Tam Thế - Hoàn thành - Lục Lam

Thảo luận trong 'Truyện dài hoàn' bắt đầu bởi Mạt Họa, 22/11/14.

  1. Mạt Họa

    Mạt Họa Gà cận Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    373
    Được thích:
    964
    Đã thích:
    664
    GSP:
    Ap
    (Mạn phép đăng lại vì cái hình mới được tặng thật đẹp!!!)


    quote c7.jpg


    Chương 7. Đâu là chốn bình yên?


    Sau khi A Nghi rời đi, tôi một mình lang thang trong rừng, mò mẫm trong đêm. Bây giờ tôi không thể trở về làng, Lục Lục cũng chẳng còn sống trong cái hang đó nữa, tôi lại trở thành một kẻ tứ cố vô thân, không có nhà để về, cũng chẳng có nơi nào để đến.


    Ông trời đúng là không tuyệt đường sống của con người. Ông khiến tôi không thể tiếp tục sống trong làng cùng dưỡng mẫu và A Nghi, nhưng lại cho tôi cuộc sống mới, gặp một “người” khác.


    Tận cùng bóng tối luôn là ánh sáng. Một khắc trước bình minh luôn là bóng đêm. Tôi quẩn quanh trong bóng tối một hồi, cuối cùng cũng tìm thấy ánh sáng mà mình luôn khát khao. Tất cả đều thay đổi khi tôi bước vào kết giới, khi tôi gặp được Ngữ Yên.


    Lúc đó tôi chưa biết kết giới là gì, cũng chẳng thể nhìn thấy nó, chỉ có cảm giác như xuyên qua một vật thể vô hình. Bên ngoài thì trời tối đen như mực, quanh đi quẩn lại chỉ thấy duy nhất một màu đen; bên trong kết giới lại là một không gian rộng lớn được ánh trăng nhu hoà bao phủ, còn có một ngôi nhà to và đẹp hơn bất kỳ ngôi nhà nào mà ta từng thấy, hoa hải đường nở rộ trong đêm đen tĩnh mịch, trên cánh hoa phủ một lớp mỏng màu bạc của ánh trăng khiến chúng càng trở nên cao quý, diễm lệ. Tôi còn đang đắm chìm trong chốn bồng lai đó thì một giọng nói lảnh lót như tiếng chim ca, ngân như chuông vàng mới đúc vang lên, kéo tôi trở về thực tại: “Ngươi là ai?”.


    Tôi đưa mắt nhìn về phía phát ra tiếng nói, thấy nơi đó chẳng biết tự bao giờ đã xuất hiện một làn sương màu hồng. Sương mù tan ra, để lộ một con rắn rất lớn rất dài, toàn thân phủ một lớp vảy màu đỏ lấp lánh dưới trăng. Lục Lục đã được coi là lớn hơn những con rắn bình thường rất nhiều, vậy mà so với con rắn trước mắt tôi đây lại mới chỉ như một con rắn con, nói vậy cũng đủ hiểu con rắn kia lớn đến mức nào rồi.


    Con rắn đỏ nhìn tôi kinh ngạc đến nỗi không nói lên lời, ánh mắt tỏ vẻ đắc ý. Sương mù một lần nữa bao trùm cả thân mình nó rồi lại nhanh chóng tản ra, nhưng lần này xuất hiện không phải con rắn kia nữa mà là một nữ nhân mặc y phục màu đỏ, đầu cài trâm vàng, nhan sắc tuyệt đối xứng với bốn chữ “khuynh quốc khuynh thành”. Nữ tử áo đỏ cúi đầu nhìn tôi, đôi mắt tuyệt đẹp nheo lại tỏ vẻ nghi hoặc: “Ngươi chỉ là người, hơn nữa còn là một đứa trẻ, vậy tại sao lại có thể dễ dàng bước vào kết giới của ta?”. Tỷ ấy nhìn thẳng vào mắt tôi, vẻ mặt bỗng trở nên kinh ngạc, đôi mắt sáng ngời trong đêm đen: “Chẳng lẽ… ngươi là kẻ mang cặp mắt La Sát? Tốt quá! Cuối cùng ta cũng tìm ra người có đủ tử khí để che giấu nội đan của dưỡng phụ rồi!”.


    Lúc đó tôi không hề để tâm đến ẩn ý trong lời nói của tỷ ấy, bởi tôi vẫn còn choáng váng vì chuyện vừa xảy ra trước mặt: Thì ra là một con rắn thành tinh, thảo nào thân mình nó lại lớn và dài đến vậy, có khi nó đã sống được mấy trăm năm rồi cũng nên. Hơn nữa, nghe nói loài rắn khi tu luyện thành hình người, nhất là nữ nhân thường không được xinh đẹp như bao loài khác. Nhưng con rắn màu đỏ này lại là một ngoại lệ, nó không chỉ xinh đẹp thôi đâu, mà còn tuyệt sắc tuyệt trần, là người, à không, là yêu quái xinh đẹp nhất mà tôi từng được gặp.


    Nữ tử áo đỏ thấy tôi hồi lâu không có phản ứng gì thì cau mày bất mãn: “Ta đâu phải loại yêu quái bạ đâu ăn đấy, ngươi sợ hãi đến ngây ngốc như vậy để làm gì?”.


    Nghe tỷ ấy nói vậy, hồn tôi mới từ trên mây trở về, không cam lòng chịu yếu thế mà hùng hồn phản bác: “Muội đâu có sợ, chỉ là quá đỗi kinh ngạc nên mới không kịp phản ứng thôi”. Tôi vốn luôn có hảo cảm với loài rắn, huống hồ tỷ ấy lại xinh đẹp như vậy, lại không có ý làm hại tôi, vậy tại sao tôi lại phải sợ tỷ ấy?


    Tỷ ấy bật cười nhìn tôi, giọng nói lanh lảnh lại một lần nữa vang vọng trong đêm đen tĩnh mịch: “Lâu lắm rồi mới có người nhìn thẳng vào mắt ta mà nói những lời như vậy đấy. Ngươi tuy tuổi vẫn còn nhỏ nhưng gan lại chẳng nhỏ chút nào, không hề giống với lũ người nhát gan mà lại vô cùng độc ác kia. Đúng là người mang cặp mắt La Sát mà ta vẫn luôn kiếm tìm”.


    Nghe đến hai chữ “La Sát”, lòng tôi bất giác chùng lại. Những chuyện xảy ra trong quá khứ và chuyện bệnh dịch lại ùa về trong tâm trí, khiến nước mắt tôi lại một lần nữa trào ra, lăn dài trên má.


    Tỷ ấy thấy tôi như vậy thì khẽ buông tiếng thở dài, nhẹ nhàng lau nước mắt cho tôi, giọng cũng trở nên dịu dàng hơn nhiều: “Ài, nói lâu như vậy rồi mà vẫn chưa biết tên nhau. Ta tên Ngữ Yên, là một con rắn vừa tròn năm trăm tuổi. Còn muội thì sao?”.


    Tôi hít một hơi thật sâu, cố gắng để nước mắt không chảy ra lần nữa, môi nở nụ cười gượng gạo: “Muội tên Dung Tĩnh, tư dung hơn người, đoan trang thục tĩnh. Đó là cái tên dưỡng mẫu đặt cho muội”.


    Cặp mày thanh mảnh của tỷ ấy nhướng cao, môi nở nụ cười mê hồn: “Đúng là một cái tên hay, chứa đựng tâm tư tình cảm của người đặt dành cho muội”. Tỷ ấy khẽ phất tay áo, một luồng sáng màu đỏ xuất hiện xung quanh chúng tôi. Chỉ trong chốc lát, chúng tôi đã di chuyển từ bên ngoài vào trong ngôi nhà. Tỷ ấy kéo tôi ngồi xuống chiếc ghế gỗ, rót cho tôi một cốc trà vẫn còn âm ấm, giọng nói rất đỗi dịu dàng: “Có thể kể cho ta nghe lý do muội xuất hiện ở đây không, A Tĩnh?”.


    Giấu giếm mọi chuyện với người quen, nhưng lại dễ dàng nói ra với người lạ. Con người đôi khi mâu thuẫn như vậy đấy, và tôi cũng không ngoại lệ. Sau một hồi do dự, cuối cùng tôi vẫn nói cho Ngữ Yên mọi chuyện, từ những chuyện đã chôn sâu trong quá khứ cho đến những chuyện vừa xảy ra cách đây chưa đầy một canh giờ. Trong suốt thời gian đó, tỷ ấy chỉ chăm chú lắng nghe chứ không hề nói một câu nào, nhưng tôi cũng không tức giận, bởi lắng nghe đôi khi chính là sự đáp lại tuyệt vời nhất.


    Sau khi nghe xong toàn bộ câu chuyện, khoé môi Ngữ Yên khẽ cong nhưng ánh mắt tuyệt nhiên không có ý cười, giọng nói lạnh lùng pha chút chế nhạo: “Đúng là lũ người ngu xuẩn. Năng lực của muội có thể giúp chúng dự báo vận hạn để biết đường mà tránh, là năng lực nhiều người cầu còn không được, vậy mà chúng lại xem nó như một lời nguyền”. Tỷ ấy khẽ xoa đầu tôi, ánh mắt trở nên dịu dàng: “Bây giờ muội không còn chốn nào để nương thân, đúng không? Vậy thì ở lại đây đi, ta sẽ không đối xử với muội như lũ người ngu xuẩn kia đâu”.


    Nghe tỷ ấy nói vậy, ký ức lại một lần nữa tái hiện trong đầu, nỗi sợ lại tràn ngập trong tim: “Nhưng…”.


    Lại bị tỷ ấy thản nhiên ngắt lời: “Không nhưng nhị gì hết. Ngữ Yên ta đã nói là làm, ta sẽ không để một đứa trẻ như muội lang thang ngoài kia. Dù sao thì ta cũng đâu có sợ chết, vậy muội còn do dự cái gì?”.


    Mặc dù trong lòng có dự cảm chẳng lành, mặc dù sự xuất hiện của tôi sẽ mang đến tai hoạ cho tỷ ấy nhưng tôi vẫn không kìm được mà tham luyến sự dịu dàng này. Vậy nên trước sự kiên quyết đến cố chấp của tỷ ấy, cuối cùng tôi cũng gật đầu thuận theo.


    Sau đó là những tháng ngày một người một rắn chúng tôi sống chung. Ngữ Yên hằng ngày ra ngoài kiếm ăn, tiện thể mang về mấy bộ y phục màu lục để tôi tiện thay đổi; còn tôi thì ở trong kết giới lo liệu việc nhà, nhất là chuyện bếp núc. Tỷ ấy tuy là rắn thành tinh nhưng lại ăn đồ ăn hệt như của con người, lại còn rất thích ăn cay, mỗi món tỷ ấy ăn đều cay đến mức khiến người khác nếm thử đều phải lè lưỡi. Còn nhớ lần đầu nấu cho tỷ ấy ăn, tôi đã hỏi tỷ ấy rằng: “Muội nghe người ta nói yêu tinh thường ăn thịt người để gia tăng sức mạnh, vậy sao muội lại thấy tỷ ăn đồ ăn giống hệt con người?”.


    Ngữ Yên cầm vài quả dại hái về cho tôi để làm gia vị, nghe tôi hỏi vậy thì mở miệng giải thích: “Thực ra đó cũng chỉ là nhu cầu thiết yếu, là bản năng của mỗi loài và cũng là quy luật tự nhiên mà thôi. Con người ăn gà, vịt thì sau khi thành tinh chúng sẽ lại lấy con người làm thức ăn”. Ngừng một lát, ánh mắt tỷ ấy bỗng trở nên xa xăm như đang nhớ về chuyện gì đó trong quá khứ: “Trước kia ta cũng lấy con người làm thức ăn, chỉ là sau khi gặp huynh ấy thì mới thôi không ăn nữa. Cho dù sức mạnh vì thế mà không thể gia tăng, ta cũng muốn làm vậy để huynh ấy thấy không phải yêu tinh nào cũng độc ác xấu xa như huynh ấy tưởng; ít ra là còn thiện lương hơn Khắc Lãnh”. Nói đến đây, tỷ ấy nở nụ cười giễu cợt, giọng nói phảng phất nỗi buồn chẳng thể nào gọi tên: “Nhưng điều đó bây giờ còn ý nghĩa gì nữa? Cho dù ta có cố gắng bao nhiêu, huynh ấy cũng chẳng thể nào thấy được”.


    Thấy Ngữ Yên như vậy, lòng tôi cũng chùng xuống. Trong những ngày sống chung với nhau, tôi luôn thấy tỷ ấy rất giống A Nghi, cả hai đều có chút ngông cuồng tự đại, vô tâm vô phế, không quan tâm người khác nghĩ gì, nói gì, chỉ cần bản thân cảm thấy vui vẻ thoải mái là được. Nhưng bây giờ tôi lại nhìn thấy một Ngữ Yên khác, một Ngữ Yên biết buồn biết đau, một yêu quái có tình cảm như con người. Đối với tôi bây giờ mà nói, Ngữ Yên cũng giống như A Nghi, đều là tỷ tỷ tôi yêu và thương tôi. Tỷ tỷ cảm thấy buồn, người làm muội muội như tôi cũng chẳng thể thấy vui. Tôi muốn nói vài câu an ủi tỷ ấy, nhưng lời còn chưa ra khỏi miệng thì tỷ ấy đã bình thường trở lại, hệt như vẻ yếu đuối bi luỵ vừa rồi chỉ là ảo giác của tôi mà thôi: “Nói chuyện nãy giờ làm tôi đói bụng quá, muội mau mau nấu gì đó cho ta ăn đi. À, đừng quên cho thêm mấy quả dại mà ta vừa hái về để thêm vị cay nhé”.


    Mặc dù sống trong bình yên, lòng tôi vẫn chẳng thể cảm thấy thanh thản, vẫn không thể ngừng suy nghĩ về chuyện của dưỡng mẫu và A Nghi. Tôi đã rời khỏi thôn làng, vậy mọi người ở đó đã có thể thoát khỏi dịch bệnh chưa? Dưỡng mẫu và A Nghi bây giờ sống thế nào? Không có tôi ở đó, phải chăng họ sẽ sống tốt hơn, sẽ được dân làng tha thứ vì đã chứa chấp kẻ mang tai hoạ và xui xẻo đến với tất cả mọi người? Những câu hỏi đó cứ vọng đi vọng lại trong tâm trí, giày vò tôi không ngừng. Nhiều khi tôi chỉ muốn lén trở về thôn làng để xem họ sống ra sao, nhưng nghĩ đến lời cảnh cáo của trưởng làng, ý định đó lập tức biến mất. Họ đã làm quá nhiều cho tôi rồi, tôi không thể tiếp tục gây phiền phức cho họ nữa.


    Bởi vậy, hằng ngày tôi đều cố gắng làm nhiều việc để không có thời gian suy nghĩ linh tinh nữa, nhưng mỗi khi màn đêm buông xuống, khi tôi trằn trọc không thể nào ngủ được, tôi vẫn không thể kìm được mà nhớ đến những tháng ngày dưỡng mẫu, A Nghi và tôi sống vui vẻ bên nhau, để rồi nước mắt lại lăn dài trên má. Những lúc như vậy tôi chỉ biết siết chặt chiếc túi hương mà tỷ ấy làm, khẽ lặp lại lời tỷ ấy nói trước lúc chia tay như để khích lệ chính mình: “Nếu có duyên, nhất định sẽ có một ngày chúng ta gặp lại”.


    Quá khứ dù có đẹp đẽ nhường nào, đau đớn ra sao, con người vẫn phải sống cho hiện tại, tiến về phía trước. Bởi không biết tương lai sẽ xảy ra chuyện gì nên tôi càng thêm quý trọng khoảng thời gian bình yên hiếm có này, bởi gặp gỡ cũng là duyên phận nên tôi càng thêm trân trọng “người” trước mắt. Không biết có phải vì Ngữ Yên nói là rắn hay không mà tôi luôn cảm thấy thoải mái, thân thuộc khi ở bên tỷ ấy. Tuy người ta thường nói rắn là động vật máu lạnh, tuy tỷ ấy luôn tỏ vẻ ngông cuồng ngạo mạn nhưng bản chất lại rất tốt, rất giống Lục Lục, đối xử ân cần với cả dị loại là tôi. Có lẽ cũng bởi vì thế mà cứ nhìn Ngữ Yên tôi lại nhớ đến Lục Lục, nhớ đến những tháng ngày một người một rắn nương tựa vào nhau, cổ lại nghèn nghẹn, chua xót. Thấy tôi như vậy, tỷ ấy lại hỏi: “Sao tự dưng lại ngẩn ngơ nữa rồi? Lại nhớ nhà sao?”.


    Tôi thành thật trả lời: “Muội nhớ dưỡng mẫu, A Nghi và cả Lục Lục nữa”.


    Ngữ Yên để xấp thư và giấy Tuyên Thành sang một bên rồi chống cằm nhìn tôi, hỏi: “Lần trước muội đã kể cho ta nghe về hai người kia rồi, còn Lục Lục thì sao? Đó là ai vậy?”.


    Nghe tỷ ấy nhắc đến hai chữ “Lục Lục”, trong đầu tôi lại hiện ra một bóng hình quen thuộc, giọng nói không khỏi cao lên vài phần, chất chứa niềm vui mà chính tôi cũng chẳng thể gọi tên: “Lục Lục chính là con rắn sống cùng muội trước đây. Nó lớn hơn những con rắn bình thường rất nhiều, vảy cũng sáng lấp lánh một cách kỳ lạ, lại rất hiểu tính người, đối xử với muội rất tốt, tốt đến nỗi muội luôn cảm thấy nó không phải là rắn mà là một con người thật sự”.


    Ngữ Yên trầm tư hồi lâu, lát sau mới nói suy nghĩ của mình: “Có lẽ Lục Lục của muội cũng giống ta, cũng là rắn thành tinh”.


    Những lời này của tỷ ấy hết sức bất ngờ, khiến tôi phải mất một lúc lâu mới phản ứng lại: “Sao có thể? Muội chưa bao giờ thấy nó biến thành hình người cả”.


    Trước sự kinh ngạc tột độ của tôi, tỷ ấy vẫn điềm nhiên như không, thản nhiên trả lời: “Nó chưa biến thành hình người trước mặt muội có thể là vì nó không muốn muội cảm thấy sợ hãi, hoặc là chưa đến lúc nó tu luyện thành công”. Ngừng một lát, tỷ ấy quay sang nhìn tôi, trong mắt lấp lánh ý cười: “Nhưng theo ta thấy thì muội chẳng có gì là sợ hãi cả, ngược lại còn có chút chờ mong”.


    Đúng vậy. Ngay cả khi tận mắt nhìn thấy Ngữ Yên từ một con rắn màu đỏ biến thành một nữ nhân xinh đẹp tôi còn không sợ , vậy sao tôi lại sợ hãi khi đối phương là Lục Lục chứ, huống hồ tôi lại luôn mong nó trở thành người để chúng tôi có thể sống bên nhau trọn đời. Bây giờ điều tôi mong muốn bấy lâu có khả năng trở thành sự thực, sao tôi có thể không vui mừng, không chờ mong được chứ? Có khi sau này gặp lại, Lục Lục đã trở thành một cô nương xinh đẹp khả ái cũng nên.


    Ngữ Yên vỗ nhẹ vai tôi giống như A Nghi vẫn thường làm trong quá khứ: “Được rồi, giúp ta sắp xếp lại xấp giấy Tuyên Thành trên án thư kia đi, làm xong ta sẽ dẫn muội đi bắt gà rừng”.


    Nghe đến hai chữ “gà rừng” hai mắt tôi sáng lên, đầu óc chưa kịp phản ứng hai tay đã bắt đầu dọn dẹp, nhưng tay vừa mới chạm vào xấp giấy mắt đã trông thấy một lá thư màu hồng vô cùng bắt mắt lấp dưới bức tranh Ngữ Yên vừa vẽ. Tôi bèn đặt xấp giấy xuống, cầm bức thư ngắm nghía một hồi, hiếu kỳ mở ra xem, thấy nét chữ bên trong mềm mại thanh thoát, xen chút phóng túng ngông cuồng, quả là rất hợp với cá tính mạnh mẽ của Ngữ Yên. Suy đi nghĩ lại một hồi, cuối cùng quanh sang hỏi tỷ ấy: “Đây là thư gì?”.


    Ngữ Yên nhìn lá thư trong tay tôi, sóng mắt khẽ dao động: “Thư tình”.


    Tôi hiếu kỳ hỏi tiếp: “Yêu quái cũng viết thư tình như con người sao?”.


    Cặp mày thanh mảnh của tỷ ấy nhướng cao, ngạo nghễ hỏi lại: “Con người có thể viết thư tình, sao yêu quái lại không? Ta còn nhớ hai trăm năm trước, ở Thiên giới còn rộ lên phong trào viết thư tình rồi gửi cho nhau kìa”.


    Tôi kinh ngạc đến nỗi miệng không khép lại được: “Chẳng phải thần tiên trên đời đều không màng thế sự, không vướng bụi trần, lòng không tạp niệm, cũng chẳng vướng vào khói lửa nhân gian, quanh năm suốt tháng chỉ một lòng tu luyện, ban phát phước lành cho vạn vật hay sao?”.


    Ngữ Yên lắc đầu trả lời: “Ngoại trừ có thêm sức mạnh nhờ tu luyện và sinh mệnh dài lâu, ta thấy thần tiên cũng chẳng khác gì người phàm trần, chỉ là con người thần thánh hóa lên thôi”.


    Lúc đó tôi vẫn ngây thơ cho rằng: mọi thần tiên trân đời đều vứt bỏ thất tình lục dục, không vướng bụi trần, lòng không tạp niệm; không hề hay biết thần tiên cũng biết yêu biết hận như người, và đã không có ít thần tiên vì vướng vào tình kiếp mà sẵn sàng từ bỏ cả tiên tịch, tu vi của mình, trong đó có cả Vô Tuyết là tôi.


    Hai năm sống cùng Ngữ Yên là hai năm tôi chỉ quanh quẩn trong kết giới, Là hai năm tôi sống tách biệt với con người. Cuộc sống lúc đó của tôi bình yên đến độ khiến tôi lầm tưởng chỉ cần cách xa con người là mọi chuyện rồi sẽ ổn cả, lại quên mất rằng cuộc sống bình yên bên Lục Lục và A Nghi cũng chỉ kéo dài được hai năm, lại quên mất rằng đó có thể chỉ là sự bình yên trước khi tai hòa bất ngờ ập xuống.


    Hôm đó tôi dậy sớm hơn bình thường rất nhiều, bởi vì năng lực dị thường gần như đã hoàn toàn biến mất của tôi có dấu hiệu trở lại, suốt mấy đêm liền tôi đều mơ thấy ngữ yên bị một sĩ dùng kiếm giết chết. Tôi đã kể cho tỷ ấy nghe chuyện này rất nhiều lần, nhưng lần nào tỷ ấy cũng chỉ cười cho qua: “Chỉ là ác mộng thôi mà, cần gì phải lo lắng đến mất ăn mất ngủ như muội chứ? Với sức mạnh hiện tại của ta và nội đan của dưỡng phụ, trên đời này không có đạo sĩ nào có thể giết được ta đâu. Ngay cả Bá Khiêm cũng vậy, cùng lắm là chúng ta lại đánh một trận bất phân thắng bại như hai trăm năm trước thôi”.


    Ngữ Yên đã nhắc đến cái tên này không chỉ một lần, và lần nào cũng nhắc bằng giọng điệu coi khinh, khiến tôi không kìm được mà hỏi: “Bá Khiêm là ai?”.


    Quả nhiên vừa nhắc tên hắn là gương mặt xinh đẹp như hoa của tỷ ấy lập tức sa sầm, giọng nói lạnh nhạt tràn ngập khinh thường: “Đó là một tên đạo sĩ lòng dạ hiểm độc, lấy danh nghĩa trừ gian diệt ácđể lạm sát yêu quái vô tội, lợi dụng yêu ma để tăng sức mạnh cho bản thân. Một thứ nhân tâm đầy ác độc, còn không bằng cả súc sinh”.


    Một ngày đầu hạ năm tôi mười bốn tuổi, Ngữ Yên quyết đinh vào kinh thành mua một số đồ dùng vật dụng cần thiết, nhân tiện chơi đùa thỏa thích một phen. Trước khi đi, tỷ ấy có hỏi: “Thật sự không muốn đi vào thành cùng ta sao? Quanh năm suốt tháng chỉ luôn quanh quẩn trong phạm vi nhỏ hẹp của kết giói, muội không cảm thấy buồn chán ngột ngạt à?”.


    Tôi khẽ lắc đầu đáp lại: “Đương nhiên muội muốn. Nhưng trong kinh thành hẳn là sẽ có rất nhiều người, muộn không muốn lại gây ra họa đâu”. Tôi sợ phải nhìn thấy thứ không nên thấy, mang đến tai họa xui xẻo cho người vô tội.


    Ngữ Yên cũng không hề có ý ép buộc tôi, thấy tôi nói vậy thì chỉ dịu giọng an ủi: “Vậy thì cứ ngoan ngoãn ở trong kết giới đợi ta về. Phải rồi, muội có thích gì không để ta nhân tiện mua luôn?”.


    Tôi lại tiếp tục lắc đầu: “Muội không cần thứ gì đâu”. Nhìn tử khí cứ như làn sương mỏng tối màu quẩn quanh tỷ ấy, lòng lại có dự cảm chẳng lành, tay tôi siết chặt túi hương trong vô thức: “Chỉ cần tỷ bình an trở về là được rồi”.


    Ngữ Yên giơ tay gõ nhẹ lên trán tôi, dịu dàng trách cứ: “A đầu ngốc nghếch này, ta chỉ là vào thành trong vài canh giờ thôi, vậy mà muội cứ làm như sinh ly tử biệt không bằng. Được rồi, ta đi đây, muội ở nhà nhớ phải làm nhiều món ngon chờ ta về”.


    Nụ cười của tỷ ấy càng rạng rỡ, tử khí vây quanh càng đậm dần, nỗi bất an trong lòng tôi lại càng lớn. Cả ngày hôm đó tôi cứ đứng ngồi không yên, chẳng làm được việc gì ra hồn, làm cả một bàn đầy đồ ăn nhưng lại chẳng có món nào nếm ra mùi vị. Tôi cứ ngồi trước hiên nhà chờ, chờ đến khi trời tối mịt vẫn chẳng thấy bóng dáng tỷ ấy đâu, lòng lại thấp thỏm lo âu, hai mắt nhức nhối như muốn dự báo trước điều gì.


    Sự thật chứng minh lo lắng của tôi là đúng.


    Không bao lâu sau đó Ngữ Yên đã trở về nhưng hoàn toàn khác với lúc đi, bây giờ tỷ ấy chật vật vô cùng, một vết thương vừa dài vừa sâu kéo dài từ vai xuống bụng, máu chảy ồ ạt, khiến y phục màu đỏ diễm lệ nay càng sẫm lại, dường như vũ khí gây ra vết thương này lợi hại đến nỗi cho dù tỷ ấy có dùng toàn bộ sức mạnh cũng chẳng thể cầm được máu. Tỷ ấy dùng toàn bộ sức lực để về trở về đây như để thoát khỏi thứ gì, vừa đặt chân vào kết giới là đã hét với tôi: “Bá Khiêm tới rồi!”. Nhanh chóng đặt viên ngọc sáng chói nhưng lạnh ngắt vào tay tôi, tỷ ấy thở cũng chẳng kịp, vội vàng nói: “Mau mang nội đan của dưỡng phụ rời khỏi đây! Càng nhanh càng tốt! Mau lên!”.


    Hơi lạnh từ viên ngọc thấm vào tay tôi truyền vào tận tim, tôi hoảng sợ hỏi lại: “Còn tỷ thì sao?”.


    Gương mặt vốn trắng như tuyết của Ngữ Yên nay lại càng trắng đến rợn người, áo đỏ càng loang lổ máu: “Thanh kiếm trong tay Bá Khiêm rất lợi hại, có khi thần tiên trên trời cũng chẳng phải đối thủ cửa hắn đâu. Ta dù chết cũng không để hắn đoạt được nội đan, còn muội hãy mau chóng mang viên ngọc này chạy càng xa càng tốt. Ta định đợi đến khi muội trưởng thành mới giao nó cho muội, thế nhưng mọi chuyện đã khác, chúng ta không thể tiếp tục chậm trễ nữa! Mau đi!”.


    Trước thái độ kiên quyết của tỷ ấy, dù không muốn nhưng tôi vẫn phải rời đi. Đúng lúc tôi ra khỏi kết giới, hoà mình vào trong bóng đêm đen đặc, Ngữ Yên lại cất tiếng: “Bằng mọi giá phải bảo vệ nội đan, không được để nó rơi vào tay kẻ ác như Bá Khiêm, nếu không sẽ ảnh hưởng đến sự an nguy của vạn vật!”.


    Ngữ Yên vừa dứt lời, một tiếng nổ ầm trời đã vang lên, lấn át âm thanh của tất cả, kết giới cũng bị một kẻ dùng kiếm chém tan. Từ trong một bụi cây rậm rạp nhìn ra ngoài, tôi thấy kẻ vừa xuất hiện là một nam tử trẻ tuổi vận trường bào màu xám. Gương mặt vô cùng bình thường, ngữ khí hết sức ôn hòa, nhưng không hiểu tại sao lại khiến người nghe không rét mà run: “Lâu rồi không gặp, không ngờ sư muội lại sống ở sâu trong rừng, ẩn trong tầng tầng kết giới thế này, báo hại sư huynh cứ tìm kiếm tung tích sư muội mãi”.


    Vẻ ngông cuồng kiêu ngạo trên gương mặt Ngữ Yên đã sớm biến mất không còn dấu vết, thay vào đó là sự lạnh lùng khinh miệt: “Câm miệng! Ai là sư muội của kẻ giết hại sư phụ, phản bội sư môn như ngươi? Lần này người truy sát ta lại là vì muốn đoạt được nội đan của dưỡng phụ đúng không?”.


    Nam tử vận trường bào màu xám khẽ cười, nhưng ý cười lại chẳng hiển hiện trong đôi mắt: “Nếu đã biết vậy thì đừng nhiều lời. Mau giao nội đan của sư phụ cho ta!”.


    Dẫu trên người có vết thương rất sâu rất dài, dù đã rơi vào thế hạ phong nhưng vẫn chẳng hề tỏ ra yếu thế: “Đừng hòng! Dù chết ta cũng sẽ không để nội đan của dưỡng phụ rơi vào tay một kẻ hiểm độc như ngươi!”.


    Ý cười trên gương mặt Bá Khiêm dần dần biến mất, ánh mắt vốn ôn hòa nay lại trở nên lạnh lẽo vô cùng: “Vậy thì đừng trách đại sư huynh vô tình!”.


    Lời vừa mới dứt, mày kiếm đã dựng ngược, hắn đã cầm thanh quỷ kiếm lao như xé gió về phía Ngữ Yên, luồng khí đen từ thanh quỷ kiếm tỏa ra bốn phía. Ngữ Yên cũng không tiếp tục nhiều lời, lập tức dùng thanh kiếm làm từ xương rồng bay lên tiếp chiêu. Tôi không am trường kiếm thuật, cũng không hiểu rõ sức mạnh cùng phép thuật của kẻ đã tu luyện lâu năm, chỉ nghe tiếng va chạm chúa chát của hai thanh kiếm bậc nhất thiên hạ, chỉ thấy cả hai đều bị luồng khí màu đen khổng lồ bao vây. Người bình thường nhìn vào chỉ thấy bụi bay mù mịt, còn kẻ mang cặp mắt La Sát như tôi lại có thể thấy rõ luồng khí đen đó chính là oán khí, nỗi uất hận của những người bị chết oan, của những linh hồn chẳng thể nào siêu thoát. Xương rồng dù có thể chứa đựng nhiều sức mạnh của con rồng đã tu luyện ngàn năm đến đâu cũng không thể địch lại thanh quỷ kiếm tà ác đã nhuốm máu hàng ngàn người. Thanh kiếm làm từ xương rồng trong tay Ngữ Yên bị hất văng ra xa, những quả cầu lửa mà tỷ ấy phóng tới đều bị những ác linh bị giam cầm trong quỷ kiếm cắn nuốt, vô tình gia tăng thêm sức mạnh cho kẻ thù. Bá Khiêm từ trên cao nhìn xuống nữ nhân chật vật dưới đất, trên mặt đã không còn ý cười: “Giao nội đan của sư phụ cho ta, ta sẽ tha cho muội một mạng”.


    Ngữ Yên nằm rạp xuống dưới đất ho ra một ngụm máu, ánh mắt và giọng nói vẫn tràn ngập vẻ khinh thường: “Súc sinh như ngươi cũng mơ tưởng đến nội đan của dưỡng phụ? Đừng hòng! Người đó bằng mọi giá sẽ không để nội đan rơi vào tay ngươi! Không bao giờ!”


    Tôi biết câu nói đó của tỷ ấy không phải chỉ nói cho hắn nghe, mà còn là lời nhắc nhở dành cho tôi: Bằng mọi giá cũng không được để nội đan rơi vào tay một kẻ súc sinh như hắn, nếu không sẽ gây ra đại họa!


    Bá Khiêm nghe vậy thì khẽ nheo đuôi mắt, lạnh lùng hỏi lại: “Người đó? Muội đã giao nội đan của sư phụ cho người khác nắm giữ?”. Tay phải lại một lần nữa nâng quỷ kiếm lên, oán khí lại tràn ra cuồn cuộn: “Vậy thì muội cũng không cần tiếp tục tồn tại trên cõi đời này nữa”.


    Trong khoảnh khắc thanh quỷ kiếm đâm xuyên qua ngực Ngữ Yên, tim tôi như ngừng đập.


    Oán khí từ thanh quỷ kiếm tràn ra như đại hồng thủy, cuồn cuộn chảy vào vết thương trước ngực Ngữ Yên, bao quanh cơ thể mảnh mai của tỷ ấy, rút cạn sức mạnh mà tỷ ấy có được nhờ tu luyện suốt năm trăm năm qua. Tỷ ấy nhanh chóng trở về nguyên hình, nằm yên bất động trên mặt đất lạnh lẽo.


    Còn kẻ gây ra cái chết của tỷ ấy lại chỉ thản nhiên đứng cạnh, thần sắc ôn hoà, dịu dàng vuốt ve quỷ kiếm, khẽ nói tựa như thì thầm: “Không sao. Ta sẽ không từ bỏ”.


    Tận mắt chứng kiến cảnh tượng chết chóc, thấm đẫm máu me như vậy, tim tôi như ngừng đập, hai chân như nhũn cả ra, hai má ướt đẫm nước mắt. Nhưng tôi cũng hiểu bây giờ không phải lúc để sợ hãi, cũng chẳng phải là lúc để khóc lóc và tự dằn vặt mình, bởi nếu để Bá Khiêm phát hiện ra người nắm giữ viên ngọc đang trốn ở đây thì mọi chuyện coi như hỏng bét. Bởi vậy, tôi dùng ống tay áo lau nước mắt đọng trên hai má, nhét viên ngọc vào trong túi hương đeo bên hông rồi dốc hết sức mà chạy khỏi nơi này, trốn đi thật xa khỏi Bá Khiêm. Tôi cứ cắm đầu chạy mà không hề quay đầu lại, như thế tử thần đang theo sát phía sau. Tôi cứ mải miết chạy cho đến khi rời khỏi khu rừng này, đặt chân lên một khu rừng khác mà tôi chưa từng biết đến mới dừng lại thở dốc, mới hoảng sợ nhìn bóng tối xung quanh. Hai năm sống yên bình trong kết giới khiến tôi quên mất rừng vốn là một nơi vô cùng nguy hiểm, nhất là vào những đêm mùa hạ đã có rất nhiều người bị rắn độc cắn chết. Và tôi cũng không ngoại lệ. Mãi đến khi cảm thấy buốt nhói nơi bàn chân, mãi đến khi đầu óc cảm thấy choáng váng rồi cả người đổ ập xuống, câu hỏi đó vẫn cứ văng vẳng bên tai tôi: Tại sao thiên hạ rộng lớn như vậy vẫn chẳng có nơi nào để tôi dung thân? Rốt cuộc, đâu... mới là chốn bình yên?

    _________________________

    <<< (Chương 6) - (Chương 8) >>>
     
    Chỉnh sửa cuối: 20/3/17
    Đậu Phụ thích bài này.
  2. Mạt Họa

    Mạt Họa Gà cận Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    373
    Được thích:
    964
    Đã thích:
    664
    GSP:
    Ap
    Nhị thế.jpg

    Chương 8. Mạc Trọng

    Ông trời quả là có đức hiếu sinh, không tuyệt đường sống của con người. Tôi cứ tưởng bản thân sẽ bị rắn độc cắn chết, nào ngờ trong lúc mê man đã được một người mang dáng dấp thần tiên cứu sống rồi mang về nhận làm đồ đệ.


    Còn nhớ hôm đó khi giật mình tỉnh lại từ cơn mê man, cảnh tượng đầu tiên tôi nhìn thấy chính là bên trong một căn nhà rộng lớn làm bằng gỗ, bên cạnh chiếc bàn gỗ hoa lê có một người đang ngồi. Người đó mắt sao mày kiếm, tuấn tú vô cùng, cả người toát lên khí chất ôn hoà, dáng vẻ thần tiên thanh nhã. Người đó vận trường bào màu trắng, cổ tay và vạt áo điểm xuyết những hoa văn tối màu; những ngón tay thon dài như ngọc tạc đang nâng chén trà vẫn còn hơi nóng, trà trong chén ánh lên đôi mắt khiến gương mặt người ấy như được bao phủ bởi một tầng sáng nhu hoà, đẹp đến nỗi tôi phải tự hỏi: Phải chăng đây chính là thần tiên mà mọi người đồn đại? Phải chăng đây chính là nơi con người đến sau khi chết? Vậy là tôi đã chết thật rồi sao? Chết vì rắn cắn?


    Lúc tôi còn đang ngẩn ngơ với những suy nghĩ miên man của mình thì người ấy đã đặt chén trà xuống, lên tiếng hỏi thăm: “Tỉnh rồi sao? Đầu có còn choáng váng, người có còn mệt mỏi nữa không?”.


    Nhất thời bị tiên nhân cắt đứt mạch suy nghĩ, tôi buột miệng: “A?”.


    Tiên nhân áo trắng thấy vẻ mặt mờ mịt của tôi thì lập tức cau mày: “Sao không trả lời? Chẳng lẽ bị rắn cắn cũng có thể trở thành ngu ngốc được sao?”.


    Không ngờ một người có vẻ ngoài hệt như tiên nhân khi mở miệng lại nói toàn lời khó nghe như vậy, tôi khó chịu phản bác: “Ai trở thành ngu ngốc chứ? Chỉ là người ta chưa phản ứng kịp thôi”.


    Tiên nhân áo trắng nghe tôi nói thế liền bật cười: “Vậy thì tốt. Ta không muốn cứu một người ngu ngốc rồi mang về để làm gánh nặng cho mình đâu”.


    Tôi lập tức hỏi lại: “Vậy là tiểu nữ còn sống? Là tiên nhân cứu tiểu nữ sao?”.


    Người đó không trực tiếp trả lời mà đáp lại bằng một câu hỏi khác: “Hỏi thừa! Ta đang nói chuyện với ngươi, nếu ngươi không còn sống thì chẳng phải ta cũng là người chết sao?”. Ngừng một lát, lại nói: “Sống ở trong rừng đào này chỉ có mình ta là con người, nếu không phải là ta cứu ngươi thì còn ai vào đây?”.


    Dẫu sao đó cũng là ân nhân đã cứu mạng mình, dù người đó có nói khó nghe thế nào thì tôi vẫn chỉ có thể đáp lại bằng thái độ cung kính, biết ơn: “Đa tạ tiên nhân đã cứu mạng tiểu nữ. Đại ân đại đức của người tiểu nữ sẽ không bao giờ quên”.


    Tiên nhân áo trắng lại chẳng tỏ vẻ gì là cảm động, chỉ nhướng mày lặp lại: “Tiên nhân?”.


    Tôi gật đầu trả lời: “Mặc áo trắng, dáng vẻ thần tiên thanh nhã, một mình sống trong rừng đào hệt như ẩn cư, xa lánh sự đời, thấy người gặp nạn là ra tay cứu giúp, đó chẳng phải là thần tiên mà mọi người đồn đại hay sao?”.


    Người đó nhấp một ngụm trà đã hơi nguội, lắc đầu đáp: “Đó chỉ là tưởng tượng của họ thôi, chỉ là lời đồn đại vô căn cứ. Ta không phải tiên nhân, chỉ là có một số năng lực mà người thường không có”. Chẳng để tôi kịp phản ứng, lại tiếp: “Còn ngươi thì sao? Kể từ khi ta tạo nên rừng đào này, đã hơn trăm năm ta không nhìn thấy con người rồi”.


    Do chỉ để ý đến câu hỏi phía trước nên tôi không phát hiện ra điểm đáng ngờ trong lời nói phía sau, tay tôi siết chặt túi hương đựng viên ngọc trong vô thức. Đắn đo cân nhắc một hồi, cuối cùng tôi vẫn kể cho tiên nhân áo trắng nghe về chuyện của tôi một cách ngắn gọn, ngoại trừ chuyện liên quan đến Ngữ Yên và nội đan của dưỡng phụ tỷ ấy, bởi đây không phải chuyện của riêng mình tôi, tôi không thể tuỳ tiện đem chuyện này kể cho người ngoài nghe được. Còn người trước mặt tôi sau khi nghe xong thì thái độ thay đổi hẳn, ánh mắt trở nên ôn hoà hơn, giọng nói cũng không còn sự châm chọc: “Nghĩa là bây giờ ngươi không còn chỗ nào để về? Vậy thì ở lại đây đi”.


    Tôi ngước mắt nhìn người đó, giọng ngập ngừng tỏ vẻ kinh ngạc xen lẫn hoang mang: “Nhưng…”.


    Lại bị người đó thản nhiên ngắt lời: “Dù sao ở trong rừng đào này cũng chỉ có mình ta là người, ở lâu cũng thấy cô độc buồn tẻ, còn ngươi lại chẳng có nơi nào để về, vậy thì ở lại đây luôn đi, như vậy sẽ tốt cho cả hai người”.


    Biết là vậy, nhưng khi nhớ đến quá khứ tôi vẫn không kìm được mà run sợ trong lòng: “Người không sợ tiểu nữ sẽ hại chết người sao?”.


    Người đó nhướng mày hỏi lại: “Ta đã sống đến từng tuổi này, sao lại còn sợ mấy chuyện cỏn con nữa chứ?”. Nói đến đây, người đó sững lại, nụ cười trên môi cũng biến mất: “Sống cũng đã hơn hai trăm năm, bây giờ có chết ta cũng không hối tiếc”.


    Cuối cùng cũng phát hiện ra điểm đáng ngờ trong lời nói của người đó, tôi ngạc nhiên nhắc lại: “Hơn hai trăm năm?”. Sao có thể? Sao một người thoạt nhìn còn trẻ hơn dưỡng mẫu của tôi lại nhiều tuổi như vậy? Hơn hai trăm tuổi, đó đâu phải tuổi thọ của một người bình thường.


    Tiên nhân áo trắng dường như biết tôi đang nghĩ điều gì, bởi vậy mới nói: “Đúng vậy, có người bình thường nào mà sống đã hơn hai trăm năm mà vẫn chưa chết, vẫn giữ nguyên dáng vẻ ở tuổi hai mươi? Cho nên ta không phải người bình thường. Dù chỉ là một phàm nhân, dẫu không phải tiên nhân đắc đạo, ta vẫn trường sinh bất lão, hoặc vẫn có thể chết như người bình thường, chỉ cần tìm đúng cách”. Nói đến đây, ánh mắt người đó bỗng trở nên xa xăm như đang nhớ về chuyện gì đó không vui trong quá khứ: “Trên đời có rất nhiều người mơ giấc mộng trường sinh, nhưng có mấy ai hiểu được nỗi khổ của kẻ có được sinh mệnh dài gần như là vô tận? Không thể sống ở một nơi quá lâu, bởi mọi người rồi cũng sẽ biết; không thể ở bên người mình yêu cả đời vì người đó rồi cũng sẽ ra đi. Trong khoảng thời gian dài đằng đẵng không thấy tận cùng ấy, ta chỉ có thể sống trong niềm hạnh phúc ngắn ngủi rồi lại trở về sự cô đơn tịch mịch, không có ai bầu bạn lâu dài, phải sống tách biệt với con người, bị người đời xa lánh. Vậy mà là sống sao?”.


    Người xưa nói không sai, có thức đêm mới biết đêm dài, có trải qua sóng gió mới biết vận mệnh ngang trái chừng nào, thời gian tàn khốc ra sao. Những người bình thường luôn mơ một giấc mộng trường sinh bất lão, nhưng chỉ người có sinh mệnh dài vô tận thì ra tư vị của nó không hề tuyệt vời như trong tưởng tượng, không đáng để người ta phải bất chấp tất cả vì nó. Những người bình thường luôn mong mình có khả năng tiên tri để tránh khỏi vận hạn, nhưng chỉ người có năng lực báo tử mới hiểu được nỗi khổ khi bị người khác coi là đứa trẻ bị nguyền rủa, một con quái vật ghê tởm, mới biết năng lực này thì ra chẳng có gì là tuyệt vời như mình nghĩ.


    Nam tử áo trắng cúi xuống gần chỗ tôi, nụ cười đắng chát trên môi hoá thành sự dịu dàng trong mắt: “Sinh mệnh con người có hạn, chẳng ai thấy trước được tương lai, vậy nên con người mới biết trân trọng những gì mình có, nỗ lực để đạt được điều mà mình mong muốn. Và chúng ta đều giống nhau, đều là người không bình thường. Đừng lo lắng rằng bản thân sẽ mang đến tai hoạ cho ta, bởi cái chết đối với ta có khi lại chính là sự giải thoát”.


    Đã là con người thì không thể tránh khỏi tham lam, ích kỷ. Dù biết thứ thuộc về mình là sự cô đơn tịch mịch dài đằng đẵng chứ không phải niềm vui đến từ một người qua đường trong cuộc đời mình, vậy mà vẫn không kìm được mà níu lấy niềm hạnh phúc ngắn ngủi đó. Ấy là tham lam. Dẫu biết sự xuất hiện của bản thân có thể mang đến tai hoạ cho người đó, tôi vẫn không kìm được mà tham luyến sự ân cần, dịu dàng của đối phương. Đó là ích kỷ.


    Bởi vậy, dưới ánh mắt dịu dàng của nam tử áo trắng, cuối cùng tôi cũng gật đầu.


    Người đó xoa đầu tôi, hài lòng mỉm cười: “Tốt lắm. Ta tên Mạc Trọng. Còn con thì sao?”.


    Tay đang siết chặt túi hương đựng viên ngọc của tôi rốt cuộc cũng thả lỏng, tôi trả lời: “Con tên Dung Tĩnh, tư dung hơn người, đoan trang thục tĩnh. Đó là tên dưỡng mẫu đặt cho con”.


    Những ngón tay thon dài lành lạnh của Mạc Trọng đan vào khe hở giữa những ngón tay bé nhỏ của tôi, trên môi là nụ cười đồng cảm, thấu hiểu giữa những người có cùng nỗi khổ tâm: “Đúng là một cái tên hay, đầy ý nghĩa. Vậy, từ giờ trở đi con sẽ là đồ đệ thứ hai của ta, A Tĩnh”.


    Mùa hạ năm mười bốn tuổi, tôi mất đi một tỷ tỷ tôi yêu và thương tôi, nhưng lại có thêm một sư phụ không giống người bình thường.


    Mạc Trọng không chỉ cho tôi ở lại trong rừng đào của người, cho tôi cái ăn cái mặc mà còn dạy tôi cầm kỳ thi hoạ, thiên văn địa lý. Sư phụ nói đó là nền tảng của mọi sự hiểu biết sâu rộng, vậy nên tôi có thể không tinh thông tất cả, nhưng tuyệt đối không thể không biết gì hết. Cho nên ngay từ những ngày đầu sống ở đây, người đã dạy tôi viết chữ. Nét chữ của người tuy không bay bổng lãng mạn, rồng bay phượng múa như của các nhà thư pháp nhưng cũng có nét đẹp riêng, như nước chảy mây bay, thanh thoát nhã nhặn mà cũng không kém phần mạnh mẽ dứt khoát. Lần đầu nhìn hai chữ “Dung Tĩnh” hiện ra dưới ngòi bút của người, tôi bỗng cảm thấy thật may mắn khi bái người làm sư phụ.


    Ý thức được điều đó nên tôi rất chăm chỉ học tập, hằng ngày đều luyện viết trong thư phòng của sư phụ. Hôm nay cũng vậy, đúng giờ Mão tôi lại xuất hiện ở thư phòng, thấy người ngồi bên án thư đọc sách liền ngoan ngoãn đi pha trà mài mực, sau đó mới chuyên tâm luyện viết. Thường thì phần lớn thời gian tôi luyện chữ người đọc sách, ai làm việc của người nấy, không ai nói với ai câu nào, nhưng hôm nay thì khác, tay vừa cầm bút mắt đã trông thấy một lá thư màu hồng lấp dưới xấp giấy Tuyên Thành. Tôi bèn đặt bút xuống, cầm bức thư ngắm nghía một hồi, hiếu kỳ mở ra xem thì thấy một nét chữ mềm mại quen thuộc khiến tôi không thể không tự hỏi bản thân: Đây là chữ của Ngữ Yên? Không thể nào, sao thư của tỷ ấy lại có thể ở đây được? Chẳng lẽ tỷ ấy có quen biết với sư phụ sao? Không. Trên đời này không thiếu người giống người, vậy thì chuyện chữ người này giống chữ người kia cũng không phải chuyện hiếm. Có lẽ chỉ là trùng hợp thôi.


    Nhưng suy đi nghĩ lại một hồi, cuối cùng vẫn không kìm được lòng hiếu kỳ của mình mà quay sang hỏi sư phụ: “Đây là thư tình ạ? Là thư tình của một nữ nhân gửi cho người?”.


    Sư phụ liếc nhìn lá thư trong tay tôi, sau đó lại cúi đầu đọc sách, từ đầu đến cuối chỉ khẽ “ừ” một tiếng.


    Quả nhiên là vậy. Câu trả lời của sư phụ khiến tôi không khỏi phấn khích mà nhìn qua một lượt, trong thư có phân nửa số chữ tôi không biết, nhưng trong số chữ ấy lại có chữ tôi quen thuộc vô cùng. Ngày xưa, khi tôi còn sống cùng Ngữ Yên trong kết giới, thỉnh thoảng dọn dẹp lại thư phòng tôi có thấy một vài lá thư tình tỷ ấy đang viết dở và chẳng bao giờ đặt bút viết thêm nữa, trong thư đề cập rất nhiều đến chữ này. Lúc đó tôi có hỏi tỷ ấy chữ này là gì nhưng tỷ ấy lại không trả lời, gương mặt trắng tuyết bỗng ửng hồng rồi lại phảng phất nỗi buồn xa xăm. Tôi bèn chỉ tay vào chữ đó trong thư, nghiêng đầu hỏi người bên cạnh: “Sư phụ, chữ này là gì ạ?”.


    Mắt sư phụ cuối cùng cũng rời khỏi trang sách, giọng vẫn lạnh nhạt như cũ nhưng sóng mắt lại khẽ xao động: “Ái trong ái tình”.


    Đắn đo suy nghĩ một hồi, rốt cuộc tôi vẫn ngập ngừng lên tiếng: “Người có thể dạy con viết chữ này không?”.


    Sư phụ cầm chén trà bằng tay trái, đáp: “Đương nhiên là được. Nhưng con nói xem, sao bỗng dưng lại có hứng thú với chữ này vậy?”.


    Tôi lắc đầu trả lời: “Không có gì. Chỉ là đột nhiên con cảm thấy hơi hiếu kỳ mà thôi”. Trầm tư một hồi, cuối cùng tôi vẫn không kìm được mà hỏi: “Sư phụ thông minh như vậy, lại sống đã hơn hai trăm năm, kinh nghiệm hiển nhiên là sẽ rất phong phú, vậy người có biết ái tình là gì không?”. Khái niệm này đối với tôi rất đỗi mơ hồ, vậy nên nếu có thể, tôi sẽ không ngần ngại học hỏi để bổ sung kiến thức cho chính mình.


    Sư phụ nhấp một ngụm trà, đặt chén xuống bàn rồi mới thong thả lên tiếng: “Không biết. Ta từng nghe sư phụ của ta nói ái tình cũng là một môn học, chỉ có điều không thể tự nhiên và tự mình lĩnh ngộ được”. Nói đến đây, sư phụ lại ngẩn người, nhưng chỉ là trong chốc lát: “Nếu có cơ hội, ta cũng muốn thử một lần cho biết, tiếc rằng cho đến tận bây giờ vẫn chưa tìm được người thích hợp để cùng học”.


    Tôi ngạc nhiên hỏi lại: “Chẳng phải còn có chủ nhân của phong thư tình này sao?”. Nếu đã có thư tình qua lại, quan hệ giữa cả hai chắc hẳn là cũng chẳng đơn giản chút nào.


    Nghe vậy, sư phụ chỉ khẽ cười, đặt cuốn sách trước án thư, không trực tiếp trả lời câu hỏi của tôi mà đáp lại bằng một câu hỏi khác: “Không phải con muốn ta dạy con viết chữ này sao? Vậy thì bắt đầu thôi”.


    Không gian đột nhiên im ắng lạ thường.


    Bàn tay đẹp như ngọc tạc của sư phụ mang theo tay tôi di chuyển trên giấy, cả phòng yên tĩnh đến độ ngay cả tiếng lá rụng ngoài cửa cũng có thể nghe thấy được. Trong không gian tĩnh lặng ấy, tôi có thể nghe thấy tiếng ngòi bút lông sột soạt, có thể ngửi thấy hương đào nhàn nhạt thoang thoảng trong tay áo màu trắng viền chỉ đen, có thể cảm nhận được độ ấm của lồng ngực rộng kề sát lưng và nhịp tim đều đều trong lồng ngực ấy, còn có thể nhận thấy hơi thở âm ấm phả ra trên đỉnh đầu. Bây giờ đã là giữa hạ, vậy mà tay sư phụ vẫn lành lạnh man mát, quả thực là rất giống với tính tình lạnh nhạt dửng dưng của người.


    Năm tôi mười bốn tuổi, Mạc Trọng sư phụ dạy tôi rất nhiều điều mà trước đây tôi chưa từng biết, trong đó có cả chữ “yêu”, khiến tôi cả đời cũng không quên được.


    Từ khi tôi sống ở đây, toàn bộ việc nhà đều do tôi tiếp quản, kể cả chuyện bếp núc. Bởi vì được một yêu quái kén ăn như Ngữ Yên không ngớt lời ca ngợi nên tôi rất tin tưởng vào tay nghề của mình, chắc mẩm rằng sư phụ nhất định sẽ thích, nào ngờ ngay từ lần đầu nếm thử canh cá tôi nấu người đã phun ra hết sạch, tay trái che lấy miệng, ánh mắt lộ vẻ khó tin xen lẫn nỗi niềm nào đó chẳng nói thành lời. Thấy người phản ứng dữ dội như vậy, tôi liền múc một thìa canh nếm thử, lập tức hiểu ra vấn đề: “A! Con thích ăn cay nên vô tình nấu theo sở thích của mình, có lẽ sư phụ ăn không quen, để con đi nấu cho người món khác”. Tay vừa bưng bát canh lên, mắt lại thấy người trước mắt không có phản ứng gì, tôi bèn nghi hoặc gọi: “Sư phụ? Sư phụ!”.


    Tôi gọi lớn tiếng như vậy mà sư phụ vẫn chẳng hề để ý, vẫn đắm chìm trong hồi ức của mình, môi nở nụ cười chua xót: “Cay đến mức muốn xé cả lưỡi… Đúng là rất giống khẩu vị của muội ấy mà…”.


    Nghe được những lời đó, tôi lập tức hiểu ra sư phụ đang nhớ đến cố nhân, rất có thể người đó chính là chủ nhân của bức thư tình mà tôi nhìn thấy trong thư phòng. Những lúc như vậy càng không nên quấy rầy người, bởi vậy nên tôi chỉ chạy đi nấu món khác mà không nói thêm bất cứ lời nào.


    Sư phụ là người đa tài, không chỉ ủ rượu ngon, viết chữ đẹp mà còn đánh đàn hay, giỏi kiếm thuật. Ngoài cầm kỳ thi hoạ, người còn dạy tôi kiếm thuật để tự vệ. Những khi tôi giật mình tỉnh giấc bởi ác mộng hằng đêm, chính tiếng đàn êm êm như nước chảy của người đã cho tôi được ngủ một giấc tròn không mộng mị. Tiếng đàn của người như dòng suối ngọt lành, chầm chậm chảy vào lòng tôi.


    Bởi sư phụ vốn ở một mình, đại đồ đệ của người cũng là nam tử nên trong nhà không có trang phục của nữ, đành dẫn tôi vào trong thành mua y phục cùng vài đồ dùng vật dụng cần thiết. Ban đầu tôi một mực không chịu đi theo bởi trong thành là nơi đất chật người đông, tôi sợ phải nhìn thấy thứ không nên thấy, mang đến tai hoạ cho dân lành vô tội. Tôi cứ tưởng nói đến đây sư phụ sẽ thông cảm cho tôi mà từ bỏ ý định, nào ngờ lại khiến người càng thêm quyết tâm: “Chẳng lẽ con định ‘một lần bị rắn cắn, mười năm sợ dây thừng’, tự tách mình ra khỏi đồng loại chỉ vì chuyện đó? Không được. Với tư cách là sư phụ của con, ta nhất định sẽ không để con sống mãi trong bóng ma của quá khứ”.


    Nếu là Ngữ Yên, tỷ ấy sẽ không ép tôi làm chuyện tôi sợ hoặc không thích. Nhưng sư phụ thì khác, phàm là chuyện tôi càng sợ, càng liên quan đến quá khứ của tôi, người càng nghiêm khắc uốn nắn, lấy độc trị độc. Lần này cũng vậy. Trước thái độ kiên quyết của người, tôi chỉ có thể ngoan ngoãn nghe theo.


    Đi càng nhiều nơi, tầm mắt càng rộng. Trước kia tôi chỉ quanh quẩn trong thôn trong rừng, trong kết giới mà Ngữ Yên tạo ra, sao có thể biết đến cảnh phồn hoa chốn nội thành náo nhiệt? Bởi vậy nên lần đầu tới đây, tôi đã bị mọi thứ trong thành làm cho choáng ngợp, cảm thấy vô cùng thích thú. Thấy tôi phấn khích như vậy, hôm nay lại là giữa tháng, đúng lúc cả thành mở hội hoa đăng nên sư phụ quyết định ở lại trong thành vài ngày. Ban ngày chúng tôi đi lựa y phục và vài vật dụng cần thiết, tối lại dạo chợ đêm. Đã là chợ thì đương nhiên sẽ có rất nhiều người, sẽ có thứ tôi thích thú muốn mua và cũng có những điều tôi không nên nhìn thấy. Lúc đang chọn mua mặt nạ, tôi đột nhiên cảm thấy một luồng hơi lạnh quen thuộc, không phải cái lạnh của gió đêm mà là hơi thở của cái chết. Hơi lạnh quen thuộc chạy dọc sống lưng, khiến cả người tôi cứng đờ. Sư phụ đang đứng sát bên tôi, nhất cử nhất động của tôi người đương nhiên biết rõ. Thấy tôi như vậy, người lập tức lên tiếng: “Sao vậy?”.


    Hơi lạnh quen thuộc vẫn còn luẩn quẩn quanh đây khiến tôi bất an đến độ nắm chặt một góc áo, trả lời bằng giọng lí nhí mà chỉ sư phụ nghe được: “Con lại cảm nhận được tử khí, hẳn là trong đám đông này có người đang cận kề cái chết”.


    Sư phụ “à” một tiếng tỏ ý đã biết, sau đó quay sang tiếp tục chọn mặt nạ, vẻ mặt điềm nhiên như chẳng hề hay biết chuyện gì. Nhưng tôi thì không bình tĩnh như vậy được, hơi lạnh quen thuộc đó vẫn quanh quẩn đâu đây khiến lòng tôi chẳng thể nào yên, chỉ có thể nắm chặt tay áo của người đứng cạnh, thấp giọng nói: “Sư phụ, chẳng lẽ chúng ta cứ coi như không biết gì hay sao? Chẳng lẽ chúng ta lại thấy chết không cứu?”.


    Lúc này người đã chọn xong mặt nạ, vừa trả tiền cho người bán vừa dửng dưng trả lời: “Sống chết có số, há phải cưỡng cầu?”.


    Tuy biết sinh, lão, bệnh, tử là quy luật bất biến của cuộc đời mỗi con người nhưng không có ai là không muốn thoát khỏi tầm ngắm của tử thần, tôi cũng muốn giúp người này làm chuyện đó: “Nhưng…”.


    Nhưng tôi còn chưa kịp nói hết câu đã bị sư phụ thản nhiên ngắt lời: “Nếu không thì con định làm gì? Dựa theo năng lực của con để tìm người này giữa đám đông rồi thông báo rằng người đó sắp chết? Người đó sẽ tin lời con nói sao? Hay là cũng sẽ nhìn con như nhìn một con quái vật?”. Nhận hai chiếc mặt nạ từ tay người bán hàng rong, người quay đầu nhìn tôi, giọng vẫn lạnh nhạt như trước: “Hơn nữa, nếu cứu được thì sao? Đó là chuyện nghịch thiên kháng thần, người đó có thể sống thêm một thời gian, nhưng con cũng sẽ phải gánh món nợ sinh tử thay người đó. Phải tổn thọ vì một người không quen không biết, có đáng không?”.


    Những lời sư phụ nói không hề sai, khiến tôi nhất thời không biết phải trả lời thế nào, nhưng dưới tận đáy lòng vẫn có cảm giác khó chịu, không cam tâm.


    Sư phụ đeo chiếc mặt nạ nhỏ hơn lên mặt tôi, động tác vô cùng dịu dàng, giọng cũng không còn lạnh nhạt như trước: “Ta biết con bản tính thiện lương, cũng biết cứu người là chuyện tốt, nhưng đôi khi sống trên đời là phải ích kỷ một chút, người tốt không dễ làm đâu con”. Sau khi đeo xong mặt nạ cho cả hai, sư phụ nắm lấy tay tôi hoà vào dòng người đông đúc: “Cứ coi như con không hề hay biết chuyện gì đi, bởi ‘mắt không thấy, tâm không phiền’. Lâu lắm mới có dịp vào thành, lại đúng lúc hội hoa đăng diễn ra nên chúng ta phải tranh thủ thời gian vui đùa thoả thích, đừng nghĩ đến chuyện không vui đó nữa, giờ ta sẽ dẫn con đi thả hoa đăng”.


    Cùng là hơi lạnh, nhưng hơi lạnh của cái chết chỉ khiến tôi cảm thấy bất an sợ hãi, còn hơi lạnh toả ra từ tay sư phụ lại khiến tôi lòng tôi bình yên vô cùng. Hơi lạnh từ bàn tay đẹp như ngọc tạc của người lan sang tay tôi lại trở thành hơi ấm truyền vào tận tim, khiến tôi cảm thấy ấm áp từ tận đáy lòng: “Vâng, sư phụ”.


    Len qua đám đông một hồi, cuối cùng chúng tôi cũng đến được bờ sông. Hai bên bờ đông nghịt người cả già trẻ nam nữ, mặt sông nhuốm màu lung linh huyền ảo hắt ra từ muôn ngàn chiếc hoa đăng đang lững lờ trôi, hòa cùng ánh sáng đủ màu rực rỡ của pháo hoa để điểm tô cho chiếc áo đen tuyền của màn đêm đen đặc. Quả là tiên cảnh chốn trần gian, đẹp đến nỗi tôi phải ngẩn ngơ ngắm nhìn. Nhưng dù cảnh có đẹp đến nhường nào thì đối với tôi, nó cũng không thể nào sánh với người vận bạch y đang đứng cạnh tôi lúc này. Sư phụ vén tay áo màu trắng, tay cầm chiếc hoa đăng vừa mua thả xuống dưới nước. Trong ánh sáng lung linh đủ màu của pháo hoa trên trời và hoa đăng trên sông, gương mặt của sư phụ càng thêm tuấn mỹ, càng mang dáng dấp của thần tiên chốn bồng lai tiên cảnh, cả giọng nói cũng trở nên mơ hồ như vọng lại từ một nơi xa xôi nào đó: “Nghe nói người ta thả hoa đăng thường là để ước nguyện theo dòng nước trôi về miền cực lạc, đến nơi mà thần tiên có thể nhìn thấy và biến chúng trở thành sự thật. Vậy con thì sao, A Tĩnh? Con có nguyện ước gì không?”.


    Đương nhiên là có. Từ trước đến giờ tôi luôn khao khát được trở thành người bình thường, không có cặp mắt La Sát, không có khả năng báo tử, có thể sống một cuộc đời bình yên bên những người tôi yêu và thương tôi, nhưng kể từ khi gặp sư phụ, ước nguyện của tôi đã đổi thay. Tôi ngẩng đầu soi bóng mình trong đôi mắt đào hoa của người, nói ra nguyện ước mà tôi gửi gắm trong chiếc hoa đăng rực rỡ kia: “Con ước mình có thể trường sinh bất lão giống như người”.


    Gương mặt tuấn mỹ của người lộ vẻ khó tin, nhưng ý ngạc nhiên trong mắt rất nhanh đã trở thành nụ cười đầy giễu cợt trên môi: “Ta không ngờ con cũng như bọn họ, cũng mơ một giấc mộng trường sinh”.


    Tựa như không hề nhìn thấy ý giễu cợt trong nụ cười của người, khóe môi tôi vẫn cong, vẫn thốt ra những lời chân thành tha thiết nhất: “Đương nhiên là có. Con muốn mình bất lão bất tử là bởi vì con không muốn chết đi rồi bỏ lại sư phụ một mình trên thế gian này như bao người khác, con muốn được mãi mãi ở bên người”.


    Sau khi tôi nói ra những lời đó, thời gian như ngừng trôi trong mắt người. Một lát sau, sư phụ đưa mắt nhìn chiếc hoa đăng vừa thả, trong ánh sáng lung linh huyền ảo của pháo hoa và hoa đăng, nụ cười của người bỗng trở nên mê hồn hơn bao giờ hết, ngay cả giọng nói cũng say đắm lòng người: “Ta mong nguyện ước của con sẽ trở thành sự thật. Như vậy chúng ta sẽ có thể mãi mãi ở bên nhau, không bao giờ chia lìa”.


    Nếu mọi nguyện ước của con người đều trở thành sự thật thì trên đời nào còn tồn tại thứ gọi là khổ đau, chấp niệm. Nhưng dù biết là vậy, con người vẫn không ngừng ước nguyện như thể để động viên, an ủi chính mình, để tin tưởng vào ngày mai, vững bước về phía trước. Tôi cũng vậy, mà sư phụ cũng thế.


    Những ngày tháng sống trong rừng đào là khoảng thời gian vô cùng bình yên, xuân ngắm hoa, hạ ăn quả. Mỗi ngày trôi qua đều tràn ngập niềm vui, ngay cả những cuộc đấu khẩu, đối thoại vô nghĩa, dở khóc dở cười cũng là những dịu ngọt nho nhỏ làm cuộc sống thêm tươi đẹp.


    Trong thư phòng của sư phụ có rất nhiều sách. Còn nhớ lúc mới học đọc học viết, tôi từng xem thử một cuốn, nhưng mắt nhìn sách cứ hoa cả lên, không vào đầu được chữ nào, miệng không khỏi cảm thán: “Sư phụ, cuốn sách này của người cao thâm quá! Con đọc không hiểu!”.


    Sư phụ liếc nhìn cuốn sách trong tay tôi, bất lực trả lời: “… Cầm ngược sách để đọc thì sao mà hiểu được”. Sau đó lại đưa tay gõ nhẹ vào trán tôi, hạ giọng trách cứ: “Bảo con chăm chỉ luyện chữ, con lại chỉ mải mê kiếm thuật, để rồi đến tận bây giờ ngay cả bản thân cầm ngược sách cũng không biết”.


    Tôi giơ tay ôm trán, nhỏ giọng phản bác: “Đâu phải tại con không chăm chỉ mà là do con không có duyên với sách đấy chứ, kiếm thuật vẫn thích hơn nhiều”. Mắt thấy lông mày của sư phụ nhướng cao, tôi lập tức dừng lời ngậm miệng, ngoan ngoãn đi viết nốt trang giấy luyện chữ dở hôm qua.


    Trên đời này động vật tôi thích nhất là rắn, mà sợ nhất cũng là rắn. Tôi thích những con rắn thân thiện, hiền lành như Lục Lục và những đồng loại sống gần hang của nó, chúng tôi rất hay chơi với nhau. Tôi sợ những con rắn có độc như con rắn từng cắn tôi khi tôi vô tình lạc vào rừng đào của sư phụ, nếu không phải được sư phụ cứu chữa kịp thời, có thể tôi đã bỏ mạng từ lâu. Vì vậy khi xác định được con rắn nhỏ vừa cứu được không có độc, lại thân thiện hiền lành, tôi mới an tâm đem về nuôi, và cũng lo sốt vó trước tình trạng gần đây của nó: “Sư phụ, con rắn mà con cứu được tháng trước mấy ngày nay đều uể oải mỏi mệt, đến thức ăn con kiếm được cũng chẳng thèm để ý. Người xem, có phải nó bị bệnh rồi không”.


    Sư phụ thở dài trả lời: “… A Tĩnh, bây giờ sắp vào mùa đông, rắn con muốn ngủ đông”.


    Tôi “à” một tiếng tỏ vẻ đã biết: “Còn mấy ngày nữa là vào đông rồi, con phải đi chuẩn bị ngay mới kịp”.


    Sư phụ ngạc nhiên hỏi: “Chuẩn bị cái gì?”.


    Tôi hồn nhiên đáp: “Đương nhiên là chuẩn bị ngủ đông cùng rắn nhỏ rồi”.


    Sư phụ: “…”.


    Mẫu thân mất sớm, thời gian sống cùng dưỡng mẫu và Ngữ Yên không nhiều, lúc đó tôi cũng còn quá nhỏ nên chẳng ai nói với tôi những vấn đề của nữ nhi. Vậy nên cho đến một ngày phía dưới chảy máu ồ ạt, tôi đã sợ đến mức khóc nấc lên: “Sư phụ, đột nhiên con chảy rất nhiều máu, không cách nào cầm được. Có phải con cũng bệnh như mẫu thân, cũng sắp chết rồi không? Sư phụ, con không muốn chết, con không muốn dời xa người!”.


    Sư phụ nghe vậy thì suýt phụt cả nước trà trong miệng, nói: “... Đó là nguyệt sự mà nữ nhân nào cũng có. Khi con bắt đầu có nguyệt sự không phải con sắp chết, mà là con bắt đầu trưởng thành”. Nghĩ một lát, người lại nói: “A Tĩnh đã là thiếu nữ rồi, không thể tiếp tục ngủ chung với sư phụ được nữa”.


    Tôi ngạc nhiên hỏi lại: “Tại sao?”. Sư phụ đặt chén trà xuống bàn, tiếp tục lên tiếng: “Trước đây ta ngủ với con là vì con còn nhỏ, lại hay gặp ác mộng, nhưng bây giờ con đã có thể ngủ yên giấc, hơn nữa còn sắp trưởng thành. ‘Nam nữ thụ thụ bất thân’, con biết mà, phải không A Tĩnh?”.


    Đương nhiên là tôi biết rõ đạo lý ấy, nhưng vẫn có chút không cam lòng: “Cái gì mà ‘nam nữ thụ thụ bất thân’ chứ, con chỉ biết là con muốn ở bên sư phụ mọi lúc mọi nơi thôi!”.


    Cuối cùng chúng tôi vẫn tách ra ngủ riêng. Mấy ngày đầu chưa quen tôi thường phải trằn trọc rất lâu mới ngủ được, khiến thời gian ngủ bị rút ngắn rất nhiều, hai mắt tôi trong thời gian đó vì vậy mà xuất hiện quầng thâm. Rõ ràng sư phụ cũng ngủ không ngon, cũng không đành lòng nhìn tôi mất ngủ, vậy mà ngoài miệng vẫn nói: “Rồi sẽ quen thôi”.


    Vậy là chúng tôi lạnh nhạt với nhau trong một khoảng thời gian khá dài. Trong khoảng thời gian đó sư phụ thường nhốt mình trong phòng tỉ mẩn đẽo gọt thứ gì đó, tôi lại không chủ động đến gần nên cả hai rất ít khi nói chuyện với nhau. Thẳng cho đến khi tôi tròn mười năm tuổi, chúng tôi mới làm lành.


    Trước kia sư phụ thường tết tóc cho tôi, gần đây thì cả nói chuyện còn ít chứ đừng nói đến tết tóc. Vậy mà hôm ấy sư phụ lại chủ động chải tóc cho tôi, nhưng không phải tết như mọi lần mà vấn tóc rồi cố định bằng trâm. Qua chiếc gương đồng, tôi có thể thấy chiếc trâm cài trên tóc mình làm bằng ngọc, hình như cùng một loại ngọc với trâm cài của sư phụ nhưng chạm trổ tinh tế hơn, mềm mại uyển chuyển hơn, đầu trâm chạm hình hoa đào. Tôi nhìn bóng mình trong gương, ngỡ ngàng hỏi lại: “Đây là...?”.


    Sư phụ vừa ngắm nhìn kiệt tác của mình vừa mỉm cười giải thích: “Thời gian qua ta ở lì trong phòng là để làm chiếc trâm này nhân lễ cập kê của con, không nói với con là để gây bất ngờ. Thế nào, hết giận rồi chứ?”.


    Đáy lòng vừa chua xót vừa ngọt ngào, tôi nhỏ giọng phản bác: “Con đâu có giận người”. Cùng lắm cũng chỉ được coi là dỗi thôi.


    Sư phụ xoay người tôi lại, những ngón tay thon dài có vài vết thương mới lau đi chút nước vừa trào ra ở mắt tôi, thấp giọng chê cười: “Đã là thiếu nữ rồi, vậy mà vẫn mít ướt hệt như ngày xưa”. Nói đến đây, giọng người đột nhiên trầm buồn: “Trong sư phụ có một tiếng ‘phụ’. Giờ ta đã hiểu cảm giác của một người cha khi con gái mình trưởng thành. Con đã phải trải qua lễ cập kê, rồi sẽ sớm phải đi lấy chồng”.


    Nghe người trước mặt nói thế, sự tủi thân trong suốt thời gian qua của tôi lại tràn mi thành nước: “Lần trước không cho con ngủ chung, bây giờ lại mong con đi lấy chồng, sư phụ đã chán ghét con rồi sao, vậy nên mới mong con sớm rời khỏi người?”.


    Sư phụ bèn thở dài an ủi: “Ta thương con còn không hết, sao nỡ đuổi con đi? Nhưng ‘gái lớn gả chồng’, đó đã là điều hiển nhiên rồi”.


    Nước mắt một khi đã chảy thì khó mà ngừng lại, tiếng nức nở đã bật ra khỏi cố thì sao có thể nén. Vì vậy những lời an ủi của người chỉ khiến tôi khóc dữ hơn, khiến người không còn cách nào khác là phải tiếp tục dỗ dành: “Ta cũng không muốn phải rời xa con. Ví dụ như ngày đầu chúng ta tách ra ngủ riêng, ta cảm thấy rất cô đơn, rất trống trải nhưng cũng chỉ có thể kiềm chế. Có những thói quen cần phải sửa đổi. Vì giữa chúng ta, tách ra, chia xa chỉ là chuyện sớm muộn”.


    Tôi hít một hơi thật sâu kìm lại nước mắt sắp chảy ra, nói điều bấy lâu nay mình vẫn luôn thắc mắc: “Tại sao phải tách ra? Con không đi lấy chồng, cả đời ở trong rừng đào với sư phụ không phải là được rồi sao?”.


    Sư phụ đáp lại câu hỏi của tôi bằng một nụ cười khổ: “A Tĩnh, cho dù con không xuất giá, chúng ta cũng không thể mãi mãi bên nhau. Bởi con sống nhiều nhất cũng chỉ được trăm năm, mà ta...”. Mà người... lại gần như bất lão bất tử.


    Trước đây tôi rất cảm kích năng lực này của sư phụ, bởi nhờ nó mà người có thể sống đến lúc gặp tôi, còn giờ thì nghĩ đến cảnh tôi đã già mà vẻ ngoài của sư phụ vẫn dừng lại ở tuổi hai mươi, hay tôi không còn mà sinh mạng người vẫn tiếp tục, có thể gặp gỡ và ở bên người khác là tôi không cam lòng. Mà sự ra đi của tôi cũng vô cùng tàn nhẫn với người ở lại là sư phụ. Giá như chúng tôi chỉ là những người bình thường, sinh cùng thời và chết cùng lúc thì tốt biết bao.


    Tôi sà vào lòng sư phụ, cố lờ đi sự thật đáng sợ đó và vẫn bướng bỉnh nói: “Nhưng bây giờ con chỉ muốn ở bên người”.


    Người cũng thuận theo ôm tôi vào lòng, bất đắc dĩ đáp: “Được. Ta cũng muốn thế. Chỉ sợ đến một lúc nào đó, con lại đòi xuất giá, rời khỏi ta, rời khỏi nơi này”.


    Tôi thầm đáp lại lời ngươi nói trong lòng: “Sẽ không có ngày đó đâu”.


    Đêm đó, tôi nằm trên giường, cầm chiếc trâm ngọc trong tay mà lòng nặng trĩu tâm sự, hồi tưởng lại những ký ức về sư phụ từ khi tôi sống trong rừng đào.


    Nhớ về những ngày tôi ngồi trong lòng sư phụ nhâm nhi sữa nóng đựng trong cốc bạc, nghe tiếng mưa rời ngoài hiên, nhìn mưa gột rửa rừng đào mà lòng bình yên đến lạ.


    Hay những ngày vào thành mà mắc mưa chưa kịp về, người cẩn thận cầm ô che cho tôi không dính một hạt mưa nào trong khi chính người lại ướt đẫm.


    Nhớ lúc chúng tôi bẫy chim săn gà trong rừng hay những lúc sư phụ dạy tôi phân biệt và cho biết công dụng của từng loại thảo dược.


    Nhớ đến lần mà tôi đổ bệnh, sư phụ đã đích thân xuống bếp nấu cháo gà mà tôi thích. Còn nhớ khi nấu xong, bạch y trước giờ không nhiễm bụi trần giờ dính đầy tro bếp, hai bàn tay có chỗ bị bỏng. Rõ ràng bát cháo đó không thể nói là ngon, vậy mà tôi vẫn nuốt hết, lòng lại thấy ngọt ngào.


    Nhớ những đêm tôi tỉnh dậy từ cơn ác mộng, sư phụ hoặc là đàn tôi nghe một khúc để tôi bình tâm lại rồi ôm tôi vào lòng, vỗ về tôi để tôi có thể ngủ ngon. Tiếng đàn của người là âm thanh tuyệt diệu nhất tôi từng được nghe, trong lòng người là nơi bình yên ấm áp nhất thế gian này.


    Còn rất nhiều kỷ niệm đáng nhớ khác nữa, tôi ôm chúng chìm vào mộng đẹp, môi vẫn cong trong vô thức. Trước lúc hoàn toàn nhập mộng, tôi đã lơ mơ nghĩ rằng: “Tôi đã không thể tham dự vào quá khứ của sư phụ, không thể cùng sư phụ đến tương lai xa xôi, vậy thì càng phải quý trọng hiện tại, khi còn được sống bên người. Có sư có đồ, không ai xen giữa, vậy là được rồi”.


    Vậy là sau đó chúng tôi lại trở về như trước đây. Sư phụ vẫn cưng chiều tôi như cũ, tôi vẫn dính người như xưa. Vẫn là quấn quýt, thân thiết đến vậy nhưng đã có gì đổi thay. Và đến năm mười bảy tuổi, tôi đã rõ điều thay đổi chính là tình cảm của tôi dành cho người.


    Vào một đêm trăng tròn năm tôi mười bảy tuổi, sư phụ quyết định đào vò rượu dưới gốc cây lên uống. Sư phụ nói đây là quà trả ơn của một ông cụ thích ủ rượu từng được người cứu. Người cởi bỏ tấm lụa đen bọc ngoài, mở nắp vò rượu ở trong ra, hương hoa quế theo đó mà lan tỏa, nồng nàn mà thanh khiết, khiến tâm trí con người say mê vô cùng... Sư phụ tự hào nói: “Tuổi thọ của vò rượu này gần bằng một kiếp người đấy”. Sau đó người tự mình rót rượu, bưng chén nhấp một ngụm, mở miệng khen: “Đúng là rượu quý nhưng ta vẫn thích rượu hoa đào hơn”.


    Nghe vậy, tôi lập tiếp lời: “Vậy con sẽ hái hoa đào học cách ủ rượu”.


    Sư phụ xoa đầu tôi đáp: “Được. Ta sẽ chờ”.


    Nhìn người cầm vò rót tiếp, tôi tò mò hỏi: “Trước kia khi con đến người có thường xuyên uống rượu không?”.


    Rượu trong chén ánh lên đôi mắt sóng sánh đào hoa của người, tô đẹp thêm nụ cười tự giễu trên môi: “Vô cùng ít. Thường xuyên uống rượu không tốt cho cơ thể, mà ta cũng chán ghét cảm giác uống rượu một mình”.


    Nghe đến đây, lòng tôi đột nhiên nặng trĩu. Trước kia khi tôi còn chưa đến, sư phụ đã sống như thế nào? Sống đơn độc không ai bầu bạn, rượu ngon có ai cùng thưởng thức? May mà tôi đã đến, để người cô độc như sư phụ có người bầu bạn. Nhưng sau này khi tôi không còn thì sao, người sẽ trở lại cuộc sống như trước đây, sống trong cô độc?


    Sư phụ rất ít khi uống, nhưng một khi đã uống thì sẽ uống rất nhiều. Tôi chỉ nhâm nhi hai chén nhỏ, phần rượu còn lại đều vào bụng người. Thấy sư phụ đã uống say, tôi đành phải dìu người về phòng. Nhìn bề ngoài người vậy thôi chứ có dìu mới biết là nặng lắm. Vừa định đặt người nằm xuống giường, chân đã vấp phải thứ gì đó khiến sư phụ ngã ngửa lên giường còn tôi thì nằm sấp lên người, hai đôi môi vô tình chạm nhau. Dù chỉ là một cái chạm nhẹ nhưng lại khiến tâm trí tôi trống rỗng, tim đập loạn nhịp. Hương rượu hoa quế nồng nàn tỏa ra khe hở giữa hai cánh môi mỏng kia khiến tôi cũng muốn say theo, muốn vươn lưỡi liếm nhẹ chút rượu còn đọng lại ở đó. Môi tôi vừa hé mở, đầu óc đã tỉnh táo lại, giật mình như tỉnh khỏi cơ mê, cả người lạnh toát như bị vùi trong băng tuyết. Tôi bật dậy khỏi người sư phụ, không ngừng chất vấn bản thân. Vừa rồi tôi nghĩ gì, định làm gì? Vô tình chạm môi thì thôi đi, lại còn có suy nghĩ bất kính, hành động không phải với sư phụ? Nếu để sư phụ biết được thì sao? Nhớ người tỉnh dậy nhìn thấy thì thế nào?


    Đang lúc tôi tự chất vấn, người vốn không biết gì trên giường đột nhiên mở miệng: “Tiểu Yên, xin lỗi”.


    Dẫu là lời nói mê nhưng vẫn khiến tim tôi đau nhói. Người ta vẫn nói lời khi say là thật lòng, người nhớ đến khi say là người quan trọng. Vậy Tiểu Yên là ai? Nữ nhân ấy quan trọng với sư phụ lám ư? Tại sao người phải xin lỗi? Vào lúc này đây, sư phụ lại thức thốt gọi: “A Tĩnh”. Chỉ hai chữ này cũng khiến tôi hạnh phúc đến nỗi lồng ngực nổi trống, hai má nóng bừng, khiến tôi giật mình chạy về phòng. Những chuyện xảy ra tối nay, những cảm xúc mới mẻ mà tôi vừa được nếm trải khiến tôi trằn trọc suy nghĩ cả đêm liền.


    Một đêm mất ngủ.


    Rượu hoa quế mà sư phụ uống tối qua ngon mà không nặng, ngủ một giấc xong là tỉnh táo như thường, không nhức đầu khó chịu, thậm chí tâm trạng người hôm sau còn rất tốt. Tôi ngồi trong lòng sư phụ để người vấn tóc cài trâm như thường lệ. Nhớ đến chuyện hôm qua, tôi buột miệng hỏi: “Tiểu Yên mà người nói tới là ai?”.


    “Hả?”


    “Hôm qua lúc uống say người có nói một câu ‘Tiểu Yên, xin lỗi’. Vậy người tên Tiểu Yên đó là ai?”


    “À, Tiểu Yên là sư muội của ta. Muội ấy không phải con người mà là xà yêu. Trước đây ta vì tưởng Tiểu Yên giết sư phụ mà đuổi giết muội ấy. Vậy mà khi ta gặp nạn, Tiểu Yên lại không ngần ngại cứu ta, ban cho ta sinh mệnh gần như vô tận. Ta nợ muội ấy một lời xin lỗi, nhưng bấy lâu nay vẫn chưa nói được.”


    “Yêu”, “xà yêu”? Tôi chợt nhớ đến đại mỹ nhân áo đỏ do rắn biến thành kia, thầm nghĩ sẽ không trùng hợp như vậy chứ? Sư muội của sư phụ không lẽ lại chính là Ngữ Yên? Nhưng tôi còn chưa kịp thắc mắc thì người đã cúi đầu xuống chạm nhẹ vào tóc tôi, hơi ấm phả ra trên đỉnh đầu cùng lời khen ngợi của người: “Thơm lắm”.


    Đầu tôi lập tức trống rỗng, quên luôn chuyện định hỏi. Mặt chợt nóng bừng, lồng ngực nổi trống. Lại thế nữa rồi. Lại vì những cái chạm nhẹ, những câu nói bâng quơ của sư phụ mà trở nên kỳ lạ, chẳng lẽ là mắc bệnh gì rồi. Chẳng để tôi kịp suy nghĩ vẩn vơ, sư phụ đã hỏi tiếp: “Lúc nào ta cũng thấy con mang túi gấm này bên mình. Nó quan trọng lắm sao? Bên trong đựng gì?”.


    Nghe người nhắc đến chiếc túi gấm đựng ngọc, tôi giật mình đến độ bật dậy khỏi lòng người, siết chặt nó trong vô thức. Không phải tôi không muốn nói cho người nghe về lai lịch của vật trong túi, nhưng nghĩ đến di nguyện của Ngữ Yên, tôi không thể tự tiện nói cho người khác được.


    May mà sư phụ thấy tôi khó xử cũng nên tiếng nói: “Nếu con không muốn hoặc không thể nói thì thôi đi. Ta không phải người nhiều chuyện”.


    “Làm vậy người có giận con không?”


    “Sao ta lại giận chứ? Ai cũng có bí mật của riêng mình, nếu muốn nói ra họ sẽ tự nói ra, cớ gì phải truy hỏi đến cùng?”


    Người nói vậy càng làm tôi áy náy: “Nhất định sẽ có một ngày con đem tất cả bí mật của mình nói cho sư phụ”.


    Sư phụ đưa tay lên mân mê tóc mai của tôi, dịu dàng nói: “Được. Ta sẽ chờ”.


    Dưới ánh nhìn chắm chú cùng động tác nơi tay của sư phụ, tôi hơi mất tự nhiên quay đầu đi. Người thấy vậy liền bật cười: “Biết ngượng ngùng rồi cơ đấy. Trước kia ai là người một mực đòi ngủ cùng sư phụ?”. Ngừng một lát, người lại nói tiếp: “Thích ăn gà, dung mạo lại xinh đẹp nhường này, không lẽ con lại là hồ ly đầu thai? Với gương mặt này thì không chừng con lại mang lại tai họa cho người khác, làm điên đảo chúng sinh mất”.


    Sư phụ nói đùa, còn tôi thì trả lời thật lòng: “Vậy thì sư phụ hãy giữ con ở bên, đừng cho con đi đâu để tránh đem lại tai họa cho người khác”.


    Người khựng lại một lúc trước lời nói đó của tôi, sau đó có chút chua chát trả lời: “Chỉ sợ đến lúc yêu rồi, con sẽ không nghĩ thế nữa”.


    Nghe người nói đến chữ “yêu”, lại nhớ đến những cảm xúc kỳ lạ gần đây của chính mình, tôi vội hỏi: “Yêu là gì? Khi đầu óc trống rỗng, hai má ửng hồng, lồng ngực nổi trống vì những cái chạm nhẹ và lời nói bâng quơ của người khác thì đó có phải là yêu không?”.


    Sư phụ ngạc nhiên đáp: “Phải. Nhưng sao...”.


    Nhưng sao... lại có thể? Thứ tình cảm nảy nở trong lồng ngực chính là yêu? Vậy thì mong muốn không ai xen giữa sư đồ chúng tôi chính là ham muốn độc chiếm? Sự khó chịu trong lồng ngực khi nghe người gọi tên nữ nhân khác trong lúc say là sự đố kỵ? Chính vì vậy mà tôi mới hạnh phúc khi nghe người gọi tên mình, mới không muốn xuất giá, chỉ mong muốn ở bên sư phụ suốt đời? Nhưng tại sao có thể như vậy? Trong “sư phụ” có một chữ “phụ”. Tôi nên kính trọng người chứ không phải nảy sinh tình cảm của nam nữ. Nhưng làm sao đây? Sao có thể quay đầu? Từ này về sau sao tôi dám đối mặt với người?


    Giữa lúc tôi đang chìm trong dòng suy nghĩ hỗn loạn sư phụ đột nhiên lên tiếng kéo tôi về thực tại: “Nhưng sao con lại hỏi vậy? Chẳng lẽ con đã...?”.


    Tôi lập tức mở miệng phản bác, gượng gạo trả lời: “Không phải. Chỉ là nhân vật nữ trong cuốn sách con đang đọc có những biểu hiện như vậy nên con mới tò mò thôi”.


    Thấy người còn nghi ngờ, tôi bèn hỏi ngược lại: “Còn người thì sao? Người có từng như vậy không?”.


    Dường như không ngờ tôi hỏi vậy nên nhìn tôi một hồi lâu, sau đó sư phụ mới trầm giọng đáp: “Đương nhiên là có”.


    Đáng tiếc trong đầu tôi quá rối loạn, không lọt tai được chữ nào. Những ngày sau đó tôi không dám nhìn thằng vào mặt sư phụ. Tôi trằn trọc mấy đêm, trăn trở suy nghĩ trong một thời gian dài, cuối cùng đưa ra quyết định sẽ che giấu, chôn vùi tình cảm này ở tận nơi tận cùng của trái tim để cả hai khỏi phải khó xử, để mối quan hệ bây giờ không bị rạn vỡ. Tôi chỉ có thể làm vậy để tiếp tục ở bên người.


    _____________________________

    <<< (Chương 7) - (Chương 9) >>>​
     
    Chỉnh sửa cuối: 15/4/17
    Đậu PhụThanhkhe thích bài này.
  3. Mạt Họa

    Mạt Họa Gà cận Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    373
    Được thích:
    964
    Đã thích:
    664
    GSP:
    Ap
    Tiểu Nguyệt.jpg


    Chương 9. Gặp lại



    Thời gian như cánh chim qua cửa. Chẳng mấy chốc, bốn năm đã trôi qua.


    Trong suốt bốn năm sống trong rừng đào cùng Mạc Trọng sư phụ, thời gian tôi học cầm kỳ thi hoạ rất ít, hầu như chỉ chăm chú vào kiếm thuật. Sư phụ thấy tôi thực sự không thích thì không bắt tôi phải học nữa, chỉ đem bộ kiếm pháp đã thất truyền từ lâu trong giang hồ mà người học được từ sư phụ của người truyền lại cho tôi.


    Nói cuộc sống của tôi và sư phụ gần như ẩn dật vì tuy sống trong rừng đào không người bình thường nào đặt chân tới nhưng cũng không hoàn toàn tách biệt với cuộc sống bên ngoài, thỉnh thoảng chúng tôi vẫn vào thành mua một số vật dụng cần thiết, nhân tiện ở lại chơi vài ngày. Lần này cũng vậy, chỉ khác là có mình sư phụ vào thành, còn tôi thì nhân lúc người đi vắng mà trở về thăm Ngữ Yên.


    Kết giới khổng lồ ngăn cách khu rừng thành hai thế giới riêng biệt đã sớm biến mất, căn nhà nguy nga tráng lệ bằng gỗ cũng không còn, những gì còn lại chỉ là một đống hoang phế, đổ nát sau trận giết chóc tàn bạo bốn năm trước. Mấy ngày sau khi trở thành đồ đệ của sư phụ tôi có trở về nhặt xác Ngữ Yên. Vì sợ Bá Khiêm sẽ trở lại và phát hiện ra điều gì bất thường nên ngay cả việc làm cho tỷ ấy một ngôi mộ tử tế cũng không thể, chỉ đành chôn tỷ ấy dưới gốc cây hải đường mà tỷ ấy thích nhất để dễ nhận ra khi trở lại nơi này. Hôm nay, tôi đứng trước nơi chôn cất tỷ ấy, kìm lại nước mắt sắp chảy ra, cố gắng nở nụ cười rạng rỡ: “Tỷ tỷ, A Tĩnh về thăm muội đây”.


    Không có ai đáp lời, tôi cũng chẳng bận tâm, tay siết chặt túi hương đựng viên ngọc trong vô thức, tiếp tục lên tiếng như đang nói chuyện với một người sống thực sự: “Bốn năm qua muội sống rất tốt. Sư phụ không chỉ cho muội chỗ ăn chỗ ở mà còn dạy muội kiếm thuật để tự vệ”. Khẽ phủi đi cánh hoa rơi trên vai áo, tôi tiếp tục nói ra quyết tâm của mình: “Năm đó muội vô dụng, không bảo vệ được tỷ. Nhưng bây giờ thì khác, muội nhất định sẽ trở nên mạnh mẽ, nhất định sẽ bảo vệ được viên ngọc mà tỷ để lại, không để nó rơi vào tay kẻ ác”.


    Bốn năm trước tôi chỉ có thể đứng nhìn rồi chạy trốn như một kẻ hèn nhát, nhưng bây giờ thì không, tôi nhất định sẽ chống lại Bá Khiêm bằng tất cả sức mạnh và sinh mạng của mình.


    Trong bốn năm qua tôi đã về thăm Ngữ Yên không ít lần, lần nào cũng là nhân lúc sư phụ đi vắng, đi nhanh về nhanh để không bị phát hiện. Nhưng lần này thì không được may mắn như vậy, tôi vừa đặt chân vào rừng đào thì sư phụ đã có mặt ở đó, dường như đã về từ rất lâu rồi. Tôi vừa nhìn một cái là đã biết người đang tức giận. Mỗi lần sư phụ tức giận, ánh mắt lại trở nên lạnh lùng, gương mặt lạnh tanh, ngay cả chiếc áo trắng cũng như toả ra hơi lạnh, giọng nói thường ngày vốn ôn hoà giờ cũng lạnh lẽo thấu xương: “Cuối cùng cũng chịu trở về?”.


    Tôi không kìm được mà lùi về sau một bước, tiếng “vâng” thoát ra từ khe hở giữa hai cánh môi nhỏ đến mức nếu không để ý kĩ sẽ chẳng nghe được gì.


    Sư phụ phất tay đứng dậy, chậm rãi lại gần, trầm giọng phẫn nộ: “Cả ngày hôm nay con đã đi đâu hả, A Tĩnh? Con có biết khi trở về không thấy con, khi lục tung cả rừng đào cũng không thấy ta đã lo lắng thế nào không hả? Ta lo con đã xảy ra chuyện gì, ta cứ tưởng con đã…”. Ngừng một lát, hàn khí bao trùm quanh người biến mất, chỉ còn lại sự thống khổ tuyệt vọng mà tôi chưa từng thấy nơi người: “… Ta cứ tưởng con cũng giống như bà ấy, cũng bỏ ta mà đi”.


    Tôi muốn lên tiếng giải thích cho người rằng chuyện không phải như người nghĩ, nhưng trước sự thay đổi đột ngột của người, lưỡi tôi như níu lại, cổ họng cũng nghẹn ứ, chẳng thể thốt ra câu nào hoàn chỉnh. Mà người đang đứng trước mặt tôi bây giờ đã không còn phẫn nộ như trước, thay vào đó là vẻ mặt thống khổ gần như tuyệt vọng, như nhớ lại quá khứ đau thương: “Mẫu thân đã từng nói sẽ không bỏ rơi ta như phụ thân quá cố, đã từng nói ta là tâm can, là bảo bối của bà, bà không thể sống mà không có ta. Vậy mà cuối cùng bà lại thất hứa, lại vì một nam nhân khác mà bỏ rơi ta, một đi không trở lại!”.


    Nghe sư phụ nói thế tôi mới phát hiện thì ra hai chúng tôi có nhiều điểm chúng đến vậy. Sư phụ mồ côi cha, mẫu thân tôi cũng mất từ khi tôi chào đời. Mẫu thân người vì một nam nhân khác mà bỏ rơi đứa con mình dứt ruột đẻ ra, cha tôi lại vì âm mưu của kế mẫu mà không hề do dự từ bỏ con gái của mình. Người căm ghét cuộc sống dài đằng đẵng gần như là vô tận, tôi cũng không thích năng lực báo tử mà bản thân có được ngay từ khi sinh ra. Người luôn khao khát gặp được người có thể ở bên người cho đến những giây phút cuối cùng của cuộc đời, tôi lại muốn sống một cuộc sống bình yên bên những người tôi yêu và thương tôi. Có lẽ chính sự tương đồng trong cảnh ngộ đã tạo nên sự đồng điệu giữa hai tâm hồn, là gốc rễ của thứ tình cảm cấm kỵ đã nảy nở trong lòng tôi.


    Sau khi định thần lại, tôi chậm rãi đến gần, nhẹ giọng lên tiếng: “Sư phụ, con xin lỗi”. Thấy người không có phản ứng gì, tôi liền vòng tay ôm lấy người, áp mặt vào hõm vai người, nói ra những lời chân thành nhất: “Người đã quên trong hội hoa đăng năm đó con đã ước gì sao? Con ước mình bất lão bất tử để có thể mãi mãi ở bên người, vậy tại sao con lại cam tâm rời bỏ người chứ? Huống hồ...”.


    Huống hồ, thứ tình cảm sư đồ thuần khiết đã biến chất thành thứ tình cảm cấm kỵ bén rễ ăn sâu vào trái tim tôi, sâu đến nỗi không dứt ra được, và từ mùa hè năm mười bảy tuổi, tôi đã biết mình không thể quay đầu, tất cả không thể trở lại như xưa được nữa.


    Tôi vùi đầu vào hõm vai người, chua xót trong lòng hoá thành từng giọt nước từ mắt chảy ra. Rốt cuộc thứ tình cảm này nảy nở và biến chất khi nào? Là từ khi sư phụ cố gắng xuống bếp nấu cháo gà cho tôi lúc tôi đổ bệnh hay lúc lòng tôi đau nhói khi nghe sư phụ gọi tên cố nhân khi say? Thứ tình cảm ấy bén rễ từ lúc nào không hay, để rồi khi phát hiện ra cũng là khi tôi cảm thấy tuyệt vọng. Tình yêu này sẽ được người đời chấp nhận sao? Sẽ được sư phụ đáp lại? Tôi không muốn che giấu tình cảm của mình, muốn thổ lộ cho sư phụ biết nhưng lại sợ sẽ bị người ghét bỏ, cảm thấy tôi ghê tởm như bao người khác.


    Thì ra ái tình lại có tư vị như vậy. Ngọt ngào xen lẫn đắng cay.


    Thì ra để trưởng thành, con người lại phải nếm đủ mọi vị cay, đắng, ngọt, bùi trên đời. Nếu có thể trở lại như xưa, mãi mãi không bao giờ lớn thì tốt biết bao. Thế giới của trẻ con đơn thuần hơn thế giới của người lớn rất nhiều.


    Qua một hồi lâu, sư phụ mới lên tiếng, giọng vì xúc động mà trở nên khàn hơn bình thường: “A Tĩnh, đừng rời bỏ ta”. Không ngờ sư phụ cũng có lúc yếu đuối đến vậy, tựa như vỏ trai dù có cứng đến đâu thì phần thịt bên trong vẫn luôn mềm yếu, dễ bị thương tổn.


    Nước còn đọng trên khoé mắt của tôi thấm vào áo người, tôi mỉm cười, lòng ngọt ngào xen lẫn đắng cay: “Chỉ cần sư phụ còn muốn, con sẽ không rời xa người”.


    Những chuyện xảy ra thời ấu thơ cùng sinh mệnh dài đằng đẵng luôn ám ảnh sư phụ, khiến sư phụ cảm thấy cô đơn và bị bỏ rơi hơn bất kỳ người nào. Dẫu biết người không yêu tôi mà chỉ dùng tôi để lấp đầy khoảng trống trong tim, tôi vẫn cam lòng. Chỉ cần chúng tôi được ở bên nhau, chỉ cần không có ai xen vào là được rồi.


    Tôi cứ nghĩ năng lực báo tử mà tôi có được ngay từ khi sinh ra sẽ theo tôi cho đến cuối đời, không ngờ nó lại có ngày bị hoá giải bởi đại đồ đệ của sư phụ, sư huynh chưa một lần gặp mặt của tôi.


    Còn nhớ buổi sáng hôm đó, khi nghe sư phụ nói xong tôi đã ngạc nhiên hỏi lại: “Người còn một đệ tử nữa sao?”.


    Sư phụ đặt ấm trà vừa đun xuống bàn, đưa mắt nhìn màn nước trắng xoá giăng kín đất trời ngoài cửa sổ, giọng nói như hoà vào tiếng mưa: “Phải. Lúc ta thu nhận Mục Cảnh nó mới mười tuổi, kể ra cũng mười bốn năm trôi qua rồi, bây giờ nó đã trở thành đế vương Sở quốc”.


    Bỗng dưng biết được mình còn có một sư huynh, hơn nữa còn là bá chủ một phương trời, điều này tôi hoàn toàn không ngờ tới, giật mình thốt lên: “Nghe thật oai phong”.


    Bàn tay vừa rồi còn cầm ấm trà của người giờ đã chuyển sang xoa đầu tôi: “Ai cũng thấy vậy, nhưng chỉ người đã từng ngồi lên ngôi vị đó mới hiểu được nỗi khổ của bậc đế vương. Mục Cảnh của hiện tại cũng sống không vui vẻ, dễ chịu gì, thậm chí còn rất khổ tâm”. Buông một tiếng thở dài đầy tiếc nuối xong, sư phụ lập tức nói vào chuyện chính: “Trong tay Mục Cảnh có một chuỗi phật châu có thể trấn áp tử khí trên người con, đeo lâu ngày có thể tiêu trừ hoàn toàn”.


    Hệt như một người sống trong bóng tối đã lâu bỗng thấy được ánh sáng, tôi kinh ngạc đến độ không nói lên lời: “Vậy là… con có thể trở thành người bình thường?”. Sẽ không trông thấy màu đen của chết chóc cùng tuyệt vọng bao trùm, sẽ trông thấy ánh sáng của bình yên và hạnh phúc?


    Nụ cười trên môi sư phụ vẫn dịu dàng như trước: “Ừ. Nhưng trước hết chúng ta phải đến bái Phật ở Tĩnh Am tự để cầu cho chuyến đi này được thuận lợi bình an”.


    Đêm trước hôm khởi hành đến Tĩnh Am tự, tôi có mơ một giấc mộng kỳ lạ. Trong mơ, tôi theo chân một đám công tử thế gia đến thanh lâu nổi tiếng nhất kinh thành, bao trọn cả thanh lâu trong một đêm. Trong đám công tử thế gia đó, đáng chú ý nhất là người vận trường bào màu tím, cài trâm bạch ngọc. Dáng chàng cao, thẳng tắp như thân cây tùng. Gương mặt tuấn tú, mày kiếm mắt sao, ở góc trán có vết bớt hoa lê sinh động như thật. Mỗi cử chỉ của chàng cho dù là nhỏ nhất cũng toát lên khí chất cao quý không thể coi thường, dường như thân phận của chàng cũng rất đặc biệt, vậy nên mới có thể khiến đám công tử thế gia kia cung kính cúi đầu: “Vương… Trọng huynh, không biết trong số các cô nương ở đây có giai nhân nào có được vinh hạnh ở bên huynh một đêm không?”.


    Người áo tím dùng giọng không mặn không nhạt sửa lại, khác hẳn giọng điệu hách dịch, coi thường nữ nhân của những nam tử từng đến đây phiêu kỹ: “Sai rồi. Đó không phải vinh hạnh của các nàng mà là may mắn của ta”. Thấy vị công tử vừa nói cúi đầu nhận sai, chàng mới hài lòng đặt chén trà xuống, ánh mắt lướt qua các cô gái như hoa như ngọc, thơm mùi son phấn, cuối cùng dừng chân trước cô gái áo trắng đai tím đứng cuối, giản dị và tinh khôi tựa như hoa lê, hoa quỳnh giữa một biển hoa sắc màu rực rỡ. Vị công tử áo tím khẽ cười, giọng nói ấm áp như gió xuân, dịu dàng như thể đang nói với ái nhân của mình: “Không biết tại hạ có được vinh hạnh trò chuyện với cô nương một đêm không?”.


    Dường như không ngờ vị công tử cao quý này lại nhìn trúng một cô gái phục sức giản dị, từ nãy đến giờ đều cúi gầm mặt nên ai ai cũng lộ vẻ kinh ngạc, cô gái được chọn cũng ngỡ ngàng ngẩng đầu nhìn người vận áo tím. Nơi ánh mắt hai người quen nhau có gì đó khẽ lan toả, sự ngỡ ngàng hiện rõ trên mặt không giống những người lạ trong lần đầu gặp gỡ mà tựa như cố nhân xa cách đã lâu bất ngờ gặp lại.


    Ngay tại lúc cô gái áo trắng ngẩng đầu, người chứng kiến mọi chuyện là tôi cũng kinh ngạc đến nỗi suýt giật mình tỉnh giấc, bởi gương mặt xinh đẹp tuyệt sắc vẫn còn nét ngây thơ, non nớt đó giống tôi đến bảy, tám phần, nhưng thần thái thì lại điềm tĩnh, chững chạc hơn hẳn.


    Sự lựa chọn bất ngờ của vị công tử áo tím trâm ngọc làm tú bà khó xử, khéo léo chối từ: “Công tử đúng là có mắt nhìn, Yên Vũ quả là hoa khôi ở đây, là vũ kỹ nổi tiếng nhất kinh thành nhưng chỉ bán nghệ chứ không bán thân, e là ngài phải chọn một cô nương khác rồi”.


    Cô gái áo trắng tên Yên Vũ kia chăm chú quan sát vị công tử trước mặt, dường như đang thắc mắc chàng sẽ ứng xử ra sao trước lời từ chối của tú bà. Và vị công tử ấy cũng không phụ sự kỳ vọng của cô gái, một lần nữa khiến tất cả mọi người bất ngờ: “Thay vì tận hưởng một đêm phong lưu phóng túng, ta càng thích cả đêm trò chuyện với vị cô nương này hơn”. Câu trước là nói với tất cả mọi người, câu sau là hỏi riêng cô gái áo trắng: “Cô nương tên Yên Vũ? Mưa bụi giăng kín trời, lê trắng nở khắp nơi. Chúng ta đúng là có duyên mà. Vậy, không biết tại hạ có được vinh hạnh tâm sự với cô nương một đêm không?”.


    Ánh mắt Yên Vũ khẽ xao động, giọng nói như tiếng châu ngọc va vào nhau, như tuyết tan khi xuân về, róc rách chảy qua từng khe đá vang lên qua khe hở giữa hai cánh môi hồng: “Đó cũng là vinh hạnh của Yên Vũ”.


    Không biết đêm đó họ đã nói với nhau những gì, làm những gì, chỉ thấy từ sau đêm đó vị công tử họ Trọng rất thường xuyên đến thanh lâu trò chuyện với Yên Vũ. Khi thì chàng thổi sáo nàng ca múa, khi thì chỉ lặng lẽ ngồi bên nhau ngắm cảnh hoa lê khoe sắc trong mưa bụi ngoài cửa sổ, hay cùng nhau đi dạo một vòng chợ đêm trong kinh thành, cùng thả hoa đăng, trao lời hẹn ước.


    Và rồi ngày qua ngày, ái tình đã đơm hoa. Mưa bụi giăng kín trời, lê trắng nở khắp nơi. Mối nhân duyên giữa chàng công tử cao quý có vết bớt hoa lê ở góc trán và nàng vũ kỹ tên Yên Vũ cũng đẹp và say đắm lòng người hệt như cảnh tượng đó vậy. Chàng công tử họ Trọng định chuộc Yên Vũ khi tỷ ấy tròn mười bảy tuổi, nhưng vì có biến cố xảy ra nên đành lỡ hẹn, tạm thời rời khỏi kinh. Còn tỷ ấy thì ngày ngóng đêm trông chàng trở về, ấp ủ giấc mơ ngọt ngào về hạnh phúc lứa đôi.


    Giấc mơ kết thúc ở đây khiến câu chuyện vẫn còn dang dở. Ngày hôm sau, khi tỉnh lại từ giấc mộng dài đó, lòng tôi ngổn ngang trăm bề với những cảm xúc không tên. Những chuyện xảy ra sau đó là gì, cô gái có chờ được người mình yêu? Mối nhân duyên đó có được trời đất thành toàn? Câu chuyện dang dở đó có được viết tiếp với một kết thúc có hậu? Và quan trọng nhất, cô gái tên Yên Vũ đó có phải A Nghi của tôi không?


    Tôi không tin đó chỉ là một giấc mộng bình thường, bởi giấc mộng đó chân thực đến nỗi khi tỉnh dậy rồi tôi vẫn cảm thấy mùi son phấn ở nơi hỗn tạp đó như phảng phất đâu đây. Và phải chăng đó chính là điềm báo tôi và A Nghi sắp được gặp lại sau bao năm xa cách?


    Vậy nên khi đặt chân đến Tĩnh Am tự, ngôi chùa nổi tiếng ở Hạ quốc là cầu được ước thấy, ngoài ước nguyện được sống trọn đời bình an bên sư phụ, tôi còn cầu với Phật tổ rằng tôi muốn gặp lại dưỡng mẫu, A Nghi, muốn trở nên mạnh mẽ để có đủ khả năng bảo vệ những người và những vật quan trọng với mình.


    Ông trời quả không phụ lòng người tốt, tôi không chỉ gặp lại A Nghi mà còn gặp ngay trong ngày hôm nay, ngay tại nơi này.


    Còn nhớ ngày hôm đó khi sư phụ và tôi cầu nguyện xong, định khởi hành đến Sở quốc thì bị một đám người lạ mặt xông đến chặn lại. Dẫn đầu đám tuỳ tùng là một cô gái xinh đẹp chừng tuổi tôi, vận xiêm y màu vàng điểm xuyết những đoá hoa hải đường thêu bằng chỉ đỏ, khí thế bức người, vừa nhìn đã biết là con nhà quyền quý. Nàng ta đứng cách tôi ước chừng mười bước, mày liễu nhướng cao, giọng nói lanh lảnh như tiếng chim ca buổi sớm: “Quả nhiên tôi đoán không sai! Cái gì mà ‘đến Tĩnh Am tự để cầu phúc cho hoàng hậu sớm khoẻ lại’ chứ, theo tôi thấy tỷ đến đây để gặp tình lang thì đúng hơn. Ngay cả quần áo cũng thay rồi, tỷ muốn không ai nhận ra mình để muốn làm gì thì làm, đúng không? Đáng tiếc lại có tôi ở đây, vậy nên tỷ đừng hòng chối cãi. Lần này để xem hoàng huynh còn dung túng cho tỷ được nữa không?”.


    Nghe nàng ta nói một tràng dài như vậy mà tôi vẫn u u mê mê, chỉ biết cô gái đang đứng trước mặt tôi là công chúa trên đường bắt gian một phi tử của hoàng đế lấy danh nghĩa là đến chùa bái Phật, nhưng thế thì có liên quan gì đến tôi? Chẳng lẽ tôi lại giống phi tần đó đến mức khiến nàng ta nhận lầm người?


    Thấy tôi không nói gì, nàng ta mỉm cười đắc ý: “Sao? Cảm thấy kinh ngạc vì tôi xuất hiện ở đây sao? Đừng quên tôi là ai, ý đồ bất chính của tỷ sao có thể qua mặt được tôi chứ? Rốt cuộc tỷ cũng lòi đuôi, không uổng công tôi theo tỷ suốt mấy canh giờ. Người đâu, mau bắt đôi gian phu dâm phụ này lại cho ta!”.


    Mắt thấy đám thuộc hạ dưới trướng nàng ta sắp xông tới, sư phụ mới lên tiếng, thong thả đáp lời: “E là công chúa đã nhận lầm người rồi, đây là đồ đệ của thảo dân, không phải vị nương nương nào đó mà công chúa cần tìm”.


    Những lời ung dung thong thả của sư phụ chỉ đổi lại sự giận dữ của nàng công chúa nóng nảy: “Nói bừa! Dung mạo yêu nghiệt như thế bảo sao bổn công chúa có thể nhận lầm được! Dù có khoác trên người xiêm y màu trắng hay màu lục thì vẫn không thể che đậy được bản chất của tỷ ta đâu”.


    Đúng lúc đó, nam tử vận áo đen đai vàng trâm ngọc đứng bên cô gái mới lên tiếng khuyên nhủ, giọng nói trầm ổn điềm tĩnh khiến người nghe không thể nào không tin tưởng: “Công chúa, nàng quả thật đã nhận lầm người rồi. Cô gái đó đúng là rất giống Đàm quý phi, nhưng chỉ ở dung mạo, còn phong thái lại khác hẳn, không thể nào là cùng một người được”.


    Lời nói của vị nam tử áo đen khiến cô gái áo vàng phần nào bình tĩnh lại, nhưng vẫn còn rất hoang mang: “Nhưng...”.


    Nhưng nàng ta còn chưa nói được hết câu đã được một giọng nói trong trẻo lạnh lùng ngắt lời: “Bản thân là người có gia giáo, vậy mà lại làm ra những việc quấy rầy sự thanh tĩnh nơi cửa Phật, như vậy còn ra thể thống gì nữa, Trọng Cơ?”.


    Thì ra cô gái áo vàng là tứ công chúa của Hạ quốc, tên Trọng Cơ, hiệu Yến Nhạc. Nhưng điều đó không làm tôi bất ngờ bằng chủ nhân giọng nói trong trẻo lạnh lùng vừa rồi, cô gái áo trắng đai tím giống hệt nàng vũ kỹ trong mơ, người giống tôi đến bảy, tám phần. Khi nhìn rõ dung mạo của nhau, cả hai chúng tôi đều kinh ngạc, không hẹn mà cùng thốt ra tên của đối phương.


    “A Tĩnh!”


    “A Nghi!”


    Ông trời quả thật không phụ lòng người tốt. Lời thỉnh cầu của tôi, Phật tổ đã nghe thấy rồi.


    Sau khi cầu nguyện xong, chúng tôi theo A Nghi về hoàng cung Hạ quốc. Đến bây giờ tôi mới biết người đang ngồi cùng một chiếc xe ngựa với tôi đã không còn là cô bé A Nghi nơi thôn dã năm nào mà là quý phi của Hạ quốc, Lạc Nhạn, đương kim sủng phi của Hạ đế. Và vị Đàm quý phi cao quý ấy đang ngồi cạnh tôi, mặt cười hớn hở trẻ con nhận được kẹo, khác hẳn vẻ lạnh lùng khi chất vấn Yến Nhạc công chúa: “Chắc muội cũng nghe Trọng Cơ nói rồi, lần này ta đến Tĩnh Am tự là để cầu cho hoàng hậu sớm khỏe lại, nhân tiện cầu Phật tổ chúng ta sớm được gặp lại nhau, nhưng không ngờ lại nhanh chóng đến thế”.


    Tôi gật đầu lịa lịa, kích động đáp lời: “Muội cũng cầu nguyện trước Phật tổ, đã từng thử tưởng tượng cảnh hai ta gặp lại, nhưng muội vạn lần không ngờ chúng ta lại tái ngộ nơi cửa Phật, khi tỷ đã trở thành quý phi một nước”.


    Nghe đến hai chữ “quý phi”, sắc mặt tỷ ấy trầm xuống, ánh mắt cũng ảm đạm vài phần: “Làm nữ nhân trong hậu cung, được hoàng thượng sủng ái cũng không phải chuyện may mắn, tốt đẹp gì đâu. Nếu có thể, ta thà sống trong một gia đình thường dân nghèo khó nhưng một vợ một chồng còn hơn là trở thành sủng phi của hoàng thượng mà phải chia sẻ phu quân của mình với bao nữ nhân khác. Hơn nữa đã sống trong hậu cung thì sẽ bị cuốn vào những cuộc tranh giành đấu đá, khó tránh khỏi việc tay dính máu tanh”. Tỷ ấy tựa đầu vào vai tôi, mệt mỏi nhắm mắt: “Ta thật sự không thích tước vị cao quý này, bởi vậy, người ngoài có thể gọi ta là Lạc Nhạn, là quý phi nương nương, nhưng muội thì không. Với muội, ta sẽ mãi mãi chỉ là A Nghi tỷ tỷ của muội, và trên thể gian này cũng chỉ còn có muội mới được gọi ta bằng cái tên đó”.


    Thấy gương mặt tỷ ấy lộ ra thần sắc mệt mỏi, tôi vội nói lảng sang chuyện khác: “Phải rồi, này giờ muội quên chưa hỏi, dưỡng mẫu bây giờ sao rồi? Bà có khỏe không, còn nhớ muội không?”.


    Cơ thể tỷ ấy lập tức cứng đờ, rất lâu sau mới mở miệng đáp: “Mẫu thân... từ lâu đã không còn trên đời này nữa rồi”.


    Tin dữ ấy đến quá đột ngột, làm tôi chẳng kịp phản ứng: “Sao cơ?”.


    Vẫn duy trì tư thế như vừa nãy, A Nghi mở mắt ra, trong mắt là sự trống rỗng mịt mờ, môi cũng hé mở, thốt ra những lời khiến người nghe là tôi đau lòng: “Sau khi muội rồi khỏi làng, dịch bệnh không những không thuyên giảm mà còn bùng phát mạnh mẽ hơn. Dân làng cho rằng thần linh vẫn chưa nguôi cơn giận dữ nên đã đuổi kẻ chứa chấp muội là mẫu thân và ta ra khỏi làng, buộc bọn ta phải vào kinh sinh sống. Ở đó, bọn ta lạ cảnh lạ nhà, không thân không thích, mẫu thân lại đổ bệnh nên ta đành bán mình cho thanh lâu lấy tiền, nhưng vẫn không thể cứu bà thoát khỏi cái chết”.


    Nghe tỷ ấy nói đến đây, lòng tôi đột nhiên nặng trĩu. Nỗi ân hận cùng áy náy, day dứt dâng đầy trong tim. Lại thêm một người nữa, lại thêm một người đối tốt với tôi mà có kết cục chẳng mấy tốt đẹp. Lại càng thêm trách bản thân, đã biết mình là hiện thân của xui xẻo, sao còn tham lam lòng tốt tình thương khiến họ bị liên lụy? Nếu không có tôi, phải chăng họ vẫn có thể tiếp tục cuộc sống bình yên lúc trước? Sẽ không phải tha hương, người chết vì bệnh, người ở lại chốn lầu xanh?


    Chẳng biết A Nghi đã ngồi dậy từ bao giờ, tỷ ấy rút từ trong tay áo một chiếc khăn lụa, dịu dàng lau nước mắt cho tôi: “Biết ngay là muội lại tự trách mình mà. Sống chết có số, há phải cưỡng cầu? Muội biết khi lâm chung mẫu thân đã nói gì với ta không? Bà ấy nói ra đi sớm một chút cũng tốt, không bị bệnh tật giày vò quá lâu như người trong làng, chỉ tiếc là chưa thể gặp lại muội, cả nhà chưa thể đoàn viên. Bà còn nói rằng thể nào khi biết chuyện muội cũng sẽ nhận mọi lỗi lầm về phía mình, còn bảo ta phải chăm sóc muội thật tốt”.


    Dưỡng mẫu vẫn luôn như vậy, vẫn luôn đối xử rất tốt với tôi, lo lắng cho tôi ngay cả khi bản thân chỉ còn chút hơi tàn. Điều này làm tôi vừa cảm thấy ấm áp vừa tràn đầy áy náy: “Nhưng...”.


    Nhưng còn chưa nói hết câu tôi đã bị A Nghi lên tiếng phản bác: “Cũng như mèo đen vậy. Mèo đen thường xuất hiện trước khi có nguy hiểm xảy ra để người ở đó biết đường mà tránh, vậy nên chúng ta phải cảm ơn nó mới đúng, nhưng mọi người là vì thế mà coi nó là hiện thân của điềm gở vận xui, đánh đuổi hay thậm chí còn giết chết nó. Lỗi là ở nhận thức sai lầm của họ chứ không phải ở muội hay mèo đen. Vì vậy, đừng tiếp tục đổ lỗi cho bản thân rồi buồn rầu tự trách nữa, nghe chưa?”.


    Tôi hơi ngẩng đầu để A Nghi dề dàng lau nước mắt cho mình, khẽ “vâng” một tiếng. Chợt nhớ đến giấc mộng kỳ lạ đêm qua, tôi không kìm được mà hỏi: “Vừa nãy tỷ nói tỷ phải bán mình vào thanh lâu, có phải ở đó tỷ đã từng làm vũ kỹ rồi gặp gỡ chàng công tử áo tím họ Trọng, có vết bớt hoa lê ở góc trán?”.


    Tay đang lau nước mắt cho tôi của tỷ ấy đột nhiên khựng lại: “Sao muội biết được chuyện này?”.


    Tôi kể lại vắn tắt giấc mộng đêm qua tôi mơ cho A Nghi nghe, tỷ ấy thả lỏng người, còn bỡn cợt hỏi lại một câu: “Khá lắm, lại có thêm một năng lực nữa à? Vậy là muội có thể dễ dàng biết được tường tận quá khứ của người khác?”.


    Tôi lập tức lên tiếng phản bác lại: “Đâu phải muội cố ý. Hơn nữa, muội chỉ mơ đến đó nên không rõ chuyện xảy ra sau này, vậy nên muội muốn hỏi tỷ rằng tại sao lúc trước tỷ còn ở lại thanh lâu chờ chàng trở về, bây giờ lại trở thành sủng phi của hoàng đế? Lẽ nào vị công tử áo tím chính là hoàng thượng?”. Từ nhỏ đến lớn tôi đã nghe không ít chuyện hoàng đế cải trang vi hành, nghiễm nhiên sẽ đến thanh lâu, phải lòng một giai nhân ở đó nên đã đón nàng vào cung, phong làm phi tần, hết mực sủng ái. Lại nói vị công tử kia họ Trọng, cùng họ với hoàng thượng, khí chất cao quý vương giả, thân phận lại rất đặc biệt, vậy nên tôi mới nghi ngờ không biết họ có phải là một người không.


    Nghe tôi hỏi vậy, đôi mắt tỷ ấy thoáng vẻ bi thương, nhưng một lát sau đã khôi phục dáng vẻ bình thường: “Nếu được như muội nói, có lẽ ta đã không ghét hoàng cung đến vậy.”


    Nhìn A Nghi thương tâm, tôi không đành lòng truy hỏi, lập tức chuyển sang chủ đề khác: “Hoàng hậu là người như thế nào?”.


    Trước câu hỏi đột ngột của tôi, tỷ ấy ngạc nhiên trong chốc lát nhưng cũng nhanh chóng trả lời, nói bằng chất giọng chất chứa sự ngưỡng mộ và cung kính từ tận đáy lòng: “Tỷ ấy là người yêu hoàng thượng chân thành nhất trên đời, một mình quản lý cả hậu cung, mệt mỏi mà chẳng hé răng nửa lời. Tỷ ấy là người luôn suy nghĩ cho hoàng thượng, chỉ muốn ngài được vui mà chấp nhận cả tam cung lục viện, gạt bỏ nỗi niềm riêng, gặm nhấm nỗi cô đơn và đau đớn một mình. Vẫn thường nghe người đời nói rằng vì yêu mà ích kỷ, độc chiếm. Vậy phải yêu sâu đậm đến nhường nào mới có thể làm được như hoàng hậu?”.


    Ai nói làm nữ nhân trong hậu cung, trở thành mẫu nghi thiên hạ là được hưởng hạnh phúc, sung sướng trọn đời? Sống trong nhung ấm lụa êm, nằm trên giường gấm chăn nhung nhưng thường xuyên phải chịu cảnh giường đơn gối chiếc, còn phu quân mình thì đêm nay đến cung phi tần này, mai lại ở bên quý nhân khác. Lòng khó chịu, tim đau đớn nhưng môi vẫn phải nở nụ cười tươi như hoa, phải giữ phong thái đoan trang thục tĩnh của bậc mẫu nghi thiên hạ, đến khóc cũng phải nén, ấm ức cũng phải cắn răng chịu đựng. Biết giãi bày với ai khi đâu đâu trong hậu cung này cũng là kẻ thù luôn muốn tìm ra sơ hở, tận dụng mọi cơ hội để lôi mình xuống nước? Bởi vậy mới nói đế vương có nỗi khổ tâm riêng, hoàng hậu cũng đâu có sung sướng gì. Ấy vậy mà vẫn không có ít người như thiêu thân lao vào lửa, dùng máu và nước mắt của bản thân cùng bao người khác chỉ để đổi lấy nó.


    Nhưng hoàng hậu Hạ quốc ngồi trên ngôi vị này cũng chỉ là vì bất đắc dĩ, và lí do thì A Nghi cũng đã nói cho tôi: “Nếu không phải vì hoàng thượng muốn làm bá chủ thiên hạ, tỷ ấy sẽ không trở thành hoàng hậu một nước đâu”.


    Nhớ lại lời Yến Nhạc công chúa và A Nghi vừa rồi, tôi không kìm được mà lên tiếng hỏi: “Hoàng hậu mắc bệnh gì vậy, có nặng lắm không?”.


    A Nghi chậm rãi tiếp lời: “Gần đây tỷ ấy thường xuyên đau đầu, cả người mệt mỏi, chán ăn, có ăn vào cũng sẽ nôn bằng sạch, cả ngày đều nằm trên giường, mọi chuyện trong hậu cung dạo này đều do ta quản lý”.


    Nhớ đến những lời viết trong cuốn sách vừa đọc, tôi buột miệng: “Liệu có phải hoàng hậu đang mang thai?”.


    Tỷ ấy ngồi thẳng dậy, lắc đầu trả lời: “Nếu là có thai thì tốt rồi, tỷ ấy luôn mong mỏi có một đứa con mà. Tiếc là sau chuyện xảy ra năm đó, tỷ ấy rất khó có thai, nếu có cũng khó giữ được. Hơn nữa, nếu tỷ ấy có thai thì thái y phải chuẩn đoán ra chứ, đằng này lại không, chỉ kê một thang thuốc toàn những loại thuốc quý để bồi bổ cơ thể cho lại sức”.


    Tôi thầm nghĩ hồi lâu, cuối cùng vẫn lên tiếng nói: “Sư phụ của muội có biết chút y thuật, chi bằng để người đến xem bệnh tình của hoàng hậu xem sao. Muội không dám chắc người sẽ chữa khỏi bệnh cho hoàng hậu, nhưng có thử còn hơn không”.


    “Sư phụ của muội...chính là Mạc Trọng tiên sinh đã sớm ẩn cư lánh đời mà mọi người đồn đại? Ta thật không ngờ tiên sinh lại trẻ như vậy, thoạt nhìn còn trẻ hơn cả Hạ vương.”


    Nghe tỷ ấy nói vậy, tôi liền cười khan hai tiếng. Đúng là đâu có ai ngờ một người thoạt nhìn như hai mươi lại sống hơn hai trăm năm chứ.


    Lại nghe tỷ ấy nói tiếp: “Vậy thì phải phiền đến sư phụ muội rồi”.


    Trong tiếng lộc cộc đều đều của bánh xe, chúng tôi tựa vào nhau, cứ tỷ một câu muội một câu, chẳng mấy chốc đã tới hoàng cung Hạ quốc. Sau khi xuống xe ngựa, tôi lập tức chạy đến bên sư phụ cũng vừa bước xuống xe, nhanh nhảu liến thoắng nói: “Sư phụ, con nghe nói hoàng hậu lâm bệnh, thái y trong cung cùng thần y khắp nước đều bó tay chịu thua. Dù gì chúng ta ở lại đây cũng không phải ngày một ngày hai, người có thể chữa bệnh cho hoàng hậu được không?”. Dù hỏi nhưng thực ra tôi đã biết trước được câu trả lời, sư phụ nhất định sẽ không từ chối lời khẩn cầu của tôi, đặc biệt là khẩn cầu chữa bệnh cứu người.


    Quả nhiên, sư phụ đã trả lời: “Đã là chữa bệnh cứu người thì không có nên hay không nên, được hay không được, chỉ là có thể hay không mà thôi. Ta nhất định sẽ cố hết sức”.


    Khách đến chơi trước hết phải gặp qua chủ nhà, huống hồ đây không phải là một ngôi nhà bình thường mà là cả hậu cung rộng lớn. Hậu cung không phải là nơi nam nhân nào cũng có thể tùy tiện ra vào, nhất là một nam nhân vốn không có bất kỳ liên hệ nào với hậu cung như sư phụ. Bởi vậy, trước khi để sư phụ đến xem bệnh tình cho hoàng hậu, chúng tôi phải đến bái kiến hoàng thượng. Suốt dọc đường đi, lòng tôi như có lửa đốt, tò mò rằng không biết phu quân A Nghi là người như thế nào, có phải là chàng thiếu niên năm xưa không, và rốt cuộc tại sao khi nhắc đến chuyện này, tỷ ấy lại đau buồn đến vậy.


    Chỉ một khắc sau, tôi đã hiểu được phần nào lý do. Đó là bởi vì chàng thiếu niên áo tím trâm ngọc từng buông lời hẹn ước với tỷ ấy năm xưa không phải là hoàng thượng Trọng Nghiên, phu quân của tỷ ấy mà là tam vương gia Trọng Hoa, đệ đệ của hoàng thượng, ca ca của Trọng Cơ.


    Thảo nào khi đã trở thành quý phi, A Nghi lại chẳng chút vui mừng, một phần cũng vì phu quân hiện tại không phải tình lang năm xưa.


    Thảo nào khi chúng tôi bước vào điện để diện kiến hoàng thượng, nơi ánh mắt tỷ ấy và tam vương gia giao nhau lại có gì đó khẽ lan tỏa, nhưng lại khác hẳn cảnh hai người gặp nhau lần đầu. Không có vui mừng, chỉ có bi thương.


    Nhưng không hổ là người hoàng thất, quen đeo mặt nạ để ngụy trang, chỉ trong giây lát tam vương gia đã khôi phục vẻ ung dung điềm tĩnh, còn cô gái áo lam xinh đẹp đứng cạnh thì nhìn A Nghi với ánh mắt xót xa xen lẫn áy náy, nhẹ giọng gọi: “Tỷ tỷ”.


    Thấy A Nghi xuất hiện, cặp mày của Trọng Nghiên lập tức nhướng cao, môi cũng gợn lên nụ cười: “Ái phi đến đúng lúc lắm. Trẫm gọi tam đệ và Trầm Ngư đến đây là để tác thành cho bọn họ, nào ngờ cả hai lại viện đủ mọi lý do khước từ trẫm. Nàng mau giúp trẫm khuyên họ một câu đi”.


    Không biết vị hoàng đế này có biết chuyện giữa A Nghi và Trọng Hoa không mà lại bảo tỷ ấy đi khuyên tình lang trong mộng lấy người khác, nhưng nếu đã biết mà vẫn bảo thì hắn quả là tàn nhẫn. Ánh mắt dừng ở Trọng Hoa hồi lâu rồi lại di chuyển sang nghĩa muội Trầm Ngư của mình, A Nghi cũng là Đàm quý phi Lạc Nhạn mở miệng nói, giọng không nhận ra cảm xúc, không biết những lời nói sau đây là để nói với tam vương gia hay là bất kỳ ai khác có mặt trong đại diện: “Bổn cung chỉ là nữ nhân trong hậu cung, là người ngoài cuộc, không có tư cách gì để khuyên bảo vương gia. Chỉ mong vương gia hãy suy nghĩ thật kĩ, nếu đã lấy thì phải lấy người mình yêu, bằng không người đau khổ sẽ là ngài; nếu đã lấy thì phải đối xử tốt với người ta, dù là bất kỳ ai chăng nữa, bằng không người đau khổ sẽ là nàng”. Tỷ ấy nhìn sang cô gái áo lam trâm ngọc có dung mạo chim sa cá lặn, dịu dàng nói: “Cả muội cũng vậy, Trầm Ngư”.


    Nụ cười trên môi Trọng Nghiên hơi sững lại, nhưng chỉ là trong thoáng chốc: “Ái phi lo lắng nhiều rồi, tình cảm có thể từ từ xây đắp mà, và chúng ta chính là ví dụ điển hình nhất. Nàng nói có đúng không, Lạc Lạc?”.


    A Nghi cụp mi, nhỏ giọng đáp:”Vâng”.


    Nhìn sự thỏa mãn hiện rõ trong đáy mắt hắn, lòng tôi khó chịu vô cùng, nhưng không dám để lộ ra bên ngoài. Đến người ngoài cuộc là tôi còn khó chịu đến vậy thì không biết A Nghi cùng Trọng Hoa còn khó chịu đến nhường nào, khổ sở ra sao khi phải chôn giấu tất cả dưới tận đáy lòng.


    Dường như không chịu nổi tình cảnh này, tam vương gia vén áo quỳ xuống, trầm giọng nói: “Nếu hoàng huynh không còn chuyện gì thì thần đệ xin phép cáo lui trước”. Thẩm nhị tiểu thư Trầm Ngư cũng quỳ theo phụ họa: “Hôn nhân là chuyện trọng đại của cả một đời người, xin bệ hạ cho phép Trầm Ngư thời gian để suy nghĩ. Hiện tại gia mẫu không khỏe, tiểu nữ xin bệ hạ được cáo lui”.


    Nghe đâu hôn sự giữa Trọng Hoa và Trầm Ngư đã trì hoãn đến ba lần, hoàng thượng cũng đã quen với việc cả hai viện cớ từ chối hôn sự nên chán nản phất tay chấp thuận. Tuy nhìn bề ngoài tam vương gia vẫn ung dung điềm tĩnh như thường nhưng hai bàn tay siết chặt dưới tay áo cũng đủ để nói nên tâm trạng thực sự của chàng lúc này. Còn Trầm Ngư thì dừng lại chỗ chúng tôi một lát, cất giọng nhẹ như gió thoảng: “Bây giờ muội trở về phủ, hôm khác muội sẽ vào cung thăm tỷ sau”. Nói đoạn lại quay sang tôi, khóe môi gợn lên nụ cười, sóng nước luân chuyển trong mắt: “Hân hạnh gặp mặt và hẹn ngày tái ngộ, A Tĩnh”.


    Chẳng để tôi kịp phản ứng, cô gái áo lam đã nối gót theo tam vương gia rời khỏi đại điện, Hạ vương đã nói hai tiếng “bình thân”. Chúng tôi tạ ơn đứng dậy, còn A Nghi thì cung kính mà lạnh nhạt thưa: “May mà Phật tổ từ bi, nghe thấu lời thỉnh cầu của thần thiếp nên hai tỷ muội mới có thể gặp lại. Vậy nên thần thiếp mạo muội khẩn cầu bệ hạ cho phép muội ấy ở lại trong cung của thần thiếp để hai tỷ muội có thời gian hàn huyên tâm sự, cho thỏa nỗi nhớ nhung trong bao năm xa cách”.


    Lời đồn quả thật không sai, hoàng thượng thật sự rất sủng ái A Nghi, vậy nên không cần suy nghĩ nhiều hắn đã chập thuận, còn hỏi thêm một câu: “Còn chuyện gì nữa không?”.


    Tỷ ấy không nói nhiều lời, lập tức đi vào chuyện chính: “Lần này đến Tĩnh Am tự bái Phật cầu an, thần thiếp không chỉ gặp lại tiểu muội thất lạc bao năm mà còn gặp được sư phụ của muội ấy, Mạc Trọng tiên sinh y thuật cao minh mà người đời đồn đại. Vậy nên thần thiệp mới mời tiên sinh về cung để xem bệnh cho hoàng hậu. Thần thiếp chưa được sự đồng ý của bệ hạ đã tự ý làm vậy, khẩn xin bệ hạ trách phạt”.


    Nghe vậy, Yến Nhạc công chúa đứng bên cạnh lập tứ hừ lạnh, ngữ khí tỏ rõ sự khinh thường: “Đã biết là sai thì sao còn làm?”. Lại bị hạ đế cau mày xen ngang, trầm giọng cảnh cáo, nàng ta lập tức ngậm miệng. Lúc bấy giờ hắn mới dịu dàng nói: “Ái phi đã có lòng nghĩ cho bệnh tình của hoàng hậu thì sao trẫm có thể trách phạt nàng được”. Ngừng một lát, ánh mắt hắn di chuyển lên người sư phụ: “Mạc Trọng tiên sinh?”.


    Sư phụ lập tức quỳ xuống, đầu hơi cúi nhưng lưng vẫn thẳng tắp như thân cây tùng, dường như không bị khuất phục bởi thứ gọi là hoàng quyền, thiên uy: “Có thảo dân”.


    Trong mắt Trọng Nghiên lộ rõ vẻ tán thưởng: “Tiên sinh là khách quý của Lạc Lạc, còn là người sẽ xem bệnh cho hoàng hậu, cớ gì phải bận tâm đến những lễ nghi quy củ bình thường. Mau bình thân. Sức khỏe của hoàng hậu còn nhờ cả vào tiên sinh, nếu hoàng hậu thực sự khỏi bệnh, tiên sinh sẽ trở thành ân nhân của cả Hạ quốc”.


    Sư phụ không nhanh không chậm đứng dậy, không mặn không nhạt đáp lời: “Thảo dân sẽ dốc hết sức”.


    Hạ vương gật đầu thay cho câu trả lời sư phụ, tiếp tục quay sang dặn dò A Nghi: “Bây giờ mọi chuyện trong hậu cung đều do một tay nàng quản lý, tiên sinh và tiểu muội của nàng lặn lội đường xa đến đây, trước tiên hãy sắp xếp chỗ ở cho bọn họ, thay trẫm tiếp đón chu đáo, đợi ngày mai rồi hãy dẫn tiên sinh đến xem bệnh cho hoàng hậu”.


    A Nghi cung kính đáp: “Thần thiếp tuân lệnh”.


    Đúng lúc đó, tôi cảm thấy tay mình bị ai đó huých nhẹ một cái. Tôi ngoảnh đầu lại thì nhìn thấy Yến Nhạc công chúa đang nhìn tôi chằm chằm, nhìn từ đầu xuống chân, từ trong ra ngoài một lượt rồi chống cằm, đưa ra kết luận: “Thì ra hai người là tỷ muội của nhau, thảo nào lại giống nhau đến vậy. Nhưng có giống thì cũng chỉ giống bên ngoài thôi, còn khí chất thì lại khác hẳn. Dù không ưa gì Lạc Nhạn nhưng tôi cũng phải thừa nhận tỷ ta có khí chất của một phi tần, của người có xuất thân hoặc địa vị cao quý, còn cô thì...chậc chậc”. Hai tiếng tặc lưỡi cuối cùng nghe mới đáng ghét làm sao!


    Nàng ta đã không nề mặt, tôi cũng chẳng cần phải khách khí: “Khí chất là gì? Có ăn được không? Có đổi thành vàng bạc tiêu được không? Nay cô ở trước mặt nói người này có khí chất người kia không, vậy ra đó chính là khí chất của một công chúa như cô sao?”.


    Nghe vậy, đôi mày thanh mảnh lập tức nhướng cao, đôi má ửng đỏ vì giận: “Cô!”. Nàng ta hít một hơi sâu kiềm chế lửa giận, vẻ đại nhân đại lượng nói: “Hừ, bổn công chúa không chấp kẻ không hiểu lí lẽ như cô”.


    Hừ, cái gì mà không chấp, rõ ràng là không nói lại được thì có. Nhưng những lời ấy tôi cũng chỉ có thể nói thầm trong lòng, bởi còn chưa kịp thốt ra nửa chữ đã bị A Nghi hạ giọng cắt ngang: “A Tĩnh!”. Đến bây giờ tôi mới nhận ra đây là đại điện của hoàng cung, ở đây còn có đếvương của Hạ quốc, sao có thể cãi nhau tay đôi thoải mái, tùy tiện với hoàng muội của hắn được. Cũng may, không biết có phải vì Hạ vương nể mặt A Nghi hay không mà chỉ phất tay bảo chúng tôi lui ra, xong còn quay sang Trọng Cơ trầm giọng nói: “Còn muội, ở lại. Trẫm còn chưa hỏi tội muội vì dám tự ý xuất cung, quấy rầy sự thanh tĩnh nơi cửa Phật, vu oan giá họa cho ái phi của trẫm đâu”.


    Thấy Trạng Cơ ỉu xìu, tiu nghỉu như mèo cụt tai, tâm trạng tôi bất chợt tốt lên không ít.


    Theo sự sắp xếp của A Nghi, tôi theo tỷ ấy về Trường Xuân cung, cùng nhau dùng bữa, nằm trên một chiếc giường và nói chuyện thâu đêm. Còn nhớ lúc đó tôi đã rất khó xử mà hỏi tỷ ấy một câu: “Lỡ nửa đêm hoàng thượng đến đây muốn tỷ hầu hạ thì sao giờ? Để muội ngủ ở phòng khác thì hay hơn”.


    A Nghi mặc váy lụa màu tím kéo tôi xuống giường, thản nhiên nói: “Hoàng thượng đã phê chuẩn rồi, muội còn lo gì nữa? Ta nói muốn hàn huyên với muội thâu đêm không phải là để tránh hầu hạ ngài sao? Hơn nữa, kể từ khi vào cung đến giờ, ngài chưa thực sự lâm hạnh ta lần nào”.


    Đúng vậy, A Nghi không thích vì Hạ vương không phải người trong lòng mình, nhưng hắn thì khác, sao hắn có thể chưa từng lâm hạnh đương kim sủng phi của mình? Lòng hiếu kỳ bị gợi lên, tôi không kìm được mà hỏi: “Sao có thể? Chẳng phải Hạ vương rất hay nghỉ lại ở cung của tỷ sao, nếu không thì cũng gọi tỷ qua tẩm điện của mình mà?”.


    A Nghi lập tức nở một nụ cười trào phúng, ánh mắt liền trở nên cay nghiệt lạnh lùng, ngay cả cách gọi cũng thay đổi, không còn là “ngài” đầy tôn kính mà là “hắn” đầy khinh miệt: “Vì sao ư? Chẳng qua là vì hắn đã cảm thấy áy náy vì chuyện đã làm, muốn bù đắp một phần tổn thương mà hắn đã gây ra cho ta mà thôi”. Ngả đầu lên chiếc gối ngọc, tỷ ấy vỗ vỗ tay lên chỗ trống bên cạnh: “Muốn biết thì nằm xuống đây”. Sau khi tôi đã ngoan ngoãn làm theo, tỷ ấy mới từ từ dẫn vào câu chuyện: “Mọi chuyện từ khi Trọng Hoa và ta chia xa trở về trước muội đã biết tất cả rồi phải không? Vậy thì để kiệm lời đỡ phí sức, ta sẽ chỉ kể những chuyện xảy ra sau đó mà thôi”.


    Vậy là câu chuyện vẫn còn dang dở mà tôi biết lại được viết tiếp bởi những lời kể của chính người trong cuộc. Và thật đáng tiếc thay, cho đến tận bây giờ, nó vẫn chưa có được một kết thúc có hậu.

    ______________________

    <<< (Chương 8) - (Chương 10) >>>
     
    Chỉnh sửa cuối: 16/4/17
    Đậu PhụThanhkhe thích bài này.
  4. Umio

    Umio Gà tích cực Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    197
    Được thích:
    365
    Đã thích:
    570
    GSP:
    Ap
    Chào nàng, hôm nay mới nhảy hố của nàng, nhảy xong ngứa ngáy để lại vài ba lời nhận xét (ta nhận xét không hay lắm, cũng không dám múa rìu qua mắt thợ, chỉ nêu tí cảm nhận cá nhân thôi).
    Nói chung thì ta khá khó tính trong việc đọc truyện tự sáng tác online, cũng ít cmt nhận xét lắm thường đọc một hai dòng không thích là đi luôn. Ta vào Tam thế lần đầu tiên chỉ đọc qua văn án thấy thích thích mấy câu trích dẫn của nàng nên lần thứ hai quay lại là nhảy hố luôn :P.
    Văn phong của nàng hay, mượt, trôi chảy, viết rất chắc tay. Cốt truyện cũng đầu tư kĩ càng, ta thích cả về nội dung lẫn hình thức. (Ta đọc tất cả các chương trong vòng một tối là đủ thấy nó cuốn hút như thế nào).
    Nhưng (cái này cũng thấy có bạn cmt trước rồi) một số chỗ nàng sử dụng nhiều từ hiện đại làm ta đọc thấy hơi gượng, không thích hợp lắm, nhiều lúc bị cụt hứng nữa, càng về những chương sau thấy từ ngữ đã được nàng trau chuốt khá kĩ, văn phong đã gần gũi với thể loại cổ trang, huyền huyễn hơn, miêu tả cũng khá tốt.
    Cá nhân ta cảm thấy một số đoạn nàng viết hơi lan man, có thể lướt lướt mà vẫn nắm được nội dung chính, dung lượng một chương cũng khá dài nếu chia nhỏ một chút thì sẽ dễ đọc hơn.
    Lần sau có chương mới nhớ tag ta nha, mới cả ra chương nhanh ta hóng7onion37.
     
  5. Mạt Họa

    Mạt Họa Gà cận Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    373
    Được thích:
    964
    Đã thích:
    664
    GSP:
    Ap
    ;_; Để tiến bộ được chút xíu đó thôi mà ta đã mất gần ba năm đấy. Thật vui khi nghe được nhận xét từ người khác rằng văn của ta có tiến bộ.

    Những khuyết điểm khác mà nàng nói ta cũng biết rõ, chỉ là khó mà sửa ngay được nên đành từ từ mài dũa theo thời gian thôi.

    Vấn đề ra chương thì bây giờ sẽ định là 1 tuần 2 chương. Vì truyện ta đã viết xong nên chắc không đăng gián đoạn đâu như trước đâu. Đừng lo =))).
     
    Đậu PhụUmio thích bài này.
  6. Umio

    Umio Gà tích cực Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    197
    Được thích:
    365
    Đã thích:
    570
    GSP:
    Ap
    Hồi ta mới mày mò đi viết cổ trang, huyền huyễn cũng lắm khó khăn lắm. Văn phong phải nhảy một phát từ hiện đại sang cổ trang mà văn cổ trang thường mượt mà hơn, nhiều từ ngữ đọc thì thấy thích mà chả biết nó nghĩa gì từ đâu tới =)). Lúc viết toàn phải nhờ mấy cái từ điển Hán-Nôm mới sống sót :)):)), chia sẻ tí kinh nghiệm vậy cho nàng, mong các chương sau từ ngữ được sử dụng thành thạo hơn nha :">.
     
  7. Umio

    Umio Gà tích cực Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    197
    Được thích:
    365
    Đã thích:
    570
    GSP:
    Ap
    À mà nàng mười lăm tuổi phải hông (thấy thông tin ghi vậy) nàng mới nhỏ tuổi vậy mà văn viết khá chắc tay đấy, ba năm vậy nàng bắt đầu viết từ khi mới mười hai à. Đáng ngưỡng mộ quá ;;), ta già đầu hơn nàng mà viết chưa bằng đâu.
     
  8. Mạt Họa

    Mạt Họa Gà cận Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    373
    Được thích:
    964
    Đã thích:
    664
    GSP:
    Ap
    Tính theo năm thì là 16. Năm 12 ta cũng viết cổ đại nhưng là truyện khác đã dừng cơ. Chắc do ta tiếp cận sớm với ngôn tình nên vậy.

    Còn về vấn đề ngôn từ... ta sẽ trau chuốt dần vậy :v.
     
    Chỉnh sửa cuối: 16/4/17
    Đậu PhụUmio thích bài này.
  9. Mạt Họa

    Mạt Họa Gà cận Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    373
    Được thích:
    964
    Đã thích:
    664
    GSP:
    Ap
    uu.jpg


    Chương 10. Điệu múa chia ly


    Nếu trên đời thực sự tồn tại mối quan hệ đặc biệt giữa người với người như duyên tiền định thì A Nghi và Trọng Hoa chính là ví dụ điển hình nhất. Nếu con người thực sự có thể đầu thai chuyển kiếp thì ở kiếp trước, hai người nhất định là một cặp uyên ương.


    Trước khi gặp Trọng Hoa, A Nghi chưa một lần nếm thử tư vị của ái tình nên không tin nó tồn tại, càng không tin vào nhất kiến chung tình. Nhưng từ khi gặp được chàng thì khác. Tỷ và chàng thiếu niên áo tím, vừa gặp đã yêu.


    Hai người vừa gặp mà như đã quen từ lâu, ngày qua ngày tình cảm càng sâu đậm, cả hai còn hẹn ước sẽ bên nhau trọn đời. Đáng tiếc, mộng tưởng đẹp đẽ ấy cho đến nay vẫn không thể thực hiện, bởi khi đó chàng thiếu niên đột nhiên biến mất, và khi gặp lại, thân phận chính là rào cản ngăn họ đến với nhau.


    Khi ngày A Nghi vừa tròn mười bảy tuổi đến gần, Trọng Hoa đột nhiên biến mất, không phải chỉ ngày một ngày hai mà là gần nửa năm trời. Ban đầu tỷ ấy còn có thể tự nhủ với lòng rằng có lẽ gia đình chàng xảy ra chuyện nên chàng buộc phải rời kinh, gấp đến độ không kịp báo cho mình một tiếng. Thế nhưng, mặc cho tỷ ấy mỏi mắt ngóng trông, người tỷ ấy chờ vẫn bặt vô âm tín, không một lá thư, không một lời nhắn. Các cô nương khác trong thanh lâu đều nói Trọng Hoa đã bỏ rơi, lừa dối tỷ, ngay từ đầu đã không muốn cưới tỷ làm vợ, ở chốn phong nguyệt này làm gì có khách làng chơi nào chung tình với kỹ nữ. Tú bà cũng khuyên tỷ quên chàng rồi bắt đầu tiếp khách như bao kỹ nữ khác nhưng bị tỷ kiên quyết cự tuyệt, chỉ bán nghệ chứ không bán thân. Người khác muốn chuộc tỷ làm thiếp, tỷ ấy một mực chối từ, ngay cả vị công tử gần đây thường đến thanh lâu có đôi nét giống Trọng Hoa muốn chuộc thân cho tỷ bằng cả trăm lượng vàng cùng mấy hòm châu báu cũng vậy. Đáng ngạc nhiên là dù rất có hứng thú với A Nghi nhưng bị tỷ ấy từ chối hắn cũng chẳng tỏ vẻ là gì tiếc nuối, còn thản nhiên nói rằng: “Không sao, chẳng sớm thì muộn, rồi nàng cũng sẽ trở thành người của ta”.


    Nghe đến đây, một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu tôi: “Chẳng lẽ vị công tử đó chính là hoàng thượng?”.


    A Nghi nhếch miệng, không trả lời câu hỏi của tôi mà đáp lại bằng một câu hỏi khác: “Không phải hắn thì là ai?”.


    Sự lạnh lùng trong ánh mắt của tỷ ấy làm tôi rùng mình, lạc giọng hỏi: “Sau đó thì sao?”.


    A Nghi thản nhiên tiếp lời: “Sau đó thì hắn không đến thanh lâu này lần nào nữa, người mà ta đợi cũng chẳng xuất hiện, lòng dần nguội lạnh, niềm tin đổ vỡ, ta bắt đầu tin vào những lời đồn thổi bên tai, tin rằng chàng đã phản bội lại lời thề. Đúng lúc đó, Thẩm thừa tướng bỏ ra một khoản tiền lớn chuộc thân cho ta, tú bà đã đồng ý, ông ấy nhận ta làm nghĩa nữ, dạy cho ta nhiều thứ để trở thành đệ nhất tài nữ thiên hạ, để ta có thể danh chính ngôn thuận tiến cung thay Trầm Ngư, ta cũng chẳng thể chối từ. Đến tận đêm đầu tiên hoàng thượng đến lâm hạnh ta mới biết thì ra Hạ vương chính là vị công tử từng muốn chuộc thân cho ta”.


    Nhưng nếu chỉ sắp xếp chuyện đưa tỷ vào cung, sao tỷ có thể hận hắn đến chừng này? Tôi buột miệng: “Có phải hắn cũng nhúng tay vào chuyện giữa tỷ và Trọng Hoa?”.


    A Nghi lập tức đáp lời bằng một tiếng “hừ” lạnh: “Nếu không phải hắn nhúng tay thì sao bọn ta lại phải chia ly? Là hắn đứng phía sau âm thầm sắp xếp tất cả, không chỉ điều Trọng Hoa cầm quân ra trận mà còn không từ thủ đoạn để giữ chàng ở lại biên cương, kể cả hạ thuốc độc. Mặt khác, hắn cho người hủy toàn bộ thư từ mà chàng gửi cho ta trong thời gian ấy, cắt đứt liên lạc giữa bọn ta, sau đó còn giả mạo chàng gửi thư cho ta nói chàng đã thay lòng đổi dạ, tất cả chỉ là để làm cho ta chết tâm, rơi vào cái bẫy hắn giăng sẵn. Đến khi ta phát hiện thì đã muộn, đến khi Trọng Hoa trở về thì ta đã Đàm quý phi của Hạ quốc”.


    Khúc mắc trong lòng được gỡ bỏ, tôi nói: “Thảo nào Hạ vương lại chỉ hôn cho Trọng Hoa và Trầm Ngư. Hắn làm vậy là muốn chặt đứt tâm tư và hy vọng còn sót lại của hai người”.


    A Nghi gật đầu, tiếp tục lên tiếng: “Phải. Dùng an nguy của Trọng Hoa, Thẩm thừa tướng cùng Trầm Ngư để uy hiếp ta còn chưa đủ, bây giờ hắn còn ép hôn chàng và muội ấy”. Nói đến đây, giọng tỷ ấy lại nhuốm màu bi ai: “Sắp tới chàng sẽ phải ra biên cương dẹp loạn, khi trở về, nhất định chàng sẽ phải thành thân với muội ấy”.


    Hôn sự này chắc chắn sẽ thành, trừ phi Trọng Hoa không trở về, nhưng, không trở về cũng đồng nghĩa với cái chết.


    Một mối lương duyên trời định, cứ thế đứt đoạn luôn sao?


    Mang theo những tâm sự cùng những câu hỏi canh cánh trong lòng, cứ thế, tôi dần chìm vào giấc ngủ. Có lẽ do ngủ không sâu, không đủ giấc nên sáng hôm sau, khi tỉnh dậy rồi tôi vẫn thấy lơ mơ như còn ở trong mộng, ngẩn ngơ một hồi mới định thần tỉnh táo. Lúc bấy giờ cung nữ hầu cận A Nghi là Nhâm Giai đang giúp tỷ ấy vẫn tóc cài trâm, thấy tôi thức giấc tỷ ấy liền sai vài cung nữ khác bưng nước cho tôi rửa mặt, sau đó lên tiếng nhắc nhở người vẫn còn ngơ ngác ngồi trên giường là tôi: “Tỉnh rồi thì mau đi rửa mặt, chải đầu, dùng bữa xong chúng ta sẽ sang Trường Nhạc cung thăm hoàng hậu”.


    Lời A Nghi vừa nói làm tôi nhớ ra hôm nay là ngày sư phụ đến khám bệnh cho hoàng hậu, khiến tôi không thể tiếp tục rề rà trên giường mà lập tức làm theo những lời tỷ ấy nói. Rửa mặt chải đầu xong, tôi vui vẻ ngồi vào bàn ăn chỗ bên cạnh A Nghi đang đợi sẵn. Tính tỷ ấy không ưa xa xỉ lãng phí nên bữa sáng của Trường Lạc cung thanh đạm, đơn giản hơn các cung điện khác nhiều, hôm nay chỉ gồm cháo gà nấu nấm, hai đĩa bánh hạch đào cùng lê ướp lạnh tráng miệng. Tôi múc một thìa cháo nhỏ nếm thử, hương thơm lấp đầy cánh mũi, vị ngon ngập tràn khoang miệng. Đúng là đồ ăn trong cung quý phi có khác, dù là những món đơn giản dễ làm cũng có thể trở thành mỹ vị nhân gian. Cháo gà đựng trong chiếc bát bằng bạc không chỉ khiến tôi cảm thấy ngon miệng mà còn làm tôi ấm lòng: “Tỷ vẫn còn nhớ muội thích ăn gà?”.


    A Nghi ăn thêm một thìa cháo, đáy mắt lấp lánh ánh cười: “Sao ta có thể quên được chứ? Còn nhớ hồi xưa muội rất thích ăn những món ăn làm từ gà như gà hầm, gà nướng, cháo gà, thậm chí cả bánh chẻo cũng phải làm nhân thịt gà. Mỗi khi mẹ săn được gà rừng là muội lại hò reo ầm ĩ như thể có chuyện gì vui lắm vậy. Khi đó ta còn phải tự hỏi mình rằng muội thích ăn gà như thế, phải chăng chính là hồ ly đầu thai?”.


    Tỷ ấy nghĩ vậy cũng có lý, bởi tôi thích và thèm ăn thịt gà đến nỗi nó không chỉ là sở thích mà còn trở thành bản năng như mèo ăn cá, cáo ăn gà... Nhưng dù thích ăn gà đến thế nào tôi vẫn chỉ là một người trần mắt thịt, sao có thể là loài hồ ly gian xảo chuyên mê hoặc nhân tâm trong truyền thuyết?


    Sau khi dùng bữa xong, A Nghi dẫn đường cho tôi và sư phụ đến Trường Nhạc cung của hoàng hậu. Trường Xuân cung của A Nghi đã được coi là xa hoa, nơi này còn lộng lẫy gấp bội, cũng trang nhã hơn nhiều lần. Đúng là nơi ở của mẫu nghi thiên hạ có khác, không cung phi nào có thể so sánh được. Trong tẩm điện đốt toàn hương liệu quý vừa có tác dụng tĩnh tâm an thần vừa khéo át đi mùi thuốc hơi nồng, xem ra bệnh tình hoàng hậu đúng là không nhẹ.


    Chúng tôi quỳ xuống chỗ cách tấm rèm lụa mỏng màu nước treo trước giường lớn ước chừng mười bước, cung kính thỉnh an. Người nằm trên giường nghe vậy thì nhẹ nói: “Miễn lễ cả đi”, giọng nói trong trẻo xen lẫn vài phần mệt mỏi yếu ớt. Tỳ nữ bên giường vén rèm lên chiếc móc vàng, để lộ một người đang gối đầu trên gối ngọc, đắp chăn mỏng bên trong. Người ấy lên tiếng ra lệnh, nhỏ nhẹ mà uy nghiêm: “Đinh Hương, đỡ bổn cung ngồi dậy”.


    Nghe vậy, A Nghi lập tức khuyên nhủ: “Tỷ vẫn yếu, còn gắng gượng ngồi dậy làm gì? Tỷ cứ nằm xuống nghỉ ngơi, Mạc Trọng tiên sinh sẽ chẩn bệnh cho tỷ”.


    Hoàng hậu không chút dao động, thản nhiên khước từ: “Khách quý tới thăm, ta thân là nữ chủ nhân, đã không thể đích thân nghênh đón mà giờ còn nằm ì trên giường, vậy còn ra thể thống gì?”.


    Thấy không thể thuyết phục được nàng, A Nghi đành nói với tỳ nữ tên Đinh Hương: “Để ta”. Nói đoạn liền nhanh chân bước tới bên giường, cẩn thận đỡ nàng ngồi dậy, tựa đầu vào thành giường, ngả lưng vào chiếc gối mềm kê phía sau. Lúc bấy giờ tôi mới nhìn rõ dung mạo người ấy. Người trên giường mặc áo lụa bằng vàng thêu chỉ đỏ, dáng người mảnh mai, mái tóc đen dài như thác đổ, mắt phượng như thu cả đất trời vào đó. Dù cả người không phấn son trang sức nhưng vẫn khiến người khác không thể rời mắt, nét tiều tụy không che lấp được phong tư tuyệt đại. Đặc biệt là khi đối diện với hoàng hậu cũng như lúc diện kiến Hạ vương, cặp mắt La Sát của tôi không thấy được tử khí của họ, không thể biết được mệnh họ dài hay ngắn, bởi họ không phải người bình thường. Bởi hắn mang mệnh đế vương, còn người này là Bạch Phụng, người sinh ra đã mang mệnh phượng hoàng, là chính thê của Hạ vương, nữ tử quyền lực nhất đất nước này.


    Giờ đây, người ấy tiều tụy vì bệnh, mệt mỏi tựa vào thành giường giống như phượng hoàng khép cánh nghỉ ngơi trong chiếc lồng sơn son khổng lồ, vậy mà vẫn tỏa ra hào quang, âm thầm hấp dẫn ánh mắt người khác.


    Bạch Phụng nhìn sư phụ, khách khí mở lời: “Làm phiền tiên sinh rồi”.


    Sư phụ cũng khách khí đáp lại: “Đó là vinh hạnh của thảo dân”.


    Sư phụ khám bệnh không lâu, chưa đầy nửa khắc sau đã đưa ra câu trả lời: “Thật ra bệnh của nương nương không có gì đặc biệt, chỉ là áp lực cùng mệt mỏi tích lũy trong một thời gian dài cuối cùng bộc phát, tình cảm dồn nén lâu ngày hóa thành tâm bệnh. Các thái y không để ý đến nguyên nhân mà chỉ ra sức dùng các dược liệu quý, tẩm bổ không đúng cách nên phản tác dụng, làm bệnh tình ngày càng trầm trọng hơn”. Sư phụ đưa tờ giấy vừa viết cho tỳ nữ Đinh Hương đứng bên, tiếp tục lên tiếng: “Thảo dân sẽ kê một đơn thuốc khác cho nương nương, viết ra những món nương nương nên ăn trong thời gian này. Nhưng quan trọng nhất bản thân người cần tĩnh tâm an thần, thả lỏng thoải mái, đừng quá kiềm chế, cái gì cũng âm thầm chịu đựng thì không tốt đâu. Nương nương nên nhớ tâm bệnh cần tâm dược, bằng không những thái y trong cung hay các đại phu dân gian như thảo dân đều sẽ phải bó tay”.


    Hoàng hậu gật đầu tỏ ý đã biết: “Đa tạ tiên sinh. Những lời tiên sinh dặn dò, bổn cung sẽ ghi nhớ”. Nói đến đây, nàng đưa tay xoa nhẹ bụng mình, nở một nụ cười như tự giễu: “Vậy là bổn cung thực sự mang bệnh, vậy mà bổn cung cứ tưởng, vẫn cứ nuôi hy vọng rằng bản thân đang có thai”.


    Nghe Bạch Phụng nói vậy, lại nhớ đến những lời của A Nghi trong xe ngựa hôm qua, tôi có thể lờ mờ đoán được chuyện xảy ra với nàng mấy năm trước. Có lẽ khi đó nàng đang có thai nhưng bị người khác hãm hại nên cái thai mới không giữ được, khả năng sinh nở cũng vì thế mà suy giảm. Đó có lẽ là một trong những nguyên nhân mà vừa rồi hoàng hậu lại lộ ra biểu tình bi thương đến vậy và A Nghi lại ghét hậu cung đến thế.


    Tình cảnh của Bạch Phụng làm tôi chợt nhớ đến mẫu thân quá cố, khiến tôi sinh ra lòng đồng cảm với những người có cảnh ngộ như vậy: “Sinh thời sức khỏe của mẹ tiểu nữ không tốt, đại phu cũng từng nói bà rất khó có thai, nếu có cũng khó giữ được, nhưng cuối cùng thì sao? Chẳng phải tiểu nữ vẫn ra đời và lớn lên khỏe mạnh đó sao? Bởi vậy nương nương cứ yên tâm, ông trời không phụ lòng người tốt, nhất định sẽ để nương nương được như ý nguyện”.


    Có lẽ không ai ngờ một người chẳng liên quan, chỉ đứng một bên quan sát như tôi đột nhiên lại lên tiếng nói vậy nên mọi người đều ngỡ ngàng, kể cả Bạch Phụng, nhưng sự ngạc nhiên trong mắt rất nhanh chóng biến thành nụ cười trên môi: “Muội là A Tĩnh, tiểu muội thất lạc mà Lạc Nhạn tìm kiếm bấy lâu? Đúng là một nha đầu lanh lợi, khiến người khác không thể không yêu mến. Dẫu biết muội nói những lời này chỉ để an ủi ta, nhưng nghe thế ta vẫn thấy nhẹ lòng”.


    A Nghi nghe vậy thì lập tức tiếp lời: “Những lời vừa rồi A Tĩnh nói đều là thật lòng, và chúng sắp trờ thành sự thật rồi. Vậy nên tỷ đừng buồn, điều quan trọng nhất bây giờ chính là tỷ phải tĩnh dưỡng thật tốt”.


    Dường như Bạch Phụng không muốn tiếp tục vấn đề này, vậy nên mới nói lảng sang chuyện khác: “Mắt muội sao lại thâm quầng vậy? Có phải do tối qua ngủ muộn không?”.


    A Nghi khẽ “vâng” một tiếng.


    Chăm chú nhìn tỷ ấy hồi lâu, hoàng hậu đưa ra kết luận: “Nhưng tâm trạng muội lại rất tốt, không hề có dấu hiệu mệt mỏi”.


    Tỷ ấy quay sang nhìn tôi, miệng nhoẻn cười: “Hai người bọn muội khó khăn lắm mới được đoàn tụ, sao muội lại không vui được chứ?”.


    Bạch Phụng cũng mỉm cười trả lời: “Thấy tâm trạng muội tốt như vậy ta cũng vui lây”. Sau đó nàng lại quay sang sư phụ, khách khí nói: “Làm phiền tiên sinh rồi. Sau khi khỏe lại, bổn cung sẽ đích thân chọn lễ vật hậu tạ tiên sinh”.


    Sư phụ khéo khước từ: “Đó là chuyện thảo dân cần làm, sao dám nhận quà hậu tạ của nương nương?”.


    Nhưng hoàng hậu đời nào chịu nghe: “Nếu tiên sinh không nhận, bổn cung sẽ áy náy lắm”.


    Thấy bản thân thực sự không thể từ chối, sư phụ đành trả lời: “Vậy cung kính không bằng tuân mệnh. Nhưng lễ vật thì thảo dân không dám nhận, chỉ xin sau này nếu có chuyện gì mong được nương nương giúp đỡ”.


    Sư phụ đã lùi một bước, Bạch Phụng cũng đành nghe theo: “Được”.


    Sau đó sư phụ ở lại dặn dò các cung nhân hầu hạ hoàng hậu, phụ tránh đồ ăn thuốc uống cẩn thận, không được xảy ra sai sót. Còn tôi thì trở về Trường Xuân cung cùng tỷ tỷ. Trên đường trở về A Nghi có nói với tôi: “Hoàng hậu thích muội lắm đấy. Mới gặp mà đã xưng ‘ta’ rồi. Tỷ ấy chỉ không xưng ‘bổn cung’ với những người thân với tỷ ấy thôi”.


    Tôi vui vẻ trả lời: “Vậy thì tốt quá. Muội cũng rất thích hoàng hậu”.


    Dường như A Nghi còn muốn nói gì đó, nhưng còn chưa kịp mở miệng thì chúng tôi đã chạm trán vị quý phi còn lại của Hạ quốc, Diễm quý phi. Nếu chỉ là vô tình chạm mặt chào hỏi đôi câu rồi đi làm việc của riêng mình thì không nói làm gì, nhưng khổ nỗi Diễm quý phi lại nổi tiếng là người thích gây chuyện, đặc biệt là rất thích đối đầu với A Nghi, vậy nên hễ chạm mặt là lại phát sinh phiền phức. Nhưng dù vênh váo ngạo mạn thế nào thì đối phương cũng ngang hang với mình, nàng ta không ngốc đến nỗi trực tiếp xỉa xói A Nghi mà chĩa mũi nhọn sang người đi bên tỷ ấy là tôi: “Tiện nữ to gan, thấy bổn cung mà không hành lễ, vậy còn ra thể thống gì? Không lẽ vị quý phi tỷ tỷ của ngươi không dạy ngươi các quy định trong cung sao?”. Nói đến đây, đôi môi màu son của ả nhếch lên, trong mắt tràn ngập giễu cợt: “Hay là, ở trong cung lâu như vậy, ngay cả những quy định cơ bản nhất nàng ta cũng không thuộc?”.


    Tôi chưa kịp phản ứng, A Nghi đã lên tiếng trả lời: “A Tĩnh và sư phụ muội ấy là khách quý, hoàng thượng đã miễn cho họ khỏi phải tuân thủ các quy định trong cung. Còn tỷ, thân là một quý phi, việc xảy ra trong cung không nắm rõ, đã không niềm nở tiếp đón khách quý thì thôi, lại còn xét nét bắt bẻ từng li từng tí, vậy còn ra thể thống gì?”.


    Diễm quý phi càng cười tươi hơn hoa: “Vậy thì sao ngươi lại ăn vận như thế này để tiếp đón khách quý? Y phục có vẻ đơn giản, không phấn son lại không trang sức, nhỡ đâu khách quý tưởng hoàng thượng bạc đãi ngươi, tưởng Hạ quốc nghèo khó, không đủ sức lo cho một quý phi như ngươi thì sao giờ?”.


    Hôm nay A Nghi phục sức đơn giản, nhẹ nhàng thanh nhã, so với Diễm quý phi rực rỡ mị hoặc trang điểm tinh tế, mặc áo gấm đỏ, tay đeo vòng ngọc, trâm vàng đầy đầu thì đúng là một trời một vực, nhưng cũng không thể nói là lép vế.


    A Nghi nào phải loại người dễ dàng chịu thiệt, mà là người sẵn sàng ăn miếng trả miếng, nói lời đáp lời: “Sở thích của ta thì có liên quan gì đến hoàng thượng chứ? Hơn nữa lúc này đất nước đang khó khăn, dân chúng đói khổ, chúng ta cũng phải tiết kiệm phần nào để chia sẻ gánh nặng cùng hoàng thượng. Và…”. Ngừng một lát, bên môi A Nghi lại cong lên: “… tỷ mang nhiều vàng ngọc trên người như vậy không thấy nặng sao, không sợ ngã chẳng dậy nổi sao?”.


    Diễm quý phi nghe xong vậy thì nghiến răng nghiến lợi nói: “Ngươi!”. Dường như chợt nhớ đến chuyện gì, cặp mày thanh mảnh đang nhíu lại lập tức giãn ra, nụ cười lại hiện rõ trên môi: “Giờ ta còn phải đến thăm hoàng hậu, không có thời gian đôi co với ngươi. À phải rồi, ta có sai người làm món gà hầm nhân sâm cho ngươi, nhớ phải ăn hết đấy”.


    Đợi bóng dáng nàng khuất khỏi tầm mắt, A Nghi mới giễu cợt nói: “Không ngày nào là yên ổn với nàng ta, đúng là loại người chỉ sợ thiên hạ không loạn”.


    Tôi bật cười trả lời: “Nhờ vậy mà nơi đây mới náo nhiệt, những ngày tháng trong cung của tỷ cũng bớt nhàm chán”.


    Tỷ ấy cũng gật đầu tán thành: “Nhờ hằng ngày đấu khẩu với nàng ta mà miệng lưỡi ta sắc bén hơn nhiều”.


    Trở về Trường Xuân cung, tỳ nữ dâng lên món gà hầm nhân sâm mà Diễm quý phi sai người mang tới. Nghe đến chữ “gà”, mắt tôi lại rực sáng, định cầm thìa lên chuẩn bị thưởng thức thì đã bị A Nghi ngăn lại: “Nhâm Giai, thử độc”.


    Tỳ nữ tên Nhâm Giai lập tức cầm kim bạc thử độc. Thấy nó không có bất kỳ thay đổi gì, tôi lập tức nói: “Thấy chưa? Món này không có độc đâu. Dù Diễm quý phi có ghét tỷ thế nào thì cũng không ngốc đến nỗi công khai hạ độc đâu. Nếu tỷ không ăn thì để muội”.


    A Nghi vẫn kiên quyết không nghe, Nhâm Giai tiếp tục thử độc bằng phương pháp khác, còn tôi thì chán nản ngồi chờ. Sự thật chứng minh sự nghi ngờ của A Nghi là đúng.


    A Nghi sai Nhâm Giai đổ món gà hầm ấy đi rồi quay sang tôi nói: “Nhìn rõ chưa? Đồ ăn trong cung phải thử đến khi nguội mới có thể tạm thời yên tâm dùng. Hoàng hậu từng bị sảy thai cũng vì sơ suất của cung nữ không thử độc kỹ đồ ăn đấy”. Ngừng một lát, tỷ ấy lại bổ sung: “Hơn nữa, ả còn gì mà không dám làm chứ? Trước đây ả còn móc mắt một quý nhân vì hoàng thượng từng khen đôi mắt của quý nhân ấy đẹp kìa”.


    Tôi nghe vậy mà lạnh cả sống lưng: “Sau đó thì sao? Hoàng thượng cứ để mặc Diễm quý phi làm càn vậy à?”.


    A Nghi lạnh lùng trả lời: “Trong cung vĩnh viễn không có công bằng”.


    Tôi kinh ngạc hỏi lại: “Còn hoàng hậu thì sao? Hoàng hậu sẽ không thấy chuyện bất bình mà ngoảnh mặt làm ngơ chứ?”.


    Tỷ ấy lắc đầu trả lời: “Ý hoàng thượng đã quyết, hoàng hậu dẫu có can thiệp cũng thay đổi được gì? Chính vì vậy mà ta mới chán ghét nơi này”.


    Nhưng dẫu có chán ghét thì cũng làm được gì? Tỷ ấy đã là quý phi, sao có thể rời khỏi cung được.


    Những ngày sau đó A Nghi tiếp tục thay hoàng hậu quản lý hậu cung, tôi cùng sư phụ để ý đến đồ ăn thức uống của Bạch Phụng. Khoảng thời gian đó tạm có thể coi là yên ổn nếu không tính đến chuyện Diễm quý phi hay gây sự và Yến Nhạc công chúa thích bám lấy sư phụ. Có lần tôi không nhịn được mà hỏi A Nghi: “Nam nhân mặc áo đen hay đi theo Yến Nhạc công chúa là ai?”.


    “Tần Lãng, hộ vệ của Trọng Cơ. Cả hai thân với nhau từ nhỏ”.


    “Thì ra là thanh mai trúc mã. Vậy sao hắn không trông coi công chúa nhà mình mà để nàng ta suốt ngày chạy theo sư phụ người khác thế kia?”


    Nghe xong câu này, A Nghi quay sang nhìn tôi chăm chú, một lát sau mới đưa ra câu hỏi: “A Tĩnh này, có phải muội có tình cảm với sư phụ của mình không? Ý ta là tình cảm nam nữ ấy”.


    Mặt tôi lập tức nóng bừng, miệng muốn lên tiếng phản bác, nhưng trước cái nhìn chăm chú của A Nghi, tôi đành thành thật gật đầu.


    Tỷ ấy tiếp tục hỏi: “Muội đã nói cho y biết chưa?”.


    Tôi đáp lại bằng một nụ cười khổ: “Sao muội có thể đem chuyện này nói cho sư phụ được? Tình cảm này là trái với luân thường đạo lý, không được người đời chấp nhận. Quan trọng nhất là muội sợ người sẽ chán ghét muội, sẽ cảm thấy muội ghê tởm như bao người biết bí mật của muội trước đây”.


    Tỷ ấy thẳng thắn nói ra suy nghĩ của mình: “Chưa thử thì làm sao biết được. Nếu ta là muội ta nhất định sẽ thổ lộ với y”.


    “Muội cũng muốn, nhưng nghĩ đến kết quả xấu nhất thì lại không cò dũng khí thổ lộ.” Người ta khi yêu thường là vậy, nhất là những người đơn phương tương tư như tôi.




    Đơn thuốc sư phụ kê cho hoàng hậu quả là hữu hiệu, Bạch Phụng dần dần khỏe lại, ngày Trọng Hoa phải ra trận cũng tới gần. Hôm trước ngày tam đệ của mình xuất quân, Hạ vương mở tiệc chào đón hai sư đồ tôi, mừng hoàng hậu khỏe lại và cũng là chúc cho Trọng Hoa chiến thắng trở về. Lúc mới nghe tin, tôi có nói với A Nghi: “Tam vương gia sớm muộn cũng phải trở về, đến lúc đó sẽ không thể vì hoãn hôn sự với Thẩm nhị tiểu thư, Hạ vương dù kiên nhẫn khoan dung đến mức nào cũng sẽ không dễ dàng bỏ qua cho tỷ như trước nữa”.


    Điều này dù tôi không nói ra A Nghi cũng biết nhưng không thay đổi được gì.


    Thấy tỷ ấy buồn phiền, tôi đành nói lảng sang chuyện khác: “Không nói mấy chuyện không vui nữa. Hôm nay hoàng cung có tiệc, tỷ nhân là quý phi phải trang điểm cho đàng hoàng mới được”.


    A Nghi nghiêng đầu hỏi lại: “Trang điểm để cho ai xem?”.


    Tôi lập tức trả lời: “Cho bản thân tỷ, mọi người và đặc biệt là tam vương gia”.


    Trước sự thuyết phục của tôi, cuối cùng A Nghi cũng đồng ý để Nhâm Giai giúp mình trang điểm. Tỷ ấy vốn đã đẹp nên dù chỉ trang điểm nhẹ cũng trở nên nổi bật, khiến người ta không thể nào rời mắt. Nhâm Giai giúp tỷ ấy chải tóc, tôi cài lên tóc tỷ ấy đóa hoa bằng ngọc cùng chiếc trâm loan Bạch Phụng ban tặng,vui vẻ nói: “Nữ nhân chúng ta để tóc dài chính là để cài những thứ trang sức đẹp đẽ lấp lánh này đây”.


    Da A Nghi vốn trắng, đeo vòng bạch ngọc nhìn không nổi. Tôi bèn tìm trong hộp trang sức một chiếc vòng màu lam đeo vào cổ tay tỷ ấy, còn giúp tỷ ấy chọn một chiếc váy trắng muốt viền tím. Mình trang điểm xong, A Nghi lại nói: “Giờ đến lượt muội”.


    Ngày thường đều là sư phụ chải tóc cho tôi, người là nam nhân nên chỉ chải một kiểu đơn giản dễ nhìn. Nhưng hôm nay thì khác. A Nghi giúp tôi tô son điểm phấn, Nhâm Giai chả cho tôi một kiểu tóc phức tạp hơn và cũng nữ tính, đẹp hơn rất nhiều, còn điểm tô cho mái tóc của tôi bằng những thứ trang sức lấp lánh, tôi cũng không quên cài chiếc trâm ngọc sư phụ tặng mà tôi coi như báu vật. A Nghi chọn cho tôi một chiếc váy màu xanh ngọc, những đóa hoa trắng muốt cùng những cành lá vấn vít thêm nơi vạt áo sinh động như thật. Trang điểm xong, nhìn bóng mình trong gương, tôi ngỡ ngàng như đang đối diện với một người vừa quen thuộc vừa xa lạ. Còn A Nghi thì tấm tắc khen: “Đẹp thế này thì chắc chắn sư phụ muội sẽ bị mê mẩn, vừa nhìn đã yêu”.


    Nếu được như lời tỷ ấy nói, vậy ngày nào tôi cũng sẽ trang điểm thật đẹp cho sư phụ ngắm nhìn.


    Yến tiệc hôm nay đúng là vô cùng phô trương, xa xỉ. Đồ ăn đều là sơn hào hải vị, vật dụng đều là bát vàng đũa bạc chén ngọc. Người dự tiệc cũng đủ mọi địa vị, tầng lớp, từ vương tôn quý tộc cho đến phi tần trong cung và các triều thần, nhưng tuyệt nhiên tôi không thấy nữ nhân nào dùng lụa trắng băng quanh mắt, xem ra vị quý nhân từng bị Diễm quý phi móc mắt không có mặt ở đây. Nhưng tất cả những điều đó không làm tôi quan tâm bằng vẻ mặt của sư phụ khi thấy tôi xuất hiện. Người ngạc nhiên trong chốc lát, chăm chú nhìn tôi hồi lâu, một lúc sau mới mở miệng nói: “A Tĩnh của ta đã lớn, đã là một cô gái xinh đẹp”.


    Tôi vui vẻ hỏi người: “Đẹp đến nhường nào?”.


    Người đáp: “Đẹp đến mức có thể đem đến tai họa cho người khác, làm điên đảo chúng sinh”.


    Tôi đáp lại lời nói đùa của người bằng một câu nói thật lòng: “Vậy thì sư phụ hãy giữ con ở bên, đừng cho con đi đâu hết để tránh đem lại tai họa cho người khác”.


    Sư phụ khựng lại lúc trước lời nói đó của tôi, mất tự nhiên quay đầu sang hướng khác, chúa chát trả lời: “Chỉ sợ đến lúc biết yêu, con sẽ không nghĩ như vậy nữa”.


    Tôi thầm đáp lại lời người nói trong lòng: “Chính vì đã yêu nên con mới càng muốn ở bên người”.


    Trong lúc yến tiệc diễn ra, hoàng thượng cùng hoàng hậu có mấy lời ngợi khen sư phụ, sư phụ cũng khách khí trả lời, còn lại phần lớn thời gian đều là tôi kể chuyện của A Nghi cho sư phụ nghe. Trước khi yến tiệc kết thúc, A Nghi đột nhiên đề nghị: “Thời gian gần đây Hạ cung nhiều chuyện vui như vậy, Lạc Nhạn cũng muốn múa một khúc để chúc mừng. Lạc Nhạn chỉ có chút tài mọn, xin mọi người đừng chê”.


    Hạ vương vốn rất thích A Nghi múa, sau khi tiến cung tỷ ấy chưa một lần cho hắn thỏa nguyện nên trước lần chủ động đầu tiên này của tỷ ấy, đương nhiên hắn sẽ không chối từ. A Nghi nói muốn nhờ Trọng Hoa thổi sáo và Trầm Ngư gảy đàn thay các nhạc sư trong cung, Hạ vương cũng đồng ý. Dẫu thủ đoạn của hắn có khiến những người biết chuyện cảm thấy ghê tởm thì tình cảm hắn dành cho A Nghi vẫn khiến người khác không khỏi ngưỡng mộ.


    Tiếng nhạc vang lên, cơ thể A Nghi bắt đầu chuyển động, thời gian cũng dường như dừng lại lúc ấy. Có thể vì lâu rồi không múa nên động tác đầu tiên của tỷ ấy hơi gượng gạo, nhưng ngay sau đó tỷ ấy liền lấy lại được cảm giác khi múa ngày nào. Bước chân dần trở nên nhịp nhàng, động tác cũng theo đó mà mềm mại, uyển chuyển hơn, phong thái tự tin càng lúc càng hiện rõ trong mắt, trên môi. Tôi biết tỷ ấy thực sự rất thích ca vũ, vậy nên khi múa tỷ ấy mới không còn vẻ lạnh lùng chán nản thường ngày, mới có thể thả lỏng thoải mái, cười tươi vui vẻ như vậy. Tiếng đàn cùng tiếng sáo như đan vào nhau, hóa thành dải lụa mỏng vô hình uốn lượn theo từng động tác của A Nghi. Tiếng sáo hòa cùng tiếng đàn réo rắt, bay bổng, vút lên tận chín tầng mây, khiến điệu múa càng say đắm lòng người còn người múa lại như tiên nữa chốn bồng lai. Nếu ví A Nghi của ngày thường với hoa lê thì lúc này tỷ ấy chính là đóa hoa quỳnh chỉ nở khi màn đêm buông xuống và lụi tàn trước ánh bình minh, dẫu thời gian khoe sắc ngắn ngủi nhưng đủ để người khác cả đời không quên được. Tận mắt nhìn A Nghi múa, tôi mới cảm thấy danh hiệu đệ nhất vũ kỹ của tỷ ấy không phải hư danh. Thảo nào mà Hạ đế lại bị hút hồn ngay từ cái nhìn đầu tiên, không từ thủ đoạn để có được tỷ ấy.


    Tiếng nhạc dừng lại, A Nghi cũng múa xong điệu múa cuối cùng. Lúc bấy giờ thời gian mới tiếp tục trôi, tất cả chúng tôi mới bừng tỉnh. Người múa và người thổi sáo đưa mắt nhìn nhau, môi cùng nở một nụ cười ngọt ngào mà chua xót, dường như không quan tâm đến ánh mắt của bao người đứng ngoài. Đến lúc này tôi mới bừng tỉnh.


    Thì ra từ khi gặp Trọng Hoa, trong mắt tỷ ấy chỉ có chàng và chỉ múa vì chàng.


    Thì ra điệu múa lần này của tỷ ấy không phải chúc mừng mà là biệt ly.


    Đến cả một kẻ không giỏi quan sát sức mặt người khác như tôi còn nhận ra điều này thì không có lý nào mà một người từng trải như Hạ vương lại không nhận ra. Sắc mặt Trọng Nghiên sa sầm, chút vui vẻ lộ ra dưới đáy mắt vì A Nghi chủ động múa đã biến mất, thay vào đó là sự phẫn nộ khi nhận ra sự thật. Đúng lúc đó, Bạch Phụng ngồi bên bỗng vươn tay ra nắm lấy tay hắn, môi gợn lên nụ cười: “Đã lâu rồi phu thê chúng ta không hàn huyên tâm sự. Bệ hạ có thể dành một đêm bên thần thiếp, cùng ôn lại những kỷ niệm xưa không?”.


    Không biết là vì bệnh tình khởi sắc hay do phấn son che lấp mà nàng đã không còn tiều tụy như lần đầu tiên tôi nhìn thấy nàng, mà lại càng sinh đẹp rạng rỡ, chỉ một nụ cười hay ánh mắt cũng có thể làm điên đảo chúng sinh. Những lời thủ thỉ thâm tình của người vợ vẫn luôn đồng lòng sát cánh với mình làm Trọng Nghiên nguôi cơn giận, khẽ thở dài: “Chỉ một lần cuối cùng”, rồi theo Bạch Phụng trở về Trường Nhạc cung.


    Yến tiệc cũng đến đây là kết thúc. Chớp mắt cái đã không thấy bóng dáng Trọng Hoa và A Nghi đâu, tôi đang định tìm tỷ ấy trong đám đông để trở về Trường Xuân cung nghỉ ngơi thì đã bị một người kéo lại. Tôi quay đầu, ngạc nhiên nhìn cô gái áo lam viền bạc đính châu trước mắt: “Thẩm nhị tiểu thư?”.


    Cô gái áo lam lập tức sửa lại: “Đừng xưng hô xa lạ thế, gọi tôi là Trầm Ngư được rồi. Kể ra thì chúng ta đều là muội muội kết nghĩa của Lạc Nhạn mà. À phải rồi, cô đang đi tìm tỷ ấy đúng không?”.


    Thấy tôi gật đầu, Trầm Ngư lại nói tiếp: “Tỷ ấy đi cùng tam vương gia rồi. Đừng quấy rầy hai người họ, rất có thể đêm nay là đêm cuối cùng họ được ở bên nhau”.


    Do dự hồi lâu, cuối cùng tôi vẫn nói ra điều mà mình vẫn luôn thắc mắc: “Sao cô có thể bình thản như vậy, chẳng lẽ cô không có chút tình cảm gì với tam vương gia sao?”.


    Trầm Ngư khựng lại một lúc rồi đáp lại bằng một nụ cười khổ: “Sao có thể không có tình cảm gì chứ, tôi thích huynh ấy từ lâu lắm rồi, từ trước khi hai người họ gặp nhau nữa kia. Đáng tiếc, tình yêu nào đếm xỉa kẻ trước người sau, cũng chẳng màng tới thân phận địa vị. Hai người họ yêu nhau như vậy, tôi chỉ có thể tự động rút lui”. Ngừng một lát, nàng lại nói: “Có thể cả đêm nay tỷ ấy sẽ không về, tôi sẽ ở lại Trường Xuân cung. Nếu cô muốn, tôi sẽ kể chuyện giữa ba chúng tôi cho cô nghe”.


    Vậy là, lại thêm một đêm mất ngủ, thức nghe chuyện xưa.


    _________________________

    <<< (Chương 9) - (Chương 11) >>>

    Kẹo mút Chương cuối của tuần này đây :v.
     
    Chỉnh sửa cuối: 19/4/17
    Umio thích bài này.
  10. Mạt Họa

    Mạt Họa Gà cận Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    373
    Được thích:
    964
    Đã thích:
    664
    GSP:
    Ap
    Đã chỉnh sửa và bổ sung chương 2 phần Nhất thế. Viết thêm một đoạn khá dài.
     
    Đậu Phụ thích bài này.
  11. Umio

    Umio Gà tích cực Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    197
    Được thích:
    365
    Đã thích:
    570
    GSP:
    Ap
    Mạt Họa đã bóc tem chương mới :v . Nói chung không có lỗi gì để soi hết :v . Mấy chương này nói nhiều về A Nghi với Trọng Hoa, sốt ruột với cặp chính quá, kiếp nào cũng thích anh nam chính hết á. Anh Hạo Thiên có hơi thâm hiểm với bất công với chị Ngọc Thất nhưng ta vẫn mê anh ý như điếu đổ mê zai quá mà =))=)). Còn Mạc Trọng thì khỏi nói rồi, ta thích sư đồ luyến vô cùng luôn, truyện ngắn ta đang viết cũng là sư đồ luyến :)).
     
    Mắt-Bão thích bài này.
  12. Mạt Họa

    Mạt Họa Gà cận Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    373
    Được thích:
    964
    Đã thích:
    664
    GSP:
    Ap
    Nói trước với nàng ta là một người cuồng nhân vật phụ, kể cả là nhân vật phụ trong truyện của người khác hay trong truyện của chính mình, đến mức có mấy đứa bạn của ta còn thấy ta bất công và thương cho cặp chính. Chắc nhìn ngoại truyện 3 của Ngọc Thất chiếm gần nửa kiếp 1 là nàng cũng hiểu nhỉ :v.

    Hai nhân vật phụ ta thích nhất trong truyện này là Ngọc Thất và một ông vua sẽ xuất hiện sau với tư cách là cha của một nhân vật phụ [aka phụ của phụ]. Còn đôi chính á, sau khi hai đôi phụ đến với nhau thì hai người mới tỏ lòng :v. Ta cũng thích sư đồ luyến lắm, đọc mà thú tính... à nhầm thấy thú vị vô cùng =)).
     
    Đậu PhụUmio thích bài này.
  13. Umio

    Umio Gà tích cực Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    197
    Được thích:
    365
    Đã thích:
    570
    GSP:
    Ap
    À phần nàng viết thêm có mấy lỗi đánh máy, ta onl trên điện thoại không tiện quote.
     
  14. Mạt Họa

    Mạt Họa Gà cận Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    373
    Được thích:
    964
    Đã thích:
    664
    GSP:
    Ap
    Ok để ta kiểm tra xem. Nhân tiện đọc lại thành quả của mình :3.
     
    Đậu Phụ thích bài này.
  15. Umio

    Umio Gà tích cực Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    197
    Được thích:
    365
    Đã thích:
    570
    GSP:
    Ap
    Kiếp một thực lòng ta ủng hộ nam nữ chính, thích Diệp Thất hơn là Ngọc Thất, đọc ngoại truyện về Ngọc Thất thấy dài bá cháy là hơi hơi không thích rồi =)). Cảm giác bả còn chiếm nhiều dung lượng hơn nữ chính vậy, khổ thân Diệp Thất nhà ta mù mù mờ mờ chuyện gì cũng không biết cuteonion33.
     
  16. Mạt Họa

    Mạt Họa Gà cận Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    373
    Được thích:
    964
    Đã thích:
    664
    GSP:
    Ap
    Ban đầu ta chỉ định viết ngoại truyện của Ngọc Thất dài như của Hạo Thiên và Nghi Hàm, ai ngờ càng viết càng dài, càng viết lại đâm ra yêu Ngọc Thất mới chết chứ 3onion15. Kết quả là riêng phần của Ngọc Thất đã chiếm gần nửa kiếp 1 rồi, coi như kể lại kiếp 1 với một góc nhìn khác với bao bí ẩn chưa được bật mí ở chính văn.

    Vì là người yêu nhân vật phụ nên cuối truyện ai cũng hạnh phúc, có đôi có cặp cả, à trừ một số nhân vật bên lề khác.
     
    Đậu PhụUmio thích bài này.
  17. Mạt Họa

    Mạt Họa Gà cận Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    373
    Được thích:
    964
    Đã thích:
    664
    GSP:
    Ap
    hoa.jpg

    Chương 11. Buông tay


    Đúng như Trầm Ngư dự liệu, gần sáng A Nghi mới trở về. Vẻ mặt buồn rầu, cả người thoảng mùi rượu hoa lê. Tôi nhớ A Nghi từng nói. Lúc mới tiến cung tỷ ấy có chọn ba bình rượu hoa lệ tự ủ chôn dưới gốc một cây lê trong cung của mình, đợi khi nào có dịp quan trọng mới đào lên. Hôm chúng tôi gặp lại A Nghi đã đào một bình lên để chúc mừng, có lẽ đem qua tỷ ấy đem một trong hai bình còn lại đến chỗ Trọng Hoa làm quà chia tay. Trước lúc Trọng Hoa lên đường, vì thân phận đôi bên mà A Nghi không thể đích thân ra tiễn, chỉ đành đứng trên tường thành, dõi mắt nhìn theo cho đến khi bóng chàng khuất hẳn mà lòng nặng trĩu tâm sự.


    Chuyến đi lần này của Trọng Hoa kéo dài hơn nửa tháng. Trong nửa tháng ấy, tâm tình của A Nghi tuyệt không dễ chịu. Tuy tỷ ấy không nói ra nhưng tôi biết tỷ ấy vẫn luôn nghe ngóng tình hình ở biên cương, lo lắng Trọng Hoa sẽ gặp chuyện chẳng lành. Không ít lần tỷ ấy bừng tỉnh khỏi giấc mộng hằng đêm, hoảng sợ nói: “A Tĩnh! Ta mơ thấy biên cương xảy ra chuyện, mơ thấy chàng trúng tên độc mà chết!”.


    Tôi đành nói lời an ủi tỷ ấy như trước kia sư phụ từng làm với tôi: “Ngày nghĩ gì đêm mơ thế. Tỷ quá lo lắng nên mới mơ thấy ác mộng thôi”.


    Nhưng tỷ ấy vẫn run bần bật, khác hẳn A Nghi điêm tĩnh của ngày thường: “Nhưng giấc mộng ấy chân thật đến nỗi không giống như mơ”.


    Tôi kéo A Nghi nằm xuống giường, miệng an ủi tay vỗ về: “Ác mộng dù đáng sợ và chân thật thế nào thì vẫn chỉ là mộng thôi. Đừng lo lắng, cũng đừng nghĩ nhiều. Ngủ đi”.


    Những ngày kế tiếp,nỗi bất an trong lòng A Nghi càng lớn,tôi cũng lo lắng khôn nguôi.


    Lúc còn là một đứa trẻ, cặp mắt La Sát của tôi có thể nhìn thấu sinh tử của bất kỳ ai, nhưng khi lớn lên rồi thì không còn hiệu nghiệm như vậy nữa, năng lực báo tử cũng lúc linh lúc không. Sau đêm A Nghi gặp ác mộng, tôi bắt đầu nhìn thấy tử khí lờn vờn quanh tỷ ấy, ban đầu thì chỉ như một tấm sa mỏng nhạt màu rồi dần dần đậm sắc hơn. Tỷ ấy càng lo lắng cho Trọng Hoa, tử khí quanh người càng đậm, nỗi bất an trong lòng tôi ngày càng lớn. Tôi biết A Nghi sắp gặp chuyện chẳng lành nhưng lại không biết để mà tránh, biết mà không dám kể cho tỷ ấy vì sợ tỷ ấy sẽ càng thêm suy sụp, chỉ có thể đem chuyện này nói với sư phụ, mong người nghĩ cách giúp tôi.


    Điều A Nghi lo lắng cuối cùng đã trở thành sự thật.


    Lúc đi Trọng Hoa là một người bằng xương bằng thịt, khi về lại chỉ còn một nắm tro cốt.


    Buổi sáng ngày đại quân trở về, nghe được tin dữ, A Nghi lập tức chạy thẳng đến đại điện của Hạ vương, xông vào đúng lúc Cẩn tướng quân đang ôm bình đựng tro cốt của Trọng Hoa, bẩm báo với Hạ vương về cái chết của chàng. Tỷ ấy cứ thế xông vào khi chưa được sự cho phép của hoàng thượng, đột ngột xuất hiện mà không thèm hành lễ, chỉ dáo dác nhìn quanh như muốn tìm kiếm hình bóng của ai kia.


    Rồi A Nghi thấy cái bình trên tay đại tướng quân.


    Tỷ ấy nhìn cái bình với vẻ ngơ ngác hiếm thấy, gọi tên người mình vẫn hằng mong nhớ như để xác định: “Trọng Hoa?”.


    Sắc mặt Hạ vương vốn không tốt, thấy A Nghi vội vã xông vào thì càng thêm sa sầm, nhưng ngài miệng vẫn nói: “Ái phi đến đúng lúc lắm, Cẩn khanh đang bẩm báo với trẫm về chuyện của Hoa đệ. Nói tiếp đi”. Câu trước là nói với A Nghi, câu sau lại là mệnh lệnh dành cho Cẩn tướng quân.


    Cẩn tướng quân tuân lệnh Hạ vương mà nói tiếp: “Vương gia vì trúng tên bôi kịch độc mà qua đời, vì cứ để không xác ngài ấy sẽ rữa nát nên chúng thần đành phải hỏa thiêu”.


    Nói đến đây, Cẩn tướng quân kinh ngạc hô lên, bởi A Nghi vừa rồi còn thất thần giờ lại bất ngờ vươn tay cướp lấy bình đựng tro cốt từ tay tướng quân, ôm cái bình vào lòng như ôm một người bằng xương bằng thịt, mắt vẫn loang loáng ướt nhưng môi vẫn nở nụ cười dịu dàng, không ngừng gọi tên Trọng Hoa như để đánh thức chàng khỏi giấc ngủ ngàn thu.


    Trọng Nghiên nén giận nói: “Nghe rõ chưa? Người đã chết rồi, tỏ vẻ đau khổ thế cũng có ích gì? Mau đưa bình đựng tro cốt của Hoa đệ cho trẫm”.


    A Nghi ngẩng phắt đầu, nước mắt lăn dài trên má, nụ cười dịu dàng khi áp mặt vào bình sứ đã biến mất từ lúc nào không hay: “Không đau khổ? Đương nhiên là bệ hạ cảm thấy không đau khổ rồi, bởi bệ hạ luôn mong chàng xảy ra chuyện mà, không phải sao?”.


    Lời vừa rồi của tỷ ấy đã hoàn toàn chọc giận Trọng Nghiên: “Nàng! Nàng dám nói trẫm như vậy chỉ vì một người đã chết, có biết nhưng lời vừa rồi của nàng là khi quân phạm thượng, đủ để nàng chết trăm lần rồi không? Có phải ngày thường trẫm quá dung túng nàng nên nàng mới dám bất kính với trẫm?”.


    A Nghi không chút run sợ đáp lời: “Vậy thì xin bệ hạ nhân từ thành toàn cho thần thiếp, hãy để thần thiếp chết theo Trọng Hoa. Nếu vậy thần thiếp sẽ vô cùng cảm kích bệ hạ”.


    Dù tức giận thế nào thì Trọng Nghiên cũng không nỡ hạ lệnh trách phạt A Nghi, chỉ đành để Cẩn tướng quân đánh ngất tỷ ấy rồi đưa người về Trường Xuân cung. Không biết có phải vì Cẩn tướng quân ra tay hơi mạnh không mà tỷ ấy mê man hơn một ngày không tỉnh, không biết tỷ ấy mơ thấy gì mà gương mặt đầm đìa nước mắt, thấm ướt mấy chiếc khăn tay.


    Sáng hôm sau, A Nghi vừa mở mắt ra đã hỏi tôi một câu: “Chàng đâu rồi?”.


    Tôi mất một lúc mới hiểu tỷ ấy đang nhắc đến Trọng Hoa, đúng hơn là cái bình đựng tro cốt kia, bèn trả lời: “Hoàng thượng đã hạ lệnh an táng rồi”.


    Cứ tưởng nghe vậy A Nghi sẽ rất kích động, nào ngờ tỷ ấy lại chỉ bình thản đáp: “Ừ”. Qua một lúc tỷ ấy lại hỏi: “Đây là hiện thực hay mộng ảo?”.


    Tôi nhanh chóng đáp: “Đương nhiên là hiện thực rồi”.


    A Nghi hỏi tiếp: “Đây là kiếp trước hay kiếp sau? Ta là Vân Nhược hay Yên Vũ?”.


    Nghe tỷ ấy hỏi vậy, tôi muốn cười nhưng không cười nổi: “Tỷ là Yên Vũ và cũng là A Nghi của muội”.


    A Nghi lên tiếng như thì thầm với chính mình: “Nếu là Vân Nhược, sao tóc còn chưa bạc trắng? Còn nếu là Yên Vũ thì sao chuyện này lại xảy ra, sao phải nếm trải cảm giác đó thêm lần nữa?”.


    Tôi không hiểu A Nghi đang nói gì nên cũng không biết phải trả lời như thế nào, trong phòng lập tức trở nên yên ắng, tiếng mưa vì vậy mà cũng trở nên rõ ràng hơn. A Nghi mắt vừa nhắm lại đã đột ngột mở ra, hỏi: “Ngoài trời đang mưa?”.


    Tôi khẽ “vâng” một tiếng trả lời.


    A Nghi lập tức bật dậy, xỏ chân vào giày, khoác vội áo choàng, vớ lấy cái ô rồi chạy ra ngoài, tôi cũng lập tức cầm ô theo sau. Tỷ ấy chạy một lúc lâu mới chịu dừng lại. Tôi nhìn thấy tấm bia mộ hiện ra trước mắt mới vỡ lẽ ra đây là nơi an nghỉ của Trọng Hoa.


    A Nghi giơ tay che mưa cho mộ chàng mà không để ý rằng mình đã ướt, tôi đành dùng ô cẩn thận che cho tỷ ấy. Nhưng trong mắt tỷ ấy bây giờ chỉ có người đang yên nghỉ trong mộ, lời thốt ra như hòa vào tiếng mưa: “Trông vậy thôi chứ chàng dễ cảm lạnh lắm, chỉ cần dính chút mưa là chàng có thể nằm liệt giường mấy ngày liền.Vậy nên ta phải che ô cho chàng, không để chàng dính một giọt mưa”.


    Nhưng Trọng Hoa đã chết, không dầm mưa cũng chẳng thể cảm lạnh, tỷ đâu cần che ô cho chàng. Chẳng lẽ vẻ mặt bình thản lúc vừa mới tỉnh dậy là giả, tỷ chưa chấp nhận được sự thật là chàng đã chết?


    Đúng lúc đó, tôi chợt nghe thấy tiếng thở dài khe khẽ gần như bị tiếng mưa rơi nhấn chìm.Tôi lập tức quay đầu nhưng chẳng thấy ai đứng đó, chỉ thấy một góc áo màu tím thoáng vụt qua trong màn mưa nhạt nhòa, không rõ là thực hay chỉ là ảo giác của tôi mà thôi.


    Mưa càng lúc càng nặng hạt nhưng dường như A Nghi chưa muốn trở về, muốn đứng đây cho đến khi hết mưa. Gương mặt tỷ ấy trong màn mưa nhạt nhòa vẫn vẻ bình thản, đôi mắt trống rỗng như không còn lưu luyến gì nữa khiến tôi đâm ra hoảng sợ, mặc cho chiếc ô rơi xuống nền đất ẩm ướt, mặc cho người mình dính mưa, tôi vòng tay ôm chặt tỷ ấy từ đằng sau như không muốn để vuột mất, rõ ràng không khóc nhưng cổ họng lại bật ra những tiếng nức nở nghẹn ngào: “A Nghi, đừng mà! Đừng bỏ lại muội!”.


    Thân thể A Nghi đột ngột cứng đờ.


    Tôi ôm chặt tỷ ấy, giọng nghẹn ngào như tan biến trong trời mưa trắng xóa: “Dưỡng mẫu không còn, giờ tỷ cũng định bỏ muội ở lại sao? Dù Trọng Hoa đã chết nhưng tỷ vẫn còn có muội, vậy nên đừng nghĩ đến cái chết”.


    Tỷ ấy quay người nhìn tôi,có vẻ bình tĩnh trở lại: “Được. Vì muội, ta sẽ không tìm đến cái chết”.


    Tôi nhặt chiếc ô rơi dưới đất lên, lòng bất an nhưng môi vẫn mỉm cười: “Vậy chúng ta mau trở về cung thôi, cứ dầm mưa như thế này thì sẽ cảm lạnh mất”.


    Tỷ ấy nắm lấy tay tôi, mỉm cười đồng ý. Trở về cung, tôi giúp A Nghi tắm rửa thay y phục, uống bát canh gừng rồi đưa tỷ ấy lên giường nghỉ ngơi. Khoảng thời gian này tỷ ấy thường mệt mỏi, trong canh gừng có bỏ thêm một số vị thuốc có công dụng an thần nên tỷ ấy rất nhanh chóng chìm vào giấc ngủ. Chẳng biết Trọng Nghiên đến từ lúc nào mà khi tôi đắp chăn cho tỷ ấy xong, vừa quay đầu lại thì đã thấy hắn đứng sừng sững ở đó. Tôi định quỳ xuống hành lễ thì hắn đã khoát tay tỏ ý không cần, chỉ hỏi: “Nàng vừa mới ngủ à?”.


    Tôi “vâng” một tiếng trả lời.


    Hắn bước tới bên giường, cúi người sửa lại chăn, vén mái tóc lòa xòa trước trán tỷ ấy sang hai bên cho đỡ vướng vào mắt. Ánh mắt lẫn động tác của hắn lúc này đều rất dịu dàng, khiến trong đầu tôi chợt nảy ra ý nghĩ: Dẫu thủ đoạn của hắn khiến những người biết chuyện cảm thấy chán ghét thì thì tình cảm của hắn dành cho A Nghi vẫn khiến người khác cảm thấy không khỏi ngưỡng mộ.


    Trọng Nghiên đột nhiên thở dài thật khẽ, nói thật nhỏ như không muốn đánh thức người trên giường: “Trẫm đâu muốn chuyện thành ra như vậy. Dù sao Trọng Hoa cũng là đệ đệ cùng chung nửa dòng máu với trẫm, sao trẫm lại mong nó gặp chuyện chẳng lành được?”.


    Đương nhiên Hạ vương không muốn Trọng Hoa gặp chuyện rồi. Khoan nói đến giữa họ có tình thân thì chàng còn là cánh tay phải của Trọng Nghiên, hơn nữa dù có trở về thì chàng cũng sẽ thành thân với Trầm Ngư, không còn quan hệ gì với A Nghi, cũng chẳng thể giành lại tỷ ấy từ tay hoàng huynh của mình.


    Tôi do dự hồi lâu, cuối cùng vẫn lên tiếng: “Bệ hạ có thể trả lời một câu hỏi của tiểu nữ không?”.


    Hắn lập tức đáp: “Được”.


    Có sự đồng ý của hắn, tôi liền thẳng thắn nói ra thắc mắc của mình: “Tại sao bệ hạ lại nhìn trúng tỷ tỷ của tiểu nữ?”.


    “Lần đầu tiên trẫm nhìn thấy Lạc Lạc đã có cảm giác nàng ấy chính là người trẫm vuột mất ở kiếp trước, tự nhủ với bản thân rằng nhất định phải có được người này.”


    “Kể cả khi đó là người mà đệ đệ của bệ hạ yêu?”


    Trọng Nghiên khựng lại một lúc rồi đáp: “... Phải. Trẫm đã không từ thủ đoạn để có được thiên hạ này, vậy thì cũng có thể giành được nàng ấy bằng mọi giá”.


    Tôi lại không cho rằng việc làm của hắn là đúng: “Nhưng trên thế gian có những thứ không thể cưỡng cầu”. Và tình cảm là một trong số đó.


    Hắn lại chỉ mỉm cười lờ đi: “Đến lúc trẫm phải đi rồi. Nếu để nàng ấy tỉnh dậy rồi thấy trẫm thì cả hai đều không vui. Vậy nên cũng đừng nói với nàng ấy là trẫm đã tới”.


    Tôi khẽ “vâng” một tiếng trả lời, nhìn chiếc áo choàng màu tím trên người Trọng Nghiên, tôi đột nhiên nhớ đến góc áo màu tím mà tôi nhìn thấy trong mưa, vội nói: “Tiểu nữ còn một chuyện nữa muốn hỏi bệ hạ”.


    Trọng Nghiên nghe vậy thì lập tức mỉm cười: “Vừa rồi muội chỉ xin trẫm trả lời một câu hỏi của muội, nhưng giờ đã là câu thứ ba rồi”. Thấy tôi lúng túng, hắn bèn gật đầu chấp thuận: “Được rồi, muội hỏi đi”.


    “Trước khi đến đây, bệ hạ có ghé qua thăm mộ của tam vương gia không?”


    “Không. Sao vậy?”


    Một ý nghĩ thoáng qua trong tâm trí tôi, nhưng bề ngoài vẫn tỏ ra bình thường: “Không có gì đâu. Chắc là tiểu nữ nhìn nhầm”.


    May mà hắn cũng không định truy cứu: “Được rồi. Trẫm đi đây. Nhớ thay trẫm chăm sóc tỷ tỷ của muội, nhưng cũng đừng quên chăm sóc chính mình”.


    Không ngờ hắn lại chu đáo đến vậy. Thì ra hắn cũng không hoàn toàn xấu xa như tôi vẫn nghĩ.




    Trọng Nghiên vừa rời đi không lâu, sư phụ đã tới. Sư phụ cầm cốc sữa còn ấm đưa cho tôi, nhẹ giọng trách mắng: “Ta nghe Nhâm Giai nói hai tỷ muội các con vừa dầm mưa trở về. Đúng là quá tùy hứng, nhỡ con dầm mưa mà cảm lạnh thì sao?”.


    Tôi cầm cốc sữa nhấp một ngụm, hơi ấm truyền vào tận tim: “Thấy tỷ ấy chạy ra ngoài mưa gió, sao con có thể ngồi yên cho được? Hơn nữa sức khỏe con tốt lắm, không dễ dàng vì một lúc dầm mưa mà cảm lạnh đâu”.


    Biết khó lòng mà khuyên được tôi, sư phụ đành thở dài nói sang chuyện khác: “Hạ vương vừa đến đây?”.


    “Vâng. Nhưng chỉ ghé qua thăm A Nghi một lúc rồi đi luôn.” Sư phụ gật đầu tỏ ý đã biết, giọng đột nhiên trở nên nghiêm túc hơn: “Dường như Hạ vương chưa thực sự tin tam vương gia đã chết, nhưng cho dù có hỏi ai trong quân doanh thì cũng nhận được câu trả lời như vị tướng quân kia vậy”.


    Đối với sự nghi ngờ của Trọng Nghiêm, tôi không lấy gì làm lạ: “Đừng nói là Hạ vương, đến con còn chưa tin mà. Người khác có thể không hay nhưng con biết Trọng Hoa là người phúc dày, sống lâu chứ không phải kẻ yểu mệnh muốn chết là chết ngay được. Có ai dám chắc tro cốt trong bình chính là của tam vương gia? Hơn nữa vừa rồi khi đến thăm mộ Trọng Hoa con có nhìn thấy một người, dù người đó trốn thoát rất nhanh nhưng con vẫn kịp nhìn thấy góc áo màu tím của hắn. Lúc Trọng Nghiên ghé qua cũng khoác một chiếc áo choàng màu tím nhưng khi con hỏi hắn có thăm mộ Trọng Hoa không thì hắn trả lời là không”.


    Sư phụ gật đầu tiếp lời: “Nếu là Hạ vương thì hắn việc gì phải nói dối con chứ? Nhưng nếu không phải hắn thì là ai? Là ai đến đấy khi trời mưa thế này, hơn nữa còn không muốn con nhìn thấy, trừ phi người đó không thể lộ diện”.


    Sư đồ chúng tôi cùng nghĩ đến một người, nhưng cả hai đều chưa chắc chắn, vậy nên: “Nhưng bây giờ chưa phải lúc thích hợp để nói cho A Nghi chuyện này. Con không muốn tỷ ấy hy vọng rồi lại thất vọng đâu”.


    “Ta cũng nghĩ vậy.” Sư phụ đưa mắt nhìn màn nước trắng xóa giăng kín đất trời ngoài cửa sổ, trên môi bỗng nở nụ cười dịu dàng như đang nhớ về hồi ức đẹp nào đó: “Trước kia khi con còn nhỏ, mỗi khi trời mưa con đều ngồi trong lòng ta nhâm nhi sữa ấm, cả hai đều làm biếng không muốn động đậy. Có còn nhớ không?”.


    Sao có thể không chứ? Đó là những hồi ức đẹp mà tôi luôn giấu kín trong tim để nó không bị thời gian xóa nhòa. Thế nhưng ngoài miệng vẫn nói cứng: “Đương nhiên là có. Trí nhớ con tốt lắm mà”. Nói đến đây giọng bỗng trở nên ngập ngừng: “Hồi nhỏ có thể làm, còn bây giờ thì sao? Bây giờ con có thể ngồi trong lòng sư phụ như lúc xưa không?”.


    Sư phụ ngẩn người trong chốc lát rồi mỉm cười trả lời: “Đương nhiên là được. A Tĩnh, lại đây”.


    Chỉ chờ có vậy, tôi lập tức cầm cốc sữa vẫn còn âm ấm ngồi vào lòng sư phụ. Tôi cố gắng tỏ ra bình thường để người ngồi đằng sau không nhận ra trái tim tôi đang đập loạn nhịp. Những ngày còn nhỏ tôi có thể vô tư ngồi trong lòng sư phụ, thoải mái tựa đầu vào lồng ngực của người, nhưng bây giờ mọi chuyện đã khác. Bây giờ chỉ cần sư phụ tựa đầu vào vai tôi, chỉ cần nghe hơi thở âm ấm phả ra bên tai là mặt tôi đã nóng bừng. Phải mất một lúc lâu tôi mới bình ổn được trái tim của mình, những lo lắng, buồn phiền trong thời gian gần đây cũng không cánh mà bay. Trong lòng sự phụ đúng là nơi bình yên nhất trên thế gian này. Dần dà, trong tiếng mưa rời đều đều, tôi đã thiếp đi lúc nào không hay…


    Lúc tỉnh dậy thì tôi đã ở trên giường còn A Nghi thì đã tỉnh từ lúc nào không biết. Nghe nói khi tỷ ấy tỉnh dậy thì tôi đã ngủ được một lúc rồi, sư phụ thấy tôi ngủ ngon nên không nỡ đánh thức, đành bế tôi lên giường rồi mới rời đi. Nói xong, dường như tỷ ấy nhớ đến chuyện gì đó, ngập ngừng hỏi: “Y… đối với muội tốt lắm sao?”.


    Tôi gật đầu tỏ ý đó là điều đương nhiên, không khỏi thắc mắc: “Sao tự nhiên tỷ lại hỏi vậy?”.


    A Nghi không trả lời câu hỏi của tôi mà trả lời bằng một câu hỏi khác: “Nếu đã vậy, sao cả hai đều trốn tránh vấn đề, giấu giếm đối phương?”.


    Lý trí hiểu được A Nghi đang nói gì, nhưng trái tim lại cố tình lảng tránh.




    Cơn mưa dai dẳng kéo dài thêm mấy ngày nữa rồi mới tạnh hẳn, tâm tình A Nghi cũng theo đó mà chuyển biến tốt hơn. Tỷ ấy không còn mơ thấy ác mộng, cũng không còn kích động khi nhìn thấy Trọng Nghiên như trước nữa, nhưng vẫn có những lúc tỷ ấy ngẩn người, nước mắt lăn dài trên má trong vô thức, nhất là những khi trời mưa nhỏ. Những lúc như vậy tôi rất lo lắng nhưng cũng chỉ có thể để tỷ ấy một mình, để thời gian xoa dịu nỗi đau, khép lại vết thương rỉ máu. Mấy ngày sau đó, khi chúng tôi nghĩ rằng mọi chuyện đã ổn, A Nghi đã nghĩ thông suốt thì đột nhiên tỷ ấy nói: “Ta muốn uống rượu”.


    Đôi khi uống rượu giải sầu cũng tốt, nhất là với người vừa mất đi ái nhân như A Nghi nên tôi không phản đối, còn định uống cùng để tỷ ấy đỡ cô đơn. A Nghi lại nói: “Ta muốn uống rượu hoa lê mà ta ủ”. Vì vậy, Nhâm Giai bèn đi đào bình rượu cuối cùng trôn dưới cây lê trong cung lên. Lúc trở về Nhâm Giai còn mang theo chiếc trâm ngọc mà tôi đánh rơi ở chỗ sư phụ hôm trước, nói là Mạc Trọng tiên sinh vừa ghé qua. Tôi nhận lại trâm từ tay Nhâm Giai, A Nghi lại hỏi: “Sao không mời tiên sinh vào cùng uống rượu?”.


    Nhâm Giai vừa rót vừa cung kính trả lời: “Nô tỳ cũng đã ngỏ lời mời, tiếc rằng tiên sinh còn phải đến Trường Nhạc cung nên đã từ chối”.


    Vì gần đây tâm trạng A Nghi đã tốt lên nên tôi cứ tưởng tỷ ấy đã thông suốt, vì có tôi uống rượu cùng nên tôi đã yên tâm nghĩ rằng tỷ ấy sẽ không bỏ độc vào rượu để tự sát. Nhưng tôi đã lầm. Vừa uống hết chén thứ hai, tỷ ấy đã gục xuống bàn, khóe miệng trào ra máu. Chuyện này xảy ra quá đột ngột khiến đầu óc tôi nhất thời trống rỗng. Cùng uống rượu trong một bình mà chỉ có A nghi gặp chuyện, không lẽ vấn đề nằm ở chén? Chẳng lẽ tỷ ấy thoa độc vào chén của mình để tự sát mà không liên lụy đến tôi? Chẳng lẽ vì Trọng Hoa không còn nên tỷ ấy không muốn sống tiếp? Không được! Tôi nhất định sẽ không để tỷ ấy chết, nhất là khi chuyện của người đó còn chưa được sáng tỏ. Một thoáng bất ngờ trôi qua, tôi lập tức ra lệnh: “Mau truyền thái y! Nhâm Giai, cho người đến bẩm báo với hoàng thượng và hoàng hậu!”. Nhớ đến sư phụ đang ở chỗ Bạch Phụng, tôi liền sửa lại: “Chỉ cần báo với hoàng thượng thôi, phía bên hoàng hậu ta sẽ tự lo liệu. Nhớ là đừng để tin này truyền ra ngoài”.


    Dặn dò xong xuôi, tôi lập tức chạy đến chỗ hoàng hậu. Nhưng vừa bước ra khỏi cửa Trường Xuân cung tôi đã bị một người ăn vận như cung nữ chặn lại, dâng lên một chiếc túi hương. Vừa nhìn thấy chiếc túi hương đó, tôi đã ngẩn người vì tôi cũng có một chiếc giống như vậy, chỉ khác là túi của tôi mang thêu hình hoa đào còn chiếc này lại là hoa lê. Chiếc túi này là của A Nghi làm tặng ai đó, còn mảnh giấy nhét trong túi hương chính là lời nhắn của người đó dành cho A Nghi. Trên mảnh giấy chỉ viết đúng hai chữ “Chờ ta” cùng một hình vẽ trông giống như hoa lê, như ấn ký trên trán ai đó nhưng cũng đủ để làm sáng tỏ nghi vấn trong lòng tôi.


    Thì ra chàng thật sự chưa chết.


    Thì ra chàng vẫn luôn dõi theo A Nghi. Người theo chúng tôi trong ngày mưa hôm đó chính là chàng. Vì lẽ gì đó mà chàng phải giả chết, buộc phải giấu giếm cả A Nghi nhưng vì không nỡ nhìn tỷ ấy đau lòng nên đành tiết lộ. Tiếc là việc làm này của chàng có lẽ đã muộn.


    Chàng vẫn còn sống thì A Nghi càng không thể chết được. Giữ lấy mảnh giấy trả lại túi hương, tôi nhờ người trước mặt chuyển lời tới ai đó: “Nói với chủ nhân của ngươi rằng người chàng ấy yêu đã xảy ra chuyện, bảo chàng lập tức tới đây”.


    Người ăn vận giống cung nữ kia lập tức vâng lời biến mất, tôi cũng nhanh chóng chạy đến Trường Nhạc cung, xông vào trong tất cả sự ngỡ ngàng của mọi người. Tôi vừa nhét mảnh giấy vào tay sư phụ vừa vội vàng nói: “Trên đường đến đây con có gặp một người. Người đó phụng mệnh chủ nhân gửi lời tới A Nghi nhưng lại nhận lầm nên mới đưa cho con”.


    Vừa nhìn thấy chữ viết cùng hình vẽ trên mảnh giấy, sắc mặt sư phụ lập tức thay đổi. Bạch Phụng thấy vậy liền truy vấn: “Có chuyện gì vậy?”.


    Tôi lập tức quỳ xuống thưa: “Bẩm nương nương, tỷ tỷ của muội uống rượu độc tự sát”.


    Bạch Phụng kinh ngạc hỏi lại như không tin vào tai mình nghe thấy: “Cái gì?”.


    Chẳng để tôi kịp trả lời, sư phụ đã quỳ xuống xen ngang: “Trước kia thảo dân có từng nói có chuyện gì xin nhờ nương nương giúp đỡ, nương nương cũng đã đápứng rồi. Không biết lời đó cho đến bây giờ còn hiệu nghiệm không?”.


    Dù kinh ngạc nhưng Bạch Phụng vẫn nhanh chóng trả lời:“Tiên sinh cần bổn cung giúp gì?”.


    “Đứng ra đòi lại công bằng cho Đàm quý phi, giúp nàng ấy thỏa nguyện.”




    Lúc chúng tôi đến Trường Xuân cung, Trọng Nghiên đang quát tháo tháy y với vẻ mặt vô cùng tức giận: “Đồ vô dụng! Nếu không cứu được nàng trẫm chém đầu cả nhà ngươi!”.


    Thái y run sợ đáp lời: “Bẩm bệ hạ, thần thật sự không có cách, bởi Đàm quý phi nương nương đã tắt thở rồi”.


    Sao có thể? Chàng còn sống, sao A nghi có thể chết được! Nếu tỷ ấy chết chẳng phải mọi chuyện sẽ trở nên vô nghĩa, nhân duyên của họ sẽ đứt đoạn từ đây sao?


    Trọng Nghiên tức giận, giơ chân đạp vào bụng thái y, luôn miệng mắng “đồ vô dụng”. Nhìn thấy sư phụ bước vào, ánh mắt lại dấy lên hy vọng: “Tiên sinh đến đúng lúc lắm. Mau cứu ái phi của trẫm, trẫm nhất định sẽ trọng thưởng cho tiên sinh”.


    Đáng tiếc, chút lời nói vừa dấy lên cũng bị lời nói của sư phụ dập tắt: “Thảo dân là một đại phu chứ không phải thần tiên, không thể khiến người chết sống lại. Xin bệ hạ thứ tội”.


    Trọng Nghiên suy sụp nhìn A Nghi, miệng không ngừng lẩm bẩm: “Lại vuột mất nữa rồi...”.


    Đúng lúc đó, một người tưởng như đã chết trong lần ra trận vừa rồi đột nhiên xuất hiện ở đây, xông vào trong sự ngỡ ngàng của tất cả mọi người. Suy nghĩ đầu tiên của tôi khi nhìn thấy người đó là: “Đến nhanh thật đấy”.


    Trọng Hoa không thèm để ý đén ánh mắt kinh ngạc của mọi người xung quanh mà đi thẳng đến chỗ A Nghi đang nằm, dường như trong mắt chàng chỉ có mình tỷ ấy mà thôi. Chàng đỡ tỷ ấy ngồi dậy, để tỷ ấy tựa đầu vào vai mình, dịu dàng gọi “Yên Vũ” như để gọi người mình yêu tỉnh lại từ giấc ngủ dài.


    Nhìn thấy cảnh này, tôi đột nhiên nhớ tới mười ngày trước, khi biết tin người trong mộng qua đời, A Nghi cũng ôm bình đựng tro cốt như ôm lấy một người sống thực sự, cũng gọi tên chàng như để đánh thức người yêu. Giọng tỷ ấy lúc đó cũng dịu dàng, bi thương cũng đặc quánh trong mắt như chàng lúc này vậy.


    Trọng Nghiên nghiến răng nghiến lợi nói: “Thì ra ngươi thật sự chưa chết”.


    Trọng Hoa lạnh lùng đáp lại: “Đương nhiên. Chết mà để lại người mình yêu cho kẻ khác, ta không cam lòng. Vậy nên ta chỉ có thể giả chết để ngươi mất cảnh giác, âm thầm thâu tóm binh quyền, chờ thời cơ giết vua cướp ngôi”.


    Chàng nói thẳng dã tâm của mình làm Hạ vương càng thêm tức giận: “Trẫm đối với ngươi không bạc,vậy mà ngươi lại có ý định mưu phản!”.


    “Đúng. Ngươi đối ta không bạc, chỉ là hết lần này đến lần khác chèn ép, dồn ta vào đường cùng. Cướp đi vương vị còn chưa đủ, sau còn tranh giành Yên Vũ với ta! Đừng hòng! Giang sơn ta có thể không cần, nhưng người thì nhất định phải có. Hôm nay ta đến chính là để mang nàng đi.”


    “Lạc Lạc từ lâu đã thành người của ta, dù nàng sống hay chết cũng là của ta! Không ai được phép mang nàng đi.”


    “Yên Vũ chưa bao giờ là của ngươi. Nếu không phải do ngươi tìm mọi cách chia rẽ, bọn ta đã hạnh phúc bên nhau từ lâu rồi!”


    “Vậy thì sao? Giờ nàng đã chết, ngươi lại vì một người chết mà đối đầu với ta?”


    “Còn ngươi thì sao? Giày vò nàng đến chết còn không chịu giải thoát cho nàng?”


    Thấy Hạ vương cùng tam vương gia lời qua tiếng lại, chẳng ai nhường ai như hai đứa trẻ giành giật đồ chơi cho mình, sư phụ đột nhiên xen ngang: “Thảo dân vừa nói không thể khiến người chết sống lại chứ đâu nói Đàm quý phi đã chết”.


    Lời nói của sư phụ khiến tất cả mọi người ở đây kinh ngạc, làm hy vọng lại dấy lên trong lòng tôi, trong mắt Trọng Hoa và Trọng Nghiên: “Cái gì?”.


    Tất cả mọi người bỗng im bặt, ánh mắt đổ dồn về người trong lòng Trọng Hoa, bởi rèm mi A Nghi rung lên rất khẽ rồi hé mở, để lộ dần đôi mắt mờ sương bên trong. Phải mất một lúc lâu tỷ ấy mới tỉnh táo trở lại, khẽ ngẩng đầu nhìn người đang ôm mình, trong đôi mắt trong veo toàn là bóng hình của ai kia, tay siết chặt áo người ấy như sợ chàng sẽ biến mất một lần nữa: “Trọng Hoa… Thật sự là chàng… Chàng đến đón ta sao? Hay là chúng ta đã đoàn tụ dưới suối vàng?”.


    Trọng Hoa lắc đầu trả lời: “Chúng ta sẽ đoàn tụ, nhưng không phải dưới suối vàng mà là trên trần thế. Nhưng sao nàng lại... Chẳng phải vừa rồi nàng đã chết rồi sao?”.


    A Nghi cũng bị lời chàng nói làm cho kinh ngạc: “Ta còn sống? Không thể nào! Chính tay ta đã thoa độc trong chén rồi uống cạn chén rượu hòa lẫn độc mà”.


    Tất cả chúng tôi đều bất ngờ trước màn sống lại của tỷ ấy, chỉ trừ người đang đứng bên tôi đây, sư phụ. Từ đầu đến cuối sư phụ vẫn điềm nhiên như không, dường như đã lường trước mọi chuyện, hơn nữa còn là người đứng sau giật dây, bèn hỏi: “Sư phụ... đã sắp đặt tất cả, đúng không?”.


    Sư phụ cũng chẳng thèm che giấu mà lập tức nói ra sự thật: “Lúc ta ghé qua Trường Xuân cung có thấy Nhâm Giai cùng mấy cung nữ khác đang đào vật gì đó chôn dưới gốc cây lê lên, hỏi ra thì biết Đàm quý phi bỗng dưng muốn uống rượu, hơn nữ còn là bình rượu cuối cùng mà nàng ấy từng ủ. Mấy ngày trước con nói dự cảm chẳng lành nên ta cũng hơi nghi ngờ, bèn nhân lúc Nhâm Giai không chú ý thả thuốc giải bách độc vào đó. Thuốc đó giải được bách độc nhưng sẽ khiến người uống lâm vào trạng thái chết giả”.


    Hạ vương giận dữ hỏi lại: “Vậy tại sao tiên sinh không ngăn cản nàng? Vì sao đến tận bây giờ mới nói?”.


    Sư phụ bình thản trả lời: “Một là vì thảo dân không chắc chắn, hại là vì muốn bệ hạ hiểu được một điều: Có những thứ không thể cưỡng cầu, đặc biệt là tình cảm. Nếu không phải do thảo dân lường trước được việc này thì bệ hạ không những phá hoại một mối lương duyên mà còn gián tiếp hại chết người trong lòng. Vì vậy xin bệ hạ hãy thông suốt, tác thành cho hai người họ”.


    Nhưng Trọng Nghiên vốn cố chấp ích kỷ, nào đếm xỉa đến những lời sư phụ nói: “Chuyện của trẫm không phiền tiên sinh bận tâm”.


    Sư phụ nản lòng thở dài, đành nhờ đến Bạch Phụng: “Hoàng hậu nương nương, mong người thực hiện lời hứa của mình”.


    Bạch Phụng gật đầu quỳ xuống: “Kính mong bệ hạ tác thành cho hai người bọn họ”.


    “Đến cả nàng cũng... Được lắm! Các người dám cấu kết với nhau chống đối trẫm! Bạch Phụng, nàng đứng ra cầu xin ta là vì tiên sinh có ơn với nàng?”


    Bạch Phụng ngẩng phắt đầu, nhìn thẳng vào mặt phu quân mình mà nói: “Thần thiếp làm vậy không chỉ vì để thực hiện lời hứa với tiên sinh mà còn vì không muốn chuyện giữa Thục phi và Lăng chiêu nghi xảy ra lần nữa”.


    Trọng Nghiên sững người, nhất thời không nói được câu nào.


    “Thục phi và Lăng chiêu nghi đáng chết sao? Họ chỉ là yêu và muốn ở bên nhau thôi mà. Hơn nữa, Lăng chiêu nghi nói rất đúng. Nếu bệ hạ không thể một lòng một dạ với ai đó thì sao còn ép người ta toàn tâm toàn ý yêu chàng?” Môi vẫn đang cười nhưng mắt đã ướt nước, nàng gọi thẳng tên phu quân mình: “Trọng Nghiên, sao lòng chàng lại rộng đến thế, sao tim chàng chứa được nhiều người đến vậy? Chẳng lẽ có thiếp chàng vẫn chưa cảm thấy đủ sao?”.


    Trọng Nghiên chưa kịp phản ứng, Trọng Hoa đã lên tiếng chen ngang: “Có được thê tử như thế, hoàng huynh còn mong muốn gì hơn? Thần đệ mong hoàng huynh đừng vì tham lam người không thuộc về mình mà quên trân trọng người trước mắt. Nếu hoàng huynh bằng lòng làm vậy, thần đệ sẽ tự nguyện rút lui, cùng người yêu quy ẩn giang hồ, không đối đầu với hoàng huynh nữa”.


    Hạ vương cau mày hỏi lại: “Ngươi uy hiếp trẫm sao?”.


    Tam vương gia điềm tĩnh trả lời: “Không phải uy hiếp mà là đang nói sự thật. Nếu ta mưu phản chưa chắc ngươi đã ngồi vững trên vương vị. Đừng quên trong tay ta còn có di chiếu của phụ vương, và người các trọng thần trong triều muốn phò tá là ta chứ không phải ngươi. Ngươi biết tại sao hôm nay ta lại có thể dễ dàng vào cung không, là vì trong triều, trong cung có không ít thế lực hậu thuẫn ta, nếu hôm nay ta không bình an rời khỏi, quân dưới trướng ta sẽ nổi dậy tạo phản. Nhưng ta có thể không làm thế. Ta có thể vì người mình yêu mà từ bỏ thiên hạ, nhưng ngươi có thể chịu tổn thất chỉ vì một nữ nhân không?”.


    Câu này chẳng cần Trọng Nghiên trả lời, tôi cũng biết được đáp án. Đối với hắn, giang sơn này quan trọng hơn bất kỳ ai, hơn bất cứ nữ nhân nào. Hắn thực sự có tình cảm với A Nghi, nhưng tình cảm đó chưa lớn đến mức đủ để hắn vì tỷ ấy mà từ bỏ vương vị hắn vất vả lắm mới giành được.


    Trọng Nghiên đưa mắt nhìn đệ đệ của mình, nhìn A Nghi, người mà hắn không từ thủ đoạn để đoạt được rồi ánh mắt lại dừng thật lâu trên thê tử luôn kề vai sát cánh với mình, cuối cùng cũng đồng ý: “Được rồi. Trẫm từ bỏ. Trọng Hoa, Lạc Lạc, trẫm tác thành cho hai người”.


    Trọng Hoa thở phào một hơi, nói lời từ tận đáy lòng: “Tạ ơn hoàng huynh đã tác thành”.


    A Nghi tựa đầu vào vai Trọng Hoa, khoé mắt chảy ra những giọt nước mắt hạnh phúc: “Ta đã đợi rất lâu, cuối cùng thì ngày này cũng đến. Cuối cùng thì xiềng xích giam giữ ta bấy lâu nay đã bị phá vỡ, con chim hoàng oanh cũng thoát khỏi chiếc lồng sơn son thếp vàng để bay vào trời xanh bao la mà nó vẫn hằng khao khát...”.


    Cuối cùng câu chuyện tình dang dở giữa họ cũng dược viết tiếp và có được một kết thúc có hậu, gần như tốt đẹp với tất cả mọi người. Bạch Phụng vòng tay ôm lấy phu quân mình từ đằng sau, nhẹ giọng thầm thì: “Đừng buồn, Trọng lang, chàng vẫn còn có thiếp mà...”.


    Nàng vẫn luôn kề vai sát cánh, ở bên hắn từ khi hắn mới chỉ là một hoàng tử không được trọng dụng, chỉ là khi đã đạt được mục đích hắn đã vô tình lãng quên, đối xử lạnh nhạt với nàng thôi. Kỳ thực hậu cung cũng có chân tình, chỉ là nó quá mong manh giữa những phồn hoa phù phiếm, trước những dối gian lọc lừa. Nếu hắn không sớm nhận ra và trân trọng, sẽ có một ngày hắn phải hối hận.




    Lúc Trọng Hoa cùng A Nghi rời khỏi hoàng cung, đi đến nơi chốn bình yên dành cho hai người họ cũng là lúc hai tỷ muội chúng tôi lần nữa phải chia ly. Trước khi chia ly, tỷ ấy nói: “May mà có sư phụ của muội, bằng không nhân duyên của ta và Trọng Hoa sẽ lần nữa đứt đoạn, âm dương cách biệt, kẻ còn người mất”.


    Tôi gật đầu trả lời: “Muội sẽ chuyển lời cảm ơn của tỷ đến sư phụ”.


    A Nghi lại nói sang chuyện khác: “Nghe nói Trọng Cơ vừa ngỏ lời cầu hôn sư phụ của muội nhưng lại bị người ta từ chối. Muội có biết lý do sư phụ muội đưa ra là gì không?”.


    Tôi thành thật lắc đầu.


    “Sư phụ của muội nói mình đã có người trong lòng, không thể đồng ý hôn sự này.” Tỷ ấy nhìn tôi, nở một nụ cười đầy ẩn ý: “Có khi nào người đó lại là muội?”.


    “Tỷ nói vậy... sẽ làm muội hy vọng rồi lại thất vọng đó.” Nhưng nếu không phải tôi thì là ai? Chẳng lẽ lại là người mà sư phụ gọi tên khi say,cố nhân của sư phụ?


    A Nghi thở dài nói tiếp: “Dù sao thì ta cũng cảm thấy Mạc Trọng không chỉ biết tình cảm của muội dành cho y mà cả bản thân y cũng có tình cảm ấy”.


    Lời tỷ ấy nói như viên đá ném xuống mặt hồ êm ả, chỉ tạo nên vài gợn sóng lăn tăn rồi lại phẳng lặng như lúc đầu, nhanh chóng chìm vào quên lãng.


    Trên đường đi đến Sở quốc, sau khi gửi lời cảm ơn của A Nghi đến sư phụ, tôi nói ra điều mà mình canh cánh trong lòng: “Con biết sẽ có chuyện không hay xảy ra với A Nghi, lại có mặt ở đó mà chẳng thể làm được gì. Nếu không nhờ sư phụ thì tỷ ấy giờ đây đã chết, con sẽ phải ân hận cả đời”.


    “Quan tâm tất loạn. Con vì quá lo lắng cho nàng ấy nên mới không tỉnh táo được như người ngoài cuộc là ta, cũng đâu ngờ nàng ấy lại thoa độc vào chén của chính mình chứ.” Ngừng một lát, sư phụ lại nói: “Hơn nữa ta để ý đến chuyện của nàng ấy cũng chỉ vì con. Nàng ấy là tỷ tỷ của con, nếu nàng ấy xảy chuyện gì con sẽ rất đau khổ, sẽ lại đổ lỗi cho chính mình. Ta không muốn thấy con như vậy”.


    Sự quan tâm hiển hiện trong lời nói của sư phụ khiến tôi ấm lòng. Chợt nhớ đến lời A Nghi nói trước lúc chia ly, tôi buột miệng: “Yến Nhạc công chúa đã ngỏ lời với sư phụ?”.


    Sư phụ không hề do dự đáp: “Ừ. Con nghe Đàm quý phi nói?”.


    Tôi gật đầu tiếp lời: “Con còn nghe nói sư phụ từ chối công chúa với lý do đã có người trong lòng. Đó có phải là sự thật không? Nếu phải thì là ai?”.


    Sư phụ nhìn thẳng vào mắt tôi, cười đáp: “Chuyện này con rõ hơn bất cứ ai mà”.


    Nụ cười thản nhiên cùng giọng điệu mập mờ của người khiến trái tim tôi trong phút chốc loạn nhịp. Trái với mong đợi của tôi, sư phụ chỉ dửng dưng nói: “Ta vốn không thích công chúa, nhưng nói nói thẳng ra thì quá thất lễ rồi; thọ mệnh cũng quá khác nhau, nhưng nói vậy thì có ai tin chứ, họ lại tưởng vì muốn từ chối hôn sự này mà ta lại bịa ra cái cớ hoang đường này cũng nên. Vậy nên ta chỉ có thể đưa ra lý do này, vừa thuyết phục vừa không tổn hại đến lòng tự trọng của công chúa”.


    Vậy mà sự phụ cứ nói mập mờ làm tôi cứ tưởng... Sư phụ có thể thản nhiên trêu đùa, dửng dưng châm chọc tôi như vậy, sao có thể như lời A Nghi nói, sao có thể biết tình cảm của tôi dành cho người và bản thân người cũng có tình cảm đó chứ?

    _____________________________________

    <<< (Chương 9) - (Những trái tim bên lề) >>>

    Kẹo mút
     
    Chỉnh sửa cuối: 22/4/17
    Đậu PhụUmio thích bài này.
  18. Mạt Họa

    Mạt Họa Gà cận Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    373
    Được thích:
    964
    Đã thích:
    664
    GSP:
    Ap
    áo.jpg

    Những trái tim bên lề


    1. Trầm Ngư

    Mọi người thường nói ở Hạ quốc, chẳng có cô gái nào xứng đáng với tam vương gia tài đức vẹn toàn bằng Thẩm tiểu thư tài mạo vô song. Bản thân Trầm Ngư cũng thấy vậy. Hai người vừa là thanh mai trúc mã vừa môn đăng hậu đối. Trọng Hoa cũng rất thích nàng. Chàng thường đến phủ thừa tướng tìm nàng đánh cờ, bàn luận những chuyện lớn trong thiên hạ; khi thì chàng thổi sáo, khi thì nàng gảy đàn, nàng ngâm thơ, chàng vẽ tranh. Nàng từng nghĩ đó là hạnh phúc, từng mong cuộc sống của hai người sau khi thành thân cũng sẽ yên bình như vậy. Chàng cũng nhiều lần nói rằng: “Nếu Trọng Cơ có thể hiểu chuyện như muội thì tốt rồi. Nếu phải cưới vợ, ta sẽ lấy một cô gái như Trầm Ngư”.


    Nàng thầm đáp lại lời chàng nói trong lòng: “Muội cũng vậy.Từ nhỏ đến lớn, người muội muốn lấy chỉ có mình huynh”.


    Nhưng “thích” của Trọng Hoa không giống “thích” của Trầm Ngư. Với nàng là tình yêu,còn với chàng chỉ là tình huynh muội.


    Nhưng không phải cứ là thanh mai trúc mã, môn đăng hậu đối thì mới là xứng đôi vừa lứa, sẽ kết thành phu thê. Mọi chuyện thay đổi vào năm Trầm Ngư mười lăm tuổi. Có một khoảng thời gian dài Trọng Hoa không đến phủ thừa tướng tìm nàng. Đàn kia để không chẳng ai gảy, cờ kia bỏ mặc chẳng đoái hoài. Còn chủ nhân của chúng thì tựa cửa ngóng trông, chốc chốc lại quay đầu hỏi tỳ nữ của mình: “Chàng vẫn chưa đến sao?”.


    Nghe được câu trả lời của tỳ nữ, nàng thất vọng lẩm bẩm: “Chàng bận chuyện gì sao? Nếu ta đến tìm chàng, chàng có nghĩ ta là loại người tùy tiện không?”.


    Cuối cùng nàng vẫn chọn cách chờ đợi. Rất nhanh sau đó nàng biết được sự thật từ miệng đệ đệ của mình: “Nửa tháng trước có lần Trọng huynh đi cùng đám công tử thế gia bọn đệ đến thanh lâu, nhìn trúng một vũ kỹ vô cùng xinh đẹp. Từ đó Trọng huynh rất nhiều lần đến thanh lâu tìm nàng ấy, mà nàng ấy dạo này cũng chỉ tiếp mình Trọng huynh”.


    Trầm Ngư có chút thất vọng hỏi lại: “Thanh lâu? Vũ kỹ? Trọng Hoa mà cũng đến nơi phong trần đó sao?”.


    Đệ đệ nàng lên tiếng an ủi: “Trọng huynh cũng là nam nhân mà. Nhưng tỷ đừng lo. Người có thân phận cao quý như huynh ấy không cưới một kỹ nữ làm vợ đâu. Một thời gian nữa huynh ấy chán sẽ về bên tỷ”.


    Dù có thất vọng nhưng nàng vẫn mong lời nói của đệ đệ thành sự thật. Rất nhanh sau đó Trọng Hoa đã đến tìm nàng, nhưng nàng chẳng thể vui nổi, bởi vì lời đầu tiên chàng nói khi hai người gặp mặt lại là: “Ta cuối cùng cũng biết cảm giác yêu một người là thế nào rồi. Lần đầu tiên ta nhìn thấy ta đã có cảm giác rằng nàng ấy là người bấy lâu nay ta vẫn kiếm tìm, là người ta đã yêu từ kiếp trước”.


    Một người vốn cẩn trọng và kiệm lời như Trọng Hoa giờ lại đứng trước mặt nàng thao thao bất tuyệt về tình yêu của chàng với cô gái khác, kích động như thiếu niên lần đầu biết yêu. Những cảm xúc dồn nén trong thời gian dài lập tức vỡ òa, lần đầu tiên nàng không thèm chú ý đến hình tượng mà nức nở khóc, nghẹn ngào hỏi: “Còn muội thì sao?”.


    Trọng Hoa đang nói đột nhiên im bặt, Trầm Ngư lại hỏi: “Còn muội thì sao? Giờ huynh đột nhiên nói yêu người khác, vậy muội phải làm thế nào?”.


    Đây là lần đầu tiên nàng thất thố đến thế, và cũng là lần đầu chàng bối rối đến vậy, chẳng biết nói gì ngoài lắp bắp gọi: “Trầm Ngư… muội…”.


    “Muội thích huynh, từ nhỏ đã thích huynh. Muội tin huynh cũng có tình cảm với muội.”


    “Đúng là ta có tình cảm với muội, nhưng đó chỉ đơn thuần là tình huynh muội mà thôi.”


    “Từ nhỏ muội đã muốn trở thành thê tử của huynh. Huynh cũng từng nói nếu phải thành thân, huynh sẽ lấy một cô gái như muội.”


    “Đó chỉ là một lời nói đùa thôi. Chẳng lẽ từ trước đến giờ muội vẫn cho rằng đó là thật?”


    “Đúng. Muội đã cho rằng đó là thật…” Trầm Ngư ngồi sụp xuống đất, ôm mặt nức nở khóc: “Muội vẫn luôn nghĩ rằng huynh thực sự muốn lấy muội…”.


    Nhưng đến giờ mới biết, thì ra đó chỉ là vọng tưởng của một mình nàng. Chỉ có nàng đơn phương tương tư.


    Chuyện này đâu thể trách Trọng Hoa được. Chàng nói đùa, nàng lại cho là thật, hơn nữa giữa họ cũng đâu có hôn ước ràng buộc. Nhưng nàng vẫn cảm thấy rất ấm ức, rất tủi thân, nước mắt không sao ngừng lại được. Trọng Hoa ngày thường vốn khôn khéo là thế giờ cũng bối rối chẳng biết nói gì, chỉ có thể ngồi bên nàng đợi nàng nín khóc rồi bị nàng đuổi về.


    Mấy ngày sau đó Trọng Hoa đều đến tìm Trầm Ngư nhưng đều bị nàng từ chối không gặp. Hôm nay, sau khi chàng thất vọng rời đi, nàng lại hỏi tỳ nữ của mình: “Chàng lại đến thanh lâu tìm vũ kỹ đó sao? Ta muốn đến đấy nhìn xem vũ kỹ đó rốt cuộc là người như thế nào”.


    Tất nhiên Trầm Ngư không đến đó với thân phận một thiên kim tiểu thư được, nên đành cải trang thành nam nhi. Tận mắt chứng kiến mới thấy Trọng Hoa yêu thích vũ kỹ đó còn hơn cả lời nói của đệ đệ nàng. Nhìn thấy cảnh đó, nô tỳ của nàng cũng ấm ức thay: “Ả ca kỹ đó đúng là đẹp thật, nhưng tiểu thư cũng đâu có kém sắc. Hơn nữa tiểu thư cành vàng lá ngọc, xứng đôi với vương gia gấp vạn lần với nữ nhân thanh lâu kia. Sao vương gia có thể vì một ca kỹ mà phụ lòng tiểu thư chứ?”.


    “Xứng đôi không phải chỉ là thanh mai trúc mã, môn đăng hộ đối, mà là khi cả hai người đều yêu nhau và muốn ở bên nhau trọn đời…” Chứ không phải chỉ một người tương tư. Chuyện này đến bây giờ nàng mới biết.


    Hôm sau, Trọng Hoa lại đến, mang theo một lồng bánh bao nhân thịt còn nóng mua ở tiệm đầu ngõ. Chàng biết Trầm Ngư tuy là tiểu thư khuê các nhưng lại thích ăn những món ăn dân dã mua ở phố chợ nên mỗi lần đến chơi đều tiện đường mua cho nàng. Chỉ là khoảng thời gian gần đây chàng rất ít khi đến chơi nên càng khỏi nhắc đến đồ ăn. Không biết là vì Trọng Hoa mang theo đồ ăn nàng thích hay do bản thân đã nghĩ thông suốt mà Trầm Ngư lại đồng ý gặp chàng. Cắn một miếng bánh bao còn nóng, lòng nàng lại trào dâng những cảm xúc không tên, không khỏi nghẹn ngào hỏi lại: “Chúng ta không thể trở lại như xưa, huynh không thể thử yêu muội một lần sao?”.


    Tay đang rót trà cho nàng đột nhiên khựng lại, chàng buồn bã lắc đầu: “Chúng ta có thể thân thiết như xưa, nhưng trái tim ta không trở lại lúc chưa in đậm bóng hình ai đó. Nếu ta yêu muội thì tốt rồi, đáng tiếc tình cảm không phải thứ chúng ta có thể điều khiển được. Ta không thể chuyển tình yêu với một người sang một người khác được”. Đặt chén trà vừa rót xuống mặt nàng, chàng bổ sung: “Thế nhưng ta không muốn vì vậy mà tình cảm hai ta tan vỡ. Ta muốn chúng ta trở lại như xưa”.


    Không chỉ riêng Trọng Hoa mà Trầm Ngư cũng muốn thế. Chuyện đến nước này, nàng chỉ có thể chôn giấu tình cảm của mình dưới tận đáy lòng, làm như không có chuyện gì xảy ra để mối quan hệ không bị tan vỡ, để chàng khỏi phải khó xử.


    Vậy nên: “Từ giờ về sau huynh phải thường xuyên đến tìm muội, và đừng quên mang đồ ăn theo”.


    Trọng Hoa ngẩn người rồi bật cười sảng khoái: “Được”.


    Vậy là cả hai làm như không có chuyện gì, quan hệ giữa họ trở lại như xưa. Nhưng thật ra Trầm Ngư không cam lòng. Vậy khi hoàng thượng đến tìm cha nàng để tìm cách chia rẽ Trọng Hoa và nàng vũ kỹ kia, nàng đã không phản đối. Nhưng khi thấy họ phải đau khổ, nàng lại chẳng thấy vui.


    Cũng may cuối cùng mà họ cũng được ở bên nhau. Cuối cùng nàng cũng từ bỏ được dù lòng vẫn còn vương vấn. Chỉ mong tình cảm này sẽ nhạt phai theo tháng năm, và nàng có thể tìm được người nàng có thể yêu và bên nàng trọn đời.


    2. Trọng Nghiên

    Trọng Nghiên vẫn luôn nghĩ rằng mọi thứ không phải tự nhiên có được mà phải do mình đoạt về bằng bất cứ giá nào. Giang sơn là vậy, mà giai nhân cũng thế.


    Trọng Nghiên tuy không có ký ức kiếp trước nhưng hắn biết trước đây đã để vuột mất một người, và kiếp này hắn luôn đi tìm người đó để lấp đầy khoảng trống trong tim.


    Từ trước đến nay Trọng Nghiên luôn ôm một lòng đố kỵ với Hoa đệ của mình. Trọng Hoa có mẫu phi xuất thân danh giá, từ nhỏ đã nổi bật trong đám hoàng tử, là đứa con mà lão Hạ vương yêu mến nhất. Vậy nên hắn luôn tìm cách để đối đầu, giành lấy thứ mà chàng yêu thích. Đầu tiên là vương vị, sau đó là giai nhân. Mà trùng hợp làm sao khi giai nhân ấy lại chính là người Trọng Nghiên luôn mong mỏi kiếm tìm.


    Sau khi nghe mọi chuyện từ miệng Trầm Ngư, Trọng Nghiên đã nảy sinh lòng hiếu kỳ với nàng vũ kỹ nổi danh khắp kinh thành, quyết định cải trang đến gặp nàng vũ kỹ ấy. Trong một lần trở lại thanh lâu năm xưa, hắn đã nhìn thấy Yên Vũ. Và ngay từ cái nhìn đầu tiên, hắn đã biết nàng chính là người hắn cần tìm.


    Tiếc rằng khi Trọng Nghiên biết đến Yên Vũ thì nàng đã yêu Trọng Hoa say đắm. Nhưng điều đó không lay chuyển được quyết định của vị đế vương trẻ, ngược lại càng thêm kích thích tính háo thắng của hắn. Trọng Nghiên đã đoạt được ngôi vị từ tay đệ đệ mình, sao lại không thể giành lấy một ca kỹ?


    Chỉ cần một chút thủ đoạn, chẳng phí nhiều công sức, Yên Vũ của Trọng Hoa đã trở thành Lạc Nhạn của mình hắn, con chim hoàng anh kia đã sa vào chiếc lồng hắn tạo ra. Nhưng trên đời làm gì có chuyện hoàn toàn theo ý mình, hắn có được thân thể nàng nhưng tim nàng thì không. Trọng Nghiên dung túng, chiều chuộng nàng nhưng thứ nhận lại được chỉ là sự chán ghét, căm hận của ái phi. Và sự căm hận lên đến đỉnh điểm là khi Lạc Nhạn nghe được tin dữ truyền về từ biên ải xa xôi, kết quả là nàng bất chấp tất cả, đi theo người mình yêu.


    Cái chết của Lạc Nhạn làm trái tim vừa được lấp đầy của Trọng Nghiên lại một lần nữa trống rỗng. Con chim hoàng anh bị giam cầm dù được bảo vệ, đối tốt thế nào thì sớm muộn cũng chết mục trong lồng. Nàng vẫn luôn tìm cách để thoát khỏi hắn, cho dù là tự tử bằng rượu độc hay nhảy từ tường thành xuống.


    Khoảnh khắc thấy nàng nằm bất động trên giường, trong đầu hắn bỗng hiện lên cảnh cô gái áo trắng nằm rạp trên nền đất lạnh, máu chảy lênh láng, nhuộm đỏ áo ai, làm ai đau khổ. Ký ức lại tràn về khiến lòng ai đó nhói đau. Nên buông tay hay tiếp tục chiếm giữ? Nếu cứ ích kỷ giữ nàng bên mình mà không quan tâm đến cảm nhận của nàng, phải chăng bi kịch sẽ tái diễn? Hơn nữa dù không buông tay cũng có ích gì, từ đầu đến cuối nàng đâu thật sự thuộc về hắn, tình cảm này chỉ là đơn phương, chấp niệm từ kiếp trước.


    Vậy nên, trước khi huỷ hoại nàng, hắn đành buông tay.


    Vậy là hắn chỉ có thể buồn bã dõi theo bóng chim hoàng anh cất cánh bay vào trời xanh bao la mà quên rằng phượng hoàng vẫn cam tâm tình nguyện ở lại trong chiếc lồng sơn son thếp vàng, ở lại bên cạnh hắn.



    3. Bạch Phụng

    “Dù yêu thích Lạc Nhạn thế nào thì vị trí của muội ấy trong lòng Trọng lang vẫn không sánh được với giang sơn xã tắc. Còn ta thì sao? Nếu phải chọn giữa ta và vương vị của chàng, chàng có chọn ta không?”


    Trong một lần nói chuyện với An phi, Bạch Phụng đã lỡ nói ra điều mình vẫn luôn canh cánh trong lòng. Khác với hoàng hậu, An phi không phải người đặt nặng vấn đề tình cảm, điều nàng quan tâm từ trước đến giờ chỉ là một cuộc sống đủ ăn đủ mặc, không phải khổ sở như trước. Vậy nên nàng không biết và cũng chẳng cần để tâm đến vị trí số một trong lòng Hạ vương, nhưng vì nể mặt hoàng hậu nên đành khéo léo trả lời: “Sao nương nương lại phải nhọc lòng vì vấn đề đó? Dù hoàng thượng có yêu thích Đàm quý phi thế nào thì đó cũng chỉ là tình cảm nhất thời, không thể sánh với giang sơn xã tắc. Còn nương nương thì khác. Người luôn kề vai sát cánh, nhiều lần vào sinh ra tử với hoàng thượng, giúp hoàng thượng đoạt lấy vương vị, tình cảm đương nhiên là rất sâu đậm, giữa hai người không chỉ có tình sâu mà còn có nghĩa nặng”.


    Bạch Phụng lắc đầu, buồn bã trả lời: “Chính vì luôn sát cánh bên chàng giành lấy giang sơn nên ta hiểu rõ vương vị đối với chàng quan trọng thế nào, nên mới không dám hỏi chàng câu đó”.


    Bởi vì chọn ái nhân mà bỏ qua vương vị, xưa nay có được mấy ai.

    _________________________________

    <<< (Chương 10) - (Cái kết viên mãn cho ba kiếp theo đuổi) >>>
    Kẹo mút

     
    Chỉnh sửa cuối: 23/4/17
    UmioĐậu Phụ thích bài này.
  19. Mạt Họa

    Mạt Họa Gà cận Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    373
    Được thích:
    964
    Đã thích:
    664
    GSP:
    Ap
    ntcc.jpg

    Cái kết viên mãn cho ba kiếp theo đuổi

    Sau khi rời khỏi kinh thành, Trọng Hoa và Yên Vũ chọn một trấn nhỏ để định cư, mở một quán trọ để kiếm sống lâu dài. Còn nhớ lúc đầu khi mới đến đây, chàng có hỏi nàng: “Nàng thật sự không làm vũ kỹ nữa? Chẳng phải từ trước đến giờ nàng rất thích múa sao?”.


    Yên Vũ mỉm cười trả lời: “Ta thích múa nhưng cũng yêu chàng. Vậy nên ta vẫn sẽ múa nhưng từ giờ sẽ chỉ múa cho mình chàng xem”.


    Tự do đã lâu nhưng thỉnh thoảng Yên Vũ vẫn mơ thấy chuyện cũ, cả chuyện xảy ra ở hai kiếp trước lẫn kiếp này. Không ít lần nàng giật mình tỉnh dậy từ ác mộng hằng đêm, và cũng nhiều lần Trọng Hoa tỉnh dậy theo nàng, lau mồ hôi lạnh trên trán ái nhân và dịu dàng hỏi: “Lại nằm mơ thấy ác mộng sao?”.


    Yên Vũ gật đầu, ánh mắt vẫn còn mờ sương như đang lạc trong ác mộng: “Ta mơ thấy rất nhiều chuyện xảy ra trước đây, cả khi ta là Vân Nhược, Ngọc Thất hay Yên Vũ. Ký ức cứ trộn lẫn vào nhau khiến trong đầu ta rất hỗn loạn, khiến ta không phân biệt được đây là kiếp trước hay kiếp sau, hạnh phúc này là thật hay chỉ là tưởng tượng, chúng ta còn sống hay đã chết”.


    “Đó là lý do mà trước khi đầu thai chúng ta phải uống canh Mạnh Bà để quên đi quá khứ, nhưng có được ký ức kiếp trước cũng tốt, nhờ vậy mà chúng ta biết được những chuyện phải làm trong kiếp này.” Trọng Hoa cầm tay Yên Vũ đặt lên bụng nàng, nụ cười vốn đã dịu dàng giờ càng thêm ấm áp: “Sao nàng lại không biết đây là hiện thực hay mộng ảo, chúng ta đã chết hay còn sống chứ? Nếu chúng ta không còn, nếu đây không phải hiện thực thì sao lại có đứa trẻ này?”.


    Nơi hai người đang đặt tay, trong bụng nàng bây giờ có một đứa trẻ đang lớn lên từng ngày, họ còn định đặt tên cho nó là Trọng Viêm, sao có thể là giả được chứ? Đứa trẻ này chính là kết tinh tình yêu của họ, là minh chứng của hạnh phúc được đánh đổi bằng những khổ sở đớn đau mà họ từng phải chịu đựng.


    Trọng Hoa giúp nàng nằm xuống, hôn lên trán nàng như để trấn an: “Những chuyện đã qua rồi thì hãy cho qua luôn đi, những chuyện đau buồn càng không nên canh cánh trong lòng làm gì. Quan trọng là chúng ta đang ở bên nhau, đang được hạnh phúc và sẽ còn hạnh phúc hơn thế nữa. Giờ thì ngủ đi, cả con lẫn nàng đều cần được nghỉ ngơi”.


    Yên Vũ nghe lời nhắm mặt lại, nụ cười vẫn nở trên môi, lòng tràn trề mãn nguyện, tay vẫn nắm chặt tay chàng dưới chăn, lòng thầm nhủ lần này nhất định sẽ không buông tay, không để vuột mất hạnh phúc đánh đổi bằng mọi khổ sở đớn đau trong ba kiếp.

    ________________________________

    <<< (Những trái tim bên lề) - (Chương 12) >>>
     
    Chỉnh sửa cuối: 26/4/17
    Đậu PhụUmio thích bài này.
  20. Mạt Họa

    Mạt Họa Gà cận Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    373
    Được thích:
    964
    Đã thích:
    664
    GSP:
    Ap

    Hoa đào.png

    Chương 12. Bí mật được che giấu


    Sau khi tạm biệt A Nghi và Trọng Hoa, tôi và sư phụ lên đường đi đến Sở quốc. Trên đường đi, vì cứu một con hồ ly khỏi tay nhện tinh mà tôi bị trúng độc, hai mắt bị mù tạm thời. Mắt không nhìn thấy thật bất tiện, làm việc gì cũng phải nhờ đến sư phụ. Tôi chỉ bị mù tạm thời mà đã cảm thấy bất tiện vô cùng, vậy thì vị quý nhân bị Diễm quý phi móc mắt kia còn khó chịu đến nhường nào?


    Thật ra không nhìn thấy gì đối với tôi cũng tốt. Tôi không còn nhìn thấy tử khí của mọi người, có thể dựa vào sư phụ nhiều hơn. Đôi lúc tôi nghĩ nếu vì tôi không nhìn thấy gì mà sư phụ không nỡ rời bỏ tôi thì tôi mù cả đời cũng được. Nhưng người không nghĩ như thế. Tôi có thể cảm thấy người đang tức giận nhưng lại không biết người đang giận gì. Sư phụ trị độc cho tôi trên đường đi, lúc đến hoàng cung Sở quốc cũng là lúc tôi lờ mờ nhìn thấy được.


    Mục Cảnh vận long bào đích thân ra đón, không ngần ngại quỳ xuống trước người gọi một tiếng: “Sư phụ”.


    Sư phụ đỡ Mục Cảnh đứng dậy, ôn tồn nói: “Giờ con đã trở thành đế vương một nước rồi, sao có thể tùy tiện quỳ gối như thế”.


    Mục Cảnh lắc đầu trả lời: “Cho dù là đế vương một nước nhưng con cũng chỉ là đồ đệ của người mà thôi”.


    Đến khi huynh ấy đứng thẳng, tôi mới phát hiện huynh ấy cao bằng sư phụ, sư phụ cũng cảm thán trước sự thay đổi theo thời gian: “Con đã trưởng thành thật rồi, đã không còn là tiểu tử vì bị người ta truy sát mà lạc vào khu rừng của ta năm xưa”.


    “Vâng. Con đã trưởng thành, đã lấy lại những thứ vốn thuộc về mình, còn sư phụ thì vẫn như xưa, chẳng thay đổi gì cả.” Mục Cảnh quay sang tôi, mỉm cười đầy ẩn ý: “À không, thay đổi nhiều chứ”.


    Nhìn gần tôi mới thấy rõ gương mặt của người này. Quả là một người tuấn tú bất phàm, hào quang của đế vương lấn át tử khí không rõ đậm nhạt. Thấy người ấy quay sang nhìn mình, tôi mới lên tiếng gọi: “Sư huynh”. Mục Cảnh gật đầu tỏ ý đã nghe, đoạn lại lên tiếng nói: “Hai người đi xa như vậy chắc cũng đã mệt. Trước hết hai người cứ đi tắm rửa nghỉ ngơi, ăn uống cho lại sức rồi đến lấy phật châu cũng chưa muộn”.


    Bữa cơm thiết đãi chúng tôi không xa xỉ phô trương như ở Hạ quốc mà chỉ là bữa cơm thật mật thoải mái giữa ba sư đồ. Dùng bữa xong, Mục Cảnh ngỏ ý muốn đích thân đưa tôi đi lấy phật châu nhưng lại bị sư phụ từ chối: “Giờ con đã là đế vương một nước, bận trăm công ngàn việc, chuyện nhỏ nhặt này sao có thể phiền đến con”.


    Mục Cảnh đáp lại bằng một câu hỏi: “Chẳng lẽ sư phụ lại không phát hiện ra đó chỉ là cái cớ, mục đích của con là trò chuyện riêng với sư muội ư? Hay là sư phụ không muốn nên giả vờ như không biết?”.


    Trước câu hỏi của huynh ấy, sư phụ đành thở dài cho qua: “Được rồi. Nhưng đừng nói những lời không nên nói”.


    Đợi khi chỉ còn hai người tôi mới lên tiếng hỏi: “Lời sư phụ vừa nói có ý gì?”.


    “Là những chuyện riêng chỉ ta với sư phụ biết, là bí mật của nam nhân nên ta không thể nói với muội được. Ta chỉ có thể nói là sư phụ rất thích muội, kể rất nhiều về muội trong thư gửi cho ta.”


    Dù biết “thích” mà sư huynh nói không giống “thích” của tôi nhưng tôi vẫn không kìm được mà vui vẻ, môi khẽ cong lên trong vô thức. Mục Cảnh giúp tôi đeo chuỗi phật châu vào tay trái. Phật châu tỏa ra hơi lành lạnh một cách kỳ lạ, nhưng khi đeo vào tay tôi, nó hấp thụ một phần nhiệt từ da, nhanh chóng mất đi hơi lạnh ban đầu. Nó còn lóe lên ánh sáng xanh sẫm rồi lập tức biến mất. Nhưng dường như sư huynh chẳng nhìn thấy ánh sáng lóe lên từ chuỗi châu, vậy nên từ đầu đến cuối huynh ấy chẳng thay đổi sắc mặt, còn thản nhiên hỏi rằng: “Sư phụ đối xử với muội thế nào? Dịu dàng hay nghiêm khắc?”.


    “Thường thì sư phụ rất dịu dàng với muội, không ép muội làm những việc bản thân không thích, che chở vỗ về muội, nhưng cũng có đôi lúc rất nghiêm khắc. Mặc dù vậy thì muội nghĩ sư phụ cũng vì muốn tốt cho muội thôi.”


    “Qua những lời sư phụ gửi cho ta, ta cũng đoán được điều đó. Sư phụ đối với muội phần lớn là dịu dàng, còn với ta thì hầu như là nghiêm khắc, dù trong việc luyện võ hay đọc sách. Nhưng cũng đúng thôi, muốn trở thành đế vương thì phải chịu khổ hơn người khác gấp ngàn lần.” Lúc đi ngang qua Bách Hoa cung, Mục Cảnh đột nhiên nói: “Ta muốn giới thiệu một người với muội”.


    Tôi vừa bước theo sư huynh của mình, vừa cười tủm tỉm: “Ai vậy? Sư tẩu của muội sao?”.


    Nụ cười trên môi huynh ấy bỗng sững lại, bi thương chợt lóe trong mắt: “Ta cũng mong vậy”.


    Đúng lúc đó một cung nữ nhìn thấy Mục Cảnh, vội vàng hành lễ: “Nô tỳ tham kiến bệ hạ. Công chúa... đang ở cùng với Khương tướng quân. Để nô tỳ vào bẩm báo với công chúa”.


    Mục Cảnh khoát tay nói: “Không cần. Đi làm việc của ngươi đi”.


    Nụ cười thấp thoáng trên môi làm bừng sáng cả gương mặt, giọng điệu hân hoan chứng tỏ tâm trạng của vị đế vương trẻ rất tốt. Có chuyện vui là lập tức tìm đến đây chia sẻ, chứng tỏ chủ nhân của cung này rất quan trọng với huynh ấy. Nhưng tâm trạng vui vẻ ấy cũng chỉ kéo dài được đến lúc cả hai nghe được một giọng nói vang lên chỉ cách chúng tôi một cánh cửa, ngọt ngào đến độ như đang thì thầm bên tai tình lang: “Hắn có thể thì ngươi cũng làm được. Hắn có thể giết vua cướp ngôi thì ngươi cũng giết được hắn, đoạt lấy vương vị, trả thù cho ta”. Ngừng một lát, giọng nói ngọt ngào ấy lại vang lên: “Lúc đó, ngươi không chỉ có được thiên hạ mà cả ta cũng thuộc về ngươi”.


    Chợt nghe một giọng nam trầm lên tiếng: “Liên Hoa, nàng...”.


    Gương mặt Mục Cảnh lập tức sa sầm, nụ cười vừa rồi còn hiển hiện trên môi giờ đã tắt ngấm. Dựa vào những lời của hai người trong phòng cùng lời tỳ nữ vừa rồi nói, tôi có thể lờ mờ biết được chuyện gì đang xảy ra. Nàng công chúa tên Liên Hoa có vẻ như là người sư huynh tôi yêu, vì lẽ gì đó mà lại dụ dỗ Khương tướng quân, huynh đệ từng vào sinh ra tử với Mục Cảnh tạo phản. Nhưng “trả thù cho ta” là có ý gì? Sư huynh ta đã làm gì có lỗi với nàng sao?


    Mục Cảnh chẳng chút do dự mà đẩy cửa bước vào, cảnh tượng trong phòng lập tức hiện ra trước mắt. Một cô gái vận áo hồng thân hình mảnh mai, yểu điệu áp một nam tử cao hơn mình hơn một cái đầu vào tường, hai cánh tay trắng tuyết vòng qua ôm lấy cổ hắn. Nghe thấy tiếng mở cửa, cả hai cùng quay ra, Khương tướng quân có chút kinh sợ hô lên: “Bệ hạ!”, còn nàng công chúa tên Liên Hoa xinh đẹp kia thì chẳng phản ứng gì, dường như đã lường trước việc Mục Cảnh sẽ đến vào lúc này.


    Nhìn tư thế mờ ám cùng hai đôi môi ươn ướt kia, ngay cả tôi cũng biết hai người vừa làm chuyện gì chứ đừng nói đến Mục Cảnh. Huynh ấy rất tức giận nhưng vì một người là huynh đệ của mình, một bên lại là người mình yêu nên không nỡ trách phạt, chỉ quát Khương tướng quân: “Ra ngoài”, chỉ vừa đau khổ vừa giận dữ chất vấn Liên Hoa: “Nàng và hắn là hai người ta vô cùng tin tưởng, nhưng cả hai lại phản bội ta, lén lút làm chuyện có lỗi với ta! Nàng có biết khi thấy người mình yêu thân mật với huynh đệ của mình, tìm cách giết hại mình ta đã đau khổ nhường nào không?”.


    Trái ngược với một Mục Cảnh giận dữ đến đỏ cả mắt, Liên Hoa chỉ cười khẩy trả lời: “Nỗi đau của ngươi có lớn bằng nỗi đau của ta khi nghe tin ngươi giết hoàng huynh ta đoạt vương vị không?”.


    “Nàng vẫn hận ta vì chuyện của Liên Sinh? Ta cứ tưởng từ lần đó, nàng đồng ý tiếp tục sống cũng có nghĩa là đã chịu tha thứ cho ta rồi.”


    “Đó chỉ là vọng tưởng của mình ngươi mà thôi. Ta còn sống ngày nào là để giày vò ngươi ngày đó.”


    Cuộc trò chuyện giữa hai người cuối cùng kết thúc trong không khí nặng nề. Mục Cảnh cười khổ nói: “Xin lỗi vì để muội thấy cảnh này. Ta cứ tưởng nàng ấy đã hồi tâm chuyển ý nên mới đưa muội đến đây, nào ngờ…”.


    Thấy huynh ấy đau buồn như vậy, tôi biết là không nên hỏi nhưng vẫn không kìm nổi lòng hiếu kỳ: “Giữa hai người thật ra là đã xảy ra chuyện gì vậy?”.


    “Ta không muốn nhắc lại chuyện không vui. Nếu muội muốn biết hãy hỏi sư phụ, nhất định người sẽ trả lời.”


    Cuối cùng sư phụ vẫn là người giải đáp mọi thắc mắc của tôi, kể cho tôi mọi chuyện. Khi đã trưởng thành, Mục Cảnh tạm biệt sư phụ, rời khỏi rừng đào để đến với hoàng cung Sở quốc. Ở đây, huynh ấy rất được phụ vương của Liên Hoa trọng dụng, lão Sở vương cũng có ý định tác thành cho hai người. Nhưng mọi chuyện bắt đầu diễn ra theo chiều hướng xấu kể từ cái chết của phụ vương Liên Hoa. Tân vương Liên Sinh là hoàng huynh của nàng vốn bất tài vô dụng, sau khi lên ngôi lại càng hoang dâm vô độ, ngang ngược hống hách, bỏ bê triều chính khiến dân chúng đói khổ lầm than. Các trung thần từng khuyên can nhưng vị đế vương trẻ không để vào mắt, đành phò tá Mục Cảnh soán ngôi giành vương vị. Huynh ấy bất đắc dĩ phải nhận lời, nhưng vì nghĩ đến Liên Hoa nên chỉ giam hoàng huynh nàng vào đại lao, không ban cái chết nhưng chuyện chưa dừng lại ở đó. Hoàng huynh của Liên Hoa ngang ngược bạo tàn, chuốc nhiều thù oán, bị người người căm giận. Một người từng bị hắn giáng chức hạ lệnh tru di tam tộc đã đột nhập vào đại lao, liều chết cùng hắn. Thế nhưng không hiểu vì sao chuyện này truyền ra ngoài lại trở thành Mục Cảnh giết người phòng trừ hậu họa, khiến Liên Hoa hiểu lầm, hai người trở mặt từ đấy.


    Thảo nào mà sư phụ lại nói huynh ấy làm đế vương nhưng cũng chẳng sung sướng gì. Tôi rót thêm trà vào chén nhỏ đã cạn, đoạn hỏi tiếp: “Nếu con nhớ không nhầm thì sư phụ từng nói Mục Cảnh sư huynh vì bị truy sát mà lạc vào rừng đào của người, huynh ấy cũng nói với con rằng sư phụ đã dạy cho mình rất nhiều điều để trở thành đế vương. Vậy nên đây chưa phải toàn bộ sự thật, chuyện này vẫn còn uẩn khúc, đúng không?”.


    Sư phụ nhấp một ngụm trà rồi khen: “A Tĩnh càng ngày thông minh rồi đấy. Đúng vậy. Những gì ta vừa kể mới chỉ là bề nổi của câu chuyện, chứ sự thật thì rất ít người biết, kể cả nàng công chúa kia”.


    Sau khi biết được chân tướng sự việc, tôi càng thêm quyết tâm phải hàn gắn hai người bọn họ. Hôm sau, tôi ăn vận như hầu nữ mang điểm tâm đến Bách Hoa cung. Nàng công chúa xinh đẹp như hoa kia vừa liếc mắt đã nhận ra tôi, lạnh nhạt nói: “Người có dung mạo như cô khiến người khác gặp một lần là không thể nào quên, không thích hợp để đóng giả tỳ nữ đâu. Cô không biết điều này hay cố tình không thèm giả trang mà đến đây?”.


    Bị vạch trần trong nháy mắt, tôi liền thẳng lưng đáp trả, thoải mái trả lời: “Cũng như hôm qua thôi. Biết tỳ nữ kia là tâm phúc của Mục Cảnh, biết là tỳ nữ ấy sẽ đi báo tin mà vẫn tiếp tục làm ra chuyện này, còn để cửa khép hờ, cô cố ý đúng không?”.


    Liên Hoa vẫn ung dung thưởng thức điểm tâm, chẳng lên tiếng đáp.


    Tôi ngồi xuống chỗ bên cạnh nàng ta, tự rót cho mình một chén trà, làm như ngạc nhiên nói: “Tôi cứ tưởng cô sẽ không thiết ăn thiết uống để Mục Cảnh phải lo chứ”.


    Lần này nàng ta trả lời rất nhanh: “Ta sống là để giày vò hắn, chứ không phải để bạc đãi chính mình”.


    Liên Hoa vốn yêu Mục Cảnh như vậy, huynh ấy bị giày vò sao nàng ta có thể vui sướng? Tự ngược nhau như vậy còn chưa đủ sao? Dù biết hai người đều có nỗi khổ riêng nhưng tôi cũng không thể để họ trở mặt suốt như vậy được.


    Đang nghĩ đến đây, bỗng nhiên nàng ta lại lên tiếng: “Cô tên là gì?”.


    “Dung Tĩnh.” Tôi đáp: “Sư muội lần đầu gặp mặt của Mục Cảnh. Tôi vừa mới biết chuyện của hai người và cảm thấy hai người không nên vì thế mà làm khổ lẫn nhau”.


    “Cô mới gặp hắn lần đầu thì sao có thể biết hắn là loại người vong ân bội nghĩa, âm hiểm thâm độc chứ! Phụ vương ta đã trọng dụng hắn như thế, thậm chí cả ta cũng tin tưởng và thích hắn như vậy, nhưng hắn lại dám tạo phản, giết vua cướp ngôi!”


    Đối với một Liên Hoa đang vô cùng giận dữ, tôi chỉ bình thản trả lời: “Vậy thì cô đã ở bên Mục Cảnh nhiều năm mà lại không hiểu huynh ấy là người thế nào, vì sao phải làm thế sao? Cô chỉ tin vào những lời đồn đại vô căn cứ mà không chịu nghe huynh ấy giải thích? Cô có muốn tận tai nghe sự thật không, sự thật mà phụ vương cô và Mục Cảnh muốn chôn giấu mãi mãi?”.


    Liên Hoa do dự hồi lâu rồi cũng gật đầu đồng ý.


    Tối đó, tôi nhờ ngự thiện phòng làm một bàn đầy thịt rượu để cho riêng tôi và Mục Cảnh thưởng thức, gọi là bữa cơm ra mắt giữa hai sư huynh sư muội. Rượu vào thì lời ra, sư huynh cũng muốn mượn rượu giải sầu nên chủ động kể cho tôi mọi chuyện, chẳng giấu giếm điều gì: “Thật ra ta đã từng rất ghét Liên Hoa, rất ghen tỵ với nàng ấy vì rõ ràng ta mới là con của phụ vương, vậy mà phụ vương lại chỉ yêu thương nàng ấy…”.


    Đúng vậy. Mục Cảnh mới là con của lão Sở vương tiền nhiệm, còn Liên Hoa chỉ là con của một phi tần trong cung với người khác. Xưa kia mẫu phi của Mục Cảnh bị hãm hại, huynh ấy bị đuổi giết, lão Sở vương lại ngoảnh mặt làm ngơ nên huynh ấy chỉ có thể chạy trốn, nương nhờ rừng đào của sư phụ. Khi đã trưởng thành, huynh ấy trở về hoàng cung với tên Mục Cảnh. Lão Sở vương nhận ra và rất mực trọng dụng, còn có ý định truyền ngôi cho huynh ấy. Liên Sinh biết được chuyện này thì vô cùng tức giận, mua chuộc thái y giết chết phụ vương của mình, còn cả gan thay đổi di chỉ của hoàng đế, tự mình lên ngôi, còn ngang ngược hống hách khiến lòng dân oán hận. Mục Cảnh không cam tâm khoanh tay đứng nhìn nên đành lật đổ tên hôn quân ấy, giam vào đại lao.


    “Liên Sinh cùng mẫu phi hắn rất quá đáng, trước hãm hại mẫu tử còn ta chưa đủ, giết chết phụ vương chưa hả dạ, sau khi bị giam hắn còn đe dọa rằng sẽ nói sự thật cho Liên Hoa biết. Ta mới sai người dạy dỗ hắn, làm hắn ngậm miệng lại nhưng không ngờ người đó có thù oán với hắn, lại giết hắn rồi chết theo.”


    Thấy Mục Cảnh đã ngà ngà say, tôi vừa rót thêm rượu vừa hỏi huynh ấy: “Tại sao huynh không công bố thân phận của mình? Như vậy chẳng phải danh chính ngôn thuận hơn sao?”.


    Trước khi gục xuống bàn, huynh ấy có nói: “Vì phụ vương trước khi lâm chung đã nói phải bảo vệ bí mật này, vì ta không muốn nàng ấy biết được sự thật để rồi thương tâm…”.


    Thấy Mục Cảnh đã say mèm, tôi liền không kiêng kị mà nói với người đứng người ngoài cửa: “Nghe rõ rồi chứ?”.


    Người ấy đẩy cửa bước vào, lẳng lặng nhìn sư huynh của tôi, không nói lời nào.


    “Tôi biết giờ cô đang rất hoang mang rối trí, vậy nên không cần cô phải trả lời ngay. Hãy trở về suy nghĩ thật kĩ, đừng để mọi người phải thất vọng về cô.”


    Sau khi mọi chuyện tạm thời ổn thỏa, tôi liền trở về phòng mình. Vừa bước chân vào phòng tôi đã thấy sư phụ đang ngồi một mình ở đó. Thấy tôi trở về, sư phụ liền truy hỏi: “Con đi đâu mà đi quên cả uống lẫn đắp thuốc?”.


    Tôi chẳng hề do dự mà kể cho sư phụ nghe về cả ngày hôm nay rồi ngoan ngoãn uống hết bắt thuốc đắng, nằm nên giường nhờ sư phụ đắp dược. Xong xuôi, tôi liền nghe người nói: “Ta biết con tốt bụng, hay lo nghĩ và giúp đỡ người khác, nhưng con cũng đừng vì thế mà quên quan tâm chính mình, rõ chưa? Rõ rồi thì ngủ đi . Đợi con ngủ rồi ta sẽ về”.


    “Nhưng đợi đến lúc đó trời cũng đã khuya rồi.”


    “Biết vậy thì lần sau đừng về muộn như thế. Giờ thì ngủ đi.”


    Chẳng biết có phải uống hơi nhiều rượu không mà tôi rất nhanh chìm vào giấc ngủ. Giữa lúc mê man, đôi môi khô khốc của tôi bỗng cảm thấy ươn ướt âm ấm, vì sự đụng chạm khẽ khàng nào đó mà thấy ngứa ngứa tê dại, không kìm được mà khẽ hé ra, một dòng nước mát lành theo đó chảy vào cùng vật gì trơn mềm như đầu lưỡi. Nước trong miệng đã chẳng còn giọt nào mà vật đó vẫn chưa chịu rời đi, vẫn cuốn lấy lưỡi tôi không rời, mang đến cảm giác tuyệt vời cùng vị ngọt dịu như bình rượu mới uống tối nay. Tôi muốn mở mắt xem chuyện gì xảy ra nhưng cơ thể chẳng chịu nghe lời, đến lúc mơ màng tỉnh dậy đã là nửa đêm, bên cạnh chẳng còn ai cả. Chẳng lẽ vừa rồi chỉ là mơ hoặc ảo giác, chẳng lẽ không phải sư phụ? Chắc không phải như tôi nghĩ đâu. Tôi tự nhủ với mình như thế rồi lại nằm xuống giường, lần này ngủ một mạch đến tận sáng.


    Đúng như tôi dự đoán. Kể từ hôm sau Liên Hoa đã đóng cửa để bình tĩnh suy nghĩ. Mục Cảnh là người thông minh nhanh nhạy, thấy thái độ của người mình yêu có chút khác lạ, liên tưởng đến hành động của tôi tối qua liền hỏi: “Muội đã nói sự thật cho nàng ấy biết?”.


    “Đâu phải muội, là tự huynh nói đấy chứ, Liên Hoa chỉ vô tình nghe được thôi.” Thấy vẻ mặt huynh ấy không giống thường ngày, tôi đành thành thật đáp: “Được rồi, đúng là muội sắp xếp, bởi vì muội không đành lòng nhìn thấy huynh đóng vai ác mãi được. Hơn nữa nàng ấy cũng có quyền được biết. Giờ bí mật đã hé lộ rồi. Chúng ta chỉ có thể chờ Liên Hoa suy nghĩ và hy vọng nàng ấy sẽ thông suốt, không làm chúng ta thất vọng thôi”.


    Mấy ngày sau đó trôi qua trong yên bình. Mục Cảnh không đến quấy rầy Liên Hoa, nàng ta vẫn đóng cửa suy nghĩ, còn tôi thì vẫn uống thuốc đều đặn, hằng ngày nhờ sư phụ đắp dược. Chẳng mấy chốc hai mắt tôi đã hoàn toàn hồi phục, thậm chí còn tốt hơn xưa nhiều. Mọi chuyện vẫn ổn cho đến đêm hôm ấy.


    Đêm hôm ấy, tôi nằm mơ thấy ác mộng. Trong mơ, tôi thấy mình bị nhấn chìm trong biển lửa, điều kì lạ là tôi chẳng hề thấy hoảng sợ, cũng không có ý định thoát thân. Giấc mơ chân thực đến nỗi khi tỉnh dậy rồi tôi vẫn cảm thấy toàn thân bỏng rát như bị bao bọc bởi lửa. Từ khi đeo chuỗi phật châu tôi đã không còn nhìn thấy tử khí, cũng không còn nằm mơ thấy ác mộng. Vậy chẳng lẽ giấc mộng này chỉ là ngẫu nhiên?


    Một khi tỉnh giấc thì khó mà ngủ lại được, tôi liền khoác thêm một chiếc áo ra bên ngoài, cầm đèn lồng đi dạo trong đêm. Chân cứ bước về phía trước trong vô thức, đến khi tôi định thần lại thì đã đến rất gần Bách Hoa cung. Ở nơi tôi đang đứng bây giờ có thể nhìn thấy phía Bách Hoa cung sáng rực một góc trời, lại gần chút nữa có thể nghe thấy tiếng các cung nữ la hét: “Mau lấy nước dập lửa! Mau lên!”.


    Tôi đảo mắt nhìn quanh một lượt, không thấy bóng dáng ai kia nên hỏi một cung nữ gần đó: “Liên Hoa đâu? Đừng nói là…”.


    Cung nữ đó nhanh chóng đáp: “Công chúa vẫn còn ở bên trong. Lửa quá lớn, chúng nô tỳ muốn vào cứu nhưng không thể”.


    Nghe vậy tôi liền dúi đèn lồng vào tay cung nữ kia, còn bản thân kia thì xông vào biển lửa. Vừa bước chân vào tôi đã cảm thấy hơi nóng cuồn cuộn phả vào người, màu đỏ phủ kín tầm mắt. Càng đi vào trong, lửa cháy càng mạnh. Khi một thanh gỗ to từ phía trên chuẩn bị rơi xuống, khi cơ thể chưa kịp phản ứng thì chuỗi phật châu trên tay tôi đã lóe sáng, hất phăng thanh gỗ kia. Ánh sáng xanh kia không lập tức biến mất như lần trước mà lớn dần, bao bọc quanh tôi, khi tôi tìm thấy Liên Hoa, nàng ta đã ngất đi vì khói. Dìu một người đang ngất ra khỏi đám cháy chẳng phải là chuyện dễ dàng gì, cũng may được chuỗi phật châu che chở nên chúng tôi mới có thể ra ngoài bình an.


    Vừa đặt chân khỏi nơi nguy hiểm, ánh sáng từ chuỗi phật châu liền biến mất. Bên ngoài sư phụ và Mục Cảnh đã đến từ lúc nào.Thấy tôi trở ra, mọi người lập tức thở phào nhẹ nhõm. Mục Cảnh đỡ Liên Hoa từ tay tôi, dù lòng vô cùng lo lắng cho người trong lòng vẫn không quên cảm ơn tôi. Còn sư phụ thì lạnh lùng nói: “Ta đưa A Tĩnh về trị thương trước”.


    Sư phụ lại tức giận rồi, thậm chí cơn phẫn nộ này còn lớn gấp bội hai lần trước. Suốt cả dọc đường người chẳng nói câu gì, đến khi trở về phòng rồi, khi tôi yên vị trên giường người mới nên tiếng: “Vừa nãy khi nghe cung nữ báo tin, nếu không có Mục Cảnh ngăn cản ta đã xông vào rồi”. Chẳng để tôi kịp phản ứng, sư phụ lại giận dữ chất vấn: “Con quên ta đã từng nói gì sao? Sao lại vì người khác mà đẩy bản thân vào tình thế nguy hiểm hả? Trước là mắt không nhìn thấy, giờ con muốn mất cả mạng sao?”.


    “Nhưng nếu khi ấy con không kịp thời xông vào thì rất có thể Liên Hoa sẽ phải bỏ mạng ở đó. Hơn nữa con lại có chuỗi phật châu bảo vệ nên đâu bị hề hấn gì.” Ngừng một lát, tôi lại bổ sung: “Chính con là người muốn Liên Hoa biết được sự thật, nếu nàng ấy có mệnh hệ gì thì con sẽ áy náy lắm, Mục Cảnh cũng sẽ vô cùng đau khổ”.


    “Con chỉ nghĩ bản thân sẽ áy náy, Mục Cảnh sẽ đau lòng, chứ không hề quan tâm đến cảm nhận của ta là gì, đúng không?” Sư phụ đến bên giường, hai tay chống xuống hai bên giam tôi ở giữa, giọng nói cùng ánh mắt chưa bao giờ nghiêm túc đến vậy: “Ta cố gắng che giấu tình cảm của mình bấy lâu nay là vì sự cách biệt giữa sinh mệnh của cả hai, là vì ta không muốn đắm chìm trong niềm hạnh phúc ngắn ngủi rồi phải sống cô đơn suốt phần đời còn lại. Nhưng con lại hết lần này đến lần khác ép ta phải nói, A Tĩnh”.

    _______________________________

    <<< (Cái kết viên mãn cho ba kiếp theo đuổi) - (Chương 13) >>>
     
    Chỉnh sửa cuối: 28/4/17
    Đậu Phụ thích bài này.

Chia sẻ trang này