Một số điều các bạn mới tập làm thơ nên biết

Thảo luận trong 'Thơ' bắt đầu bởi ngocnungocnu, 3/5/15.

  1. ngocnungocnu

    ngocnungocnu Gà già Nhóm Tác giả ☆☆☆

    Bài viết:
    4.792
    Được thích:
    7.675
    Đã thích:
    13.604
    GSP:
    Ap
    MỘT SỐ ĐIỀU CÁC BẠN MỚI TẬP LÀM THƠ NÊN BIẾT

    Để giúp các bạn có được những cái nhìn khái quát về thơ, nắm được những điều cốt lõi trong cách vận dụng gieo vần và tránh bị nhầm lẫn giữa thơ tự do với văn xuôi, mình lập ra topic này, hi vọng các bạn bỏ ra chút thời gian để tham khảo.
    Chúc cho các bạn luôn có những giờ phút vui vẻ! Thân!


    I. Cách gieo vần và các loại thể thơ (1)
    Cách gieo vần và các loại thể thơ (2)

    II. Một số điều về thơ tự do
    III. Nét khu biệt giữa thơ và văn xuôi
     
    Sửa lần cuối bởi điều hành viên: 28/5/15
  2. ngocnungocnu

    ngocnungocnu Gà già Nhóm Tác giả ☆☆☆

    Bài viết:
    4.792
    Được thích:
    7.675
    Đã thích:
    13.604
    GSP:
    Ap
    I. CÁCH GIEO VẦN VÀ CÁC THỂ LOẠI THƠ (1)
    (Nguồn. http://www.daovien.net/t7171-topic)
    Thơ Lục Bát
    Lục bát là thể thơ đặc biệt của Việt Nam, mà truyện Kiều là tác phẩm tiêu biểu nhất. Vần thơ lục bát có thể phân tách như sau:
    2 4 6
    bằng trắc bằng
    2 4 6 8
    bằng trắc bằng bằng

    Tiếng thứ 6 của câu lục vần với tiếng thứ 6 của câu bát. Tiếng thứ 8 của câu bát vần với tiếng thứ 6 của câu lục tiếp theo. Trong câu bát, tiếng 6 và 8 tuy cùng vần bình nhưng một tiếng có dấu huyền và một tiếng không có dấu.
    Thôn đoài ngồi nhớ thôn Ðông
    Một người chín nhớ mười mong một người
    Gió mưa là bệnh của trời
    Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.
    (Nguyễn Bính)

    Bỗng dưng buồn bã không gian
    Mây bay lũng thấp giăng màn âm u
    Nai cao gót lẫn trong mù
    Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về.
    (Huy Cận)

    Có hai ngoại lệ trong thơ lục bát:
    1. Tiếng thứ 2 câu lục có thể là trắc, khi ấy nhịp thơ ngắt ở giữa câu.
    Người nách thước, kẻ tay đao
    Đầu trâu mặt ngựa, ào ào như sôi.
    (Nguyễn Du)

    2. Tiếng cuối câu lục có thể vần với tiếng 4 câu bát, khi đó tiếng 2 và 6 của câu bát sẽ đổi ra trắc. Câu thơ sẽ ngắt nhịp ở giữa câu bát, như trong câu ca dao sau:
    Đêm nằm gối gấm không êm
    Gối lụa không mềm bằng gối tay em.

    Thơ Song Thất Lục Bát
    Đây cũng là một thể thơ đặc thù của Việt Nam, gồm hai câu bảy chữ và hai câu lục bát. Tác phẩm Chinh Phụ Ngâm đã được viết trong thể thơ này. Trong câu thất trên, tiếng thứ 3 là trắc, 5 bình, 7 trắc; trong câu thất dưới, tiếng thứ 3 là bình, 5 trắc, 7 bình. Hai câu lục bát thì theo luật thường lệ.
    Tiếng cuối câu thất trên vần với tiếng 5 câu thất dưới, tiếng cuối câu thất dưới vần với tiếng cuối câu lục, tiếng cuối câu lục vần với tiếng 6 câu bát. Và tiếng cuối câu bát vần với tiếng 5 của câu thất tiếp theo. Tuy nhiên, tiếng cuối câu bát cũng có thể vần với tiếng 3 câu thất, biến tiếng này đổi sang vần bình. Do đó, tiếng 3 trong câu thất trên có thể là trắc hay bằng.
    3 5 7
    trắc/bằng bằng trắc
    3 5 7
    bằng trắc bằng

    Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt,
    Xếp bút nghiên theo việc đao cung.
    Thành liền mong tiến bệ rồng,
    Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời.
    Chí làm trai dặm nghìn da ngựa,
    Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao.
    Giã nhà đeo bức chiến bào,
    Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu.
    (Đặng Trần Côn)


    Thơ Bốn Chữ
    Nếu tiếng thứ 2 bằng thì tiếng thứ 4 trắc; ngược lại, tiếng thứ 2 trắc thì tiếng thứ 4 bằng.
    2 4
    trắc bằng
    2 4
    bằng trắc
    Nhưng nhiều khi câu thơ cũng không theo luật đó.

    Cách gieo vần
    1. Vần tiếp (ít dùng)
    Lính đóng ven rừng
    Giữa mùa nóng nực
    Uống cạn hố nước
    Thấy toàn đầu lâu
    Thịt rữa đi đâu
    Còn xương trắng nhỡn
    (Trần Đức Uyển)

    2. Vần tréo
    Tôi làm con gái
    Buồn như lá cây
    Chút hồn thơ dại
    Xanh xao tháng ngày
    (Nhã Ca)
    Người từ trăm năm
    Về ngang sông rộng
    Ta ngoắc mòn tay
    Trùng trùng gió lộng
    (Nguyễn Tất Nhiên)

    3. Vần ôm
    Em tan trường về
    Ðường mưa nho nhỏ
    Chim non giấu mỏ
    Dưới cội hoa vàng
    (Phạm Thiên Thư)

    4. Vần ba tiếng (ít dùng)
    Sao biếc đầy trời
    Sầu trông viễn khơi
    Ðêm mờ im lặng
    Nhìn hạt sương rơi
    (Khổng Dương)

    Em là ánh trăng
    Vừa biếc vừa xanh
    Em là giấc mộng
    Ðêm xuân của anh
    (Huyền Kiêu)

    Thơ Năm Chữ
    Cũng giống như thơ bốn chữ: nếu tiếng thứ 2 trắc thì tiếng thứ 4 bằng, hay ngược lại. Nhưng cũng có nhiều trường hợp không phải vậy.
    Hôm nay đi chùa Hương
    Hoa cỏ mờ hơi sương
    Cùng thầy me em dậy
    Em vấn đầu soi gương
    (Nguyễn Nhược Pháp)

    Cách gieo vần
    1. Vần tréo
    Hôm nọ em biếng học
    Khiến cho anh bất bình,
    Khẽ đánh em cái thước
    Vào bàn tay xinh xinh
    (Nguyễn Xuân Huy)

    Trước sân anh thơ thẩn
    Đăm đăm trông nhạn về
    Mây chiều còn phiêu bạt
    Lang thang trên đồi quê
    (Hàn Mặc Tử)

    2. Vần ôm
    Em không nghe rừng thu,
    Lá thu kêu xào xạc,
    Con nai vàng ngơ ngác
    Đạp trên lá vàng khô?
    (Lưu Trọng Lư)

    3. Vần ba tiếng bằng
    Tuyết rơi mong manh buồn
    Ga Lyon đèn vàng
    Cầm tay em muốn khóc
    Nói chi cũng muộn màng.
    (Cung Trầm Tưởng)

    Đưa em về dưới mưa
    Nói năng chi cũng thừa
    Phất phơ đời sương gió
    Hồn mình gần nhau chưa?
    (Nguyễn Tất Nhiên)

    Thơ Sáu Chữ
    Cách gieo vần
    1. Vần tréo
    Quê hương là gì hở mẹ
    Mà cô giáo dạy phải yêu
    Quê hương là gì hở mẹ
    Ai đi xa cũng nhớ nhiều
    (Đỗ Trung Quân)

    2. Vần ôm
    Xuân hồng có chàng tới hỏi:
    -- Em thơ, chị đẹp em đâu?
    -- Chị tôi tóc xõa ngang đầu
    Đi bắt bướm vàng ngoài nội
    (Huyền Kiêu)

    Nếu bước chân ngà có mỏi
    Xin em tựa sát lòng anh
    Ta đi vào tận rừng xanh
    Vớt cánh vông vàng bên suối
    (Đinh Hùng)

    Thơ Bảy Chữ
    Trong thơ bảy chữ, vần những tiếng 1, 3 và 5 không kể. Tiếng 2, 4 và 6 có thể phân tích như sau:
    2 4 6
    bằng trắc bằng
    2 4 6
    trắc bằng trắc

    Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời
    Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi!
    Long lanh tiếng sỏi vang vang hận:
    Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người
    (Xuân Diệu)

    Nhiều khi không lại như thế:
    Sao anh không về chơi thôn Vĩ
    Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
    Vườn ai mướt quá xanh như ngọc,
    Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
    (Hàn Mặc Tử)

    Cách gieo vần
    1. Vần tréo (thường dùng)
    Nhiều khi trong thi đoạn bốn câu, chỉ cần hai tiếng bình ở cuối câu hai và bốn vần với nhau, hai tiếng trắc cuối câu một và ba không cần:
    Vậy đó bỗng nhiên mà họ lớn,
    Tuổi hai mươi đến, có ai ngờ!
    Một hôm trận gió tình yêu lại:
    Đứng ngẩn trông vời áo tiểu thơ.
    (Huy Cận)

    Ta về cúi mái đầu sương điểm
    Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
    Cảm ơn hoa đã vì ta nở
    Thế giới vui từ mỗi lẻ loi
    (Tô Thùy Yên)

    2. Vần ba tiếng bằng (thường dùng)
    Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong,
    Hôm xưa em đến, mắt như lòng,
    Nở bừng ánh sáng. Em đi đến,
    Gót ngọc dồn hương, bước tỏa hồng.
    (Huy Cận)

    Dĩ vãng nào xanh như mắt em?
    Chao ôi! Màu tóc rợn từng đêm!
    Hàng mi khuê các chìm sương phủ
    Vời vợi ngàn sao nhạt dáng xiêm.
    (Đinh Hùng)

    Em ở thành Sơn chạy giặc về
    Tôi từ chinh chiến cũng ra đi
    Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt
    Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì
    (Quang Dũng)

    Thơ Tám Chữ
    Thể thơ này không có quy luật nhất định, có nghĩa là vần điệu tự do hơn. Thường thì trong câu ở cuối có tiếng trắc thì tiếng 3 trắc, tiếng 5 và 6 bằng; ở cuối có tiếng bằng thì tiếng 3 bằng, tiếng 5 và 6 trắc. Nhưng nhiều lúc cũng không như thế.

    Cách gieo vần
    1. Vần tiếp
    Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé,
    Tôi sẽ trách -- cố nhiên -- nhưng rất nhẹ;
    Nếu trót đi, em hãy gắng quay về,
    Tình mất vui lúc đã vẹn câu thề
    Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở.
    Thơ viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ,
    Cho nghìn sau... lơ lửng... với nghìn xưa...
    (Hồ Dzếnh)

    2. Vần tréo
    Hai đứa kéo nhau chạy vào mộng mị
    Giờ tắt thở nằm trên bãi hư vô
    Bầy ngựa chứng hàng thùy dương vó bão
    Gió đưa trăng lăn vào đá tiếng ru
    (Tô Thùy Yên)

    Em sẽ chết với mảnh hồn trống đó
    Chúa đứng đón em ở cửa thiên đường
    Con trả chúa trái tim hồng lãng mạn
    Dưới thế gian con dại dột cho chàng
    (Trần Mộng Tú)

    3. Vần ôm
    Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc
    Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường.

    Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương
    Tôi thay mực cho vừa màu áo tím.
    (Nguyên Sa)

    Không có em, chắc ngày mai anh chết
    Anh sẽ buồn, sẽ kết tội trần gian
    Nắng sẽ phôi pha, hoa sẽ úa tàn
    Cây thành phố hai hàng giăng nước mắt
    (Vũ Thành)

    Muốn cho thơ tám tiếng thêm âm điệu, một số nhà thơ thường vần tiếng 8 câu trên với tiếng 5 hay 6 câu dưới:
    Sàn gác trọ những tâm hồn bão nổi
    Những hào hùng, uất hận gối lên nhau
    (Cao Tần)

    I. Vần trong thơ

    Vần bằng : là những chữ không có dấu hoặc mang dấu bằng
    Vần trắc: là những chữ mang dấu sắc, hỏi, ngã, nặng
    Đã làm thơ là phải gieo vần, không có vần thì dù hay đến mấy cũng không thể gọi là thơ được . Những chữ có cách viết và cách phát âm tương tự nhau thì gọi là vần . Ví dụ như : hoa - hòa , mây - bầy , hương - thường , đời - người v.v.v.

    II. Cách gieo vần trong thơ bẩy chữ
    1. Cách thứ nhất : Trong khổ thơ gồm 4 câu, gieo vần ở cuối câu 1, 2, 4
    Ví dụ :
    Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời
    Đàn ghê như nước, lạnh trời ơi
    Long lanh tiếng sỏi vang vang hận
    Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người
    Chú ý : theo cách gieo vần này, chữ cuối câu 1, 2, 4 là vần bằng và chữ cuối câu 3 là vần trắc .

    2. Cách thứ hai : Gieo vần ôm - Chữ cuối câu 1 vần với câu 4, chữ cuối câu 2 vần với cuối câu 3
    Ví dụ
    Tiếng đàn thầm dịu dẫn tôi đi
    Qua những sân cung rộng hải hồ
    Có phải A Phòng hay Cô Tô ?
    Lá liễu dài như một nét mi

    3. Cách thứ ba : Gieo vần chéo

    Chữ cuối câu 1 vần với cuối câu 3, hoặc chữ cuối câu 2 vần với cuối câu 4
    Ví dụ :
    Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
    Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần
    Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm
    Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân

    Chú ý : để câu thơ được nhịp nhàng, ở chữ 2, 4, 6 của câu thơ, nên gieo vần bằng, trắc, bằng hoặc trắc, bằng, trắc
    Ví dụ
    bốn bề ánh nhạc biển pha lê B-T-B
    sương bạc làm thinh khuya nín thở T-B-T

    Cách gieo vần trong một khổ thơ
    Sau khi đã gieo vần bằng trắc nhịp nhàng ở mỗi câu thơ, bạn cần chú ý đến kết hợp vần của 4 câu thơ trong cả khổ thơ .

    1.Cách thứ nhất :
    Gieo vần bằng, trắc ở các chữ 2, 4, 6 của mỗi câu
    Câu 1 :B-T-B
    Câu 2 :T-B-T
    Câu 3: T-B-T
    Câu 4 : B-T-B

    Ví dụ :
    Bốn bề ánh nhạc biển pha lê B-T-B
    Chiếc đảo hồn tôi rộn bốn bề T-B-T
    Sương bạc làm thinh, khuya nín thở T-B-T
    Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê B-T-B

    2. Cách thứ hai :
    Gieo vần bằng, trắc ở các chữ 2, 4, 6 của mỗi câu
    Câu 1 :T-B-T
    Câu 2 :B-T-B
    Câu 3: B-T-B
    Câu 4 : T-B-T

    Ví dụ :
    phơ phất ngoài hiên, dáng liễu hoa T-B-T
    sương sa man mác gió xuân tà B-T-B
    cảnh khuya gợi nỗi niềm xa xứ B-T-B
    ánh nguyệt soi lầu chỉ bóng ta T-B-T

    III. Cách gieo vần trong thơ lục bát

    Khác với thơ bẩy chữ, thơ lục bát gieo vần ở cuối câu lục và ở chữ thứ 6 của câu bát theo luật như sau :
    - Chữ cuối câu lục vần với chữ thứ sáu của câu bát , chữ cuối câu bát vần với chữ cuối câu lục tiếp theo, cứ như thế tiếp tục .
    ví dụ :
    Khúc đâu Tư mã Phượng cầu,
    Nghe ra như oán như sầu phải chăng !
    Kê Khang này khúc Quảng lăng,
    Một rằng lưu thủy, hai rằng hành vân

    - Các chữ thứ 2, 4, 6 của câu lục phải là bằng, trắc, bằng.
    Ví dụ : Trong như tiếng hạc bay qua B-T-B
    - Các chữ thứ 2,4,6,8 của câu bát phải là bằng, trắc, bằng, bằng.
    Ví dụ : đục như tiếng suối mới sa nửa vời B-T-B-B

    Cách Làm Thơ Tám Chữ
    Trong một câu, nên có sự cân bằng giữa số lượng các vần bằng và vần trắc ví dụ Bằng /Trắc = 3/5 hay ngược lại . Vần bằng trắc cũng nên xen kẽ đều đặn để câu thơ uyển chuyển nhịp nhàng . Gieo vần thì có nhiều cách, đệ có thể theo các cách tương tự như gieo vần thơ 7 chữ như sau :

    1. Gieo vần ôm :
    - Chữ cuối câu 1 vần với chữ cuối câu 4, cuối câu 2 vần với cuối câu 3 .
    Ví dụ :
    Ngươi ám ảnh hương thơm bằng ánh sáng
    Ru màu êm, mà gọi thức lòng ngây
    Trăng, nguồn sương làm ướt cả gió hây
    Trăng, võng rượu khiến đêm mờ chếnh choáng

    2. Gieo vần chéo :
    Chữ cuối câu 1 vần với cuối câu 3, và/hoặc chữ cuối câu 2 vần với cuối câu 4
    Ví dụ
    Tạo hóa hỡi ! Hãy trả tôi về Chiêm Quốc !
    Hãy đem tôi xa lánh cõi trần gian !
    Muôn cảnh đời chỉ làm tôi chướng mắt !
    Muôn vui tươi nhắc mãi vẻ điêu tàn

    Tôi không muốn đất trời xoay chuyển nữa

    Với tháng ngày biền biệt đuổi nhau trôi
    Xuân đừng về ! Hè đừng gieo ánh lửa
    Thu thôi sang ! Đông thôi lại não lòng tôi

    3. Chữ cuối câu 1 vần với chữ 5 hay 6 câu 2 , chữ cuối câu 2 vần với chữ cuối câu 3 và vần với chữ 5 hay 6 câu 4
    Ví dụ :
    cõi thiên tiên kiều diễm ngàn ảo ảnh
    điện nguy nga tỏa muôn ánh pha lê
    thuyền Từ Thức bồng bềnh tới bến mê
    rồi ngơ ngẩn khi trở về hiện thực
    Chú ý : bằng vần với bằng, trắc vần với trắc . Bằng không bao giờ vần với trắc . Ví dụ :lồng không vần với lộng

    Nếu làm thơ nhiều đoạn, chữ cuối câu 4 của đoạn trước luôn vần với chữ cuối câu 1 của đoạn sau
    Ví dụ :
    Làm thi sĩ , nghĩa là ru với gió
    Mơ theo trăng, và vơ vẩn cùng mây,
    Để linh hồn ràng buộc bởi muôn dây,
    Hay chia sẻ bởi trăm tình yêu mến

    Đây là quán tha hồ muôn khách đến
    Đây là bình thu hợp trí muôn hương;
    Đây là vườn chim nhả hạt mười phương,
    Hoa mật ngọt chen giao cùng trái độc
     
    Chỉnh sửa cuối: 9/12/15
  3. ngocnungocnu

    ngocnungocnu Gà già Nhóm Tác giả ☆☆☆

    Bài viết:
    4.792
    Được thích:
    7.675
    Đã thích:
    13.604
    GSP:
    Ap
    I. CÁCH GIEO VẦN VÀ CÁC THỂ LOẠI THƠ (2)
    (Nguồn. http://www.daovien.net/t7171-topic)

    THẤT NGÔN BÁT CÚ

    Thất ngôn bát cú (7 tiếng 8 câu) là thể cơ bản của thơ Đường luật.

    Về Vần: Trong 7 tiếng 8 câu thì tiếng cuối câu một và các câu chẳn vần với nhau (vần chân và độc vận). Vần chủ yếu là vần bằng; cũng có vần trắc nhưng ít gặp hơn.

    Về Luật: Có sự luân phiên bằng-trắc tạo nên nhịp cơ bản: 2-2-3 trong mỗi câu thơ. Phổ biến là luật bằng - vần bằng: tiếng thứ hai và tiếng thứ bảy ở câu một là bằng.
    Sơ đồ như sau:

    1 bB tT tBB (vần)
    2 tT bB tTB (vần)
    3 tT bB bTT
    4 bB tT tBB (vần)
    5 bB tT bBT
    6 tT bB tTB (vần)
    7 tT bB bTT
    8 bB tT tBB (vần)

    Chú ý: nhất, tam, ngũ bất luận
    nhị, tứ, lục phân minh

    Ví dụ:

    Hà Nam Tức Sự
    Hà Nam danh giá nhất ông cò,
    Trông thấy ai ai chẳng dám ho.
    Hai mái trống tung đành chịu dột,
    Tám giờ chuông đánh phải nằm co.
    Người quên mất thẻ âu trời cãi,
    Chó chạy ra đường có chủ lo.
    Ngớ ngẩn đi xia may vớ được,
    Phen này ắt hẳn kiếm ăn to.
    (Trần Tế Xương)

    Tức Sự: cảm hứng trước những sự trông thấy. Thơ tức sự là một lối thơ nhân thấy một việc gì mà làm ra.

    Cũng có thể có luật trắc - vần bằng: tiếng thứ hai của câu một là trắc và tiếng thứ bảy ở câu một là bằng.

    Ví dụ:

    Hội Tây
    Kìa hội thăng bình tiếng pháo reo,
    Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo.
    Bà quan tênh nghếch xem bơi trãi,
    Thằng bé lom khom nghé hát chèo.
    Cậy sức, cây đu nhiều chị nhún,
    Tham tiền, cột mỡ lắm anh leo.
    Khen ai khéo vẽ trò vui thế,
    Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu.
    (Nguyễn Khuyến)

    Về Niêm: Tức là sự liên hệ về âm luật giữa hai câu thơ chẳn và lẻ đi liền nhau: tiếng thứ hai của hai câu đó phải cùng bằng hoặc cùng trắc. Phải đúng niêm ở hai câu 2-3, 4-5, 6-7, và 8-1.

    Về Bố Cục: Bài thơ thất ngôn bát cú phải được cấu tạo thành bốn phần như sau:
    1- Đề:
    Hai câu đầu gồm có:
    - Phá đề (câu 1): mở vào bài
    - Thừa đề (câu 2): nối với phá đề chuẩn bị chuyển tiếp sang phần sau.
    2- Thực:
    Hai câu tiếp:
    - Giải thích đầu đề, bắt đầu vào thân bài.
    3- Luận:
    Hai câu tiếp:
    - Bàn luận vào đầu đề, đi sâu vào thân bài.
    - Bốn câu thực và luận yêu cầu phải đối nhau theo từng cặp.
    4- Kết:
    Hai câu cuối:
    - Gói chủ đề lại và phát biểu tư tưởng, tình cảm của nhà thơ.

    Nhìn chung, xét cả về vần, niêm, luật và bố cục, bài thơ thất ngôn bát cú là một kết cấu hoàn chỉnh, cô đúc, nhưng quá chặt chẽ và gò bó.

     
    Sửa lần cuối bởi điều hành viên: 4/5/15
  4. tennycin

    tennycin Homo sapiens Gà về hưu Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    2.832
    Được thích:
    5.650
    Đã thích:
    6.750
    GSP:
    Ap
    II. MỘT SỐ ĐIỀU VỀ THƠ TỰ DO
    (Nguồn: http://www.dactrung.com/Bai-bv-2105Luoc_khao_Tho_Moi_Va_Tho_Tu_Do.aspx)

    "Thơ Tự Do" bao gồm tất cả các "thể" thơ không nhất định và không mang hình thức của các thể thơ cũ, nghĩa là dưới khía cạnh luật lệ, thơ Tự Do rất là … tự do. Cái sự tự do trong hình thức và niêm luật ấy tất nhiên dễ dãi hoá việc sáng tác một bài thơ. Song nếu ta xét sâu hơn, chính sự tự do ấy, chính cái sự dễ dãi ấy biến thành cái khó khăn trong việc sáng tạo để một bài thơ Tự Do được khác biệt với một bài văn xuôi. Làn ranh giữa thơ Tự Do và văn xuôi tựa như kẽ tóc.

    Tự do trong hình thể để phần nội dung được bộc khởi một cách sâu đậm hơn, để cái ý cảnh được kết tạo với đầy đủ ý nghĩa và phát biểu được nội tâm của tác giả, có nghĩa là vứt bỏ đi những gò bó khắt khe của các thể thơ xưa.

    Song, dù có chấp nhận các mức tự do trong việc sáng tác đến độ bỏ các vần đi nữa, ta có thể nghĩ rằng một bài thơ Tự Do ít ra phải còn âm điệu. Chính cái âm điệu ấy là làn ranh cỏn con giữa văn xuôi và thơ Tự Do, vì một câu hay cả một đoạn văn xuôi có thể mang âm điệu rất "nên thơ".

    Âm điệu là vết son cuối cùng mà ta không thể xoá đi, để một bài thơ còn có thể được gọi là Thơ.

    Cái khó trong việc sáng tạo một bài thơ Tự Do, dưới cái nhìn của nhà thơ, phải chăng là việc phải tự mình đúc kết niêm luật đặc biệt cho từng bài thơ được sáng tác, để cho hình thể và âm điệu của bài thơ hoà hợp với nội dung hầu gợi được cái ý cảnh một cách linh động hơn.

    Một tuyệt tác thi văn là một bài thơ mang sự hoà hợp giữa linh hồn của bài thơ cùng lớp võ bên ngoài.

    Ta nhận thấy thể Thất Ngôn Bát Cú hoà hợp với ý thơ châm biếm chua cay, diễu cợt và các thể Lục Bát, Ca Dao lại rất đặc sắc để tả cảnh, tả tình. Ý thơ hùng hồn thường được biểu lộ qua thể thơ Tám Chữ.

    Sáng tạo một bài thơ không thể là một cuộc ghép chữ, ghép vần theo niêm luật hay không.

    Sáng tạo một bài thơ là tìm cách phát biểu cái chiều sâu của tâm hồn qua lời thơ được kết dựng theo hình thức và âm điệu hoà hợp với ý tưởng.

    Ta có thể nghĩ rằng, ngày xưa hình thức, niêm luật, âm điệu do một người hay một nhóm người đặt chế ra cho từng thể thơ. Ngày nay, nhà thơ hưởng trọn quyền đúc kết, vừa phần hồn, vừa phần xác của bài thơ vậy.

    Thơ Tự Do, chẳng qua là bước tiến tự nhiên của mỗi nền thi văn để vượt khỏi những sự gò bó, áp bức hủ thời.

     
  5. tennycin

    tennycin Homo sapiens Gà về hưu Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    2.832
    Được thích:
    5.650
    Đã thích:
    6.750
    GSP:
    Ap
    III. NÉT KHU BIỆT GIỮA THƠ VÀ VĂN XUÔI
    (Nguồn: http://trucbinhquynhon.vnweblogs.com/post/24610/382238)

    Thưa các bạn! Chỉ vũ trụ là vô hạn, không ranh giới, còn tất thảy mọi vật thể, mọi sự vật, mọi sự việc… đều có ranh giới để phân biệt với những cái chính nó và cái khác nó. Vậy nên thơ phải khác văn xuôi, khác với mọi thể loại văn hóa là điều tất nhiên.

    Từ ngàn xưa ông cha ta đã nói: Thơ, ca, hò, vè là văn vần, câu nói này đã khẳng định: THƠ PHẢI CÓ VẦN đó là nét nhận “dạng” riêng của thơ.

    Bước vào kỷ nguyên mới, tư duy con người phát triển tinh tế hơn, một bộ phận người cảm thụ thơ không theo lối xưa nữa. Đồng thời do ảnh hưởng văn hóa giao lưu nên thơ bớt câu nệ vần, nhưng vẫn giữ nhạc điệu. Dòng thơ mới xuất hiện!

    Gần đây, một số người, đặc biệt là các bạn trẻ, ý thức rằng phải cách tân thơ. Có lẽ họ cũng muốn làm cuộc cách mạng thơ giống như thơ truyền thống chuyển sang thơ mới vậy.

    Về lâu dài thì cuộc cách tân ấy kết quả đến đâu ta chưa biết. Nhưng hiện tại những người ấy đã lẫn lộn thơ và văn xuôi, thậm chỉ còn lẫn lộn thơ với sản phẩm văn hóa khác.

    Ví dụ: Ông DT in một tập tranh và gọi đó là thơ. Có người viết thông báo, viết nhật ký, viết phóng sự, viết bảng tin… rồi gọi đó là thơ, thậm chí còn viết dấm dớ nữa. Vậy mà cũng được một số người ủng hộ, coi đó là thơ hiện đại.

    Theo tôi là họ đã lầm, chứ không phải là sáng tạo theo dòng hậu hiện đại gì cả. Tại sao nói họ lầm??? Để thấy chỗ lầm của họ, tôi xin đưa ra khái niệm mới, đó là khái niệm TỐ THƠ. Tố thơ là khái niệm mới hơi khó tưởng tượng, xin bạn đọc thật bình tĩnh, đừng vội cho TB ngông cuồng dám múa rìu qua mắt thợ. Vậy TỐ THƠ là gì?

    TỐ THƠ là cái cốt lõi nhất, tinh túy nhất để tạo nên CHẤT THƠ cho tác phẩm.

    Ta có thể nôm na so sánh cho dễ hiểu là: Tố thơ tạo ra chất thơ cho mọi tác phẩm, giống như nguyên tố hóa học đã tạo ra mọi chất trong vũ trụ. Vũ trụ thiên hình vạn trạng, muôn màu muôn sắc, nhưng cũng chỉ do một số nguyên tố cơ bản tạo nên.

    Tương tự như vậy, tố thơ đã tạo ra chất thơ cho mọi sản phẩm văn học và cả không phải văn học. Nghĩa là trong bất kỳ tác phẩm nào do con người sáng tạo, và không do con người sáng tạo đều có tố thơ, chính nó đã làm toát lên chất thơ của tác phẩm ấy.

    Bởi vậy những đầu óc nhạy cảm, họ đã cảm thấy tác phẩm nào cũng có chất thơ và họ gọi đó là thơ. Đây chính là sự lầm lẫn của họ! Họ lầm tố thơ và thơ. Tố thơ có trong mọi tác phẩm: kể cả tác phẩm thơ và tác phẩm không thơ.

    Tác phẩm thơ và tác phẩm không thơ giống nhau là đều có tố thơ (chất thơ). Thế thì chúng khác nhau ở điểm nào? Theo tôi chúng khác nhau ở tập quán của mỗi chủng tộc. Chủng tộc người kinh VN thì thơ là phải có vần, điệu (xin đừng hiểu ngược lại, vì có vần, điệu cũng chưa phải là thơ).

    Khái niệm TỐ THƠ đã giúp chúng ta khu biệt được tác phẩm thơ và tác phẩm văn xuôi nói riêng cũng như tác phẩm không thơ nói chung.

    Nếu quán triệt điều này thì không ai viết thông báo, viết nhật ký, viết bảng tin, vẽ tranh…gọi là thơ nữa.

    Trước kia Tô Đông Pha (Đời Tống – TQ) khi xem tranh và thơ Vương Duy (Đường), có nói: “Thi trung hữu họa; họa trung hữu thi”. Đúng, nhưng “họa trung hữu thi” chứ đâu phải họa là thi. Vậy là ông DT đã lầm. Tô Đông Pha muốn nói rằng: tranh Vương Duy có tố thơ (có yếu tố thơ, có chất thơ) chứ đâu phải là bài thơ.

    Hiện nay nhiều tác giả thơ, kể cả chuyên và không chuyên, kể cả người chơi thơ đều nói rằng: “Tôi tìm kiếm cho tôi một phong cách thơ riêng.” Hay quá, đáng trân trọng quá. Nhưng xin thưa với bạn rằng: Hiện nay có bao nhiêu người làm thơ bạn biết không? Có lẽ cũng đến mấy vạn người; mỗi người một phong cách riêng cho mình, thì cũng đến mấy vạn phong cách. Chà! Thật như vậy thì độc giả cũng phải có mấy vạn bộ óc nhỉ?

    Thực ra, tôi cứ nói cho hả dạ, xả hơi dồn ứ trong người, đồng thời thể nghiệm tư duy của mình để thổ lộ cùng bạn bè chia sẻ cho vui, chứ mình nói ai nghe!!!

    Muốn người ta nghe mình, thì mình phải có “Chiếc ghế xịn”.Khi ấy thơ bạn bỗng trở nên thượng đẳng, độc nhất vô nhị. Cái gì tốt nhất, hay nhất, tinh túy nhất, đột phá nhât, hiện đại nhất…đều hội đủ trong thơ bạn dễ vô cùng. Trình độ thẩm định thơ là vậy đó. (Đến 30/09/2012 tôi sẽ rước về một bài có nội dung tương tự, để trình làng)

    Tuy nhiên theo quy luật cung cầu; CẦU cái gì thì CUNG cái ấy. Nhà thơ Vũ QUần Phương lấy một ví dụ thế này: Người đóng giày sáng tạo ra loại giày tròn, giày tam giác; người tiêu dùng không mua vì không vừa chân, bất tiện khi sử dụng. Người đóng giày nói rằng: Chân của anh không hiện đại, anh phải gọt chân cho hợp với giày!?

    Như trên tôi đã nói: thơ hay không thơ là tập quán, là thói quen mỗi chủng tộc. Tôi nghĩ thơ HAI CU Nhật Bản, đối với họ là thơ, cái đó là tùy dân tộc họ. Nhưng khi đọc tôi có cảm giác đó chỉ là những lời hay ý đẹp mà thôi, rất thơ nhưng không phải là thơ.

    Để kết luận bài này, tôi xin đưa ra khái niệm tác phẩm thơ như sau:

    1- Thoạt nhìn về hình thức, mọi người đều cảm nhận đó là bài thơ.

    2- Khi đọc lên không trúc trắc, có vần điệu thuận tai, tạo cho người đọc những cảm xúc mãnh liệt, những hình ảnh tuyệt vời, những kết cấu đột phá.
     
    Bánh cuốn, Cigarette, nghe198 người khác thích bài này.
  6. oigioioi90

    oigioioi90 Gà tích cực

    Bài viết:
    145
    Được thích:
    103
    Đã thích:
    108
    GSP:
    Ap
    Bạn có thể đưa ví dụ minh hoạ về thơ tự do không. Mình thấy thơ Haiku rất hay đó chứ.
     
  7. forrestguy

    forrestguy Gà BT

    Bài viết:
    1.032
    Được thích:
    2.289
    Đã thích:
    1.258
    GSP:
    Ap
    Không ai trả lời bạn về thơ tự do, mạn phép gửi bạn một nghiên cứu của TS Ngữ văn Châu Minh Hùng đã đăng trên Tạp chí Sông Hương, số 240, tháng 02, 2009. Bài hơi dài, bạn chịu khó đọc nhé.

    =====================================
    TỰ DO THƠ TỰ DO

    Lối viết chỉ là Tự do trong một khoảnh khắc. Nhưng đó là một trong những khoảnh khắc có ý nghĩa nhất của Lịch sử, bởi Lịch sử luôn luôn và trước hết là một lựa chọn và những giới hạn của lựa chọn ấy.
    (R. Barthes, Độ không của lối viết)

    Ngôn ngữ hoạt động như một khế ước xã hội. Văn chương sử dụng ngôn ngữ làm chất liệu biểu đạt hiển nhiên khó thoát khỏi những ràng buộc hay giới hạn của quy tắc, chuẩn mực đã được ấn định từ trước. Quy tắc, chuẩn mực ấy được mệnh danh là ngữ pháp, ở nghĩa rộng nhất là ngữ pháp ngữ nghĩa lẫn ngữ pháp âm thanh. Nếu như văn xuôi chỉ lệ thuộc ngữ pháp ngữ nghĩa thì thơ ca còn phải lệ thuộc cả ngữ pháp âm thanh: một hình thức ngôn từ với những quy tắc cấu âm mang nhạc tính để dễ nghe, dễ nhớ, dễ thuộc. Nói chung, thi ca bị cưỡng bức từ cả hai phía: một mặt, lựa chọn những kết hợp ngữ nghĩa; mặt khác, lựa chọn những kết hợp ngữ âm trong cơ chế lưu giữ - truyền đạt đặc thù của nó. Mọi lối viết tự do có tính độc sáng trong một thời điểm lịch sử nào đó đều có khả năng rơi vào đơn độc, kể cả bị loại trừ ra ngoài vòng tiếp nhận.

    Thơ tự do là một vấn đề lịch sử trước khi định hình về mặt cấu trúc. Đối với thơ Việt, dù nội sinh hay ngoại nhập, nó đều phải chấp nhận một cuộc chơi mạo hiểm. Không giống với Thơ Mới 32 – 45, thơ tự do hiện đại xuất hiện như một sự thay đổi toàn diện hệ hình thi pháp truyền thống. Cuộc cách mạng thi ca đầu thế kỉ trước bề ngoài tỏ ra quyết liệt với thơ cổ, nhưng bên trong lại thỏa hiệp với những gì đã có. Nó lấy uy lực của cái tôi được tự do giải phóng để tống tiễn cái ta nghĩa vụ, đạo đức vào quá khứ, nhưng thực chất chỉ nới giãn biên độ của các hình thức biểu đạt ngôn ngữ truyền thống. Xét về mặt ngữ pháp ngữ nghĩa, Thơ Mới rút ngắn khoảng cách giữa ngôn từ thi ca với ngôn ngữ đời sống, thứ “văn ngôn” với lối kết hợp gián cách của Đường thi được chuyển sang thứ văn “bạch thoại” - lối kết hợp tiếp liền qua hư từ, biểu đạt những nội dung cảm tính mà vẫn chặt chẽ lí tính theo những khế ước ngôn ngữ tiếng Việt. Thi thoảng có xuất hiện những kết hợp lạ, như trường hợp Xuân Diệu: “cung nguyệt lạnh”, “rơi tàn”, “lệ ngân”, “bóng sáng”; Hàn Mặc Tử: “trăng tái mặt”, “đêm sóng hận réo cung hằng”, “trắng như tinh”, “trắng rợn mình”; Bích Khê: “giây trinh bạch” “hồn ngọc thạch”, “xanh xao như tờ”; Đinh Hùng: “Trái cô sơn”, “hương phản trắc”, “cờ ma sầu địa chấn”…; và xuất hiện đậm đặc trong trường hợp Nguyễn Xuân Sanh với nhóm Xuân Thu nhã tập (1942): “Lẵng xuân/ bờ giũ trái xuân sa/ Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà”, “Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi/ Hồn xanh ngát chở dấu xiêm y”…nhưng rốt cuộc vẫn phải dừng lại trong những sáng tạo đơn lẻ. Về ngữ pháp âm thanh, Thơ Mới, theo tuyên bố của Phan Khôi: “đem ý thật có trong tâm khảm tả ra bằng những câu, có vần mà không bị bó buộc bởi những niêm luật gì hết”(1), nhưng thực chất âm hưởng của cả một nền thơ lớn ấy không nằm ngoài âm hưởng của thi ca truyền thống: âm luật vẫn còn lưu luyến với Đường thi (thể thơ 5 chữ, 7 chữ) và dễ dàng hòa nhập với giai điệu hát nói, ca dao, đồng dao… Thay đổi ngữ pháp ngữ nghĩa xem ra có vẻ dễ hơn thay đổi ngữ pháp âm thanh. Âm luật trở thành một thứ từ trường với hấp lực mạnh mẽ mà những thay đổi của Thơ Mới chỉ diễn ra mang tính cục bộ. Cho nên, sau cuộc trường chinh mười lăm năm của Thơ Mới, Nguyễn Đình Thi muốn làm một cuộc đổi thay, đoạn tuyệt với vần, hạt nhân tưởng chừng bền vững nhất của thể loại, nhưng cũng chỉ dùng dằng ở thế nước đôi: "Không có vấn đề thơ tự do và thơ không tự do, thơ có vần và thơ không có vần. Chỉ có thơ thực và thơ giả, thơ hay và thơ không hay, thơ và không thơ (...). Thơ của một thời mới (...) chạy tung về những chân trời mở rộng để tìm kiếm, thử sức của nó” [9]. Bài thơ Đất nước của ông vốn không vần buộc phải sửa lại thành có vần bởi áp lực của văn hóa quần chúng. Đó cũng là lí do dẫn đến cái chết từ trong trứng nước những ấp ủ khát vọng tự do trong sáng tạo của nhóm Nhân văn – Giai phẩm 1956 (mà theo tôi lí do chính trị chỉ là một phần). Cuộc tìm kiếm, thử sức thơ không vần, hình thức mở màn của thơ tự do thất bại, nhưng đó là một báo hiệu: nó báo hiệu một cuộc nổi loạn phá tung mọi biên giới lãnh thổ của thi ca. Và cuộc nổi loạn triệt để nhất để có thơ gọi là tự do hôm nay thuộc nhóm Sáng tạo (1956) của Thanh Tâm Tuyền: "Nổi loạn là một hành động đòi được gia nhập đời sống: Kẻ nô lệ đòi quyền sống như những người tự do. Như thế nổi loạn là điều kiện sáng tạo” [6]. Đây là cuộc nổi loạn hiện sinh kiểu Albert Camus chống lại những phi lí của cuộc đời, đập vỡ trật tự giả tạo của lí trí. Cuộc nổi loạn này không chỉ là cuộc đập phá vần, mà còn phá bỏ cả nhịp điệu, đơn vị ngữ âm cuối cùng của luật hòa thanh trong chức năng thi ca theo nghĩa quen thuộc của thơ:

    Tôi buồn khóc như buồn nôn
    ngoài phố
    nắng thủy tinh
    tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ

    thanh tâm tuyền


    Không còn cấu trúc khép kín với cú pháp chặt chẽ của thi ca truyền thống, ở đây, từng ngữ đoạn trong diễn ngôn của thi ca được tháo lỏng ra để mở rộng tầng tầng lớp liên tưởng, tưởng tượng cho người đọc. Cái tôi nhất thể liền mạch của lí trí thông thường được thay bằng một cái tôi phân mảnh: trong trạng thái hỗn mang của cảm xúc – cảm giác: “tôi buồn khóc như buồn nôn”, “tôi buồn chết như buồn ngủ”; trong thế phân thân đầy nghịch lí của nội tâm:“tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ”, “tôi hét tên tôi cho nguôi giận”, “tôi gào tên tôi thảm thiết”; trong các cực đối trọng sáng - tối của không gian: “nắng thủy tinh” – “Nước đen sâu thao thức”, “Đêm ngã xuống thì thầm tội lỗi”...; và trong thế quyết liệt tự hủy diệt để phục sinh: “tôi thèm giết tôi/ lời sát nhân muôn đời”, “bóp cổ tôi chết gục/ để tôi được phục sinh”.

    Thực chất cuộc nổi loạn này chỉ đóng khung trong nhóm Sáng tạo ở miền Nam. Thơ Việt hiện đại (kể từ sau Thơ Mới đến hết kháng chiến và cơ bản cho đến nay), đúng như nhận xét của Phạm Xuân Nguyên, “vẫn nằm trong vòng Thơ Mới và chịu ảnh hưởng Thơ Mới”(2), chính xác là ở phương diện cấu trúc ngữ nghĩa và nhịp điệu. Vẫn là ngữ nghĩa logic và nhịp điệu đều đặn, thơ kháng chiến chỉ thay vào đó cái hào khí của cuộc đấu tranh chống ngoại xâm. Sau 1975, thơ tự do theo nghĩa phá vần, đổi nhịp được tái sinh nhưng rất dè dặt. Một chấm xanh của Phùng Khắc Bắc chỉ ghi dấu ấn một sự đổi mới về nội dung:

    Mặt lá nhìn ngửa
    Mặt người nhìn ngang
    Mặt loài thú lang nhìn xuống
    Khi ta nhìn lên kính ngưỡng
    Khi ta cúi xuống nguyện cầu
    Ta đã tạo ra mình bằng những dáng đau…


    Lối thơ này vẫn chưa thoát khỏi âm hưởng thơ của Chế Lan Viên, Trần Mạnh Hảo, Thanh Thảo… thời kháng chiến. Thay đổi nội dung không đồng nghĩa với thay đổi cấu trúc ngữ nghĩa. Bởi vì đó chỉ là sự thay đổi ngoại tại (trong mối quan hệ giữa thơ với hiện thực được phản ánh) mà chưa có sự thay đổi nội tại cơ bản của hệ thống (quan hệ các nhân tố bên trong cấu trúc tạo nên chức năng thi ca). Có nghĩa là thi ca một thời gian dài có tạo ra một hình thái tự do nhất định cho chính mình, nhưng chỉ là tự do biểu đạt hiện thực hay tự do biểu đạt ý niệm mà chưa có sự tự do thật sự về hình thái cấu trúc theo nghĩa thoát khỏi cơ chế ràng buộc của thi ca truyền thống, kể cả cơ chế ngữ pháp của ngôn ngữ tự nhiên.

    Vận luật, tôi nghĩ, không phải là rào cản của sáng tạo mà chỉ là rào cản của cảm xúc. Bởi vì, bản thân vận luật khởi thủy của nó cũng là sáng tạo. Cuộc đấu tranh với vận luật của thơ ca truyền thống để có thơ tự do, xét đến cùng, là sự đòi hỏi giải phóng triệt để sự sáng tạo đã bị thể chế hóa bởi lí trí để thay bằng quy luật nội tại của cảm xúc. Cho nên, cái gọi là tự do của thơ tự do, xét đến cùng là cuộc tìm kiếm một luật chơi mới cho một lối viết mới. Nhưng oái oăm cho cái nền thơ này là ở chỗ, nó vừa là cái mốt thời thượng, nhưng lại vừa là một cái gì chưa hoàn tất, một khế ước lâm thời chưa được thừa nhận một cách đầy đủ, ít nhất là về phía tiếp nhận. Thơ tự do là một cuộc hủy diệt hình thức và cũng đồng nghĩa với cuộc hủy diệt chính mình. Người ta sẽ bảo thơ không còn là thơ nữa hay phản thơ, phi thơ gì đó(3). Thực chất nó vẫn là thơ nhưng là một cuộc đổi thay triệt để: nó không trật tự tề chỉnh như thơ cổ điển, cũng không yểu điệu làm dáng như Thơ Mới, nó chấp nhận một hình thức phi trật tự, hỗn loạn và hiển nhiên đó là thứ hình thức phi xã hội để cá nhân hóa một cách tuyệt đối. Cần phải phân biệt thơ tự do đích thực với hình thức giả tự do:

    Người bác sĩ, sau lúc chẩn đoán
    bảo tôi vừa mắc bệnh thiếu trung thực
    để chữa căn bệnh này
    cần phải có ánh mắt vô tư của thời trẻ tuổi…


    Mấy câu gọi là thơ (4) trên kia chỉ là những câu văn xuôi (theo nghĩa diễn xuôi một tư tưởng) được ngụy trang bằng hình thức tách dòng của thơ. Cứ sắp xếp lại mà xem: "Người bác sĩ, sau lúc chẩn đoán bảo tôi vừa mắc bệnh thiếu trung thực. Để chữa căn bệnh này cần phải có ánh mắt vô tư của thời trẻ tuổi…”. Nếu chỉ là hình thức của cái mốt trang phục thuần túy thì hình như loại thơ này đã từng lừa ban giám khảo một cuộc thi thơ nào đó bằng cách lấy những lời tán tỉnh trên mạng đem tách dòng tạo khổ để có một bài thơ …được giải thơ tự do!

    Thơ tự do không đồng nghĩa với tự do cho thơ. Không phải tự do về âm luật bằng cách văn xuôi hóa thơ, cũng không phải tự do biểu đạt hiện thực hay ý niệm bằng cách ném toàn bộ cái xô bồ hỗn độn của sự sống, kể cả những điều cấm kị như sex vào thơ. Thơ tự do được hiểu đúng nghĩa là sự giải thoát mọi ràng buộc của cái cũ, trong đó có ràng buộc về ngữ âm hoặc ngữ nghĩa. Có nghĩa là ngôn từ thi ca có khả năng tạo ra một hệ hình ngữ pháp âm thanh hoặc ngữ pháp ngữ nghĩa hoàn toàn mới. Với quan niệm ấy, thành tựu đáng kể của thơ tự do đương đại thuộc về các nhà thơ trẻ như Nguyễn Quang Thiều, Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh…Tập thơ Sự mất ngủ của lửa của Nguyễn Quang Thiều báo hiệu những tín hiệu lạ, nó không nằm trong từ trường âm hưởng thơ truyền thống, cũng không nằm trong logic ngữ nghĩa thông thường nên dễ bị quy chụp là bắt chước thơ Tây, thơ dịch:

    Những con rắn được thủy táng trong rượu
    Linh hồn chúng bò qua miệng bình cuộn khoanh đáy chén
    Bò tiếp đi… bò tiếp đi qua đôi môi bạc trắng
    Có một kẻ say gào lên những khúc bụi bờ…


    Cả đoạn thơ mang nặng trong nó những ám tượng nằm ngoài những ảnh tượng của thị giác. Mạch thơ chuyển hóa nhịp điệu của âm thanh thành nhịp điệu của hình ảnh, một thứ hình ảnh được khơi dậy từ những ám ảnh, mê hoặc, biến hóa, đánh thức vùng mờ của tâm linh, biến ảo cõi chết thành sự sống trong một thế giới khả hữu, dị thường ngoài vùng kiểm soát của lí trí. Trong cái mạch thơ biến ảo như thế, Nằm nghiêng của Phan Huyền Thư chập chờn lớp lớp hình ảnh của tưởng tượng, trong phút chốc cái tôi ném mình vào cõi đêm huyền ảo của thảo nguyên, tự do phiêu du trong miền hoang tưởng:

    Như ngựa non tập phi nước đại
    em hí lên hân hoan trong vũ điệu
    thảo nguyên
    gió liếm vào gáy đêm một mùi cỏ thơm
    của sương âm thầm làm giọt


    Đó là miền hoang tưởng trong huyền thoại, huyền thoại về một tình yêu nhức nhối, xa xăm trong bài caVết thù trên lưng ngựa hoang, cô đơn và khắc khoải: “Em là con ngựa đau chẳng khiến tàu thèm bỏ cỏ/ bờm rối tung vó ức chăng đầy trong màn đêm/ côn trùng rên rỉ ngất ngây/ ngựa non em cứ liếm mãi/ vết thù trên lưng nhỏ giọt”. Khuynh hướng tìm đến những thế giới ảo của mộng tưởng được Vi Thùy Linh (với Linh, Khát và Đồng tử) khai thác triệt để, ráo riết hơn để chạy trốn cái hiện thực nhạt nhẽo, vô vị và đầy bất trắc. Hai mươi tuổi “Khỏa thân trong chăn/ Thèm chồng…” để được “mình ôm lấy Anh ôm lấy mình” và “Biết sự bình yên của mặt đất”; mơ một nụ hôn: “Cái lưỡi mềm của Anh nơi gan bàn chân em/ làm thế giới hóa lỏng” để từ tình yêu tìm thấy “sự gột rửa và tái sinh”… Sắc dục ái tình trong thơ Linh không nặng nề nhục cảm (như những cái nhìn qua mặt nạ đạo đức) mà thăng hoa siêu thoát trong cái lẽ tự do nguyên thủy của nó.

    Thơ tự do, như thế vẫn có hạt nhân thi pháp của nó chứ không hoàn toàn tự do tùy tiện. Không đơn giản là tự do hình thức với lượng câu chữ dài ngắn khác nhau mà quan trọng hơn là tự do ở chất lượng biểu đạt: một nỗ lực thoát ra khỏi cơ chế tự động (hay thói quen) của ngôn ngữ tự nhiên và cả cơ chế tự động về âm luật của các thể thơ truyền thống. Nó chấm dứt lối thơ tự sự và mô tả (theo nghĩa ghi lại các hoạt động nối tiếp nhau: “Hôm qua em đi chùa Hương…”, “Bây giờ bến mới gặp đò…” hoặc tái hiện cụ thể một sự vật, hiện tượng được tri giác, cảm giác: “Hơn một loài hoa đã rụng cành/ Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh…”) để tạo nên một lối thơ trữ tình đúng nghĩa (cảm xúc bất chợt và mông lung, xa vời và dang dở). Không lấy vần điệu làm đơn vị cấu trúc để tạo nên hình tượng âm thanh, thơ tự do thực hiện chức năng thi ca của ngôn từ bằng nhịp điệu của hình ảnh (các từ ngữ hoạt động trong cấu trúc liền mạch hoặc đứt đoạn tự chúng dựng dậy chuỗi những hình ảnh song hành hoặc tương phản, những ám tượng bình thường và đột biến, gần gũi và bất ngờ làm nảy sinh trong đầu người xem những tư tưởng – giống như “thủ pháp Montage” của điện ảnh); ngôn từ không còn là phương tiện biểu đạt mà trở thành chất liệu tạo hình trực tiếp (như đường nét, màu sắc của hội họa, hình khối của điêu khắc) để thực hiện sự tự do của mộng tưởng, sự phiêu lưu bất tận của tâm hồn.

    Khi phân biệt những yếu tố bên trong và những yếu tố bên ngoài của ngôn ngữ, F. Saussure có một gợi ý quan trọng: “Vốn là sản phẩm của văn hóa, ngôn ngữ văn học nào cũng đều đi đến chỗ tách rời lĩnh vực tồn tại của mình ra khỏi lĩnh vực tự nhiên, tức là lĩnh vực của khẩu ngữ”[8, tr.63]. Gợi ý này nhắc nhở chúng ta rằng, ngôn ngữ văn học là yếu tố bên ngoài hệ thống ngôn ngữ tự nhiên và tự bản thân nó cố tìm cách thoát ra khỏi ngôn ngữ tự nhiên để tạo ra một hệ thống khác mà so với văn xuôi, thơ ca sẽ đóng vai trò tiên phong. Không tách khỏi ngôn ngữ thực dụng một cách tuyệt đối, nhưng chức năng thi ca, chức năng thẩm mĩ chính là nét khu biệt của ngôn ngữ thơ. Trên cơ sở ấy, R. Jakobson khẳng định: "Thơ là ngôn ngữ tự lấy mình làm cứu cánh” [4, tr.62, 94]. Như thế, thơ chỉ được tự do thật sự (gần như là một ảo tưởng) khi nó thoát khỏi những khế ước của ngôn ngữ xã hội để xác lập một lãnh thổ riêng của sáng tạo cá nhân.

    Từ Nguyễn Xuân Sanh và một phần ở nhóm Xuân Thu nhã tập, ngôn ngữ thơ đã tự qui chiếu vào chính nó để tạo nên những kết hợp tự do về ngữ nghĩa (tất nhiên chưa có dấu hiệu tự do về ngữ âm): “Thơ không phải lúc nào cũng rõ nghĩa, vì nó không chủ động trong địa hạt ý nghĩa; không phải lúc nào cũng sáng sủa vì nó không vụ phát biểu cái phần sáng sủa của tâm linh, nó giữ phần sâu kín, nó giữ phần sâu sắc; không phải lúc nào cũng theo lí luận, vì nó chịu sức chi phối của những luật vô hình; không phải lúc nào cũng để chỉ bảo một cái gì; vì nó không vụ ích lợi thực tế”(5). Điều này được Bùi Giáng phát huy thành công hơn cả:

    Một hôm gầu guốc gầm ghì
    Hai hôm gần gũi cũng vì ba hôm
    Bom ha? Đạn hả? Bao gồm
    Bồm gao gạo đỏ bỏ gồm gạo đen


    Trong cái cách làm thơ Ngẫu hứng này, mặc dù khoác chiếc áo lục bát với vần luật có vẻ chặt chẽ, nhưng ngôn từ tự thân nó lại hoạt động một cách tự do. Nhà thơ kì dị này phục sinh nguồn mạch của đồng dao, dùng liên tưởng ngữ âm chống lại áp lực của logic ngữ nghĩa, và như thế nghĩa quy chiếu hiện thực bị nhòe đi hoặc tự biến mất, chỉ để còn lại hình thức “dấu hiệu của một dấu hiệu” (sign of a sign) [3]. Không hẹn mà gặp, lí thuyết giải cấu trúc của R. Barthes, J. Derrida và cả “cấu trúc ngôn ngữ vô thức” của J. Lacan được minh chứng bằng sản phẩm của nhà thơ kì dị ở Việt Nam. “Một hôm”, “hai hôm”, “ba hôm” chỉ là logic bề ngoài của những con số đếm tự nhiên biểu đạt thời gian liên tục. Nhưng đó chỉ là thời gian trống rỗng không sự kiện, vì nó không biểu đạt được diễn biến tuyến tính của sự kiện. Hiện thực với tư cách là cái được biểu đạt (signified) của ngôn ngữ không tồn tại mà chẳng qua chỉ là cái biểu đạt (signifier) cho một cái biểu đạt khác nữa: những từ biểu âm, dạng láy, nói lái: “gầu guốc”, “gầm ghì”, “gần gũi”, “ba hôm - bom ha”, “bao gồm – bồm gao” vừa nối kết âm thanh – một kiểu nối kết không gian để vô nghĩa hóa thời gian – vừa tạo ra sự nhập nhằng của ngôn ngữ vô thức. Hiện thực chiến tranh giết chóc chỉ là cái biểu đạt (bom, đạn, gầu guốc, gầm ghì) cho cái được biểu đạt nằm sâu bên trong tiềm thức, vô thức của con người với những hỗn loạn nghịch lí, phi lí (gạo đỏ, gạo đen).

    Trong thơ đương đại, người mở cánh cửa tự do thật sự cho “con chữ” là nhóm Trần Dần, Hoàng Hưng, Dương Tường, Lê Đạt. Ý thức giải phóng con chữ của nhóm nhà thơ này được hình thành từ thời Nhân văn - Giai phẩm, nhưng sau này mới thực sự phát huy bằng chính thực tiễn sáng tạo của họ. Trần Dần từng quan niệm “làm thơ tức là làm chữ”. Dương Tường diễn giải cụ thể hơn: “Có lẽ điều phân biệt giữa các bạn thơ khác và tôi là họ làm việc trên chiều biểu nghĩa, còn tôi làm việc ngôn ngữ trên chiều năng nghĩa”( Vật liệu thơ: không phải là con chữ mà là con âm). Lê Đạt giải minh cái gọi là thơ “tắc tị”, “hũ nút” mà người ta thường quy cho loại thơ này: “Nhà thơ làm chữ chủ yếu không phải bằng nghĩa tiêu dùng, nghĩa tự vị của nó mà là ở diện mạo, âm lượng, độ vang vọng, sức gợi cảm của chữ trong tương quan với câu thơ, bài thơ” (Bóng chữ). Nghĩa tự vị hay nghĩa tiêu dùng xét đến cùng “chỉ là nghĩa địa của ngôn từ” (Simon Dentith), một thứ nghĩa đã bị mài mòn trong quá trình hành ngôn thông thường. “Con chữ” là một thứ kí hiệu, nó chỉ được đánh thức khi biến thành “con âm” – sự sống nguyên thủy của từ (giai đoạn tiền ngôn ngữ). Dương Tường đánh thức con âm theo nghệ thuật tự do biến âm phi chính tả, tạo nghĩa trong cái vô nghĩa: “Nôel/ Nô-em/ Nô-elle/ leng beng/ lang beng/ ma lem/ Mariem/ x-em x-em/ hem em/ đồng trinh/ Amen” (Nôel II). Cái trò chơi con âm này chỉ thực sự để lại ấn tượng khi Dương Tường khéo kết hợp nó với trò chơi hình ảnh: “Những ngón tay mưa/ dương cầm trên mái/ Những ngón tay mưa/ kéo dài tai quái/ một nỗi nhớ siêu hình/ nhạt nhòe đường xanh/ đêm lập thể” (Sérénade II). Lê Đạt chơi trò chơi “con âm” theo cách khác: “Nắng tạnh heo mày hoa lạnh/ Mimôza chiều khép cánh mi-môi-xa”. Phép liên tưởng gần âm xa nghĩa này (may = mày, Mimôza = mi-môi-xa), về mặt ngữ âm, âm thanh này có khả năng tự nó gọi ra những âm thanh khác; về mặt ngữ nghĩa, các con chữ bị nhòe đi bởi cái bóng của chữ trước đổ sang chữ sau, bề ngoài bị gián cách về cú pháp nhưng lại có khả năng kết hợp ngầm ẩn bên trong: nắng tạnh, gió hơi may làm mày hoa lạnh, Mimôza chiều khép cánh gợi nhớ mi–môi-xa. Nhà thơ làm thơ như gạch bỏ những con chữ thừa, chữ chết để những con chữ sống cựa quậy, trở mình, đổ bóng; người đọc thơ tự thả hồn mình trong những khoảng trống giữa các con chữ để mơ màng thăng hoa cùng dư âm, dư ảnh của chúng: “Chiều Âu Lâu/ bóng chữ động chân cầu”. Từ Bóng chữ đến Ngó lời, Lê Đạt phát huy triệt để khả năng giải phóng con chữ, con âm ra khỏi những ràng buộc cú pháp – ngữ nghĩa thông thường để chúng tự do hoạt động. Với Bóng chữ, Lê Đạt chủ yếu dùng thủ pháp tỉnh lược toàn bộ các phép liên kết hoặc đảo lộn cấu trúc để con chữ tự nó tạo sinh nên các ngữ đoạn khác nhau:

    Hè thon cong thân nắng cựa mình
    Gió ngỏ tình
    xanh nín lộc
    giả làm thinh


    Lẽ ra các ngữ đoạn đúng cú pháp sẽ là:

    Nắng hè / thân thon/ cựa cong mình
    Gió ngỏ tình/ lộc xanh nín/ giả làm thinh


    Bề ngoài, những câu thơ này không khác lối nói phi cú pháp (= phi lí tính) của trẻ con tập nói: đi cơm ăn. Nhưng có lẽ không chỉ là vấn đề tìm về cội nguồn ngôn ngữ vô thức mà quan trọng hơn, Lê Đạt muốn lợi dụng tính đơn lập không biến hình của ngôn ngữ Việt để chứng minh sự tự do co giãn, nới lỏng của con chữ trong khả năng vẫy vùng thoát ra khỏi sự chặt chẽ của cấu trúc và tôn ti của hệ thống, từ đó hướng vào những khả năng kết hợp và biểu nghĩa khác nhau. Ở đây không có vị trí trung tâm để gọi là nhãn tự theo cách nhìn truyền thống, mỗi con chữ có một trọng lượng nhất định để trở thành một hình ảnh tương ứng với một nhịp hay một bước sóng âm thanh (nắng/ hè/ thân/ thon/ cựa / cong/ mình…), chúng xếp hàng tưởng chừng theo trật tự tuyến tính nhưng thực chất là đồng hiện: các từ có khả năng kết hợp theo các chiều không gian: ngang – dọc, trên – dưới, trái – phải, thẳng – chéo… Với Ngó lời, ông triệt để sử dụng thủ pháp tháo rời, xóa bỏ thế kiềm kẹp của các ngữ đoạn, độc lập hóa toàn diện các con chữ để chúng hoàn toàn tự do hoạt động:

    Vườn nắng mắt gió bay mùa hoa cải
    Bóng lá răm ngày Phả Lại đắng cay


    16 con chữ được Lê Đạt thả một cách tự do trên hai dòng thơ để chúng hoạt động theo nhiều cách kết hợp. Theo Thụy Khuê đó là kiểu “cấu trúc cách li”, “có thể hoán vị giai thừa (factoriel) 16 thành một tổng số khổng lồ những câu thơ khác nhau” [5]. Cái trò chơi này có thể hình dung như một thứ nghệ thuật giải cấu trúc, nghệ thuật lập thể, xổ tung các bộ phận vốn có trật tự trong một chỉnh thể (vườn hoa cải giữa mùa nắng đốt, gió bay, và đôi mắt lá răm đắng cay nhớ những ngày nơi Phả Lại) thành từng mảnh hình ảnh và các mảng màu hỗn độn khác nhau chắp vá theo mạch “ngôn ngữ vô thức”. Trong thế tự do của con chữ, chúng có quyền kết hợp và nhảy cóc sang những vị trí khác nhau tùy theo độ chập của tưởng tượng và độ mở của liên tưởng: Vườn hoa cải – mùa hoa cải – mùa nắng gió – gió phả lại – bóng nắng râm (răm) – mắt lá răm – ngày đắng cay – hoa cải đắng – lá răm cay .v.v… Ảo và thực đan xen và liên tục nảy sinh. Trục ẩn dụ (liên tưởng) chiếm ưu thế làm cho trục hoán dụ (kết hợp) vừa bị trì hoãn (deferment) vừa bị trượt (glissement) [7] để sinh ra chuỗi những biểu thị bất ngờ. Ngữ nghĩa học đặt con chữ vào trong văn cảnh để xác định nghĩa cho nó và chính cái logic cú pháp tạo nên văn cảnh ấy đã cầm tù sự sống của từ ngữ. Thả con chữ tự do, Lê Đạt đã tạo sinh một cú pháp mới (tức là khả năng kết hợp mới – kết hợp tự do bất quy tắc – cái gọi là “cấu trúc cách li” của Thụy Khuê dễ bị hiểu nhầm là con chữ mất khả năng kết hợp), từ đó tạo nên ngữ nghĩa mới trong tiềm năng của con chữ, hai dòng thơ hiểu thế nào cũng được, tùy theo độ mở của liên tưởng tưởng tượng, mỗi cách kết hợp là thêm cho con chữ những nghĩa bất ngờ. Để có được sự tự do của con chữ, Lê Đạt phải tình nguyện làm “phu chữ”, vô tình người làm thơ trở thành kẻ nô lệ nhọc nhằn cho con chữ và đến lượt người đọc phải làm nô lệ nhọc nhằn cho thơ. Mọi cuộc kiếm tìm tự do cho một lối viết đều có những giới hạn lịch sử của nó. Bởi vì lối viết nằm giữa ngôn ngữ và văn phong, nói như R. Barthes, chỉ là sự tự do trước những hữu thể tiền định [2]. Cuộc chơi con chữ hay con âm của loại thơ này thú vị hay mệt mỏi, thăng hoa hay bức bối còn đang chờ thời gian trả lời.

    Dù sao, thơ tự do cũng đã từng bước thống trị trên thi đàn với nhu cầu hiện đại hóa như một tất yếu, về mặt lịch sử, nó đã kéo dài hơn nửa thế kỉ nhưng vẫn dò dẫm từng bước phiêu lưu. R. Barthes nói cho mọi lối viết nói chung, nhưng đúng nhất cho hành trình của thơ đương đại: “Mọi lối viết là một cuộc thực hành thuần hóa hay chối đẩy đối mặt với cái Hình thức - Sự vật ấy mà định mệnh buộc nhà văn phải gặp trên đường đi của anh, anh ta phải nhìn vào đó, phải đương đầu, phải cáng đáng, và không bao giờ có thể hủy diệt được nó mà không tự hủy diệt chính mình. Hình thức cứ treo lơ lửng trước mặt như một sự vật; muốn kiểu gì nó cũng sinh sự: lộng lẫy, thì nó có vẻ lỗi thời; hỗn loạn, thì nó lại phi xã hội; đặc thù trong tương quan với thời đại hay với con người, cách gì nó cũng cứ là đơn độc” [2].

    Tự do gắn liền với đơn độc. Đó là một thứ định mệnh. Không phải ngẫu nhiên mà người ta đặt vị thần Tự do ở một chiếc đảo, một thời gian sau mới tụ tập được quần thể cộng đồng xung quanh mình. Người mệnh danh là nhà thơ mới nhất của phong trào Thơ Mới, một mặt kiêu hãnh: “Lòng rộng quá chẳng chịu khung nào hết/ Chân tự do đạp phăng cả hàng rào”, nhưng mặt khác lại thấm thía sự cô độc: “Ta là một, là riêng, là thứ nhất. Không ai bè bạn nổi cùng ta”. Tuy nhiên, Thơ Mới ở cái đỉnh của Xuân Diệu chưa đến nỗi cô độc. Hoài Thanh có bất lực trước hiện tượng Hàn Mặc Tử, Bích Khê và coi như bỏ quên Xuân Thu nhã tập nhưng ít ra ông đã tạo được cái nhịp cầu căn bản giữa Thơ Mới với bạn đọc. Còn thơ tự do đương đại mới thực sự đơn độc và đang rất cần cái cầu nối ấy. Đáng buồn nhất cho thơ hôm nay là, hình như… người làm thơ nhiều hơn bạn đọc thơ! Có lẽ tất cả nằm trong một lí do, thơ hôm nay bị đẩy vào hai thái cực: hoặc quá dễ dãi và cũ kỹ hoặc quá khó và mới lạ làm cho người đọc cảm thấy hoặc nhàm chán hoặc bất lực trong ngưỡng tiếp nhận của mình.

    Dĩ nhiên dễ hay khó, cũ hay mới, tất cả đều chỉ là vấn đề mang tính lịch sử và giới hạn của nhận thức. J. Derrida khẳng định: “Trước khi là đối tượng của một lịch sử – của một khoa học lịch sử – lối viết mở ra lĩnh vực của lịch sử – của tính thích hợp lịch sử. Và cái trước kia bao hàm cái sau đó”[3]. Thơ tự do hay không tự do, trong mối quan hệ gần hoặc xa, về mặt lịch sử, xét đến cùng, đều nằm trong một quan hệ: liên văn bản(intertextuality). Mỗi văn bản là một sự hấp thụ và chuyển thể của văn bản khác, tương đồng mà đối lập trong thế đối thoại liên tục giữa mới và cũ.

    Thơ tự do đương đại đang cần những nhà phê bình bắt nhịp cầu với bạn đọc; tất nhiên không phải là lối phê bình khen chê cảm tính nữa (thực chất là phê bình của ý chí quyền lực) mà là một cách phê bình khoa học cởi mở, dân chủ thật sự để giải mã những ẩn số trong trò ú tim tinh thần ngày một phức tạp và có vẻ bí ẩn này.

    ----------------------------------------------------------------------------------------
    TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

    1. R. Bathes (1968), Elements of Semiology. Hill and Wang Press.
    2. R. Barthes (1953), Độ không của lối viết, Nguyên Ngọc dịch. http://www.talwas.org
    3. J. Derrida (1974), Of Grammatology. John Hopkins University Press.
    4. R. Jakobson (1987), Language in Literature. The Belknap Press of Harvard University Press, Cambridge.
    5. Thụy Khuê (1997), Cấu trúc cách li trong Ngó lời của Lê Đạt. Sóng từ trường.
    6. Thụy Khuê (1995), Cấu trúc thơ. Văn nghệ, Cali.
    7. S. Ross (2002), A Very Brief Introduction to Lacan. The University of Victoria Press.
    8. F. Saussure (2005), Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, Cao Xuân Hạo dịch, Khoa học Xã hội.
    9. Nguyễn Đình Thi (1958), “Mấy ý nghĩ về thơ”, Mấy vấn đề văn học, Văn hóa, Hà Nội.
     
  8. Annabeth Marcynae

    Annabeth Marcynae Gà tích cực Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    108
    Được thích:
    87
    Đã thích:
    81
    GSP:
    Ap
    Em có thể chia sẻ bài này trên một group facebook không ạ?
     
    ngocnungocnu thích bài này.

Chia sẻ trang này