Gác Chuyển Ngữ Sinh vật Huyền bí và Nơi Tìm ra Chúng - Cập nhật - J.K Rowling

Thảo luận trong 'Tác phẩm Phương Tây' bắt đầu bởi Gravity, 12/1/17.

  1. Gravity

    Gravity Gà con Nhóm Chuyển ngữ

    Bài viết:
    35
    Được thích:
    40
    Đã thích:
    2
    GSP:
    0p

    Cover book.jpg

    SINH VẬT HUYỀN BÍ
    VÀ NƠI TÌM RA CHÚNG

    Tác giả: J.K Rowling
    Dịch: Gravity
    Thể loại: Giả tưởng
    Tình trạng tác phẩm: Full
    Tình trạng dịch: Cập nhật
    Độ dài: 59 trang
    Cảnh báo: Không
    ***
    Bản dịch chưa được sự đồng ý của tác giả.
    ***
    GIỚI THIỆU
    J.K Rowling viết cuốn Sinh vật Huyền bí và Nơi Tìm ra Chúng dưới tên của một tác giả trong Thế giới Phù thủy là Newton Scamander. Cuốn sách này được nhắc đến trong tập đầu tiên Harry Potter và Hòn đá Phù thủy của series 7 tập Harry Potter như là sách giáo khoa của học sinh năm thứ nhất trường Hogwarts.
    ***
     
    Chỉnh sửa cuối: 20/4/17
  2. kieunguyetnga

    kieunguyetnga Gà con

    Bài viết:
    8
    Được thích:
    3
    Đã thích:
    7
    GSP:
    0p
    Khi nào mới có vậy?
     
  3. Gravity

    Gravity Gà con Nhóm Chuyển ngữ

    Bài viết:
    35
    Được thích:
    40
    Đã thích:
    2
    GSP:
    0p
    (Harry, Ron & Hermione ghi chú ở đoạn đầu cuốn sách)
    Pic 1.png

    CUỐN SÁCH NÀY CỦA Harry Potter
    dùng chung với Ron Weasley vì sách của cậu ấy rách tan nát rồi
    sao bồ không mua sách mới ấy?
    viết vào sách của bồ đi Hermione
    thứ bảy rồi bồ mua cả đống bom-phân, đáng lẽ ra bồ đã mua được quyển sách mới
    Bom phân muôn năm

    Pic 2.png
    bồ chết chắc Weasley
    Harry yêu Moaning Myrtle
    Pic 3.png
    CHUDLEY CANNONS
    viết tên một đội tử tế trong sách mình đi Weasley
     
  4. Gravity

    Gravity Gà con Nhóm Chuyển ngữ

    Bài viết:
    35
    Được thích:
    40
    Đã thích:
    2
    GSP:
    0p

    VỀ TÁC GIẢ

    Newton (‘NEWT’) Artemis Fido Scamander* sinh năm 1897. Niềm say mê với những sinh vật vô thường của ông được nuôi dưỡng từ người mẹ có niềm đam mê nuôi Bằng mã kiểng. Sau khi tốt nghiệp Trường Đào tạo Phù thủy và Pháp sư Hogwarts, ông Scamander làm việc tại Bộ Pháp thuật trong Sở Kiểm soát và Điều hòa Sinh vật Pháp thuật. Sau hai năm làm ở Văn phòng Tái định cư Yêu tinh, năm tháng mà tác giả mô tả là “nhạt nhẽo cùng cực”, Newt được thuyên chuyển đến Cục Phân loại Sinh vật, tại đây, vốn kiến thức đồ sộ về những sinh vật pháp thuật kỳ dị ấy trở thành bước đệm vững chắc khiến ông thăng tiến nhanh chóng.

    Dù gần như đơn phương chịu trách nhiệm về Bản Danh sách Người sói năm 1947, ông nói rằng điều khiến ông tự hào nhất là lệnh Cấm Phối giống Thực nghiệm, được thông qua năm 1965, thực sự đã ngăn chặn được việc lai tạo ra những loài quái vật mới và không thể thuần hóa được trong đất nước Anh. Công việc của ông Scamander ở Cục Cưỡng chế và Nghiên cứu Rồng là cơ duyên của nhiều chuyến đi nghiên cứu tại nước ngoài, trong suốt các chuyến đi ông đã tích góp tư liệu để tạo nên cuốn sách bán chạy toàn cầu Sinh vật Huyền bí và Nơi Tìm ra Chúng, hiện đã là lần tái bản thứ năm mươi hai.

    Newt Scamander được trao Huân chương Merlin Đệ Nhị năm 1979, công nhận cống hiến của ông trong ngành nghiên cứu sinh vật pháp thuật, Sinh vật Pháp thuật học. Hiện nay đã nghỉ hưu, ông sống tại Dorset cùng vợ, bà Porpentina và đám thú cưng Kneazle gồm: Hoppy, Milly, và Mauler.


    * (ghi chú của Hermione) tên hay
     
    Chỉnh sửa cuối: 15/4/17
    bupbecaumua thích bài này.
  5. Gravity

    Gravity Gà con Nhóm Chuyển ngữ

    Bài viết:
    35
    Được thích:
    40
    Đã thích:
    2
    GSP:
    0p

    LỜI TỰA

    TÔI VÔ CÙNG VINH DỰ khi ông Newt Scamander bảo tôi viết lời tựa cho ấn bản Sinh vật Huyền bí và Nơi Tìm ra Chúng cực kỳ đặc biệt này. Kiệt tác này của Newt đã trở thành cuốn sách giáo khoa chính thức tại Trường Phù thủy và Pháp sư Hogwarts kể từ khi xuất bản và phải nhận hàng đống lời khen tặng vì thành tích trước sau đều cao của các học sinh trường ta trong các kỳ thi Chăm sóc Sinh vật Huyền bí – mà cuốn sách lại không phải chỉ là lý thuyết suông. Không gia đình phù thủy nào là hoàn hảo nếu thiếu mất một cuốn Sinh vật Huyền bí đã bị lật đến mòn vẹt truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác vì muốn kiếm cách tuyệt nhứt để tống tiễn những con Mắc-ói, giải mã tiếng kêu tang thương của chim Điềm-báo hay tìm cách chữa cho con Nùi-len cưng nhà họ vì đã nốc cạn nước nhà xí.

    Tuy nhiên, ấn bản lần này lại có mục đích cao đẹp hơn so với lần phát hành sách cho giới phù thủy. Lần đầu tiên trong lịch sử nhà xuất bản bực thầy Obscurus xuất bản ra những đầu sách dành cho người dân Muggle.

    Công tác của tổ chức Comic Relief được nhiều người dân Muggle biết tới với hoạt động nhằm loại bỏ những điều xấu xa, tồi tệ nhất mà con người phải gánh chịu, cho nên tôi muốn nhắn tới các đồng chí phù thủy nhà tôi là tôi đang rất tỉnh. Giờ đây chúng ta biết rằng không chỉ có mỗi chúng ta nhận ra tiếng cười có công dụng trị bệnh, rằng dân Muggle cũng nhận thức được điều đó, và rằng họ đã tận dụng món quà này theo cách sáng tạo tột bực, đó là sử dụng tiếng cười để gây quỹ với mục đích cứu vớt những mảnh đời bất hạnh – một thành quả của pháp thuật mà mọi phù thủy chúng ta đều thèm khát. Comic Relief đã gây được 174 triệu bảng Anh kể từ năm 1985 (tương đương với ba mươi tư triệu tám trăm bảy mươi hai Galleon, mười bốn Sickle và bảy Knut).

    Ấn bản này giờ đây chính là đặc ân mà thế giới phù thủy có thể hỗ trợ tổ chức Comic Relief trong khả năng của mình. Trên tay quý vị là một bản sao cuốn Sinh vật Huyền bí của cậu Harry Potter, được hoàn thiện bởi các ghi chú rất hữu ích chính cậu ấy và những người bạn viết trên lề cuốn sách. Dầu cậu Harry có đôi chút miễn cưỡng khi đồng ý cho in cuốn sách của cậu ấy thành thế này, nhưng mấy người bạn trong tổ chức Comic Relief của tôi lại cảm thấy rằng đóng góp nhỏ bé của cậu ấy sẽ làm tăng tính giải trí cho cuốn sách. Ông Newt Scamander, mất rất lâu mới chấp nhận nổi những hình vẽ không thương tiếc lên kiệt tác của ông ấy, đã đồng ý.

    Ấn bản Sinh vật Huyền bí và Nơi Tìm ra Chúng này sẽ được bán tại hiệu sách Flourish and Blotts cũng như tại các hiệu sách Muggle. Các phù thủy mong muốn được đóng góp có thể thông qua Ngân hàng Phù thủy Gringotts (hỏi Griphook).

    Điều sau cùng vẫn như cũ là tôi cảnh báo quý vị bất kì ai đọc quá lâu mà không mua cuốn sách này là sách có bùa Chống Trộm. Tôi muốn nhân cơ hộ này cam đoan với bạn đọc Muggle một lần nữa là những sinh vật hài hước được mô tả ngay sau đây đều là giả tưởng và chẳng thể nào khiến quý vị đau đớn. Với các phù thủy, tôi chỉ nói rằng: Draco dormiens nunquan titillandus*.

    Index22_clip_image006_0000.gif
    * Đừng bao giờ cù con rồng đang ngủ.
     
    Chỉnh sửa cuối: 20/4/17
    bupbecaumua thích bài này.
  6. Gravity

    Gravity Gà con Nhóm Chuyển ngữ

    Bài viết:
    35
    Được thích:
    40
    Đã thích:
    2
    GSP:
    0p

    LỜI MỞ ĐẦU


    VỀ CUỐN SÁCH
    Sinh vật Huyền bí và Nơi Tìm ra Chúng là thành quả của những chuyến đi và nghiên cứu nhiều năm.
    Nhìn lại những năm tháng khi còn là cậu phù thủy bảy tuổi dành hàng giờ trên giường xắt con Mắc-ói, tôi thực ghen tỵ với cậu ấy bởi những cuộc hành trình sắp tới: từ khu rừng nhiệt đới u tối nhứt tới vùng sa mạc chói chang nhứt, từ đỉnh núi cao tới vùng đầm ngập ngụa sình lầy, cậu bé bẩn thỉu dính đầy Mắc-ói đó sẽ theo đuổi, khi lớn lên, là những con quái thú được mô tả ở các trang tiếp theo đây. Tôi đã ghé thăm bao hang thú, hang thỏ, tổ chim khắp năm châu, quan sát tập tính kỳ dị của những sinh vật pháp thuật tại cả trăm quốc gia, chứng kiến sức mạnh, giành lấy lòng tin của chúng, rồi thừa dịp, thu phục chúng bằng cái ấm trà du lịch.

    Ấn bản Sinh vật Huyền bí đầu tiên được ông Augustus Worme Nhà Xuất bản Obscurus đặt mua năm 1918, ông ấy đã thật tốt bụng mà hỏi tôi rằng liệu tôi có tính đến việc viết một bản chính thức về những sinh vật pháp thuật cho nhà xuất bản của ông ấy hay không. Lúc đó tôi chỉ là một nhân viên Bộ Pháp thuật quèn và đã nắm ngay lấy cơ hội vừa để tăng thêm thu nhập cho đồng lương ít ỏi đến đáng thương với hai Sickle mỗi tuần, vừa để đi đó đi đây vào những kỳ nghỉ để nghiên cứu những loài vật pháp thuật mới. Còn đây là lịch sử xuất bản: Sinh vật Huyền bí hiện đã xuất bản lần thứ năm mươi hai.

    Trong phần mở đầu này, tôi sẽ trả lời một vài câu hỏi được hỏi nhiều nhất đã được gửi tới túi thư của tôi hàng tuần kể từ khi cuốn sách này được xuất bản lần đầu tiên năm 1927. Đầu tiên sẽ là câu hỏi cơ bản nhất – ‘quái thú’ là gì?



    QUÁI THÚ* LÀ GÌ?
    * (ghi chú của Ron) là thứ đầy lông lá bự tổ chảng với cực kỳ nhiều chân.
    Khái niệm về quái thú đã gây tranh cãi hàng thế kỉ qua. Dẫu khái niệm này có thể khiến một vài học sinh lần đầu tiên học bộ môn Sinh vật Pháp thuật học phải ngạc nhiên, thế nhưng vấn đề có thể quay lại đúng trọng tâm nếu chúng ta dành ra chút thời gian nghĩ tới ba loại sinh vật pháp thuật.

    Phần lớn thời gian người sói ở dưới dạng con người (dù là phù thủy hay Muggle). Tuy nhiên, mỗi tháng một lần, người sói sẽ biến hình thành quái thú bốn chân man rợ muốn giết người và không có nhân tính.

    Nhân mã có tập tính không giống con người; chúng sống nơi thiên nhiên hoang dã, không thích mặc quần áo, thích sống tách biệt với phù thủy cũng như dân Muggle nhưng trí tuệ thì lại tương tự.

    Người khổng lồ sinh ra có hình hài giống người, dáng đi thẳng, có thể học một vài từ ngữ đơn giản, song, lại kém thông minh hơn cả con bạch kỳ mã tối dạ nhất và không có quyền năng pháp thuật ngoại trừ việc sở hữu sức khỏe phi thường đến mức quái đản.

    Giờ thì chúng ta tự hỏi rằng: sinh vật nào trong số này là một “chủng tộc” – nghĩa là một sinh vật xứng đáng được trao quyền hợp pháp và có tiếng nói trong hệ thống cai trị ở thế giới pháp thuật – và sinh vật nào là thú?

    Những nỗ lực gần đây nhằm phân định sinh vật pháp thuật nào nên được xếp vào loại thú vẫn còn rất mơ hồ.

    Ông Burdock Muldoon, Chủ tịch Hội đồng Phù thủy1 thế kỷ mười bốn đã ban hành sắc lệnh về việc bất kể sinh vật nào thuộc cộng đồng pháp thuật mà đi bằng hai chân từ nay trở đi sẽ được công nhận là “chủng tộc”, tất cả những sinh vật khác vẫn là “thú”. Trên tinh thần hữu nghị, ông đã triệu tập tất cả các “chủng tộc” tới gặp gỡ với giới phù thủy tại cuộc gặp gỡ cấp cao để cùng thảo luận về những điều luật pháp thuật mới, để rồi vô cùng bàng hoàng nhận ra rằng ông đã tính toán sai bét. Phòng họp chật ních bọn yêu tinh, bọn chúng dắt theo tất cả các loài sinh vật có hai chân mà chúng có thể tìm được. Như Bathilda Bagshot kể lại trong cuốn Một Lịch sử Pháp thuật:

    Chẳng ai có thể nghe được gì ngoài tiếng kêu quang quác của lũ Cu-a-quạ, tiếng rền rĩ của lũ Báo-điềm, và giọng ca the thé không ngưng nghỉ của lũ Úi-chà. Trong khi các pháp sư, phù thủy ra sức bàn bạc giải quyết đống hồ sơ giấy tờ trước mặt, thì lũ yêu quái lẫn lộn cùng lũ tiên nhí lộn qua lộn lại quanh đầu họ, nói huyên thuyên rồi cười hinh hích. Hàng đống người khổng lồ cũng bắt đầu đập phá căn phòng bằng cây gậy của chúng, trong khi đó lũ mụ-phù-thủy lướt vèo vèo lùng sục trẻ con để ăn thịt. Khi Chủ tịch Hội đồng đứng lên khai mạc cuộc họp đã trượt phải đống phân của con Cứu-cánh và chạy trối chết ra khỏi phòng họp.​

    Như chúng ta đã thấy, sở hữu hai cái chân không có nghĩa là sinh vật pháp thuật có khả năng hoặc có hứng thú với công việc cầm quyền của giới phù thủy. Nuốt phải trái đắng, ông Burdock Muldoon sau đó đã phản đối kịch liệt bất kỳ nỗ lực nào nhằm kết nạp các thành phần phi-phù-thủy vào Hội đồng Phù thủy.

    Người kế nhiệm Muldoon, Bà Elfrida Clagg đã tìm cách xác định lại định nghĩa “chủng tộc” với hi vọng gây dựng tình đoàn kết giữa với các loài sinh vật pháp thuật khác. Định nghĩa “chủng tộc”, theo như bà Clagg tuyên bố, là những sinh vật có thể nói tiếng người. Bởi vậy, tất cả những sinh vật có thể hiểu được những gì Hội đồng nói đã được mời tới dự phiên họp tiếp theo. Thế nhưng, lại một lần nữa, vấn đề lại xảy đến. Những người khổng lồ được bọn yêu tinh dạy cho mấy câu nói đơn giản lại tới phá phòng họp như trước. Bọn phu-xa chạy đua quanh chân ghế, cào toạc cổ chân của bất kỳ ai mà chúng có thể chạm vào. Trong khi đó một phái đoàn đông đảo những con ma (bị bỏ qua dưới thời của Muldoon bởi vì chúng không đi bằng hai chân mà lướt trên không trung) tới tham dự nhưng sau đó lại bỏ đi với nỗi khinh bỉ về cái mà sau này họ gọi là “phân tích vô liêm sỉ của Hội đồng về nhu cầu của người sống trái lại với mong muốn của người chết”. Nhân mã, dưới thời của Muldoon được phân loại là “thú” và giờ đây dưới thời của Bà Clagg đã được xác định là “chủng tộc”, đã từ chối tham dự vào Hội đồng vì phản đối việc Hội đồng không xếp nhân ngư vào loại “chủng tộc”, nhân ngư không thể nói bất kì ngôn ngữ nào ngoài tiếng nhân ngư khi ở trên cạn.

    Cho đến tận năm 1811 khi định nghĩa được đưa ra mới được hầu hết giới pháp thuật chấp nhận. Grogan Stump, Bộ trưởng Pháp thuật mới được bổ nhiệm, quy định “chủng tộc” là bất kỳ loài sinh vật nào có trí thông minh đủ để hiểu được những đạo luật của cộng đồng pháp thuật và có trách nhiệm trong việc chấp hành luật”.2 Đại diện của người khổng lồ đã được đặt câu hỏi với sự vắng mặt của đám yêu tinh và được xác định rằng không hiểu bất cứ điều gì người khác nói; cho nên người khổng lồ được xếp vào loại “thú” dù đi bằng hai chân; nhân ngư được mời tới thông qua người phiên dịch lần đầu tiên được phân loại là “chủng tộc”; tiên nhí, tiểu yêu và ma lùm dù có hình dáng con người nhưng bị xếp vào loại “thú”.

    Dĩ nhiên, vấn đề không dừng lại ở đó. Chúng ta đều quá quen với những kẻ quá khích vận động xếp loại Muggle vào loại “thú”; chúng ta đều hiểu rằng nhân mã sẽ chối bỏ thân phận là “chủng tộc” và yêu cầu để nguyên họ là “thú”;3 người sói, trong khi đó, cứ bị phân qua phân lại giữa Thú và Chủng tộc suốt nhiều năm; tại thời điểm tôi viết cuốn sách này, một văn phòng dành cho Sở Hỗ trợ Người sói tại Bộ phận chuyên trách Chủng tộc được thành lập, thế nhưng Nơi Đăng ký và Kiểm soát Người sói lại được Bộ phận chuyên trách Thú vật quản lý. Vài sinh vật rất thông minh lại được xếp vào loại “thú” vì chúng không thể kiểm soát được thú tính. Nhện lông khổng lồ và Tiên tri ăn nói cực kỳ sắc sảo nhưng sẽ tìm cách ngấu nghiến bất kỳ người nào mon men lại gần. Nhân sư chỉ nói chuyện khi chơi giải câu đố, và sẽ trở nên hung hãn khi nhận được câu trả lời sai.

    Ở các trang sau có những chỗ phân loại các sinh vật chưa được thỏa đáng đều đã được tôi ghi chú.

    Bây giờ hãy đến với câu hỏi mà các pháp sư, phù thủy hỏi nhiều nhất khi nói về Sinh vật Pháp thuật học: Tại sao dân Muggle không chú ý tới các sinh vật này?



    1 Hội đồng Pháp thuật là tiền thân của Bộ Pháp thuật

    2 Một ngoại lệ là những con ma, họ nằng nặc cho rằng thật không có nhân tính nếu xếp họ vào loại “chủng tộc” khi mà họ rõ rành rành là “người sống hết thời”. Bởi vậy, Stump đã thành lập ba bộ phận trực thuộc Sở Kiểm soát và Điều hòa Sinh vật Pháp thuật vẫn còn tồn tại đến ngày nay: Bộ phân chuyên trách Quái thú, Bộ phận chuyên trách Chủng tộc và Bộ phận chuyên trách Linh hồn.

    3 Nhân mã đã phản đối một số loại sinh vật mà cùng được xếp vào loại “chủng tộc” ngang hàng với nhân mã như mụ-phù-thủy, ma cà rồng, và tuyên bố rằng tự họ sẽ trông nom việc của mình mà không dính dáng gì tới giới phù thủy. Một năm sau nhân ngư cũng có yêu cầu tương tự. Bộ Pháp thuật đã miễn cưỡng chập nhận các yêu cầu đó. Mặc dầu Văn phòng Liên lạc Nhân mã vẫn hoạt động trong Bộ phận chuyên trách Quái thú tại Sở Kiểm soát và Điều hòa Sinh vật Pháp thuật, nhưng chưa từng có nhân mã nào dùng đến. Thực vậy, “gửi tin nhắn tới Văn phòng Nhân mã” đã trở thành chuyện tếu trong Sở và cũng có nghĩa là người được nói tới sẽ sớm bị đuổi việc thôi.
     
    Chỉnh sửa cuối: 26/4/17
  7. Gravity

    Gravity Gà con Nhóm Chuyển ngữ

    Bài viết:
    35
    Được thích:
    40
    Đã thích:
    2
    GSP:
    0p

    VẮN TẮT* QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC
    CÁC SINH VẬT HUYỀN BÍ CỦA NGƯỜI MUGGLE
    *(ghi chú của Ron) ông thiệt là ba xạo.

    Nhiều phù thủy chắc phải kinh chết khiếp khi biết rằng dân Muggle không hề mù tịt về pháp thuật cũng như các con quái thú gớm ghiếc mà xưa nay chúng ta vẫn cố che đậy. Nhìn lướt qua các công trình nghệ thuật và văn học thời kỳ Trung đại của dân Muggle, ta phát hiện ra rằng nhiều sinh vật mà ngày nay họ coi là sản phẩm của trí tưởng tượng thì thời đó được cho là có thật. Rồng, điểu sư, bạch kỳ mã, phượng hoàng, nhân mã – những loài vật này và nhiều loài vật khác được thể hiện trong các tác phẩm Muggle vào thời gian đó, cho dù phần lớn là các loài vật này được khắc họa sai lệch một cách tức cười.

    Tuy nhiên, khảo sát gần đây về những câu chuyện ngụ ngôn của dân Muggle vào thời gian đó đã chứng minh rằng hầu hết các sinh vật pháp thuật hoặc là hoàn toàn trốn tránh sự chú ý của dân Muggle hoặc là bị nhận nhầm với thứ gì đó. Hãy xem một đoạn còn sót lại từ bản ghi chép của một tín đồ Anh giai Benedict, thầy tu dòng Phan-xi-cô người Worcestershire:


    Hum ni khi đi du hằn đến Thảo Mộc Viên, tui đã rẽ đám rau é, phát hiện ra con chồn sương to ghê luôn. Con này chả thèm chạy cũng chả thèm trốn như đám chồn sương bình thường, mà lại nhảy bổ lên người tui, làm tui ngã chổng ngửa trên mặc đấc rùi giả vờ giả vịt khóc bù lu bù loa, “Biến đi, thằng trọc!” Rùi nó cắn ngấu nghiến cái mũi tui khiến tui thiệt đã chảy máu cả Giờ đồng hồ. Tu sĩ hông thèm tin tui đã thấy một con chồn sương biết nói, còn hỏi tui có phải tui đã tợp Rượu Củ cải của Anh giai Benedict hay không. Vì mũi tui vẫn sưng phồng và đầm đìa máu chảy, nên tui được miễn buổi cầu kinh chiều.​


    Rõ ràng là anh bạn Muggle của chúng ta không hề bới ra được một con chồn sương như anh ta vẫn tưởng, mà là một con Phu-xa, có vẻ như con vật này đang chụp bắt món ăn khoái khẩu của nó - lũ ma-lùm.

    Biết nửa chừng còn nguy hiểm hơn là không biết gì. Dân Muggle cứ ngày càng sợ phép thuật vì không biết thứ gì đang rình rập trong vườn cây nhà họ. Các phù thủy thời đấy bị dân Muggle khủng bố, bức hại nhiều chưa từng có, việc trông thấy những con quái thú như rồng hay bằng mã càng cổ vũ tinh thần hiếu chiến của dân Muggle.

    Nhưng những ngày đen tối dẫn đến việc các phù thủy phải lui vào ở ẩn đó không phải điều mà tác phẩm này muốn bàn tới.4 Điều mà chúng ta muốn nói tới ở đây là số phận của những con vật thần thoại đó, cũng như chính chúng ta, sẽ phải được giấu diếm cẩn thận một khi dân Muggle tin rằng những thứ như phép thuật là không tồn tại.

    Vấn đề này đã gây ra tranh cãi trong nội bộ Liên đoàn Pháp thuật Quốc tế tại cuộc họp thượng đỉnh nổi tiếng vào năm 1692. Các pháp sư với đủ loại quốc tịch đã dành ra hơn bảy tuần tranh luận, đôi khi lên đến đỉnh điểm, để giải quyết vấn đề hóc búa về các sinh vật pháp thuật. Chúng ta có thể giấu bao nhiêu loài, đó là những loài nào? Chúng ta nên giấu chúng ở đâu và giấu bằng cách nào? Cuộc tranh luận vẫn nổi lên, có những loài chẳng hề biết rằng số phận của chúng vẫn đang được định đoạt, số khác thì tham gia vào cuộc cãi vã ấy.5

    Cuối cùng, thỏa thuận cũng đạt được.6 Hai mươi bảy loài, xếp theo kích cỡ từ rồng đến Đê-đờ-mê sẽ tránh khỏi tầm mắt của dân Muggle nhằm tạo ảo giác rằng chúng vốn chưa từng tồn tại ngoài trí tưởng tượng của con người. Con số hai mươi bảy này tiếp tục tăng trong suốt thế kỷ sau đó, bởi vì phù thủy ngày càng tự tin vào phương thức bảo mật của mình. Năm 1750, Điều 73 đã được thêm vào Đạo luật Quốc tế về Bảo mật Phù thủy mà các bộ pháp thuật trên thế giới ngày nay đều phải tuân thủ:

    Các hội đồng chỉ đạo pháp thuật đều phải chịu trách nhiệm về bảo mật, chăm sóc và kiểm soát tất cả quái thú, chủng tộc và linh hồn pháp thuật hiện đang cư trú trong đường biên giới lãnh thổ. Nếu bất cứ một loại sinh vật nào gây hại, hoặc gây chú ý tới cộng đồng Muggle, hội đồng chỉ đạo pháp thuật đó sẽ phải chịu phán quyết của Liên đoàn Pháp thuật Quốc tế.​

    4 Nếu ai hứng thú với bản ghi chép đầy đủ về thời kỳ vô cùng đẫm máu này của lịch sử pháp thuật thì nên tham khảo cuốn Một Lịch sử Pháp thuật của Bathilda Bagshot (Những Cuốn sách Nhỏ Màu đỏ, xuất bản năm 1974).

    5 Phái đoàn phía nhân mã, nhân ngư và yêu tinh cũng được mời tới cuộc họp.

    6 Trừ bọn yêu tinh.
     

Chia sẻ trang này