. Nước mắt cô rơi, tạo những đốm đen trên đá nhanh chóng khô đi và biến mất. Gần như như thể cái bóng được tạo ra bởi lâu đài từ chối chấp nhận nỗi buồn của cô.

    Ico cố ngẩng đầu lên,và một cơn đau nhói chạy qua cổ cậu. Cậu kêu ăng ẳng, và Yorda quay sang nhìn cậu, những vệt trên mặt cô nơi nước mắt đã chảy.

    Mắt họ gặp nhau. Nhìn Yorda khóc làm Ico cũng muốn khóc theo.

    “Điều đó là thật ư?” cậu hỏi bằng một giọng yếu ớt.

    Yorda lau nước mắt đi và không nói gì.

    “Yorda… tên cậu là Yorda, đúng không?”

    Bàn tay Yorda dừng lại, nửa che mặt cô. Cô gật đầu.

    Ico đặt đầu lên trên đá. Cậu có thể cảm thấy sức mạnh đang rút khỏi cơ thể mình. “Vậy bà phù thủ, bà nữ hoàng… là mẹ cậu.”

    Yorda lại gật đầu. Cuộn mình trên đá, cô xoay lưng lại với Ico.

    “Vậy sau tất cả cậu không phải là một Vật tế,” cậu nói, với bản thân mình hơn là với cô. “Cậu biết,” Ico tiếp tục trong một tiếng thì thầm. “khi tôi nắm tay cậu, tôi thấy những thứ. Những cảnh mộng. Và nữ hoàng ở trong một trong số chúng. Tôi cũng đã thấy hiệp sĩ với một bên sừng gãy từ cây cầu cũ. Và ngay cả cậu, khi cậu còn nhỏ.”

    Yorda không xoay mặt qua cậu, vì vậy Ico nói chuyện với lưng của cô. “Khi chúng ta ở trên chiếc xe đẩy, cậu ở đó với cha cậu.” Nghiến răng chống lại nỗi đau, cậu ngẩng đầu và cố gắng ngồi dậy. Cậu đau rất nhiều nơi khác nhau, cậu thậm chí không chắc chúng là những chỗ nào. Thậm chí mắt cậu trở nên nóng với nước mắt chực chờ trào ra.

    “Cậu đang lái xe với ông ấy, chơi đùa. Dường như hai người các cậu rất thân thiết.”

    Yorda đã ngừng khóc. Cô nhìn lên, tập trung vào thứ gì đó ở xa.

    “Cha cậu đã đi đâu?” Ico hỏi. “Ông ấy chết rồi ư? Mẹ cậu nhốt cậu mọi lúc vậy à? Nói với tôi, Yorda. Chuyện gì đang xảy ra trong lâu đài này? Nó đã không luôn như vậy, phải không? Nó khác biệt trong những cảnh mộng. Điều gì đã xảy ra với Lâu đài trong Màn sương xinh đẹp nơi cậu từng chơi đùa?”

    Yorda thì thầm điều gì đó, một từ ngắn. Mặc dù cậu nghe nó rõ ràng, Ico không hiểu.

    Cô di chuyển hai chân, đến gần Ico hơn. Cô duỗi một cánh tay mảnh khảnh và chạm vào vết xướt trên má Ico. Cậu cảm thấy ấm áp. Nó dường như chảy từ những đầu ngón tay của Yorda sang cơ thể cậu, lấp đầy cậu.

    Tấm Phù hiệu dệt trên chiếc áo tunic của cậu bắt đầu tỏa sáng từ bên trong. Đôi mắt Ico mở to.

    Sự đau đớn trong cơ thể cậu đang biến mất.

    Máu ngừng chảy từ những vết cắt và sướt trên da cậu và bắt đầu khô lại. Những vết thâm của cậu mờ đi. Những khớp xương của cậu, cứng lại với nỗi đau, cử động trơn tru trở lại.

    Ico dang hai tay ra và nhìn xuống cơ thể đang lành lại của cậu. Tấm Phù hiệu đang tỏa sáng yếu ớt, giống như một con đom đóm vào một đêm mùa hè, rộn ràng từng bước với nhịp đập của trái tim Ico.

    Khi vết xước cuối cùng biến mất, ánh sáng của tấm Phù hiệu mờ đi. Yorda bỏ những ngón tay của cô khỏi má Ico.

    Ico nhìn chằm chằm vào mặt Yorda. Nó thật xinh đẹp. Cậu không dám thở vì sợ phá vỡ câu thần chú. Đôi mắt cô đang lấp lánh.

    “Cảm ơn,” cậu nói.

    Yorda bắt đầu mỉm cười, nhưng nụ cười của cô héo đi nửa chừng, và đôi môi cô rũ xuống hai bên khóe. Cô hạ đôi mắt xuống.

    “Tôi nghĩ cậu có cùng sức mạnh như tấm Phù hiệu của tôi,” Ico nói. “Hoặc có lẽ cậu có sức mạnh để khiến tấm Phù hiệu của tôi hoạt động tốt hơn. Cậu biết trưởng lão đã nói gì không? Họ nói miễn là tôi có tấm Phù hiệu này, tôi sẽ không bao giờ thua lâu đài.”

    Ico nắm tay Yorda trong tay mình. “Cậu đã không muốn bị nhốt trong một cái lồng, phải không? Cậu muốn rời nơi này, phải không? Bà ta nó bà ta đang tha mạng cho tôi, nhưng sự thật là bà ta không thể giết được tôi.”

    Nó chỉ là một suy đoán, nhưng khi Ico nói điều đó cậu cảm thấy chắc chắn cậu đúng. Nếu nữ hoàng thực sự hùng mạnh như thế, bà ta sẽ không ngừng đe dọa cậu. Bà đã bẻ gãy cậu như một cành cây nhỏ ngay sau đó.

    Lấp đầy với hy vọng, Ico nhìn vào đôi mắt Yorda. Cậu cảm thấy như cậu đang nhìn vào một chiếc đồng hồ cát, cố gắng để chọn qua những hạt cát sự thật nào đó được chôn vùi ở đó từ lâu. Cậu chưa tìm ra bất cứ điều gì, nhưng sự ấm áp của đôi tay Yorda trong tay cậu nói với cậu rằng cậu đang đến gần rồi.
     
    conruoinhobupbecaumua thích bài này.
  18. Magic Purple

    Magic Purple Gà BT Nhóm Chuyển ngữ

    Bài viết:
    1.252
    Được thích:
    1.345
    Đã thích:
    1.150
    GSP:
    397p
    Chương 3. Lồng thời gian

    [1]

    Yorda đã sống trong sự cô độc dai dẳng và hoàn toàn đến nỗi nó đã ăn sâu vào người cô, trở thành máu thịt của cô.

    Khi cô nhìn thấy bản thân mình trong gương hay được phản chiếu trên bề mặt của một hồ nước tĩnh lặng, cô thấy không phải một con người mà là một bộ da mỏng căng ra bên ngoài một khoảng không cô độc. Mình là một vật chứa, mình là một cái bình rỗng, một bộ sưu tập của hư không.

    Trong thế giới của Yorda, thời gian bị dừng lại. Thời gian là nhà giam của cô. Nó đã giam giữ cô lâu đến nỗi cô không còn nhớ được nó bắt đầu khi nào, lần đầu tiên cô nhận ra số mệnh của mình khi nào. Tuy nhiên cuối cùng cô đã hiểu được. Thời gian không giam cầm mình, mình giam cầm thời gian. Thời gian là thứ bị mình giam cầm. Mình là người giữ chìa khóa cô độc, tự do sống ở đây miễn là mình không từ bỏ vị trí của mình. Tại đây mình đã ở lại lâu đến nỗi thời gian trở thành vô nghĩa.

    Tại sao lại vậy?
    Ai khiến mình làm điều này?
    Mình ở đây bởi mệnh lệnh của ai?


    Cô đã quên. Để đổi lại cho sức mạnh giữ lại thời gian, cô đã mất khả năng để đánh dấu sự trôi qua của nó. Qua những năm dài, sự lãng quên này trở thành một điều may mắn với cô, sự thanh bình duy nhất mà cô có thể đòi hỏi.

    Một biển lãng quên, một rào cản sự thật, bao bọc lấy cô. Cô trở thành một viên sỏi tròn trịa nhỏ bé, bị chìm xuống tận đáy của nó. Ở đây chỉ có sự thanh bình và yên tĩnh. Mặc dù những đợt sóng nghi ngờ và không thoải mái có thể vỗ lên bề mặt nước ở phía trên cao cô, chúng sẽ không bao giờ chạm xuống tới đáy nơi cô sống.

    Một giấc ngủ vĩnh cửu, không giống như cái chết.
    Khi nào nó sẽ kết thúc?
    Ai sẽ kết thúc nó?
    Nó sẽ dừng lại theo mệnh lệnh của ai?


    Ngừng thời gian có nghĩa là ngừng trái tim cô. Không có gì thay đổi, không có gì chuyển động. Không có gì được sinh ra, không có gì bị mất đi. Bởi vì nó đã luôn tồn tại. Bởi vì nó sẽ luôn tồn tại.

    Ít nhất, điều đó là cách nó có ý nghĩa để -

    “Yorda… đó là tên cậu ư?” Một giọng nói, đang gọi cô. Đôi mắt đen nhìn lên cô. Sự ấm áp của một người khác đứng gần, âm thanh của hơi thở của họ.

    Ở đâu có sự sống và họat động, thời gian không thể duy trì sự tĩnh lặng. Những cánh cửa của cái lồng phải mở và để người bị giam cầm của chúng được tự do.

    Yorda… phải. Đó là tên mình.


    Yorda đang mơ. Cô mơ về những mảnh vỡ dường như đến và đi tùy ý chúng khi cô nằm trong cái lồng trên đỉnh tháp trên phòng bệ cột. Cô đã nằm ở đây bao lâu? Những giấc mơ của cô không theo con đường logic, cô cũng không thể chắc chắn chúng là những giấc mơ trong giấc ngủ của cô hay những giấc mơ thức giấc trong đầu cô. Thường xuyên, cô đã hồi tưởng lại cùng một giấc mơ nhiều lần.

    Bởi vì cái chết và sự lãng quên có quan hệ gần gũi với nhau, vì vậy cái chết và những giấc mơ cũng thế. Ai có thể thực sự nói rằng người chết không mơ? Mình là người chết đang mơ về cuộc sống ư? Hay mình là người sống đang mơ về cái chết?

    Trong giấc mơ của cô, ai đó trèo lên cái cầu thang xoắn ốc uốn lượn lên ngọn tháp. Trong giấc mơ của cô, cô nghe thấy những bước chân, thấy một cái bóng trên cầu thang. Cô nhìn lên và thấy hình dáng tiến tới. Nhưng sau khi cô chớp mắt và nhìn lại, cô nhận ra nó chỉ là một cảnh mộng không có vật chất.

    Đó là cái cách mà nó luôn như thế. Cô luôn luôn ngủ trở lại, tìm kiếm giấc mơ tiếp theo.

    Trong giấc mơ này, cô thấy một cái bóng màu đen lớn lên trên bức tường phía sau hình dáng đang trèo, kéo nó vào trong, hấp thụ nó. Hình dáng không nói gì, chỉ co rúm lại trong nỗi sợ hãi khi bóng tối mang nó đi. Một cơn bão lớn cuồng nộ bên ngoài ngọn tháp. Cô có thể cảm thấy gió trên mặt mình và những giọt nước mưa mát lạnh. Những giấc mơ của cô thường không thể phân biệt với thực tại.

    Hình dáng bị những cái bóng bắt đi – nó là một cậu bé. Nỗi sợ khủng khiếp của cậu ta thấm vào cô. Đôi mắt cô mở to hoảng hốt. Sau đó, cô thật thấy ai đó đang trèo lên những cầu thang của ngọn tháp của cô. Đang đi vòng quanh, chạy lên cầu thang xoắn ốc với một tốc độ kinh khủng.

    Đây là một giấc mơ ư? Đó là hình dáng mà mình đã thấy trước đây trong giấc mơ ư? Cái nào là cuộc sống, và cái nào là cái chết?

    Sao đó cô nghe thấy một gọi nói gọi cô. “Có ai ở trên đó không?”

    Yorda ngồi dậy nửa người. Đó là một cậu bé, dựa vào lan can, nhìn lên cô. “Cậu đang làm gì ở đó?”

    Cô có thể thấy cậu với đôi mắt của mình. Cô có thể nghe thấy giọng cậu trong đôi tai của mình.

    Yorda không thể tin được điều đó. Mình vẫn đang mơ. Đây là một hình ảnh tưởng tượng mà trái tim mình đang cho mình xem. Một lời nói dối dịu dàng, dễ chịu. Đó là tất cả.

    Bây giờ cậu bé đang đứng trên đầu ngón chân, với cao hết sức có thể, và gọi lớn. “Đợi chút. Tôi sẽ đưa cậu xuống.”

    Cậu lại bắt đầu leo lên cầu thang. Yorda có thể quan sát cậu chạy bằng đôi mắt mình. Cậu đang mặc một bộ quần áo màu đỏ lạ lùng – mặc dù, một màu thật đẹp. Cô tự hỏi về tấm vải nằm trên ngực và lưng cậu, được trang trí với những họa tiết phức tạp. Khi cậu chạy, tấm vải bay phần phật và cuộn như một lá cờ.

    Ngay sau đó, cô không còn có thể thấy cậu. Trông như thể cậu ta đã bò lên một trong những ô cửa sổ cao hơn trong ngọn tháp trong giấc mơ của cô. Đúng vậy. Mình vẫn đang mơ. Mình không thể quên đi.

    Không có điều gì xảy ra sau điều này cả. Không có gì thay đổi. Mình sẽ ngủ trở lại.

    Cái lồng rung lắc quanh cô.

    Yorda tóm lấy những chấn song, bám lấy vì cuộc sống thân yêu. Sự rung động tiếp tục, và sau đó, làm cô ngạc nhiên, cái lồng bắt đầu rơi chầm chậm. Cái bục tròn ở xa phía dưới cô trở nên lớn hơn.

    Một giấc mơ phức tạp. Một giấc mơ được dệt nên từ những hy vọng điên cuồng nhất của mình.

    Nhưng cái lồng không xuống thẳng tới cái bục. Thay vào đó, nó dừng lại ngang độ cao của cổng tượng. Ở đó nó rung lắc một lần nữa, và Yorda đứng dậy, nắm những chấn song.

    Cô có thể thấy mấy cái đầu của những bức tượng ở dưới chân mình. Bốn bức đứng im lặng canh gác lối ra.

    Cô tự hỏi làm thế nào cô biết điều đó. Một cơn ớn lạnh chạy xuống sống lưng của cô, và Yorda thả những chấn song ra, lùi lại về giữa cái lồng. Một ký ức thoáng qua xuất hiện trong đầu cô.

    “Những bức tượng này là những người bảo vệ của chúng ta.”
    “Chúng sẽ bảo vệ chúng ta, cả hai ta, trong suốt thời gian vĩnh cửu chúng ta phải đợi ở đây trong lâu đài đến khi thời điểm của sự phục hưng nằm trong tay.”
    “Ta là con, và con là ta. Ta là thứ đã lấp đầy con, và con là cái bình của ta.”


    Yorda lắc đầu, để nó gục xuống yếu ớt trên cổ cô. Mình là chính mình. Đây là cơ thể của mình. Tay chân mình. Tóc mình. Mắt mình.

    Có một tiếng ồn lanh canh lớn trên đầu cô, và cái lồng bắt đầu lắc như một con thuyền trên biển. Cô nhìn lên và thấy rằng cậu bé lúc trước đã hạ xuống trên cái lồng.

    Cái lồng lắc, và Yorda bị ném vào những chấn song. Phía trên cô, cậu bé mất thăng bằng và ngã từ trên lồng với một tiếng kêu. Cái lồng lại lắc lư, lần này đột ngột hơn, và khoảnh khắc tiếp theo nó bắt đầu rơi. Sợi xích đã đứt!

    Thậm chí không đủ thời gian để cô chớp mắt. Đáy của cái lồng đập vào cái bục với một tiếng lanh canh vang vọng, và trong một khoảnh khắc kinh hãi nó bập bênh, có dấu hiệu đổ, trước khi dừng lại trên mặt đất. Một hơi thở sau đó, Yorda nghe thấy một tiếng rền kim loại sắc bén khi cánh cửa lồng mở tung, khóa của nó bị bể.

    Cậu bé đang ngồi trên sàn nhà không xa lắm. Sự im lặng trở lại căn phòng, và Yorda nghe thấy tiếng tanh tách của những ngọn đuốc và tiếng thở dữ dội của cậu ta.

    Mình vẫn đang mơ ư?

    Yorda bước chầm chậm ra khỏi cái lồng.

    Cậu ta vẫn đang ngồi, há hốc với cô. Cậu ta trông còn nhỏ. Đôi mắt đen tròn nhỏ. Tấm vải lạ lùng mà cậu ta mặc tỏa ra một ánh sáng mờ mờ. Và cậu ta có sừng.

    “Chúng ta sẽ cần những vật tế.”

    Những mảnh ký ức nhảy múa trong đầu cô.

    “Lâu đài trong Màn sương sẽ yêu cầu chúng.”

    Mình đang mơ, Yorda nghĩ. Đây không thể là kiểu tiêu khiển nào đó mà đầu óc mình đã dệt nên cho mình. Mình đang lặp lại một ký ức cũ. Hẳn là vậy, bởi vì mình biết cậu bé có sừng này. Mình đã biết cậu ta từ rất lâu rồi. Cùng với nhau, chúng mình đã bước đi trong lâu đài này –

    “Đó là lỗi của tôi khi mong muốn dùng sức mạnh của tiểu thư.”
    “Nhưng đừng từ bỏ hy vọng. Ngày đó sẽ đến khi một đứa trẻ mang dòng máu của tôi sẽ đứng lên để cứu tiểu thư.”
    “Và mẹ cô –”


    Yorda tìm lại giọng nói của mình từ bên kia khoảng thời gian dài thăm thẳm. “Cậu là ai?” cô hỏi cậu. “Sao cậu vào được đây?”

    Nhưng cậu chỉ nhìn cô ngây ra. Cô hỏi cậu lại, và đôi môi cậu ta chuyển động.

    “Cậu… cậu là một Vật tế ư?”

    Những từ đó có một tiếng ngân quen thuộc với đôi tai cô. Chúng không phải của cô, nhưng cô cũng biết rõ những từ đó. Chúng là những từ cậu đã dùng rất nhiều năm trước đó. Cô biết cô nhận ra chúng. Nhưng điều đó đã rất lâu trước đó. Và mặc dù cô có thể hiểu chúng, thật thất vọng khi cô không thể nói được chúng.

    Những ký ức quét qua cô như những đợt sóng, hiện tại, không ngớt.

    Cậu bé này không phải mơ, mình biết điều đó.

    Yorda giơ tay ra và chạm vào má cậu bé. Mình muốn cảm nhận sự ấm áp của cậu ấy. Mình muốn chắc chắn. Hai vai cậu nâng lên và miệng cậu méo mó. Cậu ấy sợ. Đừng sợ. Nhưng tôi phải chắc chắn cậu ấy là thật.

    Đó là khi chúng xuất hiện.


    Yorda gọi chúng là những-cái-bóng-bước-đi-cô-độc. Chúng là những cái bóng, được sinh ra từ những Vật tế. Những linh hồn của Vật tế đã được chuyển đi, bước vào phép thuật bóng tối, và biến thành những sinh vật không định hình. Mẹ của Yorda, nữ hoàng của Lâu đài trong Mà sương, gọi chúng là những nô lệ của bà, và bà nói chuyện với chúng bằng một giọng khinh bỉ khủng khiếp.

    Những cái bóng đang tìm kiếm Yorda bởi vì nữ hoàng đang tìm kiếm Yorda. Yorda giữ thời gian bên trong người cô, những cái bóng giữ Yorda, và lâu đài giữ những cái bóng. Ngay cả bây giờ, nữ hoàng cai trị ba tầng canh giữ này.

    Nhưng cậu bé bảo vệ Yorda khỏi những-cái-bóng-bước-đi-cô-độc. Cậu nắm tay cô, bảo vệ cô, vung cánh tay gầy của cậu, và chiến đấu với cơ thể nhỏ bé của cậu, đánh lui chúng. Nếu những cái bóng kéo cô vào vương quốc của chúng, cô sẽ một lần nữa trở thành một tù nhân, và cậu bé sẽ biến thành đá, một món đồ trang trí buồn bã trong lâu đài. Yorda biết điều này. Nhưng cậu bé không – ngay cả khi cậu không biết rằng Yorda là tài sản của nữ hoàng của lâu đài – và cậu bảo vệ cô.

    Phải, đây hẳn là một giấc mơ. Một giấc mơ được dệt nên bởi trái tim mình, để than khóc cho linh hồn đã chết của mình.

    Người đàn ông đã hứa rằng một ngày nào đó cô sẽ được giải cứu. Nhưng dù cho ông hứa chắc chắn như thế nào, ông chỉ là một người đàn ông và sức mạnh của ông có hạn. Sau tất cả mọi chuyện, ông ấy đã đóng băng và mài mòn, sau đó biến mất mà không có một dấu vết nào.

    Nhưng cảm giác của những ngón tay cậu bé cầm lấy tay cô và sự ấm áp của bàn tay cậu là có thật. Không nghi ngờ gì nữa cậu tồn tại, cháy lên với giận dữ, run lên với nỗi sợ hãi, thở dữ dội trong mớ hỗn độn, chiến đấu với những cái bóng nhảy quanh họ.

    Khi cô bước đi lảo đảo, được cậu bé dẫn đường, cô có một ý tưởng. Cô kéo mạnh tay cậu. Cậu chống cự. Cậu không biến mất. Cô không thức dậy run rẩy để thấy mình vẫn ở trong cái lồng.

    Đây không phải là một giấc mơ. Hãy tin điều này. Nó không phải là một giấc mơ. Thời điểm được hứa hẹn đã đến.

    Yorda kéo mạnh tay cậu bé hết sức có thể, xoay về phía những bức tượng canh gác.

    “Những bức tượng này bảo vệ con.”

    Những người canh gác chú ý đến mệnh lệnh của người được bảo vệ. Mặc dù Yorda có thể thiếu sức mạnh để đẩy lùi những cái bóng, cô có thể mang ánh sáng để mở đường ra của nơi này.

    “Không bao giờ di chuyển những bức tượng. Chúng ta phải bảo vệ lâu đài khỏi những kẻ dơ bẩn của thế giới ngoài kia đến khi sự phục hưng đến gần.”

    Khi Yorda dùng chính sức mạnh của mình để di chuyển những bức tượng, những cái bóng biến mất từ phòng bục giống như khói trong một cơn gió mạnh.

    “Sao cậu làm được thế?” cậu bé hỏi, liếc nhìn giữa gương mặt cô, căn phòng trống, và những bức tượng đã tách ra trước họ. Cô thấy những nghi ngờ tối tăm và những hy vọng rực sáng trong đôi mắt vô tội đang nhìn vào đôi mắt cô.

    “Đi với tôi, được chứ?” cậu bé nói. “Cùng tìm đường ra.”

    Cô nhìn vào đôi sừng mọc trên đầu cậu, sau đó cô nắm bàn tay đưa ra của cậu.
     
    Chỉnh sửa cuối: 8/10/15
    conruoinho thích bài này.
  19. Magic Purple

    Magic Purple Gà BT Nhóm Chuyển ngữ

    Bài viết:
    1.252
    Được thích:
    1.345
    Đã thích:
    1.150
    GSP:
    397p
    Chương 3

    [2]

    Được nắm tay dẫn khi khi họ chạy qua lâu đài để tìm lối ra, Yorda thử gợi lại những ký ức đã mờ nhạt của mình. Dường như cô đã bước trên những tảng đá này bằng chính đôi chân mình, tự do khỏi cái lồng, điều đó hẳn không quá khó khăn.

    Những ngọn tháp của Lâu đài trong Màn sương. Những phong cảnh được nhìn từ những độ cao không tưởng. Những hành lang vô tận. Những cầu thang xoắn ốc cao. Đồ đạc và đồ trang trí vỡ vụn. Mọi thứ đều giống như cô nhớ về nó. Cô đã chạy qua đây nhiều lần, chạm vào, ngồi xuống để nghỉ ngơi. Cô phải nhớ lại.

    Nhưng giống như một cơn ác mộng mà bạn chạy và chạy và có vẻ không bao giờ đến được bất cứ đâu, những ký ức của Yorda về Lâu đài trong Màn sương lơ lửng gần đến nản, nhưng luôn luôn ngoài tầm với. Mặc dù một tấm màn bóng tối đã phủ lên giữa bây giờ lúc đó, che giấu quá khứ của cô khỏi hiện tại.

    Lâu đã đã luôn rộng lớn vậy sao? Luôn luôn phức tạp vậy sao? Mặc dù mỗi phòng dường như quen thuộc với cô, những con đường giữa chúng lạ lẫm và xoắn lại.

    Cậu bé dũng cảm – như thể cậu hầu như không sợ bất cứ điều gì. Hoặc có lẽ đó chỉ là một vẻ bề ngoài. Cậu nên sợ. Tuy nhiên đôi chân cậu chạy và đôi mắt cậu tìm kiếm không ngừng nghỉ. Ngoại trừ, mỗi lần trong một lúc, một ánh nhìn trầm tư sẽ trùm lên cậu và cậu sẽ dừng lại. Sau một lúc, cậu sẽ lắc đầu và lại bắt đầu bước đi. Yorda tưởng tượng rằng những lần đó cậu vật lộn với những nghi ngờ và sợ hãi trong đầu óc mình, nhưng về phần Yorda, trí nhớ của chính cô đã bị mây che phủ, thật khó để tưởng tượng những nghi ngờ và sợ hãi đó có thể là gì. Giá mà cô có thể hiểu cậu hơn.

    Những lời của cậu cứ lộn xộn trong tâm trí cô. Yorda thậm chí không biết tên cậu bé. Tuy nhiên đôi sừng trên đầu cậu nói với thứ gì đó đang ngủ trong trái tim cô, cố gắng để đánh thức nó. Rất quen thuộc, rất thoải mái. Cô nghe thấy một giọng nói thì thầm trong đầu mình.

    “Đừng từ bỏ hy vọng.”

    Ông ấy là ai? Ông ấy là gì đối với mình? Cô dang hai cánh tay trong tâm trí mình, cố gắng để khám phá những ký ức nằm chôn vùi trong bóng tối. Thật thoải mái biết bao khi lôi được chúng ta, đem chúng ra dưới ánh sáng.

    Mình muốn nhớ lại. Mình phải nhớ lại.

    Thỉnh thoảng, cậu bé sẽ nắm tay cô và đôi mắt cậu trống rỗng, như thể tâm trí cậu đã ngã và rơi vào bên trong cậu. Biểu hiện của cậu là của ai đó đang nhìn săm soi thứ gì đó ở xa xăm, thứ gì đó Yorda không thể thấy. Có gì không đúng? Cô muốn hỏi. Cậu đang nghĩ gì?

    Sau khi lúc đó trôi qua, và ánh sáng sẽ trở lại đôi mắt của cậu. Cậu sẽ nghiêng đầu tò mò, nhìn cô đầu tiên, và sau đó nhìn quanh họ, như thể cậu đã trên một chuyến đi dài nào đó và giờ mới vừa trở về.

    Sau một lúc – Yorda nhận ra với sự ngạc nhiên nào đó rằng cô có thể đánh dấu sự trôi qua của thời gian – họ tiến đến cây cầu cũ dẫn đến ngọn tháp ở xa của lâu đài, hiện ra lờ mờ qua màn sương trắng. Bức tượng của một hiệp sĩ đứng gần bên cây cầu.

    Cậu nhìn lên nó và đôi mắt cậu trở nên xa xăm.

    Điều gì đó về bức tượng cao ấy, một sừng nhô ra từ mũ sắt của ông, làm trái tim Yorda xao xuyến. Những ký ức xoáy tít bên trong cô, những đợt sóng nhỏ vỡ ra trên bờ của tâm trí cô.

    Mình biết người hiệp sĩ này. Mình biết ông ấy. Đây là ông ấy, người đàn ông. Nhưng tại sao ông ấy được làm từ đá? Một ký ức khác trỗi dậy, rõ ràng hơn những cái khác. Đây không phải bức tượng. Lời nguyền biến ông thành đá, tróibuộc ông ở đây. Mình biết tại sao. Mình biết…

    Nhưng cô không biết. Gần lắm rồi. Cô giậm lên sàn trong sự bực tức.

    Khi cô nhìn lại cậu, cậu đang đứng cạnh cô, liếc nhìn tò mò giữa bức tượng và cây cầu. Cô theo ánh nhìn của cậu, tự hỏi điều mà cậu có thể thấy mà cô không thể là gì.

    Cậu nắm tay Yorda và chạy ùa đi. Yorda cũng chạy, suýt nữa vấp. Trong một sự kinh ngạc, cô thấy một vết nứt dưới chân họ qua cây cầu gỗ, và những tảng đá bắt đầu rơi xuống từ bên dưới họ. Chân Yorda đi trong không trung, và cô ngã trước khi cô có thời gian để hét lên.

    Nhưng cậu tóm được cô, để cô lủng lẳng từ mép của cây cầu. Cô nhìn xuống mặt nước xanh dương tĩnh lặng của biển, đợi cô. Một cơn gió nhẹ làm lăn tăn tóc cô và tấm khăn choàng của cô, và những tiếng kêu của chim biển vang lên trong tai cô.

    Cậu kéo Yorda lùi lại trên phần còn lại của cây cầu. Gương mặt cậu nhợt nhạt, và cậu nói liên thanh. Với Yorda, nó như là cậu đang xin lỗi.

    Không phải lỗi của cậu, cô nghĩ. Lâu đài cũ rồi. Nó đang mục nát. Đó là lý do tại sao cây cầu lại sập. Đó là tất cả.

    Hay nó là như thế ư? Khi họ chạy qua cầu, Yorda thấy bản thân mình thắc mắc tại sao lâu đài lại đang tan rã dưới họ. Nó không thể mục nát. Nó còn sống. Lâu đài trong Màn sương bất tử, đúng không?

    Chỉ một lát, tấm màn chia tách Yorda khỏi những ký ức của cô chỉ đường cho áp lực của cô. Một sự nhận thức rõ tràn về phía trước. Cô tóm chặt lấy nó.

    Đó là bởi vì mình tự do. Mình đã rời cái lồng, mình đang cố gắng rời đi. Đó là lý do tại sao Lâu đài trong Màn sương đang chết. Lâu đài chia sẻ số mệnh với mình. Mình là cái lồng thời gian, bởi vì lâu đài là cái lồng của mình.

    Mặc dù những ký ức của cô vẫn còn tối đen, sau đó cô biết được với từng bước, với từng căn phòng mới họ đi qua, rằng cô không được rời khỏi nơi này. Điều mà mình đang làm bị cấm. Mình không thể thoát khỏi lâu đài. Đó là điều mình không bao giờ được làm.

    Đó là điều những sinh vật méo mó nói với cô. Chúng liều lĩnh cầu xin cô nhớ vai trò của mình. Đó là lý do tại sao chúng muốn mang cô trở lại, để im lặng kết thúc trò chơi đố chữ trốn thoát của cô. Chỉ bởi vì cô đã bị ngăn lại một lần trước đó… nhưng ký ức đó vượt quá tầm với.

    Họ chạy qua lâu đài, và những cái bóng lại tấn công, và cậu lại đến giúp cô, nhe hàm răng của cậu với những cái bóng tối hiện ra trên cậu, một con chuột nhỏ bé trong một cái hang của những con sư tử. Những sinh vật bóng tối biến mất, những lời than khóc của chúng để lại lơ lửng trong không trung. Cô nhận ra rằng cậu cũng có thể nghe chúng. Bằng chứng là, mỗi lần cậu thấy chúng, nỗi sợ của cậu trở nên lớn hơn… và sự hận thù của cậu, và nước mắt trong đôi mắt cậu.

    Tại sao mình không dừng lại? Yorda tự hỏi. Tại sao mình theo cậu ấy? Và sự ấm áp chảy trong mình mỗi lần mình nắm tay cậu ấy là gì? Sự ấm áp này đe dọa lấp đầy mình, mình người đã dành rất lâu bị nhốt trong lồng trong lâu đài, cuộc đời mình là một cái lọ rỗng để thời gian lấp đầy. Nếu nó thành công thì sao? Vậy thì mình sẽ… mình sẽ –

    Mình sẽ lại là một cô gái.

    Đó là lý do tại sao mình phải ở đây. Nữ hoàng muốn điều đó. Mình phải theo mong muốn của bà ấy.

    Nhưng –

    Đó là điều mà mình muốn cho bản thân mình ư? Đó là điều mình khao khát ư?

    Mặc dù cô không thốt ra được một âm thanh, tiếng khóc bối rối của Yorda dội lại qua lâu đài, mỗi ngóc ngách đều nghe câu hỏi của cô. Và vì thế khi cuối cùng họ đến được những cánh cổng, câu trả lời của cô xuất hiện trước họ trong chính hình dáng của chủ nhân của lâu đài: nữ hoàng, đã được dự tính trước để lại trở dậy, được dự tính trước để thống trị thế giới.

    Tuy nhiên bà được bọc trong đồ đen, và gương mặt từng xinh đẹp của bà giờ gầy và hốc hác như một xác chết. Đôi mắt đá vỏ chai của bà lóe sáng với sự giận dữ, và mặc dù Yorda ước không phải như vậy, nhưng cô chỉ có một cái tên để gọi người phụ nữ này: Mẹ.

    Người đã mang mình vào thế giới này.

    Nhưng mình… mình sẽ –

    Tấm màn rơi xuống. Điều mà tách Yorda khỏi những ký ức biến mất của cô. Đột nhiên mọi thứ – toàn bộ lịch sử của Lâu đài trong Màn sương – dâng trào trở lại với cô trong một cơn thủy triều vĩ đại.

    “Bây giờ, Yorda. Trở lại lâu đài. Con quên mất mình là ai.”

    Yorda nhìn cậu bé bên cạnh mình. Trong bóng tối của những cánh cổng đang đóng lại, cậu đứng đối mặt với nữ hoàng.

    Cậu ấy là Vật tế. Và mình là một phần của lâu đài. Chúng mình không bao giờ có thể ở cùng nhau, sắp hàng trong cùng một mục đích.

    Sau đó nữ hoàng bỏ đi, hài lòng khi thấy ký ức của Yorda trở lại. Những cánh cổng đóng lại chắc chắn. Sự yết kiến hoàng gia kết thúc.

    Cậu bé nằm trên mặt đất, đầy những vết cắt và thâm tím. Yorda đang khóc. Cô mất một lúc để nhận ra rằng những giọt nước mắt đang rơi trên sàn lát đá trong sân là của chính cô. Mình đã nhớ cách phải khóc như thế nào.

    Cậu bé đang nói chuyện với cô. Bây giờ cô có thể hiểu cậu. Thậm chí cô biết cậu nói ngôn ngữ gì. Nó giống ngôn ngữ của người hiệp sĩ đáng thương bị biến thành đá trên cây cầu – kiếm sĩ Ozuma. Cô bây giờ cũng nhớ ra ông ấy.

    Cậu bé đang nói chuyện với cô rằng khi cậu nắm tay cô, cậu thấy những cảnh mộng. Cậu nói với cô rằng cậu đã thấy cô với cha cô trên chiếc xe đẩy.

    Cha. Cô đã quên mất ông bao lâu? Ông đã rơi khỏi tầm với của hồi ức của cô.

    “Dường như hai người rất thân thiết.”

    Phải, mình và cha đã từng thân thiết. Nhưng bây giờ mình thực sự ở rất xa ông. Xa đến nối mình và ông ấy sẽ không bao giờ ở cùng nhau nữa.

    Yorda chạm vào má cậu bé. Trong lúc đó, cô có một quyết định. Mình sẽ giúp cậu ấy trốn thoát. Mình sẽ cứu Vật tế này. Và mình sẽ ở lại đây để thực hiện vai trò của mình, để duy trì khóa trên cái lồng thời gian. Đây sẽ là lần cuối cùng mình nắm tay cậu ấy.

    Sau đó những họa tiết kỳ lạ trên chiếc áo tunic của cậu bắt đầu phát sáng. Đang đập. Gửi sự sống vào cậu, và vào Yorda.

    Khi cô quan sát, những vết thương của cậu được chữa trị. Như thể là tay cô đã hòa tan vào cậu. Mình có thể cảm thấy nó chảy qua mình. Một ánh sáng của hy vọng. Sự rực rỡ của cuộc sống. Sự rực rỡ của sự thông thái chống lại ách thống trị của bóng tối.

    “Tôi sẽ mang cậu đi với tôi.”

    Biết cô là con gái của nữ hoàng, làm sao mà cậu vẫn muốn trốn thoát với cô chứ?

    “Ngày đó sẽ đến khi một đứa con mang dòng máu của tôi sẽ đến cứu cháu.”

    Là đứa trẻ này ư? Cậu ấy còn hơn cả một Vật tế bé nhỏ ư? Cậu ấy là chiến binh được ánh sáng của sự thông thái bảo vệ ư?

    Yorda nắm lấy tay cậu. Một sức mạnh mới chảy từ nó, rửa trôi quyết định buồn bã của cô, làm sạch những ký ức của cô, và bắt đầu lấp đầy cái lọ rỗng là Yorda.

    Không. Mình không tin điều đó.

    Nhưng cậu bé ở đó, và cậu đang nhìn cô. Đó là khi Yorda hiểu điều gì đã kéo những ký ức của cô về lâu đài vào cậu bé. Đó là cậu. Cậu muốn biết quá khứ đen tối của nó. Cậu muốn biết mọi thứ. Không ai có thể ngăn chuyện này. Không ngay cả nữ hoàng.


    Trưởng lão đột nhiên ngồi dậy trong chiếc ghế của mình.

    Đó là gì vậy?

    Ông đã ngủ lơ mơ, Cuốn sách Ánh sáng ở trong hai tay ông. Bây giờ ông thấy ông không thể với xuống và cầm cuốn sách lên. Tay, đầu gối, ngay cả lưỡi ông đều tê cứng. Như là một tia chớp đã chảy qua cơ thể của ông.

    Từ từ ông thả lỏng những ngón tay mình, chà xát hai cánh tay, và cuối cùng đi khỏi chiếc ghế để cầm cuốn sách lên. Cuốn sách cổ đang tỏa sáng và ấm áp, như nó lúc ông lần đầu tiên lấy nó từ tay Toto. Bìa của nó tự mở đến một trang cụ thể.

    Đó, ở giữa một dòng dài của hàng loạt những chữ cái cổ dày đặc, ông thấy hình minh họa của một thanh kiếm vĩ đại.

    Trưởng lão nhìn lên, nỗi kinh hãi dâng lên trong ông.

    “Thằng bé đã tìm thấy đường. Thằng bé đã tìm thấy nó!”
     
    ngocnungocnu thích bài này.
  20. Magic Purple

    Magic Purple Gà BT Nhóm Chuyển ngữ

    Bài viết:
    1.252
    Được thích:
    1.345
    Đã thích:
    1.150
    GSP:
    397p
    Chương 3

    [3]

    Thời gian tròng trành chuyển động trở lại. Nó sôi lên, cuộn xoáy thành một đường xoắn ốc, tạo nên hình cung như tia chớp, lấy lại tốc độ nó từng biết trong quá khứ xa thăm thẳm –


    Ở bên kia cổng lâu đài, quả cầu đồng ở phía đông và quả cầu song sinh của nó ở phía tây rực sáng. Một tiếng chuông vang lên, đang ra hiệu với tiếng trầm vang lại của nó sự bắt đầu của cuộc thi đấu lớn chỉ được tổ chức ba năm một lần.

    Những cánh cổng từ từ mở ra, chúng cao đến chọc trời. Những hiệp sĩ, những binh sĩ và những lính đánh thuê từ mọi ngóc ngách trong lãnh địa của nữ hoàng, và bên ngoài, tạo thành hai hàng đi qua cây cầu từ nơi tập trung ở bên kia. Ánh mặt trời rực rỡ phản chiếu những thiết bị bóng loáng của họ.

    Hơn một trăm người đàn ông tạo thành đoàn diễu hành. Một số đội mũ sắt màu đỏ thẫm rực rỡ, những người khác áo giáp da được đánh bóng thành một lớp sáng bóng sau nhiều năm sử dụng, những chiếc khiên tròn nặng nề buộc trên lưng họ. Mỗi đấu thủ có chuyên môn riêng của mình. Phía sau một gã kiêu ngạo đang cầm một chiếc rìu chiến khổng lồ là một tên khác mặc áo choàng dài màu đen lộ ra ngoài một sợi roi da được phân khúc với một mũi nhọn ở cuối roi. Có những thanh niên trong đám đông, những cậu bé chưa đủ lớn để cạo râu. Có những tên lính đánh thuê với đôi mắt tinh tường đã chứng kiến nhiều trận đánh, và một ông lão đã thấy nhiều trận đánh hơn, chỉ còn lại mình ông.

    Họ tiến vào giữa hàng ngũ của quân đội hoàng gia đang xếp hàng mỗi bên của hành lang cao dẫn vào sân. Tham vọng của họ là một loại vật chất hữu hình lung linh phía trên họ như hơi nóng bốc hơi khỏi sa mạc. Những lính gác đứng với hai tay chống lên thắt lưng, ngực ưỡn lên để những dấu ấn hoàng gia trên áo giáp che ngực của họ có thể được thấy dưới áo choàng của mình.

    Tám ngày sau, khi người chiến thắng đã được quyết định bởi cuộc đấu loại trực tiếp được tổ chức trong các đấu trường, họ sẽ tôn kính một trong những chiến binh này như các sĩ quan mới của họ. Nhưng lúc này, họ đơn giản là quan sát đám diễu hành, những biểu hiện được giấu đi phía sau tấm mặt của họ. Họ biết rằng dù cho những chiến binh này có những kỹ năng gì với rìu và roi da, với dao găm và đinh ba, đều vô dụng với một hiệp sĩ. Một hiệp sĩ sử dụng một thanh kiếm. Về việc liệu họ quan sát với những nụ cười, lạnh lùng và nghiêm khắc, hoặc với sự tò mò về những người lính, không ai có thể nói được.

    Yorda đứng trên một sân hiên bên ngoài phòng của cô, nhìn xuống cảnh tượng trong sân. Ngọn tháp của cô đứng về phía tây của trung tâm theo nơi mà phòng của nữ hoàng tọa lạc. Từ độ cao này, đám diễu hành của những chiến binh trông giống như những con rối nhỏ trong một vở kịch. Mặc dù vậy, tiếng lạo xạo của những đôi giày ống của họ trên đá cuốn đi trong không trung, và cô có thể cảm thấy sự hân hoan của họ trong gió thổi vào má cô.

    Lâu đài dựng đứng trên đỉnh những vách đá dốc nhìn ra biển, gió biển quét qua nó quanh năm. Ngay cả bây giờ, cơn gió chơi đùa với những đầu ngọn tóc màu hạt dẻ cắt ngắn của Yorda.

    Những người thân thiết với Yorda đều luôn nói rằng khi họ trở về từ một chuyến đi dài vài ngửi thấy không khí biển, họ cảm thấy như họ thực sự ở nhà. Chưa từng bước chân ra khỏi lâu đài, đó là điều mà Yorda không thể hiểu. Cô chưa từng biết một cơn gió nào mà không mang theo hương vị của biển.

    Nữ hoàng không thích phô Yorda ra với những người lạ, và vì vậy bà đã cấm cô rời ngọn tháp của mình trong suốt cuộc thi đấu. Thật hiếm khi chính nữ hoàng lại rời lâu đài, và ngay cả trong lúc đó, Yorda cũng không thấy bất cứ ai khác ngoài Đội trưởng Lính gác người luôn bên cạnh cô, những bộ trưởng quản lý công việc của lâu đài, những cô hầu gái chăm sóc cô, và Thầy Suhal, học giả vĩ đại.

    “Mới nhìn qua thế giới của con mới thanh bình làm sao,” nữ hoàng nói với cô. “Êm đềm như một đại dương lặng gió. Nhưng hãy bóc một lớp mỏng, và con sẽ thấy những cuộc xâm lược và trận chiến đang đợi. Con có thể nghe thấy hơi thở rời rạc, sặc máu của những vương quốc láng giềng, hau háu mở rộng lãnh thổ của chúng, chờ đợi cơ hội của chúng. Trong một thế giới như thế, sắc đẹp mà con được sinh ra lại quá nguy hiểm.

    “Sắc đẹp là một điều cao thượng, quý phái. Vì vậy những người đàn ông bị nó mê hoặc và tìm kiếm nó. Nhưng những kẻ khao khát con cũng khao khát đất đai của chúng ta. Ta phải giấu con để con không cám dỗ hay bỏ bùa mê chúng – bởi vì, con yêu, trong khi sắc đẹp của con nắm giữ sức mạnh để ra lệnh cho một vài người, nó không dành cho khả năng cai trị.

    “Với ta nó cũng vậy. Đất đai ta cai trị là những vùng đất giàu có và tươi đẹp nhất trong tất cả những vùng đất chia lục địa rộng lớn này ra. Chúng thèm thuồng nó, như chúng thèm thuồng ta. Ta đã thoát được khỏi những cái mồm nhiễu dãi của chúng và những kế hoạch khác nhau của chúng nhiều lần. Tất cả để bảo vệ bản thân ta và lãnh địa xinh đẹp của ta, được đấng Sáng tạo ban phước. Con, người được sinh ra trong thế giới này làm đứa con gái cô độc của nữ hoàng, có dòng máu cao quý và sắc đẹp cao quý, vì vậy con phải gánh vác trọng trách của ta.

    “Đứa trẻ yêu quý, con gái của ta. Ta thương xót sắc đẹp của con.”

    Những chiến binh bây giờ xếp hành ở quảng trường trước cổng. Mor Gars, Bộ trưởng Lễ nghi, từ từ đến chỗ đứng đã được dựng lên cho cuộc thi đấu của ông. Nó được trang trí lộng lẫy với hoa của mùa và những lá cờ được thêu những huy chương của nhà hoàng gia. Lính gác hoàng gia, xếp đội hình quanh những chiến binh, đồng loạt chĩa kiếm của họ lên trời và đứng nghiêm trong khi những người dự thi quỳ kính cẩn trên một đầu gối trên mặt đất.

    Bộ trưởng bắt đầu bài diễn văn của ông, giọng ông mang đi đến mỗi ngóc ngách của quảng trường với sự im lặng kèm theo của tiếng lá xào xạc trong cơn gió biển.

    Một giọt nước mắt rơi trên mu bàn tay của Yorda nơi nó nắm chặt lan can. Cuộc thi đấu đã bắt đầu. Yorda tự hỏi ai sẽ thắng, và liệu ông ấy có từng tưởng tượng trong những cơn ác mộng dữ dội nhất của mình điều gì đang chờ ông ấy sau một khoảnh khắc vinh quang ngắn ngủi.

    Và cô không có cách nào ngăn nó lại.

    Mười ngày trước, Yorda đã chống lại lời mẹ mình và thử rời khỏi lâu đài. Một hành vi được sinh ra bởi sự tò mò của trẻ con, không có gì hơn.

    Yorda mười sáu tuổi, một bông hoa vừa mới nở. Với cô, thế giới bên ngoài là điều mơ ước và khát khao, một nơi nhộn nhịp nơi mọi người lẫn vào nhau và sống cuộc đời của họ. Cô muốn đi lên bãi cỏ ngoài những cánh cổng, giá mà chỉ một lần. Cô muốn thấy những thị trấn và làng mạc cô chưa bao giờ biết. Cô muốn nhìn lại lâu đài hiện ra qua mặt nước, thấy hình dáng to lớn của nó từ xa. Trái tim trẻ trung của cô muốn thoát khỏi những sợi xích của hoàng gia, dù chỉ ngắn ngủi.

    Cô đã nài xin một trong những hầu gái thân thiết nhất của mình, cô hầu gái cuối cùng nhượng bộ và đồng ý giúp đỡ. Cô hầu gái có người yêu làm việc như một trong những lính gác.

    Hai người vạch ra một kế hoạch. Vào đêm trăng tròn, khi những thủ lĩnh của các phường buôn bán tụ tập và có cuộc gặp mặt với Bộ trưởng Tiền tệ, sẽ có nhiều người vô danh hay tầm cỡ trên những khu đất lâu đài, về điểm này chỉ cần trở thành một thành viên của phường ngồi trong đám tụ tập và lắng nghe. Những sự kiện như thế này có nghĩa là sẽ có nhiều thường dân ở mọi lứa tuổi, cả đàn ông và phụ nữ, lấp đầy phòng khán giả ở tháp trung tâm bên trái.

    Nếu Yorda mặc trang phục bình thường và hòa lẫn vào đám đông, cô sẽ có thể thoát được mà không khó khăn gì. Những cánh cổng chính sẽ mở khi những thủ lĩnh của phường buôn bán đến và mở lại khi họ rời khỏi. Nếu cô rời khi khi cuộc hội họp của họ bắt đầu và trở lại khi nó kết thúc, sẽ không ai biết được. Nếu may mắn, trong khi những thành viên của phường hiện diện, mọi thứ ở lâu đài trở nên quá bận rộn, và Thầy Suhal hoãn những bài học lại. Cô sẽ không bị lỡ mất hay bị quở trách về sự quan trọng của giáo dục. Và nếu bất cứ ai đột nhiên đến phòng của Yorda trong khi cô đi khỏi, cô hầu gái tin cậy nhất của cô sẽ ở đó để bào chữa.

    Yorda nghĩ kế hoạch rất tuyệt vời. Thật thú vị để cô mặc trang phục của cô gái thị trấn nhiều màu sắc mà cô hầu gái của cô đã kiếm được. Những chiếc áo tunic thêu và áo lụa ngắn mà những trưởng lão phường buôn bán và những người đồng hành với họ mặc làm cô mê mẩn với tấm vải có họa tiết hình hoa và đôi giày phù hợp và mũ vành. Mặc những thứ đồ cô thậm chí chưa bao giờ có thể thấy được ở gần, nói chi đến chạm vào khiến cô hạnh phúc làm sao.

    Cho đến lúc đó, tất cả những trang phục cô được đưa là những đồ trắng thuần khiết vây lấy lòng thòng quanh cô, không có sự thay đổi từ ngày này qua ngày khác ngoại trừ những đường thêu trên tay áo và khăn choàng của cô. Tuy nhiên thậm chí khi chúng được thêu với những họa tiết và thiết kế phức tạp nhất, những sợi chỉ màu trắng, hoặc tốt nhất một màu xanh da trời nhạt hoặc màu nâu được làm từ cỏ. Nữ hoàng sẽ không cho phép cô mặc màu đỏ son, vàng, hay xanh lá cây, nói rằng chúng sẽ làm giảm đi vẻ đẹp tự nhiên của Yorda.

    Điều đó thật lạ khi cô nghĩ về nó. Không phải nữ hoàng giữ cô trong lâu đài, nói rằng vẻ đẹp xuất chúng của cô là nguy hiểm sao? Tại sao bà ấy lại chỉ đưa đồ màu trắng cho Yorda mặc, nói rằng nó làm tăng vẻ đẹp của cô?

    Bản thân nữ hoàng chỉ mặc màu trắng. Những hầu gái quanh họ mặc tunic không nhuộm màu với những tay áo dài, đường viền và khăn quàng vai của họ có màu gợi Yorda nhớ về biển. Các bộ trưởng và những ủy viên khác làm việc trong lâu đài cũng mặc chủ yếu là màu trắng, với có lẽ một chút ít màu xanh da trời hoặc màu nâu. Những màu sắc đó có lẽ phù hợp cho một lâu đài được làm từ gạch và đồng thau đối mặt với biển, Yorda thấy nó thiếu sự tươi vui.

    Cuối cùng, ngày đó đến khi các cô gái tiến hành kế hoạch của họ và thấy nó gần như dễ dàng một cách đáng thất vọng. Yorda chạy xuống cầu thang, trốn giữa những bụi rậm trong sân, và sau đó tiến đến tòa tháp phía tây, cẩn thận để lính gác không thấy cô. Từ đó cô tiến đến giữa sân về sân trước và tiến vào đám đông. Giữa đám đông, trong chiếc váy lùng thùng, hoa hòe và chiếc tạp dề, với một chiếc mũ rộng vành trên đầu cô, sẽ không ai nhận ra công chúa. Cô giả vờ hỏi người yêu của nữ hầu phương hướng, anh ta dẫn cô đến cổng trước, và cuối cùng cô đến được cây cầu đá dài bắc qua mặt nước. Người hầu gái của mẹ bí mật đợi ở bên kia, đã nhận được một bức thư giải thích kế hoạch.

    Tuy nhiên khi cô chỉ đi qua được nửa cây cầu, Yorda nghe thấy một giọng nói trong đầu minh.

    Ngu ngốc đủ rồi đấy. Trở về.

    Yorda thình lình dừng lại và nhìn xung quanh. Cây cầu đầy người vội vã đi vào cánh cổng để nghe bài diễn văn của bộ trưởng. Cũng có nhiều người đi theo hướng của cô, những người đi kèm đã gặp các thủ lĩnh phường ở cổng trước và giờ trở lại để chăm sóc những con ngựa. Không có lý do tại sao cô lại nổi bật trong đám đông. Thực tế, khi cô đột nhiên dừng lại, nó làm lộn xộn dòng người quanh cô, và cô suýt giẫm lên chân của một người phục vụ bên cạnh.

    Trở về, Yorda. Con không được rời lâu đài. Con đã quên lời cảnh báo của ta ư?

    Nhưng nó không phải trò lừa đảo của gió hay tiếng kêu của chim biển. Đó là giọng của nữ hoàng.

    Ta biết con ở đâu, con gái của ta. Ta biết kế hoạch của con là gì. Tất cả đều rõ ràng với ta. Con không thể không nghe theo ta. Bây giờ trở về.

    Một tay lên ngực mình, Yorda cảm thấy một cơn ớn lạnh trên má cô.

    Làm ơn, mẹ, cô van xin trong im lặng, cho phép con chỉ một lần này thôi. Con muốn xem ở ngoài lâu đài như thế nào. Con sẽ trở về ngay sau khi con thấy được. Làm ơn, mẹ. Làm ơn.

    Yorda!

    Giọng của nữ hoàng lạnh băng như bình minh mùa đông và kiên định như những vách đá cheo leo phía dưới cây cầu.

    Nếu con không trở về ngay bây giờ. Ta sẽ phá hủy cây cầu mà con đang đi trên đó. Ta chỉ cần nhấc một ngón tay. Con sẽ không có lựa chọn nào ngoài trở về. Và ai biết được bao nhiêu người của chúng ta sẽ rơi xuống với cây cầu sập xuống những con sóng phía dưới. Đó là điều con muốn ư?

    Những người đàn ông và phụ nữ đi qua Yorda, bận rộn trò chuyện, những nụ cười trên gương mặt họ. Cây cầu đá băng qua vịnh nhỏ là một phần của phong cảnh, như thể nó đã ở đó từ khi bắt đầu của thế giới. Rắn như đất, một con đường băng qua mặt nước.

    Tuy nhiên nó đã được làm bởi bàn tay con người. Hoặc có lẽ chính nữ hoàng đã xây dựng nó với phép thuật. Đường nào đi nữa, nó có thể bị phá hủy, và nếu nó bị, mạng sống nó nắm giữ sẽ bị biển nuốt chửng. Ngay cả biển lặng vào một ngày đầy nắng cũng mạnh mẽ hơn một người bình thường, và biển rất rộng và rất sâu.

    Lảo đảo, Yorda quay người, tiến trở lại cánh cổng chính. Không lâu sau cô đang chạy. Cô nghĩ rằng nếu cô chỉ chần chừ một chút, mẹ cô sẽ xem đó như một dấu hiệu phản kháng và phá hủy cây cầu.

    Khi cô tới được lối vào của ngọn tháp phía tây để trở về phòng mình, người lính gác ở cửa bước ra chặn cô lại. Yorda tiến tới và bỏ mũ ra. Đôi mắt người lính mở to đến nỗi nó dường như rớt khỏi đầu ông ta.

    “Công chúa Yorda?”

    “Mẹ đã gọi cháu,” Yorda giải thích bằng một giọng thỏ thẻ. Cô cúi đầu đi qua người lính, đóng băng tại chỗ, chạy về phía phòng của cô nơi cô hầu gái của cô ngạc nhiên chào hỏi cô, ôm lấy cô khi cô chạy qua cánh cửa. Nhưng trước khi Yorda có thể giải thích điều gì đã xảy ra, hai lính gác xuất hiện ở cửa phòng cô.

    Họ đã đến vì cô hầu gái. Theo yêu cầu của nữ hoàng, cô hầu gái phải xuất hiện ở phòng khán giả ngay lập tức. Gương mặt của những người thực hiện mệnh lệnh là những cái mặt nạ trống không của đàn ông không hề có thắc mắc hay sự cảm thông.

    Yorda đứng bất lực, nhìn họ dẫn cô hầu gái của mình đi. Cô chắc chắn người yêu cô ấy cũng bị bắt lấy như vậy ngay lúc đó.

    Mình đã làm gì? Yorda ném mình lên giường, khóc lóc. Một lúc sau, một cô hầu gái khác đến giúp Yorda thay quần áo. Đôi mắt người hầu gái phủ mây, và môi cô ấy run run.

    Buổi trưa đến và đi, nhưng trước khi mặt trời bắt đầu lặn, Yorda vẫn không được nữ hoàng gọi đến. Những thành viên của viên của phường buôn bán đã rời đi trước đó không lâu, và cổng chính đã đóng lại. Hai lính gác đứng trước lối vào phòng cô.

    Yorda đã thử yêu cầu họ vài lần để cô đi gặp mẹ mình, nhưng những lời khẩn cầu của cô bị lờ đi. Theo lệnh của nữ hoàng, họ nói với cô bằng những giọng nói khô khốc, công chúa phải ở lại trong phòng mình.

    Khi Yorda nhìn vào đôi mắt họ, cô có thể nói là những lính gác đang kinh hãi.


    Bóng tối buông xuống khi Yorda ăn bữa tối cô độc trong phòng mình. Điều này bình thường. Trong ba buồng tạo nên phòng của mình, cô đã chọn buồng nhỏ nhất với ít đồ trang trí nhất, căn buồng bụi bặm, nơi để dùng bữa. Căn buồng ban đầu được chỉ định để dùng bữa quá rộng và luôn luôn có cảm giác lạnh lẽo với những bức tường đá dày và trần cao.

    Dù cho thức ăn của cô ấm nóng như thế nào, nó nguội lạnh đi khi nó được mang vào căn phòng. Và cái bàn, rộng như cái giường vòm của cô, có thể chứa bất cứ lượng chén dĩa nào và vẫn trông trống không. Cô không bao giờ thích điều đó.

    Khi cha cô, nhà vua, từng khỏe mạnh, ba người bọn họ sẽ dùng bữa trong sảnh ăn hoàng gia. Sảnh ăn rộng rãi, với những đồ trang trí bằng bạc và vàng lạnh lẽo trên trần và tường, nhưng nụ cười của cha cô sẽ xua đi cái lạnh trong chốc lát. Mẹ cô những ngày đó tử tế hơn rất nhiều.

    Cha của Yorda đã qua đời khi cô chỉ sáu tuổi – đã mười năm trôi qua rồi. Mặc dù những ký ức vẫn rõ ràng trong tâm trí cô, chúng trở nên càng xa cách với từng ngày trôi qua.

    Cái chết của cha cô đã làm thay đổi mẹ cô. Như nó thay đổi lâu đài.

    Bị tàn phá bởi nỗi buồn và run lên với sự không thoải mái, Yorda thấy mình không thể ăn. Cô chỉ rỉa thức ăn trên khay và đĩa mà những người hầu gái của cô mang cho cô cái này đến cái khác, sau đó cô bảo họ rời đi, và ngồi vào một cái ghế cạnh cửa sổ trong căn phòng bụi bặm của mình, thắp lên một ngọn nến và nhìn ra để đối mặt với màn đêm sâu thẳm.

    Từ độ cao này, ngay cả với cánh cổng đóng lại, cô có thể thấy được một phần của cây cầu đá mà nữ hoàng đã đe dọa phá hủy dưới ánh sáng của trăng rằm. Câu cầu trông mờ nhạt so với biển u ám phía dưới, như thể nó không thực sự là một cây cầu, mà là một bóng ma được tạo nên bởi một trò lừa gạt của ánh trăng, và nếu cô chớp mắt, nó có thể biến mất hoàn toàn.

    Yorda căng mắt ra, tìm kiếm bụi nước trắng của những con sóng nơi chúng vỗ vào những cây cột của cầu, thở phào nhẹ nhõm khi cô nhìn thấy nó. Nó không phải là một bóng ma. Cây cầu vẫn còn đó. Không ai lao xuống biển. Yorda đã tuân theo mong muốn của nữ hoàng, trở lại lâu đài, cái đuôi của cô nhét vào phía sau mình.

    Cô tự hỏi, điều gì sẽ xảy ra nếu cô không chú ý đến nữ hoàng? Điều gì nếu cô không nói chuyện lại với bà ấy?

    Mẹ không thể phá hủy một cây cầu lớn như thế chỉ với một ngón tay. Mẹ đã nói dối. Mẹ đang nói dối, cố để hù dọa con! Nếu mẹ có thể làm một điều như thế, con sẽ muốn thấy mẹ thử!

    Yorda chống cả hay khủy tay trên cái bàn chạm khắc thanh lịch, hai bàn tay ôm lấy mặt cô, và nhắm mắt lại. Phía sau mí mắt cô có thể thấy cây cầu đá sụp đổ và nghe thấy những tiếng người hét khi họ rơi xuống những con sóng.

    Nếu cô kháng cự, cô biết mẹ sẽ sẽ phá hủy cây cầu mà không chần chừ. Nó nằm trong khả năng của bà.

    Nữ hoàng sở hữu một sức mạnh vượt trội hơn con người cộng lại. Yorda chưa tận mắt thấy, nhưng nó khá nổi tiếng. Ngay cả Thầy Suhal cũng làm chứng cho điều đó. Cô đã nghe the Bộ trưởng Tiền tệ và Bộ trưởng Lễ nghi – ngay cả đội trưởng của các hiệp sĩ giao nhiệm vụ bảo vệ nữ hoàng – nói rằng nữ hoàng sở hữu một sức mạnh lớn hơn tất cả nhóm người thượng võ được đặt cùng nhau. Nếu bất cứ đất nước làng giềng tham lam nào nghĩ muốn chiếm lấy một phần của vùng đất giàu có của họ, nếu những người đó cố gắng xâm lược, trước khi những hiệp sĩ có thể cưỡi ngựa đến, nữ hoàng sẽ chế ngự đội quân xâm lược chỉ với một hơi thở.

    Nếu ai đó chỉ nghe những lời này, nó chỉ lướt qua đơn giản như một lời tâng bốc và không gì hơn. Tuy nhiên, khi ông ấy nói những điều này, Yorda đã thấy một sự sợ hãi ớn lạnh trong mắt người đội trưởng. Thầy Suhal đã bảo cô nghiên cứu nỗi sợ đó và nhớ kỹ nó.

    Công chúa, ông nói với cô, cúi đầu, mẹ của người thực sự hùng mạnh.

    Yorda tự hỏi bà ấy bao nhiêu tuổi rồi. Cô có một cảm giác rằng sau khi cha cô qua đời, khi điều không thoải mái bắt đầu lan ra lâu đài. Thầy Suhal đã cố gắng để làm dịu đi những nỗi sợ hãi của cô, nhưng Yorda cũng nhìn vào mắt vị học giả, và cô thấy chúng u ám và tối sầm.

    Khi những ký ức khuấy động trong trái tim cô, ngọn nến sáng lung linh.

    Cô tự hỏi liệu cô sẽ đi ngủ vào đêm đó mà không bị mẹ cô khiển trách. Điều đó sẽ không được. Cô cần quỳ xuống trên đầu gối và cầu xin sự tha thứ cho cô hầu gái tử tế và người yêu của cô ấy. Cô phải cầu xin cho họ. Đó là do con muốn ra ngoài. Họ chỉ tuân theo mệnh lệnh của con.

    Sau đó có một tiếng gõ cửa nhẹ nhàng.

    Yorda nhìn quanh và thấy cánh cửa gỗ mun dày của căn phòng bụi bặm của cô mở ra. Người hầu gái trưởng bước vào trong không một tiếng động. Gương mặt bà và mái tóc bà ấy có cùng sắc xám. Nó không chỉ bởi tuổi tác, mà còn từ thứ gì đó có vẻ bòn rút sự sống từ bà và màu sắc với nó. Yorda không thích người hầu gái già hốc hác này cũng nhiều như cô sợ bà ấy. Không phải bản thân người phụ nữ đáng sợ, bà ấy là hiện thân của sự trung thành, luôn luôn khúm núm và tôn kính phục vụ cô, và dường như, nhiều hơn bất cứ ai khác trong lâu đài, hết sức sợ mẹ Yorda. Đó là điều làm Yorda sợ.

    Bà có biết điều gì mà ta không biết không? Yorda nghĩ câu hỏi đó mỗi lần cô nhìn vào gương mặt người hầu gái trưởng.

    “Công chúa Yorda,” người phụ nữ thì thầm. Dòng suối của giọng nói của bà đã khô cạn từ lâu trước đó, khi người hầu gái đã quyết định, theo chính mong muốn của mình, chỉ nói chuyện khi thực sự cần thiết . “Nữ hoàng yêu cầu sự có mặt của người.”

    Mặc dù cô đang đợi những lời đó, Yorda cảm thấy trái tim mình bắt lấy sự hoảng sợ.

    “Rất tốt. Ta sẽ đi ngay.”

    Yorda đứng dậy khỏi bàn. Hai tay cô và đầu gối cô đang run rẩy. Không mong muốn người hầu gái trưởng thấy, cô quay lại.

    “Người nên mặt một chiếc áo choàng,” người hầu gái nói. “Trời rất lạnh vào ban đêm.”

    Yorda xoay lại. “Chúng ta sẽ ra ngoài ư?”

    “Theo yêu cầu của nữ hoàng,” người hầu gái nói cúi đầu.

    Yorda lấy một chiếc áo choàng trùm đầu khỏi tủ quần áo của cô và mặc vào. Những ngôi sao bên ngoài cửa sổ của cô lấp lánh trên bầu trời, quan sát khi cô đi theo người hầu gái, đầu đội mũ trùm của cô cúi thấp.
     

Chia sẻ trang này