[Kỳ ảo, thiếu nhi] Con Mắt Thế Giới - translating - Robert Jordan (Kim Lưu dịch)

Thảo luận trong 'Tác phẩm Phương Tây' bắt đầu bởi luukim, 28/7/15.

  1. luukim

    luukim Gà tích cực Nhóm Chuyển ngữ Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    167
    Được thích:
    86
    Đã thích:
    26
    GSP:
    Ap
    They Eye of the World
    Con Mắt Thế Giới
    Tác giả: Robert Jordan
    Người dịch: Kim Lưu
    Thể loại: tiểu thuyết kì ảo, thiếu nhi
    Độ dài: 53 chương - 305.902 từ (nguyên tác)
    Cảnh báo: không

    The-Eye-of-the-World-Hardcover-L9780312850098.JPG

    Giới thiệu tác giả:
    Jame Oliver Rigney, Jr, (17/10/1948 - 16/09/2007) nổi tiếng với bút danh Robert Jordan, là tác giả người Mỹ chuyên viết thể loại Kỳ Ảo. Ông nổi tiếng nhất với bộ truyện The Wheel of Time, bao gồm 14 cuốn. Ông cũng viết tiểu thuyết lịch sử dưới bút danh tiếng địa phương Reagan O'neal, hoặc tiếng Anh là Jackson O'Reilly.

    Giới thiệu tác phẩm

    The Eye of the World là tập 1 trong series truyện kỳ ảo nổi tiếng The Wheel Of The Time của tác giả Robert Jordan.

    Trong bộ truyện này, Thượng Đế (the Creator) tạo ra vũ trụ và Bánh Xe Thời Gian (the Wheel of Time). Bánh Xe này có bảy nan hoa, tương ứng với bảy “thời đại” (age), và xoay chuyển dưới tác động của Quyền Năng (One Power), là thứ chảy ra từ Nguồn Chân Lý (True Source). Nguồn Chân Lý được cấu thành bởi một nửa nam (saidin) và một nửa nữ (saidar). Trong số con người, những ai có thể sử dụng quyền năng này được gọi là những Dị Nhân (channeler), tổ chức nòng cốt xuyên suất bộ truyện là Aes Sedai, cũng gọi là “Tôi Tớ Mọi Người” (Servants of all)

    Thượng Đế đã cầm tù kẻ chống đối mình là Satan (shaitan), thường gọi là Chúa Tế Bóng Tối (Dark One). Một sai sót của Aes Sedai đã để cho Saitan có cơ hội ảnh hưởng đến thế giới, làm ô uế phần saidin của Nguồn Chân Lý. Xuyên suốt bộ truyện là cuộc đối đấu giữa Saitan và các thế lực của hắn đối chọi với lực lượng của Sự Sáng (Light), phe thiện, dẫn đầu bởi nhân vật Rand al’Thor, được gọi là Rồng Tái Sinh (Dragon Reborn).

    Trong tập 1, Con Mắt Thế Giới (The Eye of the World), nhân vật chính là Rand al’Thor, một thanh niên sống bình yên tại một ngôi làng nhỏ có tên là Emond’s Field, khám phá ra mình chính là Rồng Tái Sinh. Chính vì thân phận đó mà chàng bị các tay sai của Saitan, dưới hình dạng đáng sợ, không ngừng truy bắt. Chàng phải lên đường, cùng với những người bạn và những người trợ giúp mình, rời bỏ làng quê thanh bình bắt đầu sứ mệnh đối phó với Saitan sắp thoát ngục. Trước tiên họ đến Aes Saida tại thành phố Tar Valon trong nỗ lực đoàn kết các vương quốc con người nhằm chống lại Saitan và các thế lực của hắn.

    Các bạn có thể đọc nguyên tác tại địa chỉ này: http://folk.uio.no/morters/wot/TheEyeoftheWorldv6/-TheEyeoftheWorld-.html
     
    Chỉnh sửa cuối: 31/7/15
    conruoinho thích bài này.
  2. luukim

    luukim Gà tích cực Nhóm Chuyển ngữ Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    167
    Được thích:
    86
    Đã thích:
    26
    GSP:
    Ap
    The eye of the world - Con mắt thế giới

    Mở đầu

    Đỉnh Rồng

    Tòa cung điện thỉnh thoảng vẫn rung lên khi mặt đất rùng mình trong ký ức, rên rỉ như muốn chối bỏ những gì đã xảy ra. Những vạt nắng rọi xuyên qua những khe hở trên các bức tường làm long lanh mấy đám bụi còn vất vưởng giữa không trung . Những vệt cháy xém hoen ố tường nhà, sàn nhà và trần nhà. Những vết loang lổ đen xì bự chảng vắt ngang lớp sơn bong tróc và lớp mạ vàng của các bức bích họa một thời tươi sáng, bồ hóng khỏa lấp những mảnh vỡ vụn của cái diềm mái* tạc hình người và thú, trông bọn họ như thể thà bỏ chạy còn hơn chờ cơn thịnh nộ lắng xuống. Xác chết ngổn ngang, đàn ông, đàn bà lẫn trẻ con, họ hoặc bị những tia sét trút xuống các hành lang đánh gục trong lúc tháo chạy, hoặc bị những ngọn lửa đuổi theo tóm được, hoặc bị nhấn chìm trong đá tảng của cung điện, những tảng đá này, như thể có sự sống, đã văng ra tung tóe, đuổi bắt mục tiêu, trước khi nằm yên trở lại. Điểm tương phản đến kì lạ ở chỗ, tất cả những tấm thảm sặc sỡ, những bức tranh cùng hết thảy các tác phẩm khác, ngoại trừ nơi những bức tường lồi ra khiến chúng méo xệch đi, thì vẫn còn treo nghiêm chỉnh. Những thứ đồ gỗ chạm trổ tinh xảo, khảm ngà và vàng, ngoại trừ nơi nền nhà lồi lõm đẩy chúng nhô lên, vẫn đứng bất động. Cơn quẫn trí đã giáng xuống khu vực trung tâm, bỏ qua những thứ chung quanh.

    Lews Therin Telamon lang thang trong cung điện, khéo léo giữ thăng bằng mỗi khi mặt đất run lên. “Ilyena! Em ơi, em ở đâu?” Tà áo choàng xám lợt của chàng vấy máu khi bước qua xác một thiếu phụ, vẻ đẹp nơi mái tóc vàng hoe của nàng đượm nỗi kinh hoàng phút lâm chung, đôi mắt vẫn còn trợn trừng như không tin vào điều mình thấy. “Mình ơi, em ở đâu? Mọi người trốn đâu cả rồi?”

    Đôi mắt chàng bắt gặp phản ảnh của mình trong tấm gương treo xiêu vẹo trên tấm đá hoa cương sùn bọt. Y phục của chàng vốn rất vương giả với tông màu xám, màu điều và vàng; giờ đây tấm áo khéo may được các thương nhân mang đến từ bên kia Biển Thế Giới ấy, thật nhàu nát và bẩn thỉu, phủ một lớp dày đặc cùng thứ bụi đóng trên tóc và da chàng. Chợt chàng sờ vào biểu tượng trên tấm áo, một vòng tròn nửa trắng nửa đen, phân tách bởi một đường kẻ lượn sóng. Chắc biểu tượng này, nó mang một ý nghĩa nào đó. Nhưng cái vòng tròn thêu đó chẳng làm chàng phân tâm được lâu. Chàng nhìn chăm chú vào hình ảnh mình trong gương cũng với sự ngạc nhiên ấy. Một gã đàn ông cao lớn đang độ trung niên, vốn rất bảnh trai, nhưng giờ đây mái tóc nâu đã ngả bạc và khuôn mặt nhăn nheo bởi lo âu và căng thẳng, đôi mắt đen đã trải lắm sự đời. Lews Therin cười thầm, rồi quay đầu lại; tiếng cười của chàng vọng xuống các gian sảnh chết chóc.

    “Ilyena, tình yêu ơi! Đến đây với ta, mình ơi. Em phải thấy điều này.”

    Phía sau chàng không khí sôi sục, bừng sáng rồi đông đặc lại thành một người đàn ông rảo mắt nhìn quanh, miệng hắn ta chúm lại với vẻ khó chịu. Không cao như Lews Therin, hắn ta mặc toàn màu đen, chừa lại sợi dây buộc trắng như tuyết trên cổ và thứ đồ bạc ở chỗ gấp xuống trên đầu đôi ủng cao đùi. Hắn ta bước đi thận trọng, chăm chú vén tấm áo choàng cho khỏi quẹt vào đám xác chết. Sàn nhà run lên do các cơn dư chấn, nhưng sự chú ý của hắn dồn cả vào cái người đang nhìn vào gương mà cười kia.

    “Chúa Tể Bình Minh,” hắn ta nói, “Ta đến với ngươi đây.”

    Tiếng cười chợt tắt như chưa hề có, rồi Lews Therin quay lại, vẻ điềm nhiên. “Ah, một vị khách. Kẻ lạ, ngươi có Giọng chứ? Sắp tới giờ Ca Hát rồi, và nơi đây đón chào tất cả đến dự. Ilyena mình ơi, chúng ta có một vị khách. Ilyena, em ở đâu?”

    Đôi mắt của kẻ mặc đồ đen trợn lên, phóng ánh nhìn xuống thi thể người thiếu phụ tóc vàng, rồi trở lại Lews Therin. “Satan* bắt ngươi đi, có phải sự ô uế đã kìm hãm ngươi cho tới tận bây giờ?”

    “Cái tên đó. Sa…” Lews Therin rùng mình và giơ một tay lên như muốn với lấy thứ gì đó. “Ngươi không được xưng danh ấy ra. Nguy hiểm lắm.”

    “Vậy ít nhất ngươi hẵng còn nhớ rõ điều đó. Nguy hiểm cho ngươi, đồ ngốc, không phải cho ta. Ngươi còn nhớ gì nữa? Nhớ lại đi, ngươi, Sự Sáng, - một tên điên mù lòa! Ta sẽ không để ngươi chấm dứt trong vô thức! Nhớ đi!”

    Trong một thoáng Lews Therin nhìn chằm chằm vào bàn tay giơ lên của mình, mê mẩn với những lớp bụi. Rồi chàng lau bàn tay ấy lên tấm áo còn dơ bẩn hơn của mình và hướng sự chú ý trở lại kẻ kia. “Ngươi là ai? Ngươi muốn gì?”

    Kẻ mặc đồ đen thẳng người ngạo nghễ. “Ta từng được gọi là Elan Morin Tedronai, nhưng bây giờ…”

    “Kẻ Phản Bội Hi Vọng.” Đó là lời thì thầm phát ra từ Lews Therin. Ký ức lùng bùng, nhưng chàng lắc đầu, xua đi ý nghĩ đó.

    “Vậy ngươi cũng nhớ ra gì đó. Đúng, Kẻ Phản Bội Hi Vọng. Loài người gọi tên ta như vậy, cũng như chúng gọi ngươi là Con Rồng, nhưng không như ngươi ta gắn với danh của ta. Chúng gọi như vậy để nhục mạ ta, nhưng rồi ta sẽ khiến chúng quỳ mọp xuống mà thờ lạy cái danh đó. Ngươi sẽ làm gì với tên của ngươi? Sau ngày này, loài người sẽ gọi ngươi là Kẻ Giết Người Thân. Vậy ngươi định sẽ làm gì?”

    Lews Therin cau mày nhìn xuống tòa sảnh hoang tàn. “Lẽ ra Ilyena nên ở đây để có lời chào khách,” Chàng tần ngần nói thầm, rồi cao giọng. “Ilyena, em ở đâu?” Nền nhà rung rinh; thi thể người thiếu phụ tóc vàng nảy lên như để trả lời tiếng gọi của chàng. Mắt chàng không trông thấy nàng.

    Elan Morin nhăn mặt. “Nhìn ngươi đi,” hắn khinh bỉ nói. “Ngươi từng là kẻ đứng đầu trong số các Tôi Tớ. Ngươi từng mang Chiếc Nhẫn Tamyrlin, và ngồi ở Tòa Cao. Ngươi có thuở từng triệu hồi Bộ Chín Quyền Lực. Giờ xem lại mình đi! Một tên khốn nạn sa cơ thối tha. Chưa hết đâu. Ngươi đã hạ nhục ta giữa Hội Đồng Các Tôi Tớ. Ngươi đánh bại ta tại Cổng thành Paaran Disen. Nhưng giờ đây, ta mới là kẻ cao cả hơn. Ta sẽ không để ngươi chết mà không biết điều đó. Khi ngươi chết, ý nghĩ sau cùng trong ngươi phải hiểu rõ ngươi đã thất bại, thất bại dứt khoát và hoàn toàn thế nào. Ấy là nếu rốt cuộc ta có cho ngươi chết.”

    “Ta không hình dung được cái gì đang giữ Ilyena. Nàng sẽ dùng lời oán ghét từ môi miệng mà trách mắng ta nếu cho rằng ta giấu nàng một vị khách. Ta mong ngươi thích trò chuyện, vì chắc chắn nàng cũng thích thế. Nói trước cho ngươi biết. Ilyena sẽ hỏi ngươi nhiều câu hỏi đến nỗi rốt cuộc ngươi phải nói cho nàng mọi điều ngươi biết.”

    Hất tấm áo choàng về sau, Elan Morin gập đôi bàn tay lại. “Khốn khổ cho ngươi,” hắn chế nhạo, “khi các Chị Em của ngươi chẳng một ai có ở đây. Ta vốn không giỏi thuật Chữa Lành cho lắm, và bây giờ thì đang theo đuổi một thứ sức mạnh khác. Nhưng ngay cả một trong số chúng, nếu chưa bị ngươi tiêu diệt, cũng chỉ có thể giúp cho người vài phút tỉnh táo. Vậy ta sẽ làm việc đó, với mục đích riêng của ta.” Nụ cười bất chợt của hắn thật nham hiểm. “Nhưng ta e sự chữa lành của Satan khác xa với thứ ngươi biết. Hãy bình phục, Lews Therin!” Hắn giang hai tay ra, và ánh sáng nhòa đi như thể một cái bóng đã chắn trước mặt trời.

    Cơn đau cấu xé Lews Therin, chàng thét lên, tiếng thét thốt ra từ tận tâm can, tiếng thét chàng không sao ngăn được. Ngọn lửa thiêu đốt xương tủy chàng; axit chảy dồn trong huyết mạch chàng. Chàng ngã về sau, đổ sụp trên nền nhà lát đá hoa cương; đầu đánh vào tảng đá và nảy lên. Trái tim chàng đập dồn, cố gắng phá đường ra khỏi lồng ngực, và mỗi nhịp thở lại có tia lửa phụt ra xuyên qua người chàng. Trong bất lực chàng co giật, vẫy vùng, hộp sọ của chàng giờ là một khối cầu cùng cực đau khổ sắp sửa bùng nổ. Tiếng thét khàn đục của chàng vang vọng trong cung điện.

    Chầm chậm, hết sức chầm chậm, cơn đau lui dần. Cơn đau ấy tưởng như mất cả ngàn năm mới thoát ra hết và để lại nơi chàng cơn co giật yếu ớt; hơi thở khó nhọc đi xuyên qua cái cổ họng khô khốc. Và dường như phải trôi qua thêm một ngàn năm nữa trước khi chàng có thể gắng gượng nhấc mình lên, những thớ thịt nhũn như sứa, chống đỡ trên đôi tay và đầu gối. Đôi mắt chàng buông cái nhìn lên người thiếu phụ tóc vàng, và một tiếng hét phát ra từ chàng lấn át mọi âm thanh chàng đã tạo ra trước đó. Lảo đảo chực té, chàng khổ sở lần mò trên sàn nhà tới chỗ nàng ta. Phải dùng hết chút sức lực còn lại chàng mới kéo được nàng vào trong tay mình. Đôi tay chàng run rẩy vuốt ngược mái tóc từ khuôn mặt trợn trừng của nàng.

    “Ilyena! Sự Sáng hãy giúp tôi, Ilyena!” Thân thể chàng gập lại quanh thân thể nàng như muốn bảo vệ, tiếng nức nở của chàng là tiếng khóc nghẹn ứ nơi cổ họng của người đàn ông không còn lẽ sống. “Ilyena, không! Không!”

    “Ngươi cứu được cô ta đấy, Kẻ Giết Người Thân ạ. Chúa Tể Bóng Tối Vĩ Đại có thể hồi sinh cô ta, nếu ngươi chịu phục tùng ngài. Nếu ngươi chịu phục tùng ta.”

    Lews Therin ngẩng đầu lên, và người đàn ông mặc đồ đen bất giác lùi lại trước cái nhìn ấy. “Mười năm, hỡi Kẻ Phản Bội,” Lews Therin thì thào, âm thanh nhẹ nhàng như thanh gươm tuốt khỏi vỏ. “Chủ nhân bẩn thỉu của ngươi tàn phá thế giới đã mười năm nay. Và giờ đây là điều này. Ta sẽ…”

    “Mười năm ư! Tên ngu xuẩn đáng thương! Cuộc chiến này không phải từ mười năm trước, nhưng từ lúc khởi đầu của thời gian. Trong sự xoay vần của Bánh Xe, ta và ngươi đã giao đấu cả ngàn trận, một ngàn lần ngàn, và sẽ còn đánh cho tới khi nào thời gian qua đi và Bóng Tối toàn thắng!” Hắn kết thúc bằng một tiếng la lớn, với nắm đấm giơ lên, và đến lượt Lews Therin lùi lại, hơi thở bắt lấy tia sáng trong đôi mắt Kẻ Phản Bội.

    Lews Therin cẩn thận đặt Ilyena nằm xuống, lấy ngón tay chùi nhẹ mái tóc nàng. Nước mắt làm nhòa tầm nhìn khi chàng đứng, nhưng giọng chàng vẫn lạnh như tiền: “Vì mọi điều khác ngươi đã làm, đừng hòng có sự tha thứ, hỡi Kẻ Phản Bội, và vì cái chết của Ilyena ta sẽ hủy diệt ngươi thành thứ vượt xa bất cứ thứ gì chủ nhân ngươi có thể cứu chữa. Chuẩn bị mà…”

    Nhớ lại đi đồ ngu xuẩn! Hãy nhớ lại cuộc tấn công vô ích của ngươi vào Chúa Tể Bóng Tối Vĩ Đại! Hãy nhớ lại sự đáp trả của ngài! Nhớ lại đi! Ngay bây giờ nhóm Một Trăm Chiến Hữu đang xé thế giới thành từng mảnh, và hàng ngày có thêm trăm tên nữa tham gia cùng chúng. Bàn tay nào đã giết chết Ilyena Tóc Ánh Dương hả, Kẻ Giết Người Thân? Không phải tay ta. Không phải tay ta đâu. Bàn tay nào đã hạ sát những sinh mạng mang giọt máu của ngươi, mọi kẻ yêu thương ngươi, mọi kẻ ngươi thương yêu? Không phải tay ta đâu Tên Giết Người Thân. Không phải tay ta. Nhớ lại đi, và hãy nhận ra cái giá của việc chống lại Satan!”

    Dòng mồ hôi thất thần chảy ròng xuống khuôn mặt Lews Therin qua lớp bụi cát. Chàng nhớ lại, một mớ ký ức mù mờ như mộng trong mộng, nhưng chàng biết đó là thật.”

    Tiếng chàng gào thét đập vào các bức tường, là tiếng gào thét của người khám phá ra linh hồn đã bị chính đôi tay mình tha hóa, và chàng cào cấu khuôn mặt như thế muốn xé tan đi cảnh tưởng của những gì mình đã làm. Đôi mắt chàng nhìn đâu cũng thấy xác chết. Họ hoặc bị xé nát, hoặc bị gãy giập, hoặc bị thiêu cháy, hoặc bị đá đè dập thân mình. Nơi nơi ngập những khuôn mặt chết chóc mà chàng thân quen, những khuôn mặt chàng yêu thương. Và lũ trẻ của chàng. Con trai và con gái, nằm sõng soài tựa lũ búp bê bị hỏng, cuộc chơi vĩnh viễn im lìm. Tất cả đã chết dưới tay chàng. Tiếng cười của Kẻ Phản Bội quất vào chàng, nhấn chìm đi tiếng chàng gào thét. Chàng chịu không được những khuôn mặt ấy, cơn đau ấy. Chàng không thể gắng gượng thêm được nữa. Trong tuyệt vọng chàng hướng về Nguồn Chân Lý, về saidin đã bị ô uế, rồi chàng Xuyên Không*.

    Mặt đất chung quanh chàng bằng phẳng và trống trải. Một con sông chảy gần đó, thẳng và rộng, nhưng chàng có thể cảm thấy trong vòng trăm dặm không có một bóng người. Chàng cô độc, cô độc đến tột cùng mà một người còn sống có thể cảm thấy, nhưng chàng không thoát khỏi ký ức. Những đôi mắt đeo đuổi chàng qua những hang động bất tận trong tâm trí. Chàng không thể trốn khỏi chúng. Đôi mắt của lũ trẻ. Đôi mắt của Ilyena. Những giọt lệ long lanh trên cổ khi chàng ngẩng mặt nhìn trời.

    “Sự Sáng, xin tha tội cho con!” Sự tha thứ, chàng không tin nó sẽ đến. Không bởi vì những điều chàng đã phạm. Nhưng chàng vẫn cứ thế gào thét với trời cao, van lơn điều chàng không tin rằng mình sẽ được nhận. “Sự Sáng, xin tha tội cho con!”

    Chàng vẫn còn đang liên kết với saidin, nửa đàn ông thứ quyền năng vận hành vũ trụ, là thứ xoay vần Bánh Xe Thời Gian, và chàng có thể cảm thấy sự ô uế nhơ nhuốc vấy bẩn bề mặt của nó, sự ô uế do cuộc phản kháng của Bóng Tối, thứ ô uế làm lu mờ thế giới. Chính vì chàng. Chính vì sự kiêu ngạo mà chàng đã tin rằng loài người có thể sánh ngang với Thượng Đế, có thể sửa đổi điều mà Thượng Đế đã làm và bị họ phá vỡ. Vì sự kiêu ngạo chàng đã tin như thế.

    Chàng chìm sâu vào Nguồn Chân Lý; cứ thế sâu hơn, như một người đang chết vì khát. Trước đó chàng đã bất chấp vơ vét Quyền Năng nhiều hơn mức chàng có thể tự mình kiểm soát; da chàng có cảm giác như cháy bừng. Trong bấn loạn, chàng ép mình phải hấp thu nhiều hơn, cố gắng hấp thu hết tất cả.

    “Sự Sáng, xin tha thứ cho tôi! Ilyena ơi!”

    Không khí biến thành lửa, lửa hóa thành ánh sáng. Tia sét giáng xuống từ các tầng trời sẽ thiêu đốt và làm cho đui mù bất kì con mắt nào thoáng nhìn vào nó, dù chỉ trong khoảnh khắc. Từ các tầng trời nó hiện đến, đánh xuyên qua Lews Therin Telamon, khoan xuống lòng đất sâu. Nơi nó chạm đến đá biến thành dung nham. Mặt đất rúng động và run rẩy như một sinh vật trong cơn đau khổ. Chỉ trong một nhịp tim luồng sáng ấy đã thoát ra, nối đất và trời, nhưng dù sau khi nó đã tan biến mặt đất vẫn cuồn cuộn như mặt biển trong cơn bão tố. Đá bị nóng chảy phun vào không trung năm trăm bộ*, và mặt đất rền rĩ nhô lên, đẩy những tia lửa cứ thế bắn lên cao, thật cao. Từ phương bắc và phương nam, từ phương đông và phương tây, gió nổi lên, uốn bẻ cây cối như những cành con, gào thét tung hoành như muốn giúp ngọn nui đang nổi lên kia vươn lên trời, lên tận trời.

    Sau cùng gió cũng lặng, mặt đất lắng xuống thành những tiếng rên rỉ. Còn Lews Therin Telamon, không còn vết tích gì cả. Nơi chàng đứng giờ đây là một ngọn núi vươn cao hàng dặm lên bầu trời, dung nham nóng chảy hẵng còn bắn ra tung tóe từ trên đỉnh núi ghồ ghề. Con sông rộng và thẳng đã bị uốn vào một khúc quanh chảy xa ngọn ngúi, ở đó nó bị xẻ đôi tạo thành một hòn đảo dài giữa lòng sông. Bóng của ngọn núi vươn gần tới hòn đảo ấy; Nó phủ bóng tôi lên mặt đất như ghi chép tăm tối của lời tiên tri. Qua một hồi thì cơn run rẩy uể oải của trái đất chỉ còn âm ỉ.

    Trên hòn đảo, không khí đông đặc và mờ ảo. Người đàn ông bận đồ đen nhìn vào ngọn núi rực lửa vươn cao giữa đồng bằng. Khuân mặt hắn nhăn lại khó chịu và khinh bỉ. “Ngươi đừng hòng thoát đi dễ dàng như vậy, Con Rồng à. Giữa chúng ta chưa xong đâu. Chưa xong đâu cho đến tận thời viên mãn.”

    Rồi hắn bỏ đi, ngọn núi và hòn đảo vẫn đứng im lìm. Chờ đợi.



    Và Bóng Tối bao trùm Xứ Sở, Thế Giới là đống hoang tàn vỡ vụn. Các đại dương biến mất, các ngọn núi bị nuốt chửng, và các quốc gia tản mác về tám phương của Thế Giới. Mặt trăng như máu và mặt trời như tro. Biển cả sôi sục, và sự sống đố kị với cái chết. Tất cả biến thành bình địa, tất cả ngoại trừ ký ức đều tan biến, và có một ký ức trên hết thảy các ký ức khác, của người đã mang đến Bóng Tối và Sự Sụp Đổ Của Thế Giới. Và kẻ ấy được người ta gọi là Con Rồng.

    Trích từ tác phẩm Aleth nin Taerin alta Camora

    Sự Sụp Đổ Của Thế Giới

    Tác giả vô danh, Kỷ Đệ Tứ​



    Rồi những ngày ấy cũng đến, như nó đã đến trước đây và sẽ còn trở lại, ngày Bóng Tối bao trùm xứ sở và làm lòng người trĩu nặng, cây xanh tàn úa, hi vọng tan biến. Rồi loài người kêu lên cùng Thượng Đế, nói rằng, Sự Sáng trên các Tầng Trời, Sự Sáng của Thế Giới, hãy cho Đấng Đã Hứa sinh ra trên núi này, theo lời các tiên tri, như ngài ấy đã đến trong quá khứ và sẽ đến trong tương lai. Xin để Hoàng Tử Bình Minh cất tiếng hát trên mặt đất ngõ hầu cây cối sẽ sinh sôi và các thung lũng ngập tràn chiên bò. Hãy để cánh tay của Chúa Tể Rạng Đông kéo chúng tôi khỏi Bóng Tối, và thanh gươm công lý vĩ đại bảo vệ chúng tôi. Hãy để Con Rồng lại cưỡi trên những ngọn gió thời gian mà trở lại.

    Trích từ tác phẩm Charal Driannan to Calamon,

    Sự Đầu Thai Của Rồng

    Tác giả vô danh, Kỷ Đệ Tứ.​




    *Diềm mái (frieze): trong kiến trúc phương tây, nhất là Hi Lạp cổ đại, là bộ phận tiếp giáp giữa cột chống và mái nhà, thường có tạc các bức tranh. Xem hình dưới
    Untitled-1.jpg
    *Satan (Shaitan) tức Ma Vương trong văn hóa phương tây. Để hiểu rõ hơn hình ảnh Satan trong văn hóa phương tây, các bạn có thể xem Sách Khải Huyền, cuốn cuối cùng của bộ Kinh Thánh Kitô giáo.
    *Bộ: tức foot, đơn vị tình chiều dài, ~0,3m
    * Xuyên Không (Traveling): một loại phép thuật do một số nhân vật trong truyện sử dụng, có khả năng vượt một quãng đường xa trong nháy mắt để đến một nơi khác. Kiểu như hô biến ấy.
     
    Chỉnh sửa cuối: 12/10/15
    conruoinhoDennis Chan thích bài này.
  3. luukim

    luukim Gà tích cực Nhóm Chuyển ngữ Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    167
    Được thích:
    86
    Đã thích:
    26
    GSP:
    Ap
    The eye of the world - Con mắt thế giới

    Chương 1: Con đường vắng (phần 1)

    Xe Thời Gian xoay vần, các thời đại đến rồi đi, những ký ức còn lại trở thành huyền thoại. Huyền thoại phai nhạt thành truyền thuyết, và ngay cả truyền thuyết cũng chìm trong lãng quên cho đến khi Thời Đại đã sinh ra nó quay trở lại. Trong Thời Đại ấy, có người gọi là Kỷ Đệ Tam, một thời đại chưa đến, một thời đại đã qua từ lâu, có một cơn gió trỗi lên từ Dãy Núi Mù Sương. Cơn gió ấy không phải là sự khởi đầu.

    Không có khởi đầu và kết thúc trong sự xoay vần của Bánh Xe Thời Gian. Nhưng đó là một sự khởi đầu. Sinh ra dưới những đỉnh núi phủ mây vĩnh cửu, là thứ đã mang đến cái tên cho dãy núi, con gió ấy thổi về đông, băng qua Dải Đồi Cát, nơi từng là bờ của một đại dương, trước khi xảy ra Sự Sụp Đổ Của Thế Giới. Nó tràn xuống vùng Sông Đôi, thổi vào khu rừng rậm rạp tên là rừng Westwood, và dội vào hai người đàn ông đang đi cạnh một chiếc xe ngựa kéo xuôi xuống con đường đá lởm chởm gọi là đường Quarry Road. Mùa xuân lẽ ra đã đến từ hơn một tháng trước, ấy thế mà cơn gió lại mang theo cái lạnh buốt giá cứ như thế nó sẽ làm tuyết rơi.

    Trận cuồng phong bạt tấm áo của Rand al’Thor dính vào lưng, xốc tung mớ lông cừu nhuốm màu đất quanh đôi chân chàng, rồi cuốn ra phía sau. Chàng ước giá tấm áo choàng nặng hơn, hoặc giả chàng có mặc thêm một cái áo nữa. Đôi lúc, khi chàng cố kéo cái áo choàng ra sau thì nó lại vướng vào cái bao đựng tên đeo bên hông. Dẫu sao dùng một tay giữ cái áo choàng cũng chẳng dễ dàng gì; chàng nâng cây cung lên bằng tay còn lại, một mũi tên đã lắp sẵn sàng giương lên.

    Một luồng gió mạnh bất thường giằng tấm áo choàng ra khỏi tay chàng, chàng nhìn cha mình qua tấm lưng của con ngựa cái màu nâu xù xì. Chàng cảm thấy có chút ngớ ngẩn khi muốn chắc chắn rằng Tam vẫn còn ở đó, thật là một ngày gì đâu. Tiếng gió rít lên từng hồi, ngoài ra, sự yên tĩnh bao trùm mặt đất. So ra thì tiếng cọt kẹt khe khẽ của bánh xe thật ồn ào. Trong rừng không có chim hót, không có lũ sóc chuyền cành. Không có những thứ như chàng nghĩ, đúng thật; đây nào phải mùa xuân.

    Chỉ có cây cối giữ được lá suốt mùa đông hoặc thuộc họ lá kim là còn đọng lại chút xanh tươi. Mấy bụi hoa mận xôi từ năm ngoái trải thành những cái mạng mầu nâu phủ qua mấy ụ đá dưới những tàn cây. Bọn cây tầm ma là sinh sôi mạnh nhất trong đám cỏ dại thưa thớt; phần còn lại là các cây gai nhọn hoặc cây quả có gai, cây gỗ hôi, loại này luôn để lại một thứ mùi đặc trưng trên đôi ủng nào vô duyên nào đạp nhầm nó. Những vạt tuyết rải rác vẫn còn điểm trên mặt đất nơi những bụi cây san sát tỏa bóng râm. Nơi nào mặt trời vươn đến, nó không còn giữ được sự bền bỉ cũng như hơi ấm nữa. Mặt trời nhợt nhạt lên ngang hàng cây về phía đông, nhưng ánh sáng hẵng còn tăm tối lắm, như thể bị pha trộn với bóng đêm. Đó là một buổi sáng kì cục, âu dành cho những suy nghĩ khó chịu.

    Bất giác chàng chạm vào đầu mũi tên; sẵn sàng kéo nó qua má bằng một động tác mượt mà, theo cách Tam đã dạy. Mùa đông trên các nông trại đã rất tồi tệ, tồi tệ hơn cả cái lạnh mà vị bô lão cao niên nhất còn nhớ được, nhưng trên các ngọn núi ắt hẳn nó còn phải khắc nghiệt hơn nữa khi số các con sói tràn xuống vùng Sông Đôi xuất hiện mọi nơi. Lũ sói đột kích các trại cừu và cắn phá mở lối đi vào chuồng trại đoạt lấy ngựa và gia súc. Bọn gấu cũng bám theo lũ cừu, ở nơi mà trong nhiều năm nay không có bóng một con gấu nào. Đêm xuống ra ngoài không còn an toàn nữa. Con người cũng là miếng mồi thơm ngon chẳng kém cừu, và mặt trời thì không phải lúc nào cũng lặn.

    Tam đang sải những bước vững chãi phía bên kia con ngựa Bela, sử dụng cây thương như một cái gậy đi bộ, phớt lờ cơn gió làm tấm áo choàng nâu của ông phồng lên như tấm bảng hiệu. Chốc chốc ông lại chạm nhẹ vào bên sườn con ngựa, nhắc nó tiến bước. Với bộ ngực đầy đặn và khuân mặt rộng, ông là điểm nhấn trong buổi sáng ấy, như một tảng đá nằm giữa dòng chảy xiết. Đôi má rạm nắng của ông có lẽ đã có nếp nhăn và mái tóc hoa râm lác đác sợi đen, nhưng nơi ông có sư vững chãi lạ kì, ngay cả khi một trận lụt có cuốn ông xoay vòng mà không có chỗ đặt chân. Lúc này ông thong thả nện gót giày xuống mặt đường. Lũ sói và gấu đều là những thứ, theo kiểu ông nói, rất khôn ngoan nên bất cứ ai có cừu đều phải biết điều đó, nhưng chúng tốt nhất đừng cản đường Tam al’Thor đến làng Emond’s Field.

    Với một cái giật mình vì lơ đãng, Rand quay lại xem chừng con đường, vẻ thản nhiên của Tam nhắc chàng nhớ tới nhiệm vụ. Chàng cao hơn cha mình một cái đầu, cao hơn bất kỳ ai trong vùng, và ngoại hình có đôi chút giống Tam, có lẽ ngoại trừ đôi vai hơi rộng. Đôi mắt xám và mái tóc ánh hung kế thừa từ mẹ chàng, như Tam nói. Bà là người vùng khác, và ngoài một khuân mặt tươi vui thì Rand chỉ còn nhớ rất ít về bà, tuy năm nào chàng cũng đặt lên mộ bà một đóa hoa, vào ngày lễ Bel Tine, mùa xuân, và ngày hội Sunday, mùa hè.

    Hai thùng nhỏ đứng thứ rượu táo loại mạnh của Tam nằm trong thùng xe chòng chành, và tám cái vại lớn đựng nước ép táo nữa, chỉ hơi đông lại sau khi trữ qua mùa đông. Mỗi năm Tam đều gửi đúng số đó đến quán trọ Winespring để dùng trong suốt dịp lễ Bel Tine, và ông đã tuyên bố rằng phải có thứ gì đó ghê ghớm hơn lũ sói và gió lạnh thì mới ngăn được ông mùa xuân này. Dù đã nhiều tuần nay họ không vào làng. Ngay cả Tam mấy hôm rày cũng không đi lại nhiều. Nhưng Tam đã giữ lời về chuyện rượu mạnh và nước ép táo, dù ông phải đợi tới tận ngày áp lễ mới giao hàng được. Giữ lời rất quan trọng đối với Tam. Còn Rand đơn thuần chỉ thấy vui khi được ra khỏi trang trại, cũng như được tham dự lễ Bel Tine.

    Khi Rand xem chừng bên đường, có cảm giác nổi lên trong chàng là mình đang bị theo dõi. Trong một lúc chàng cố làm lơ. Không có gì chuyển động hoặc phát ra âm thanh giữa những lùm cây, ngoại trừ gió. Nhưng cảm giác không chỉ có vậy, nó cứ thế mạnh hơn. Lớp lông trên hai cánh tay chàng rung rinh; làn da ran rát như thể bị ngứa từ bên trong.

    Chàng bực mình nhấc cây cung lên cọ xát vào hai cánh tay, và tự nhủ đừng để mấy cái trò ngớ ngẩn làm phân tâm. Chẳng có gì trong khu rừng bên này đường cả, và nếu bên kia đường có thì thì Tam đã nói rồi. Chàng nhìn lướt qua vai… chớp mắt. Cách khoảng hai mươi gang tay ngược về sau một người mặc áo choàng cưỡi trên lưng ngựa đi theo họ, con ngựa và kẻ cưỡi đều màu đen, u ám và tăm tối.

    Chính thói quen chứ không phải thứ gì khác thúc chàng chạy ngược về cạnh chiếc xe ngựa dù mắt vẫn còn đang nhìn.

    Tà áo choàng của tay kỵ sĩ phủ từ đầu tới chân, chiếc mù trùm được kéo hẳn về trước cho nên không lộ ra phần nào của hắn. Rand mơ hồ nghĩ rằng có thứ gì đó rất kì quái ở tay kỵ sĩ kia, nhưng khoảng không tăm tối của trong cái mũ trùm đã mê hoặc chàng. Chàng chỉ nhìn thấy được những đường nét mơ hồ của một khuân mặt, nhưng lại có cảm giác như đang nhìn vào chính đôi mắt của tay kị sĩ. Và không thể nhìn đi nơi khác được nữa. Một cơn buồn nôn dấy lên trong bụng. Chỉ có bóng tối bên trong cái mũ trùm ấy, nhưng chàng lại cảm thấy một nỗi căm ghét rõ ràng y như thể chàng đang nhìn một khuân mặt hung tợn, nó căm ghét mọi thứ có sự sống. Trên hết là căm ghét chàng, ghét chàng trên hết mọi sự.

    Bỗng nhiên chàng bị một tảng đá ngáng gót chân và chàng lảo đảo chực té, đôi mắt bị giằng ra khỏi tay kỵ sĩ tăm tối kia. Cây cung rớt xuống đường, và chỉ một bàn tay chìa ra nắm lấy yên cương của con Bela mới cứu chàng khỏi một cú té ngửa. Khịt mũi một cái con ngựa dừng lại, ngúc ngoắc cái đầu để xem cái gì đã tóm lấy nó.

    Tam cau mày nhìn chàng qua tấm lưng con Bela. “Ổn chứ con trai?”

    “Một kỵ sĩ,” Rand hổn hển nói, kéo mình đứng thẳng lên. “Một kẻ lạ, đi theo chúng ta.”

    “Đâu?” Ông bố nâng cây giáo lưỡi rộng lên và thận trọng dò xét phía sau.

    “Đó, đằng sau…” câu nói của Rand im bặt khi chàng quay lại để chỉ. Con đường vắng tanh. Không tin nổi, chàng nhìn chòng chọc vào khi rừng trên cả hai bên đường. Đám cây ít cành không có lấy một chỗ ẩn nấp, nhưng ở đó chẳng có lấy một bóng ngựa hay kẻ cưỡi gì cả. Chàng gặp ngay cái nhìn chất vấn của cha mình. “Hắn ta ở đó. Một gã mặc đồ đen, trên lưng một con ngựa đen.”

    “Ta không nghi ngờ lời con nói, nhưng hắn ta đi đâu rồi?”

    “Con không biết. Nhưng hắn đã ở đó.” Chàng nhặt cung tên lên, vội vã kiểm tra lại lông vũ trước khi lắp tên, và kéo cung nửa đường trước buông lỏng dây cung. Chẳng có gì mà ngắm bắn. “Thật đấy cha à.”

    Tam lắc lắc cái đầu hoa râm. “Nếu con nói vậy. Thì nhanh lên đi. Đã là ngựa thì sẽ để lại dấu chân, dù là trên mặt đất.” Ông nheo mắt nhìn vào hông chiếc xe, tà áo choàng tung bay trong gió. “Nếu chúng ta tìm thấy thì sẽ biết rằng hắn đã ở đó. Nếu không… chà, thì là do mấy ngày này làm cho con người ta cứ tưởng mình đã nhìn thấy gì đó.”

    Bất chợt Rand nhận ra điều kỳ quái ở cái gã kỵ sĩ đó là gì, bên cạnh việc hắn đã rõ ràng ở đó. Cơn gió đập vào Tam và chàng không hề gợn một nếp gấp nào của tà áo choàng đen đó. Miệng chàng bỗng nhiên khô khốc. Chắc chắn chàng đã tưởng tượng ra nó. Cha chàng nói đúng; Đây đúng là một buổi sáng khêu gợi trí tưởng tượng con người ta. Nhưng chàng không tin điều đó. Chỉ có điều, làm sao cho cha biết rằng rằng cái kẻ như thể đã tan biến vào không khí kia có mặc một cái áo choàng mà gió không chạm đến được?

    Với sự lo âu bực bội, chàng săm soi khu rừng chung quanh hai người; trông nó khác hẳn cái vẻ trước đây. Từ cái thời chàng đủ khôn lớn để rong chơi, chàng đã chạy thả sức trong rừng. Mấy cái ao và con suối trong rừng Waterwood, bên kia những nông trại xa nhất về hướng đông của làng Emond’s field, là nơi chàng từng học bơi. Chàng đã khám phá Dãy Đồi Cát – là nơi mà nhiều người trong vùng Sông Đôi nói rằng xui xẻo – và có lần chàng đã đi tận sát chân Dãy Núi Mù Sương, chàng và những đứa bạn nối khố của chàng, Mat Cauthon và Perrin Aybara. Nơi đó xa làng hơn hầu hết người trong làng Emond’s Field từng đi; với họ một chuyến đi đến các làng lân cận, lên làng Watch Hill hoặc xuống làng Deven Ride chẳng hạn, là cả một vấn đề lớn. Chẳng nơi nào trong mấy nơi đó chàng tìm thấy có điều đáng sợ. Vậy mà hôm nay, khu rừng Westwood này nào phải là nơi chàng nghĩ tới. Thế mà lại có một kẻ, có thể biến mất bất thình lình như vậy, cũng có thể lại hiện ra đột ngột như thế nữa, thậm chí có thể ngay bên cạnh họ.

    Không cha ơi, không cần thế đâu.” Khi Tam ngạc nhiên dừng lại, Rand giấu đi sự hổ thẹn của mình bằng cách kéo cái mũ trùm tấm áo choàng lên. “Chắc cha nói đúng. Không cần phải tìm một thứ không có ở đó đâu, với lại chúng ta nên tận dụng thời gian mà vào làng và tránh trận gió này."

    “Vậy ta đến chỗ nào ấm cùng,” Tam từ tốn nói, “rồi đốt điếu thuốc và làm vại bia.” Bỗng ông toét miệng cười. “Và ta nghĩ chắc con nôn gặp Egwene lắm rồi.”

    Rand cố rặn ra một nụ cười. Trong tất cả những thứ chàng có thể sẽ muốn nghĩ tới thì, cô con gái ông Thị Trưởng hoàn toàn nằm ngoài danh sách. Điều này chàng không cần phải lăn tăn gì nữa. Vì năm ngoái cứ lúc nào hai người đi với nhau thì nàng ta lại làm chàng bẽ mặt. Tệ hơn là, đến cả điều đó nàng ta cũng không biết. Không, nhất định chàng không muốn thêm Egwene vào suy nghĩ của mình.

    Chàng mong cha mình không định nhắc tới việc chàng đã sợ hãi khi ông nói, “Hãy nhớ tới ngọn lửa, con trai, và sự không vướng bận.”

    Đó là một điều kỳ quặc mà Tam đã dạy chàng. Tập trung vào một ánh lửa và dốc hết xúc cảm của mình vào đó – sợ hãi, thù ghét, giận dữ - cho đến khi đầu óc ra trống rỗng. Trở thành người không vướng bận, Tam nói, và con sẽ làm được mọi chuyện. Không ai trong làng Emond’s Field ăn nói kiểu đó. Nhưng Tam đã thắng cuộc thi bắn cung trong dịp lễ Bel Tine mỗi năm với ngọn lửa và sự không vướng bận của ông. Rand nghĩ chắc năm nay chàng có cơ hội tự mình ghi điểm, nếu có thể giữ được cái sự không vướng bận gì đó. Vì tới tận bây giờ Tam cũng chỉ nói đến nó với ý nghĩa mà ông từng nói, chứ ông chưa chịu nói thêm gì cả.

    Tam thúc con ngựa di chuyển một lần nữa, rồi họ tiếp tục chuyến đi, ông bố sải bước như thể chưa xảy ra bất trắc gì và cũng chẳng có gì bất trắc có thể xảy ra. Rand ước giá mình bắt chước ông được. Chàng cố tạo ra sự trống rỗng trong tâm trí, nhưng nó lại lướt sang những hình ảnh về tay kỵ sĩ mặc áo choàng đen.

    Chàng muốn tin Tam nói đúng, rằng tay kỵ sĩ chỉ là sự tưởng tượng, nhưng cái cảm giác căm ghét đó chàng nhớ rất rõ. Đã có kẻ ở đó. Và hắn định làm hại chàng. Mãi cho đến khi những chóp mái nhà lợp tranh của ngôi làng Emond’s Field đã bao quanh mình chàng mới thôi không nhìn về sau nữa.

    Ngôi làng nằm sát trên rừng Wetwood, khu rừng này thưa dần cho đến khi những thân cây cuối cùng còn trụ lại giữa những ngôi nhà vững chãi. Vùng này hơi dốc về hướng đông. Tuy không thiếu những vạt rừng, nhưng nông trại cùng những cánh đồng có hàng rào và bãi chăn gia súc phủ dày mặt đất mọi phía bên ngoài làng cho đến rừng Waterwood và những ao suối dày đặc của nó. Vùng đất trải dài về hướng tây cũng rất màu mỡ, và những đồng cỏ ở đó cũng quanh năm xanh tốt, nhưng ở trong rừng Westwood thì chỉ thấy có được vài nông trại.

    Ngay cả số ít đó cũng suy giảm đến mức trong vài dặm quanh Dải Đồi Cát chẳng còn cái nào, đấy là chưa nói đến Dãy Núi Mù Sương, vươn lên trên các tầng cây rừng Westwood, tuy xa nhưng trực diện làng Emond’s Field. Có người bảo vùng này nhiều đá quá, cứ như trong vùng Sông Đôi chẳng nơi nào có đá, số khác thì bảo nó là một vùng kém may mắn. Một số kẻ kháo nhau rằng tiến gần đến dãy núi hơn mức cần thiết là rất vô dụng. Dù lý do có là gì, chỉ những người can đảm nhất mới dám dựng trại trong rừng Westwood. Lũ trẻ và đám chó chạy quanh chiếc xe thành một đám ồn ào khi nó băng qua dãy nhà đầu tiên. Bela kiên nhẫn lê bước, phớt lờ đi tiếng kêu réo của đám nhóc chạy lộn xộn dưới mũi nó, chơi đuổi bắt hoặc lăn vòng. Trong mấy tháng nay thưa tiếng trẻ nô đùa; thậm chí khi thời tiết đã dịu bớt cho chúng ra ngoài, thì nỗi sợ bọn sói vẫn giữ chúng trong nhà. Có lẽ dịp cận lễ Bel tine này đã dạy cho chúng cách chơi đùa trở lại.

    Lễ hội cũng tác động tới cả người lớn. Những cánh cửa chớp rộng được kéo ra, và trong hầu hết mọi nhà thì cánh hiền mẫu đứng bên cửa sổ, mái tóc dài thắt bím búi trong một chiếc khăn choàng cổ, giũ những tấm gra hoặc phơi mấy tấm nệm qua bậu cửa sổ. Dù lá có mọc ra trên cây hay chưa thì không chị em nào lại để ngày lễ Bel Tine đến trước khi công việc dọn dẹp mùa xuân của mình được hoàn tất… Trong sân các nhà mấy tấm chăn treo trên dây phơi, và lũ trẻ không kịp chạy thoát thì thay vì tung tăng trên phố chúng đành phải dùng những cây gậy liễu gai mà trút nỗi thất vọng của mình lên mấy tấm thảm. Trên những mái nhà san sát nhau cánh gia trưởng leo qua leo lại, kiểm tra mấy nếp tranh xem xem liệu sự tàn phá của mùa đông có cần thiết phải gọi đến lão thợ sửa mái Cenn Buie già không.

    Nhiều lần Tam dừng lại để chuyện phiếm với người này người nọ. Vì ông và Rand nhiều tuần nay không ra khỏi trang trại, mọi người đều muốn tìm hiểu xem tình hình bên ngoài thế nào. Vài người từ trong rừng Westwood đã vào làng. Tam kể về sự tàn phá của những cơn giông mùa đông, cứ cơn sau lại dữ dội hơn cơn trước, về những con cừu chết non, về những cánh đồng úa màu nơi cây trồng lẽ ra đang nảy mầm và đồng cỏ thì phải đương xanh tốt, về lũ quạ kéo thành bầy tại nơi mà mấy năm trước còn rộn tiếng chim. Chuyện vãn, họ nói tới sự chuẩn bị cho lễ Bel Tine đang diễn ra chung quanh họ, và nhiều cái lắc đầu. Đến đâu chuyện cũng chỉ có vậy.

    Hầu hết cánh đàn ông lắc lư đôi vai và nói, “Ây chà, chúng ta sẽ sống thôi, vì Sự Sáng lòng lành.” Một số người thì toét miệng cười thêm vào, “Và nếu Sự Sáng không sẵn lòng, chúng ta cũng vẫn sẽ sống.”

    Đấy chính là tính nết của hầu hết những người vùng Sông Đôi. Những người đã thấy mưa đá dội xuống mùa màng hoặc lũ sói cướp đi cừu của họ, hết lần này đến lần khác, thì dù nhựng sự đó đã xảy ra bao nhiêu năm, cũng không dễ bỏ qua. Còn hầu hết những người chịu bỏ qua thì đã mất từ lâu.

    Tam sẽ không dừng lại vì Wit Congar nếu gã ta không lao ra đường cho nên họ hoặc phải thắng ngựa lại hoặc để Bela cán lên gã. Nhà Congars – và nhà Coplins; hai gia đình này cưới xin nhiều tới nỗi chẳng ai biết đích xác nhà này phát sinh từ đâu hay nhà kia bắt đầu từ chỗ nào – nổi danh từ làng Watch Hill cho tới làng Deven Ride, và chắc phải lan xa tới tận trấn Taren Ferry, là những kẻ ưa than phiền và chuyên môn gây rối.

    “Tôi phải mang thứ này đến chỗ Bran al’Vere, Wit ạ,” Tam nói, hất đầu về phía mấy cái vại trong xe, nhưng cái gã gầy nhom vẫn đứng đấy với biểu hiện khinh khỉnh trên khuân mặt. Hắn ta vốn vẫn nằm ì trước bậc thềm, chứ không phải trên mái nhà, mặc dù mái tranh nhà gã trông đã cần lắm sự xem xét của ông thợ Buie. Gã dường như không bao giờ định làm lại, hoặc bắt đầu điều gã đã làm một lần trước đó. Hầu hết người nhà Coplin và Congar đều thế cả, những kẻ không thể tệ hơn được nữa.

    “Chúng ta phải làm gì đó với Nynaeve, al’Thor à?” Congar yêu cầu. “Chúng ta chịu sao được một Nhà Thông Thái kiểu đó trong làng Emond’s Filed này.”

    Tam buông tiếng thở nặng nề. “Đấy không phải chỗ cho chúng ta đâu, Wit. Nhà Thông Thái là chuyện của cánh đàn bà.”

    “Thì tốt hơn chúng ta phải làm gì đó, ông al’Thor. Bà ta nói chúng ta đã có một mùa đông nhẹ nhàng. Một vụ mùa bội thu. Giờ anh mà hỏi xem bà ta nghe thấy gì từ tiếng gió, rồi bà ta sẽ chỉ cau có và dậm chân bồm bộp cho mà xem.”

    “Nếu anh hỏi bà ta theo cách anh vẫn hay hỏi, Wit,” Tam điềm nhiên nói, “thì may cho anh là bà ấy đã không quật anh bằng cây gậy bà vẫn hay dùng đấy. Giờ nếu anh không phiền, đống rượu này…”

    “Nyaeve al’Meara mà làm Nhà Thông Thái thì còn trẻ quá thôi, al’Thor. Nếu Hội Phụ Nữ không làm gì đó, thì Hội Đồng Làng phải làm.”

    “Nhà Thông Thái là việc của anh hả Wit Congar?” giọng một người đàn bà rú lên. Wit luống cuống vì vợ gã đã tiến ra khỏi nhà. Daise Congar bự gấp hai lần Wit, một người đàn bà có khuân mặt rắn rỏi chẳng vương tí mỡ nào. Bà chống nạnh lườm gã. “Ông định xía vào chuyện của Hội Phụ Nữ đấy hử, vậy để xem ông có nuốt nổi món ông tự nấu không. Tất nhiên không nấu trong bếp của tôi. Và tự giặt lấy đồ cùng trải lấy giường. Tất nhiên đừng làm trong nhà tôi.”

    “Kìa Daise,” Wit nài nỉ, “Tôi mới chỉ…”

    “Thứ lỗi cho tôi, thưa bà Daise,” Tam nói. “Wit. Nguyện Sự Sáng chiếu tỏa trên hai người.” Ông thúc Bela đi tiếp, cưỡi nó vòng qua ông bạn gầy khẳng khiu. Bà Daise lúc này hẵng còn tập trung vào ông chồng, nhưng bất cứ lúc nào khác bà cũng có thể nhận ra Wit đã nói chuyện với ai.


     
    Chỉnh sửa cuối: 31/7/15
    conruoinho thích bài này.
  4. luukim

    luukim Gà tích cực Nhóm Chuyển ngữ Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    167
    Được thích:
    86
    Đã thích:
    26
    GSP:
    Ap
    The eye of the world - Con mắt thế giới

    Chương 1 (phần 2)
    Đây là lý do họ không nhận lời ghé lại bất cứ đâu để ăn hoặc uống chút gì đó nóng nóng. Vì khi thấy Tam, cánh hiền thê ở Emond’Field cứ chỉ trỏ y như chó săn phát hiện ra con thỏ. Chẳng có ai trong số họ là không biết người vợ tuyệt vời của ông chồng góa có một nông trại sung túc này, dù nông trại ấy ở mãi trong rừng Westwood.

    Rand cũng bước vội như Tam, hình như còn vồn vã hơn. Đôi lúc khi không có Tam ở bên chàng bị dồn vào chân tường, không một lối thoát khỏi sự săm xoi. Nếu để bị ép lên một cái ghế đẩu cạnh đống lửa bếp, chàng sẽ bị buộc phải ăn bánh ngọt, bánh mật ong hay bánh kẹp thịt. Và luôn luôn đôi mắt của bà hiền thê kia cân đo đong đếm chàng chặt chẽ y như cán cân và cây thước của một tay lái buôn trong lúc ấy thì bà ta sẽ bảo thứ chàng đang ăn khó mà ngon như món ăn của người chị góa chồng của bà, hoặc của cô chị họ cả của bà. Mà Tam thì rõ ràng không còn trẻ nữa, bà ta sẽ nói thế. Ông ta yêu thương vợ như thế thì tốt – cái đấy báo trước điềm hay cho người phụ nữ tiếp theo trong đời ông – nhưng ông thương tiếc lâu vậy đủ rồi. Tam cần một người phụ nữ đảm đang. Thực tế rất đơn giản rằng, bà ta thế nào cũng nói vậy, hoặc gần như là vậy, một người đàn ông không thể làm nổi việc gì nếu thiếu một người đàn bà chăm lo và giữ ông khỏi phiền toái. Kinh khủng nhất là bà nào dừng lại một cách trầm ngâm tại điểm đó, rồi hỏi với sự ngẫu nhiên đến tỉ mỉ coi ông chính xác bao nhiêu tuổi rồi.

    Giống như hầu hết những người bản địa vùng Sông Đôi, Rand có một tính nết rất ngang bướng. Những người ngoại vùng đôi lúc nói đó là đặc điểm nổi bật của người vùng Sông Đôi, rằng họ có thể dạy cho những tảng đá bài học về sự cứng đầu. Cánh hiền thê thì tốt bụng và nhìn chung là những người phụ nữ tử tế, nhưng chàng ghét bị ép vào bất cứ thứ gì, và họ làm chàng cảm thấy mình như thể đang bị những cây gậy đâm chọc. Nên chàng đi cho nhanh, và ước Tam thúc con Bella bước nhanh lên.

    Con phố nhanh chóng mở đến bãi Green, một bãi đất rộng giữa làng. Bãi Green, thường có cỏ phủ dày, mùa xuân này chỉ còn thấy vài đám cỏ tươi giữa những vạt cỏ héo hon úa màu và mặt đất trơ trụi đen xì. Một vài đôi ngỗng lắc lư qua lại, căng mắt nhìn mặt đất nhưng không sao tìm nổi thứ gì đáng để mổ, và vài người cột bò sữa cho chúng gặm đám cỏ thưa thớt.

    Về cực tây bãi Green, có mạch nước ngầm Winespring phun ra từ một tảng đá thấp biến thành một dòng chảy lộ thiên chưa bao giờ ngừng, đủ mạnh để quật ngã một người đàn ông và đủ ngọt ngào để thỏa mãn hàng tá lần với tên gọi của nó*. Từ dòng chảy này nhanh chóng mở ra thành con suối Winespring Water êm đềm xuôi về đông, với mấy hàng liễu trải dọc đôi bờ tới tận xưởng máy của bác thợ Thane và đi xa hơn nữa, cho tới khi nó tách ra thành mười hai con lạch tại những vùng trũng trong rừng Waterwood. Có hai cây cầu bộ hành thấp có tay vịn bắc qua con suối tại bãi Green, một trong hai cây, rộng hơn cây còn lại và đủ cứng cáp để chịu được xe ngựa. Cây cầu Wagon này là nơi đánh dấu con đường North Road, chạy xuống từ trấn Taren Ferry, qua làng Watch Hill, bắt đầu trở thành đường Old Road, dẫn vào làng Deven Ride. Những người ngoại vùng đôi lúc thấy buồn cười vì con đường đã có một cái tên từ mạn bắc lại mang một cái tên khác ở mạn nam, nhưng đó là điều từ xưa đến nay vẫn thế, tất cả dân Emond’s Field đều rõ vậy, và thế là thế đấy. Lý do đó là đủ đối với dân vùng Sông Đôi rồi.

    Về phía xa bên hai cây cầu, người ta dựng lên mấy đống lớn dùng để đốt trong lễ Bel Tine, ba đống củi khổng lồ được xếp cẩn thận to như những căn nhà. Chúng phải nằm trên vùng đất nào thoáng đãng, nhưng đương nhiên không phải trên bãi Green, dù bãi đó có thưa cỏ đi chăng nữa. Tiết mục nào của lễ hội không diễn ra quanh mấy đống lửa thì sẽ diễn ra trên bãi Green.

    Gần mạch nước Winespring hai chục các bà vừa du dương hát vừa lo dựng Cột Xuân. Khi đã tuốt cành rồi, một thân cây linh sam mảnh khảnh, dù đã được chôn trong hố, vươn cao tới mười bộ. Một đám thiếu nữ chưa đủ tuổi búi tóc thì ngồi duỗi chân và quan sát một cách ghanh tị, thỉnh thoảng lại hát theo mấy câu trong bài mà nhóm phụ nữ hát.

    Tam vỗ vỗ con Bela như để thúc nó dồn bước, tuy nó phớt lờ điều đó, và Rand nhìn một cách tò mò những thứ mà cánh chị em đang làm. Sáng mai cánh đàn ông sẽ giả bộ ngạc nhìn khi phát hiện ra cây Cột, rồi đến trưa những thiếu nữ chưa chồng sẽ nhảy múa với nó, quẩn quanh nó với những dải ribbon dài sặc sỡ trong khi những anh chàng chưa vợ ca hát. Không ai biết khi nào hoặc tại sao mà lại có cái tập tục này – đó lại là một điều từ xưa đến nay vẫn thế nữa – nhưng nó cũng là lý do để nhảy múa, ca hát, và không ai trong vùng Sông Đôi cần biện minh gì cho điều đó cả.

    Trong suốt ngày lễ Bel Tine sẽ luôn có ca hát, nhảy múa và ăn uống, và thời gian còn để dành cho chạy đua, và các cuộc thi về hầu hết mọi thứ nữa. Giải thưởng sẽ được dành cho không chỉ môn bắn cung, mà còn cho người giỏi nhất về ném dây, và đánh gậy. Sẽ có cuộc thi giải câu đố và ô chữ, kéo co, và ném xa, có phần thưởng cho người hát hay nhất, người nhảy đẹp nhất và tay chơi violin tài nhất, cho người xén lông cừu nhanh nhất, thậm chí cả người ném bi giỏi nhất và ném lao giỏi nhất.

    Dịp lễ Bel Tine thường thì rơi vào lúc mùa xuân đang độ chín muồi, khi những con cừu đầu tiên ra đời và vụ mùa đầu tiên nảy mầm. Dù với cái lạnh đang treo lơ lửng, nhưng, không ai có ý định gác buổi lễ lại. Mọi người sẽ có dịp dùng chút tài nhảy múa và ca hát. Và trên hết mọi sự, nếu lời đồn đoán đáng tin, một màn trình diễn pháo hoa hoành tráng trên bãi Green đã được dự trù – tất nhiên là nếu tay bán pháo năm nào xuất hiện đúng thời điểm. Điều đó đang làm dấy lên những lời đồn rất đáng quan tâm; Đã mười năm rồi từ cái lần trình diễn cuối cùng, và điều đó vẫn còn được người ta nhắc tới.

    Quán trọ Winespring nằm về cực đông của bãi Green, ngay cạnh cầu Wagon. Tầng trệt của tòa quán trọ xây bằng đá lấy dưới sông, tuy nguồn gốc là những phiến đá xưa hơn mà có người bảo đến từ dãy núi. Tầng thứ hai sạch sẽ tinh tươm – nơi Brandelwyn al’Vere, chủ quán trọ và là ngài Thị Trưởng của Emond’s Field từ hai mươi năm nay, sống với vợ và mấy đứa con gái của mình – nhô hẳn qua tầng dưới. Mái ngói đỏ, duy nhất trong làng, ửng sáng dưới ánh mặt trời yếu ớt, và có khói bốc lên từ ba trong số mười hai cái ống khói cao của quán trọ.

    Mặt nam cuối quán trọ, cách xa con suối, còn đó một cái nền đá lớn hơn nhiều, có thuở từng là một phần của quán - hoặc là người ta nói vậy. Giờ có một cây sồi cỡ đại mọc giữa cái nền, với thân cây rộng tới ba mươi paces* và những cành nhánh to ngang một người đàn ông sải rộng. Vào mùa hè, Ban al’Verse bày bàn ghế dưới tán cây, cành lá râm mát, và người ta có thể thưởng thức một ly nước cùng làn gió nhè nhẹ trong khi họ chuyện trò hoặc có thể làm một ván cờ vây.

    “Chúng ta tới rồi đây con trai.” Tam với lấy yên con Bela, nhưng cô nàng đã dừng lại trước quán trọ trước khi bàn tay ông chạm vào lớp da của cái yên. “Mày rành đường hơn tao rồi đấy”, ông mỉm cười.

    Cuối cùng thì tiếng cọt kẹt của bánh xe cũng lặng, Bran al’Vere xuất hiện từ trong quán trọ, điệu bộ lúc nào cũng như bước quá nhanh so với một người với cái vòng eo như ông, gần như gấp hai lần bất cứ ai trong làng này. Một nụ cưới xẻ khuân mặt tròn của ông ta ra, một khuân mặt đội lên trên bằng một mái tóc muối tiêu xén ngang. Trời rét và ông chủ quán chỉ mặc độc có cái áo sơ mi, với một cái tạp dề trắng tinh quấn quanh. Một tấm huy hiệu bằng bạc lẫn lộn trong một chùm những chiếc cân đeo trước ngực ông ta.

    Tấm huy hiệu, nằm trong những cái cân kích thước thật dùng để cân bạc của đám lái buôn xuống từ Baerlon để mua gỗ và thuốc hút kia, là biểu trưng của chức Thị Trưởng. Bran chỉ đeo nó khi làm ăn với quân buôn và trong dịp các lễ hội, các buổi chiêu đãi, và đám cưới. Lúc này ông lại mang nó sớm mất một ngày, nhưng đêm nay là Đêm Đông, đêm vọng lễ Bel Tine, là lúc mọi người sẽ viếng thăm nhau gần như suốt đêm, trao đổi những món quà nho nhỏ, ăn chút gì đó và đến nhà nào cũng cụng ly. Sau mùa đông này, Rand nghĩ, chắc ông ta nghĩ Đêm Đông đủ để biện minh việc khỏi đợi tới ngày mai mới đeo.

    “Tam,” ngài Thị Trương thốt lên khi chạy vội về phía họ. “Sự Sáng chiếu tỏa trên tôi, cuối cùng cũng gặp anh rồi. Cả cháu nữa, Rand. Cháu vẫn khỏe chứ, con trai?”

    “Khỏe ạ, thưa ngài al’Vere,” Rand đáp. “Ngài thì sao, thưa ngài?” Nhưng sự chú ý của Bran đã quay trở lại Tam.

    “Tôi đang đinh ninh rằng năm nay chắc anh không chở rượu tới. Trước giờ có bao giờ anh trễ thế này đâu.”

    “Mày hôm rày tôi không muốn ra khỏi trang trại Bran à,” Tam đáp. “Không, vì lũ sói khắp nơi. Và vì thời tiết nữa.”

    Bran đằng hắng. “Tôi ước giá có ai đó ngoài thời tiết ra thì còn có chuyện khác để nói. Thiên hạ ai cũng than phiền về nó, và người ta tốt hơn nên tự biết lấy hơn là chờ tôi bảo cho biết. Tôi mới mất hai chục phút giải thích cho bà al’Donel rằng với lũ cò tôi đành bó tay. Tuy điều bà ta mong tôi làm là…” Ông lắc đầu.

    “Một điềm gở,” một giọng nói khàn khàn tuyên bố, “không có con cò nào làm tổ trên những mái nhà vào dịp lễ Bel Tine này.” Cenn Buie, xương xẩu và đen nhẻm như một gốc cây già cỗi, tiến đến Tam và Bran và dựa vào cây gậy đi bộ cao gần bằng lão ta và cũng khẳng khiu như vậy. Lão tròn mắt gườm gườm cùng lúc nhìn cả hai người. “Sắp có những thứ tồi tệ hơn, các anh nhớ lời tôi đấy.”

    “Nếu ông đã thành thầy bói rồi thì, giải thích điềm gở thử coi?” Tam hỏi cách cộc lốc. “Hay ông nghe được tiếng gió chăng, như một Nhà Thông Thái?”

    “Cứ cười nhạo đi,” Cenn lầm bầm, “nhưng nếu trời không đủ ấm cho mùa màng mau sinh sôi, thì sẽ có hơn một hầm dự trữ phải trống rỗng trước khi có vụ thu hoạch đấy. Mùa đông kế tiếp rồi sẽ chẳng có gì còn sống nổi ở vùng Sông Đôi này trừ bọn sói và quạ. Đấy là nếu còn có mùa đông kế tiếp. Hoặc có thể sẽ vẫn cứ là mùa đông này thôi.”

    “Mấy lời đó là ý gì?” Bran gằn giọng hỏi.

    Cenn trao cho họ một cái nhìn chua chát. “Ta chẳng có gì tốt đẹp để nói về Nynaeve al’Meara. Các người biết rồi đấy. Vì một lẽ, cô ta quá trẻ để - Mà thôi. Hội Phụ Nữ có vẻ phản đối Hội Đồng Làng dù là bàn về họ, tuy chuyện của chúng ta thì họ xen vào bất cứ khi nào họ muốn, mà hầu như lúc nào cũng muốn, hoặc gần như là vậy…”

    “Cenn này,” Tam ngắt lời, “Thế thì có vấn đề gì không?”

    “Vấn đề gì ư, al’Thor. Cứ hỏi Nhà Thông Thái khi nào mùa đông này chấm dứt đi, bà ta sẽ phủi đít đi ngay. Có thể bà ta không muốn nói ra điều bà đã nghe từ tiếng gió. Có thể điều bà nghe được là mùa đông này sẽ không qua. Có thể trời sẽ cứ là mùa đông cho tới khi Bánh Xe xoay vần và Thời Đại này chấm dứt. Vấn đề cho ông đấy.”

    “Vậy có thể lũ cừu sẽ biết bay đấy,” Tam vặn lại, và Bran vung tay lên. “Xin Sự Sáng bảo vệ tôi khỏi những tên ngốc. Chúng ta đã có đủ rắc rối chưa thể…”

    Ống tay áo của Rand bị kéo mạnh một cái và một giọng thì thào, chỉ cho đôi tai của chàng, cuốn chàng ra khỏi cuộc nói chuyện của những người đàn ông. “Nào Rand, trong lúc họ còn tranh cãi. Trước khi họ bắt cậu làm việc.”

    Rand nhìn xuống, và bật cười. Mat Cauthon nép mình cạnh chiếc xe ngựa nên Tam, Bran và Cenn không nhìn thấy cậu, thân hình mảnh khảnh của cậu ta vặn vẹo như một con cò cố gập đôi người lại.

    Đôi mắt nâu của Mat nhấp nháy tinh quái, như vẫn thế. “Dav và tớ bắt được một con lửng già cỡ bự, cứ bị kéo ra khỏi ổ là nổi sung lên. Chúng ta sẽ thả nó ra trên bãi Green và nhìn bọn con gái loạn lên.”

    Nụ cười của Rand nở rộng; Đối với chàng trò này nghe kém vui hơn một hay hai năm trước, nhưng Mat thì có vẻ chẳng lớn lên tí nào. Chàng nhìn lướt cha một cái – Mấy người đó vẫn còn chụm đầu vào nhau, cả ba đua nhau nói – rồi chàng hạ giọng: “Tớ đã hứa sẽ dỡ mấy vại nước ép rồi. Nhưng gặp cậu sau cũng được.”

    Mat đảo mắt nhìn lên. “Số vại này á! Chết tôi, tớ thà chơi cờ với con bé nhà tớ còn hơn. Thôi được, tớ biết có thứ hấp dẫn hơn con lửng nữa. Chúng ta có những kẻ lạ trong vùng Sông Đôi đấy. Tối hôm qua…”

    Trong phút chốc Rand lặng người. “Một kẻ cưỡi trên lưng ngựa đúng không?” Chàng hỏi dò. “Một kẻ mặc áo choàng đen, trên một con ngựa đen? Và áo choàng của hắn không dao động trong gió đúng không?”

    Mat nuốt tràng cười vào bụng, hạ giọng xuống khàn hơn nữa. “Cậu cũng thấy hắn ư? Tớ tưởng tớ là người duy nhất chứ. Đừng cười nhá Rand, nhưng ông ta làm tớ chết khiếp.”

    “Tớ không có cười. Hắn cũng làm sợ tớ nữa. Tớ dám thề là hắn ghét tớ, hắn muốn giết tớ đấy.” Rand run run. Mãi cho đến hôm đó chàng chưa bao giờ nghĩ rằng có ai muốn giết mình, thật sự muốn giết chàng. Chuyện như vậy không đời nào xảy ra ở vùng Sông Đôi. Hoặc một trận đấu tay không, có thể thế, hoặc một trận đấu vật, chứ không có chuyện giết người.

    “Ghét hay không tớ không biết Rand à, nhưng hắn ta kiểu gì thì kiểu cũng kinh lắm. Tất cả hắn làm là ngồi trên ngựa rồi nhìn tớ, ngay ngoài làng thôi, nhưng tớ chưa bao giờ sợ đến thế trong đời. Rồi thì, tớ nhìn đi chỗ khác, loáng một cái thôi – việc đấy không dễ đâu, cậu nhớ cho kỹ - rồi khi tớ nhìn lại thì hắn ta đã biến đâu mất. Máu và tro hỡi*! Ba ngày rồi, và tớ khó có thể thôi nghĩ về hắn. Tớ cứ nhìn qua vai mình suốt.” Mat cười gượng một cái nghe như tiếng rên. “Thật nực cười khi bị nỗi sợ xâm chiếm. Cậu thấy lạ không. Tớ thật sự nghĩ – chỉ trong một phút thôi, lưu ý nhé – đó có thể là Chúa Tể Bóng Tối.” Cậu ta cố rặn nụ cười khác, nhưng lần này không phát ra được âm thanh nào.


    Rand hít một hơi thở sâu. Cũng như việc tự nhắc bài mình trước bất cứ bài học nào, cậu ta nói thuộc lòng, “Chúa Tể Bóng Tối và tất cả những Kẻ Bị Ruồng Bỏ phải chịu giam cầm ở ngọn núi Shayol Ghul, bên kia vùng Great Blight, từ thuở Tạo Dựng bởi chính Thượng Đế, và sẽ bị giam cầm cho tới tận cùng thời gian. Bàn tay của Thượng Đế che chở thế giới này, và Sự Sáng ngài chiếu tỏa trên tất cả chúng ta.” Cậu hít một hơi nữa rồi tiếp. “Với lại, nếu được tự do, thì tên Mục Đồng Bóng Đêm* ấy sẽ làm gì trong vùng Sông Đôi đây khi nhìn thấy đám trẻ quê mùa?”

    “Tớ không biết. Nhưng tớ không biết tay kỵ sĩ đó… ác độc. Đừng cười. Tớ thề đấy. Chắc đó là Con Rồng.”

    “Cậu sao lắm suy nghĩ bay bổng thế?” Rand càu nhàu. “Cậu xem ra còn kinh khủng hơn cả ông Cenn.”

    “Mẹ tớ luôn nói những Kẻ Bị Ruồng Bỏ sẽ đến tìm tớ nếu tớ không lo sửa mình. Nếu tớ từng thấy ai trông giống Ishamael, hay Aginor, thì đó chính là hắn ta.”

    “Mẹ của bất cứ ai cũng lấy Kẻ Bị Ruồng Bỏ ra mà hù dọa,” Rand nói cộc lốc, “nhưng nói đến mới nhớ. Tại sao không phải là Ma Khách, trong khi đó mới là thứ cậu quan tâm.” Mat trừng mắt nhìn chàng. “Tớ đã không sợ đến vậy kể từ khi… Không, tớ chưa bao giờ sợ đến thế, tớ không ngại thú nhận điều đó đâu.”

    “Tớ, cả tớ nữa. Cha tớ nghĩ tớ đã nhảy vào bóng tối dưới hàng cây.” Mat gật đầu một cách ủ rũ rồi tựa người vào bánh xe. “Cha tớ thế đấy. Tớ nói với Dav, và Elam Dowtry. Trước giờ chúng luôn nhìn như thể những con chim ưng, nhưng mà chẳng bao giờ thấy gì cả. Giờ thì Elam nghĩ tớ đang cố gạt cậu ta. Dav nghĩ hắn ta xuống từ trấn Taren Ferry – một tên trôm cừu, hoặc trộm gà. Một tên trộm gà!” Cậu ta dừng lời trong một sự im lặng châm biếm.

    “Toàn một lũ ngu ngốc,” cuối cùng Rand nói. “Có thể hắn ta chỉ là một tên trộm cừu.” Cậu cố phác họa nó, nhưng điều đó giống như phác họa một con sói ngồi ở chỗ con mèo trước cái lỗ chuột.”

    “À, tớ không thích cái cách hắn nhìn tớ. Và cả cậu nữa, với cái kiểu coi tớ là thứ gì đó. Chúng ta nên nói cho ai đó.”

    “Chúng ta đã nói rồi, Mat, cả hai chúng ta, và chúng ta không được tin. Cậu có thể tưởng tượng việc cố gắng truyền đạt cho ngài al’Vere về gã này, mà không để ông ấy nhìn thấy hắn không? Ngài sẽ gửi chúng ta đến chỗ Nynaeve xem chúng ta có bệnh không.”

    Bây giờ chỉ có hai chúng ta. Ai cũng sẽ tin rằng chúng ta đã tưởng tượng ra nó.”

    Rand vò đầu, không biết phải nói sao. Mat là điển hình quậy phá trong làng. Khó có ai thoát khỏi những trò tinh quái của cậu ta. Giờ tên cậu ta được xướng lên bất cứ khi nào một dây phơi bị rớt đồ xuống đất hoặc một cái đai yên ngựa bị lỏng bỏ lại bác nông dân giữa đường. Mat thậm chí còn không được quẩn quanh bất cứ đâu. Vì sự giúp đỡ của cậu ta còn tệ hại hơn là sự ở không.

    Sau một thoáng Rand nói, “Ba cậu sẽ tin nếu cậu đưa tớ ra làm chứng, cả ba tớ cũng thế…” Chàng nhìn qua chiếc xe ngựa nơi Tam, Bran và Cenn vẫn đang nói chuyện, và phát hiện mình đang nhìn đúng vào đôi mắt ông. Ngài Thị Trưởng vẫn đang giáo huấn Cenn, người lúc này đang phải im lặng chịu đựng.

    “A chào buổi sáng, cậu Matrim,” Tam vui vẻ nói, nhấc một thùng rượu bên hông xe lên. “Cháu đến giúp Rand dỡ mấy vại nước táo đấy phải không. Giỏi lắm con trai.”

    Mat nhảy cẫng lên ngay câu đầu tiên và bắt đầu quay ngoắt đi. “Chào buổi sáng, bác al’Thor. Và ngài nữa, ngài al’Vere. Ngài Buie. Nguyện Sự Sáng chiếu tỏa trên các vị. Cha cháu sai cháu đi…”

    “Không nghi ngờ gì ông đã sai cháu,” Tam nói. “Và không nghi ngờ gì, vì cháu là thằng bé luôn chạy việc cho ông ấy, cháu xong việc rồi chứ. À, Mấy đứa chuyển số vại trái cây này vào trong hầm ngài al’Vese càng nhanh, thì sẽ càng sớm được thấy người bán hàng rong.”

    “Người bán hàng rong!” Mat gào lên, không còn chết cứng trên đôi chân nữa, cùng lúc đó Rand hỏi, “Khi nào ông ấy đến cha?”

    Trong đời mình Rand chỉ nhớ có hai người bán hàng rong đến vùng Sông Đôi, một người thì hồi đó cậu còn bé tí nên ngồi trên vai Tam mà coi. Khi thật sự có một người như thế trong suốt dịp lễ Bel Tine, với đàn hạc và sáo cùng những câu chuyện của ông ta và mọi thứ khác… dân Emond’s Field sẽ còn kể về dịp lễ ấy tới mười năm sau, dù không có pháo hoa đi chăng nữa.

    “Điên khùng,” Cenn lầm bầm, nhưng im ngay khi bắt gặp cái nhìn của Bran với tất cả sức nặng của chức Thị Trưởng chất chứa trong đó.

    Tam lại dựa vào bên hông chiếc xe, dùng thùng rượu như cái gậy chống cho tay ông. “Phải, một người bán hàng rong, và đã ở đây rồi. Theo như lời ngài al’Vere, ông ta đang ngụ trong một căn phòng của quán trọ ngay lúc này.”

    “Đến vào lúc đêm muộn, vậy đấy.” chủ quán trọ lắc đầu bất mãn. “Gõ vào cửa trước cho đến khi đánh thức cả nhà dạy. Nếu không phải vì Lễ Hội thì tôi đã bảo ông ta cứ ngồi trên ngựa mà vào chuồng ngủ với nó, dù có phải người bán hàng rong phải không. Ai lại đến lúc đêm tối thế chứ.”

    Rand nhìn đầy hiếu kì. Không ai qua làng vào lúc đêm hôm cả, trong những ngày này, chắc chắn là không đi một mình. Bác thợ lợp mái lại lầm bầm trong họng, lần này nhỏ quá nên Rand chỉ hiểu được một vài từ. “Gã điên” và “kỳ quặc.”

    “Ông ta không mặc áo choàng đen chứ ạ?” Mat hỏi bất thình lình.

    Bụng của Bran xốc lên một tràng cười. “Đồ đen á! Áo choàng của ông ta giống mọi người bán hàng rong khác ta từng thấy. Vá nhiều hơn vải, và nhiều màu sắc hơn cháu có thể nghĩ ra đấy.”

    Rand bật cười vang, nghe chừng rất sảng khoái. Nghĩ tay kỵ sĩ áo đen đầy hăm dọa kia là một người bán hàng rong đúng thật là một ý tưởng khôi hài, nhưng… Cậu lấy tay bịt ngay mồm lại trong bối rối.

    “Ông thấy chưa Tam,” Bran nói. “Trong làng này có quá ít tiếng cười kể từ lúc mùa đông đến. Giờ ngay đến cả cái áo choàng của người bán hàng rong cũng gây ra một tràng cười. Chỉ riêng việc đó thôi cũng đáng tốn công sức mang ông ta từ Baerlon xuống đây.”

    “Ông muốn nói gì thì nói,” bỗng nhiên Cenn nói. “Tôi vẫn nói đó là một việc lãng phí tiền bạc ngu ngốc. Và những trò pháo hoa các người nhất định đòi cho bằng được.”

    “Vậy là có pháo hoa ư,” Matt nói, nhưng Cenn tiếp tục.

    “Tay bán hàng rong đầu tiên lẽ ra nên đến đây từ một tháng trước, nhưng không có ai cả đúng không? Nếu ngày mai ông ta không đến, thì chúng ta tính sao với bọn chúng đây? Tổ chức một Lễ Hội khác đợi họ à? Đấy tất nhiên là nếu như ngài có mang họ đến.”

    “Cenn” Tam thở dài “Ông nên biết tin tưởng như một người ở trấn Taren Ferry.”

    “Thế ông ta đâu? Nói tôi nghe coi, al’Thor.”

    “Sao các ngài không nói cho chúng cháu?” Mat yêu cầu bằng giọng không mấy hài lòng. “Cả làng sẽ phát sốt lên vì chờ đợi cũng y như phát sốt với người bán hàng rong vậy. Hoặc cũng phải gần như thế. Các ngài sẽ thấy chỉ cần một tin đồn về pháo hoa sẽ làm người ta thành ra thế nào.”

    “Ta có thể hiểu,” Bran trả lời với một cái nhìn lâu vào bác thợ lợp mái. “Và có lẽ tôi biết chắc tin đồn đó sẽ khởi sự thế nào… chẳng hạn như theo tôi nghĩ thì sẽ có ai đó than phiền giữa bàn dân thiên hạ về những khoản phí tổn trong khi đó là những thứ cần phải giữ bí mật…”

    Cenn hắng giọng. “Gió buốt quá mà thân tôi thì già yếu quá rồi. Vậy nếu các ông không thì phiền thì tôi sẽ đi xem liệu bà al’Vere có thể pha cho tôi chút rượu để xua cơn lạnh này đi không, thưa ngài Thị Trưởng, ông al’Thor.” Ông ta tiến vào quán trọ trước khi dứt lời, và ngay khi cánh cửa đóng sập sau lưng ông ta, Bran buông tiếng thở dài.

    “Có lúc ta nghĩ Nynaeve đã đúng về việc… Ờ, thôi cũng chẳng quan trọng. Mấy đứa chịu khó nghĩ thử nhé. Mọi người sẽ phát cuồng lên về vụ bắn pháo hoa, đúng không, dù đó chỉ là một lời đồn. Nghĩ xem họ sẽ thế nào nếu người bán hàng rong không đến đây kịp lúc, sau tất cả những háo hức của họ. Trong khi với thời tiết kiểu này, ai mà biết được khi nào ông ta sẽ đến. Cứ để yên rồi họ sẽ phấn khởi gấp trăm lần khi ông ta đến.”

    “Và thất vọng gấp trăm lần nếu ông ta không đến,” Rand chậm rãi nói. “Thậm chí lễ Bel Tine cũng chẳng làm tinh thần họ khá hơn chút nào.”

    “Biết suy nghĩ thế thì không uổng có cái đầu trên cổ rồi đấy,” Bran nói. “Rồi sau này thằng bé sẽ theo ông vào Hội Đồng Làng đấy Tam. Nhớ lời tôi đó. Không ai mà tôi có thể gọi tên lại nói chí lý hơn thằng bé lúc này đâu.”

    “Chỗ hàng này chưa có ai dỡ cả,” Tam nghiêm giọng nói, trao thùng rượu đầu tiên cho ngài Thị Trưởng. “Tôi đang thèm ngọn lửa ấm, một tẩu thuốc, và một cốc bia của ông đây.” Ông nhấc bổng thùng rượu thứ hai lên vai. “Tôi chắc Rand sẽ biết ơn lắm nếu cậu chịu giúp đấy Matrim. Nhớ nhé, nước trái cây ở trong hầm càng sớm thì…”

    Khi Tam và Bran biến mất vào trong quán trọ, Rand nhìn bạn mình. “Cậu không cần đụng tay đâu, Dav sẽ không giữ con lửng đó lâu đâu.”

    “Ô, sao không chứ?” Mat đành cam chịu. “Cha cậu nói rồi đấy, nước trái cây ở trong hầm càng sớm thì…” Hai tay nhấc một thùng nước táo, cậu ta bước nhanh vào quán trọ. “Egwene chắc đang quanh đây. Xem cách cậu nhìn cô ta như nhìn một con bò bị xả thịt cũng vui chẳng kém vụ con lửng, dù là ngày nào.”

    Đang đặt chiếc cung với cái bao tên ra sau thì thì Rand dừng lại. Chàng thật đang cố tống khứ Egwene ra khỏi đầu óc mình. Việc đó thật không bình thường. Nhưng cô ta chắc cũng đang đâu đó quanh quán trọ. Chàng không có nhiều cơ hội tránh né. Tất nhiên, cũng đã nhiều tuần kể từ lần cuối cậu thấy cô ta.

    Bản đồ vùng Sông Đôi (Two Rivers)
    map-2-rivers.gif

    ...
    *pace: đơn vị đo chiều dài, ~ 0.76m
    *Mục Đồng Bóng Đêm (Shepherd of the night): tên gọi khác của Chúa Tể Bóng Tối (Dark One)
     
    Chỉnh sửa cuối: 31/7/15
    conruoinho thích bài này.
  5. Magic Purple

    Magic Purple Gà BT Nhóm Chuyển ngữ

    Bài viết:
    1.260
    Được thích:
    1.361
    Đã thích:
    1.168
    GSP:
    Ap
    Mình mới đọc chương mở đầu thôi. Nghe giống Hercules bị hóa điên rồi giết vợ con nhỉ. :3
    Phần phía mình nghĩ bạn nên ghi thể loại của tác phẩm chứ đừng để truyện dài.
    Về chú thích mình nghĩ bạn nên đánh số cho chúng, để * chung vậy sẽ khó theo dõi cái nào là cái nào.
    Bạn làm thêm mục lục vào nữa nhé, mà chương 1 tách ra như vậy thì bạn ghi chương 1 - phần 1, chương 1 - phần 2 chẳng hạn, chứ ghi tiếp như vậy khó làm mục lục. :3
    Một số lỗi chính tả:
    Bạn ghi nhầm tên tác giả nha.
    Viết hoa nhé.
    Mình thấy phía sau bạn gọi người đàn ông đó là hắn ta, vậy thì đổi chỗ gạch chân thành vậy luôn cho thống nhất. :3
     
    luukim thích bài này.
  6. conruoinho

    conruoinho Gà ăn mày Gà về hưu Nhóm Chuyển ngữ

    Bài viết:
    1.961
    Được thích:
    4.716
    Đã thích:
    5.614
    GSP:
    Ap
    Chào bạn, mình mới sửa tên chủ đề của bạn cho phù hợp rồi nhé. Hình bìa sách có vẻ hơi cũ, không biết truyện xuất bản từ hồi nào nhỉ?
     
    luukim thích bài này.
  7. luukim

    luukim Gà tích cực Nhóm Chuyển ngữ Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    167
    Được thích:
    86
    Đã thích:
    26
    GSP:
    Ap
    Thanks bạn!
    Đây là bìa cho tập 1 trong series 14 cuốn của tác giả Robert Jordan, xuất bản lần đầu năm 1990.
    Các lần tái bản về sau người ta có dùng bìa khác hình ảnh bớt "thiếu nhi" hơn, nhưng mình chọn cái hình này. ^^
     
  8. luukim

    luukim Gà tích cực Nhóm Chuyển ngữ Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    167
    Được thích:
    86
    Đã thích:
    26
    GSP:
    Ap
    The eye of the world - Con mắt thế giới

    Chương 2: Những kẻ lạ (phần 1)
    Khi Rand và Mat bê những thùng rượu đầu tiên qua sảnh lớn, Ngài al’Vere đã đổ đầy hai ly lớn loại bia nâu hảo hạng, thứ do ông tự làm, từ một cái vại gắn trên bức tường. Scratch, con mèo vàng trong quán trọ, ngồi thu mình trên cái vại, với đôi mắt lim dim và cái đuôi quấn quanh chân. Tam đứng trước bếp lửa lớn làm bằng đá dưới sông, nâng một tẩu thuốc dài nhồi đầy một loại thuốc lấy từ cái hộp bóng loáng mà chủ quán trọ luôn để trên mặt lò sưởi bằng đá. Bếp lửa trải hết một nửa chiều dài của gian đại sảnh, vuông vức với một cái cửa cao bằng vai một người đàn ông, và ngọn lửa bập bùng bên trong xua tan cái lạnh bên ngoài.

    Và thời điểm giáp Lễ bận rộn thế này, Rand nghĩ rằng ngoại trừ Bran và cha chàng với con mèo ra thì chắc đại sảnh hẳn trống rỗng, nhưng có thêm bốn người nữa thuộc Hội Đồng Làng, gồm cả Cenn, đang ngồi trên những cái ghế cao lưng trước ngọn lửa, bia trong tay và làn khói thuốc xanh xám cuồn cuộn trên đầu họ. Chỉ có lần này là không có cái bàn cờ nào được dùng, và tất cả sách của Bran vẫn nằm không trên kệ đối diện với bếp lửa. Bọn họ thậm chí không nói chuyện, chỉ im lặng chăm chú vào cốc bia của mình hoặc gõ tẩu thuốc vào răng sốt ruột, trong khi chờ Tam và Bran nhập bọn với họ.

    Những ngày này Hội Đồng Làng không thấy lo lắng cho lắm , ở làng Emond’s Field này thì không, và có lẽ ở làng Watch Hill hoặc Deven Ride cũng vậy. Hoặc ở cả Taren Ferry nữa, nơi mà khó ai biết được liệu dân trấn ấy có bao giờ thật sự lo nghĩ về cái gì đó không?

    Trong số những người ngồi trước bếp lửa chỉ có hai người, Haral Luhhan, bác thợ rèn, và Jon Thane, bác thợ mỏ, là thoáng nhìn thấy hai đứa nhóc đi vào. Tuy nhiên ngài Luhhan nhìn chăm chú hơn. Đôi tay bác thợ rèn ta to như cặp chân của hầu hết mọi người, bao quanh bởi những cơ bắp, và ông vẫn còn đang đeo cái tạp dề bằng da dài ngoằng như thể đã phải vội vã tới thẳng buổi họp này từ lò rèn. Ông ta cau mày nhìn cả hai đứa nó, rồi lại thoải mái duỗi người quanh cái ghế, tập trung vào việc nhồi thuốc rồi rít nhanh một cái.

    Tò mò, Rand bước chầm chậm, rồi kêu oái lên một tiếng khi Mat đá vào mắt cá chàng. Thằng bạn hất đầu một cách cương quyết về phía lối đi cuối tòa sảnh rồi vội vã bước tới không chút ngập ngừng. Khập khiễng, Rand cũng đi theo.

    “Vậy là sao?” chàng yêu cầu ngay khi đã vào hành lang dẫn dô bếp. “Cậu suýt làm gãy…”

    “Là lão Luhhan,” Mat nói, nhìn vào sảnh lớn qua đôi vai Rand. “Tớ nghĩ ông ta nghi tớ là kẻ…” Cậu ngắt lời khi bà al’Vere xông ra khỏi nhà bếp, hương bánh nóng tỏa ra phía trước.

    Cái khay trên tay bà đựng mấy ổ bánh mì nướng mà nhờ nó bà nổi tiểng khắp làng Emond’s Field, cùng với mấy đĩa dấm và phó-mat. Thức ăn chợt nhắc Rand rằng chàng mới chỉ được một khúc bánh mì trước khi rời trang trại sáng nay. Dạ dày của chàng ngượng ngịu sôi lên.

    Là một phụ nữ mảnh khảnh, với mái tóc hoa râm tết dày xõa qua vai, bà al’Vere mỉm cười theo kiểu các bà mẹ với cả hai đứa nó. “Món này còn trong bếp đấy, nếu hai cháu có đói, mà ta chưa thấy có đứa nào ở tuổi các cháu lại không. Mà tuổi nào thì cũng vậy, chẳng phải vấn đề. Nếu mấy đứa thích, sáng mai ta sẽ nướng bánh mật.”

    Bà là một trong số những người phụ nữ có chồng trong vùng này chưa bao giờ chơi trò ghép đôi cho Tam. Với Rand tình mẫu tử của bà luôn mở rộng bằng một nụ cười ấm áp và một phần ăn nhanh bất cứ khi nào chàng ghé qua quán trọ, nhưng bà cũng làm thế với mọi thanh niên trong vùng. Nếu thỉnh thoảng bà có nhìn chàng như thế muốn làm gì hơn, ít nhất cũng là những cái nhìn, thì là vì chàng thật lòng biết ơn bà.

    Không đợi cho phép bà lướt vào sảnh lớn. Ngay lập tức vang lên âm thanh cựa quật của những chiếc ghế trên sàn khi cánh đàn ông đứng lên, và ồn ào trước mùi vị của bánh mì. Bà hiển nhiên là đầu bếp số một trong làng Emond’s Field, và không một người đàn ông nào trong mấy dặm quanh đây mà không tóm lấy cơ hội được đặt chỗ dưới bàn ăn của bà.

    “Bánh mật,” Mat nói, liếm môi.

    “Để sau đi,” Rand quả quyết, “bằng không thì chẳng bao giờ xong việc.”

    “Một ngọn đèn treo trên bậc thang xuống tầng hầm, ngay cạnh cửa vào bếp, và một cái khác tạo thành một quầng sáng nhỏ trên căn phòng tường đá dưới quán trọ, xua tan tất cả ngoại trừ một chút bóng tối trong góc xa nhất căn phòng. Những cái kệ bằng gỗ chạy dọc những bức tường và băng ngang nền nhà chất những thùng rượu và nước ép táo, cả những thùng lớn hơn chứa bia và rượu vang, một vài thùng có gắn van. Nhiều thùng rượu vang được al’Vere đích tay đánh dấu bằng phấn, ghi chú chúng được mua năm nào, tay bán hàng rong nào đã mang đến, và thành phố nào làm ra chúng, nhưng tất cả các thùng bia và rượu táo là sản phẩm hoặc của nông dân vùng Sông Đôi hoặc của chính Bran. Những tay bán hàng rong, thậm chí là tay buôn, đôi lúc mang rượu táo hoặc bia từ ngoài vào, nhưng không bao giờ ngon và giá tốt cho bằng trong vùng, với lại, chưa có ai từng uống chúng hơn một lần.

    “Bây giờ,” Rand nói, khi hai đứa đang xếp thùng lên kệ, “cậu đã làm gì mà phải tránh ngài Luhhan thế?”

    Mat nhún vai. “Thật tình là không có gì. Tớ bảo Adan al’Caar và mấy thằng bạn trẻ trâu của cậu ta – thằng Ewin Finngar và Dag Coplin – rằng có mấy người nông dân đã thấy bọn chó săn linh hồn, thở ra lửa, và chạy qua cánh rừng. Chúng ăn ngấu nghiến như liếm kem đặc vậy.”

    “Và ngài Luhhan đã nổi điên với cậu vì chuyện này?” Rand nghi hoặc hỏi.

    “Không hẳn.” Mat ngập ngừng, rồi lắc đầu. “Cậu hiểu không, tớ lấy bột trét lên hai con chó nhà lão, biến chúng thành màu trắng. Rồi tớ thả chúng gần nhà Dag. Làm sao mà tớ biết chúng lại chạy thẳng về nhà cơ chứ? Nào phải lỗi của tớ. Nếu bà Luhhan không để cửa mở thì chúng sao vào trong nhà được. Đâu phải tớ cố tình vãi bụi khắp nhà bà ấy đâu.” Nó cười ầm lên. “Tớ nghe bà ta lấy chổi rượt ông Luhhan và mấy con chó, cả ba đấy, chạy ra khỏi ngôi nhà.”

    Rand vừa cười mà cũng vừa nhăn mặt. “Nếu tớ là cậu, tớ sẽ sợ bà Alsbet Luhhan hơn là sợ bác thợ rèn. Bà ấy khỏe cực, và tính nóng còn khủng khiếp hơn. Nhưng cũng chẳng sao. Nếu cậu đi nhanh thì chắc ông ấy không để ý cậu đâu.” Biểu cảm của Mat cho thấy nó không nghĩ Rand vui tính chút nào.

    Tuy nhiên, khi hai đứa nó trở lại sảnh lớn thì Mat không cần vội nữa. Sáu người đàn ông đã xếp ghế ngồi quây lại với nhau trước bếp lửa. Quay lưng về phía đống lửa, Tam đang thấp giọng nói, và những người khác đang chăm chú lắng nghe, tập trung vào từng lời của ông đến nỗi nếu có một bầy cừu đi qua chắc họ cũng chẳng để ý. Rand muốn đi sát lại, để nghe xem họ đang nói cái gì, nhưng Mat lại kéo tay áo chàng và trao cho chàng một cái nhìn khổ sở. Với một tiếng thở dài chàng theo Mat ra xe ngựa.

    Khi trở lại hành lang hai đứa thấy một khay bánh trên đầu cầu thang, và mùi hương ngào ngạt của bánh mật nóng lan tỏa cả lối đi. Còn có hai cái cốc, và một bình nước táo hâm nóng đang bốc khói nữa. Mặc dù đã tự nhủ phải để sau, nhưng khi khiêng nốt hai chuyến cuối cùng từ chiếc xe ngựa đến hầm chứa thì Rand nhận ra mình đang tung hứng trên tay thùng rượu và một cái bánh mật nóng hổi rồi.

    Xếp thùng rượu cuối cùng vào kệ xong, chàng lau mép trong khi Mat còn đang đặt gánh nặng xuống, rồi nói, “Giờ thì phắn…”

    Chân bước rầm rập trên những bậc thang, và Ewin Finngar chạy bổ xuống hầm trong vội vã, khuân mặt mụ mẫm của cậu ta bừng sáng với sự hớn hở muốn báo ngay tin tức của mình. “Có những kẻ lạ trong làng.” Cậu ta ngừng thở và nhìn Mat bằng ánh mắt gượng gạo. “Em chưa bao giờ thấy bọn chó săn linh hồn, nhưng em nghe có người đã trét bột lũ chó của ngài Luhhan. Em cũng nghe bà Luhhan biết phải tìm kẻ nào rồi.”

    Sự ngăn cách tuổi tác giữa Rand và Mat với Ewin, nó mới mười bốn, thường khiến hai thằng thờ ơ với những gì cậu ta nói. Nhưng lần này chúng phải trao nhau một cái nhìn hoảng hốt, rồi cả hai đồng thanh nói.

    “Trong làng ư?” Rand hỏi. “Không phải trong rừng à?”

    Lời vừa dứt Mat liền tiếp, “Áo choàng hắn đen đúng không? Mày thấy mặt hắn không?”

    Ewin ngập ngừng nhìn qua từng đứa, rồi nói nhanh khi Mat dậm chân dọa nạt. “Tất nhiên em thấy mặt nó. Còn áo nó màu xanh lá. Có khi xám. Nó đổi màu. Hình như cái áo tan biến vào bất cứ nơi nào hắn ta đứng. Đôi lúc anh không thấy hắn ngay cả khi anh nhìn thẳng vào hắn, trừ khi hắn di động. Còn của bà ta thì màu xanh, xanh da trời đấy, và trông lạ mắt gấp mười lần bất cứ bộ đồ dạ hội nào mà em từng thấy. Bà ta cũng đẹp gấp mười lần bất cứ ai em từng gặp. Bà ta là một phu nhân cao quý, y trong truyện vậy. Nhất định là thế.”

    “Bà ta ư?” Rand nói. “Em đang nói về ai vậy?” Chàng nhìn Mat, kẻ đang đưa hai tay ôm đầu kéo sụp mắt xuống.

    “Họ là những kẻ tớ định nói với cậu đấy,” Mat thì thào, “trước khi cậu bắt tớ làm…” nó ngưng bặt, tròn mắt nhìn Ewin. “Họ đến tối hôm qua,” Mat lại tiếp, “và đặt phòng trong quán trọ này. Tớ thấy họ cưỡi ngựa vào. Ngựa của họ đấy Rand à. Tớ chưa bao giờ thấy ngựa nào mà lại cao lớn béo tốt như vậy. Trông như thể chúng có thể chạy hoài chạy mãi. Tớ nghĩ hắn làm việc cho bà ta.”

    “Là phụng sự,” Ewin ngắt lời. “Trong truyện người ta gọi là phụng sự.”

    Mat tiếp tục như thể Ewin chưa nói gì. “Dù thế nào, hắn tuân lệnh bà ta, dù bà ta có nói gì. Chỉ là hắn không giống một kẻ được thuê. Một người lính, chắc vậy. Cách hắn đeo kiếm, là một phần của hắn, kiểu như là tay với chân vậy. So với hắn thì đám lính gác của bọn quân buôn chẳng khác gì lũ chó nhát chết. Còn bà ta. Tớ chưa bao giờ tưởng tượng ra người nào giống vậy. Bà ấy từ trong truyện của người hát rong ra. Bà ta giống… giống.” Nó ngừng lại và nhìn Ewin có vẻ chua chát “…giống một phu nhân cao quý,” nó kết thúc bằng tiếng thở dài.

    “Nhưng họ là ai?” Rand hỏi. Ngoài quân buôn, mỗi năm một lần đến mua thuốc hút và lông cừu, thì những người bán hàng rong, những người ngoại vùng không bao giờ đến vùng Sông Đôi, gần như không bao giờ. Có thể họ đến trấn Taren Ferry, nhưng phía nam xa xôi này thì không. Với lại hầu hết quân buôn và cánh bán hàng rong đã đến từ nhiều năm trước, nên cũng không kể họ là người lạ được. Chỉ có người ngoại vùng. Đã hơn năm năm kể từ lần cuối cùng một kẻ lạ xuất hiện ở làng Emond’s Field, lúc đó ông ta đang cố tránh một vài rắc rối ở trấn Baerlon mà không ai ở làng này hiểu được. Ông ta không ở lại lâu.

    “Bọn họ muốn gì à?” Mat kêu lên. “Tớ không quan tâm bọn họ muốn gì. Những kẻ lạ, Rand à, những kẻ lạ mà cậu chưa từng mơ tưởng tới. Nghĩ đi.”

    Rand mở miệng, rồi ngậm lại ngay mà chẳng nói gì. Tay kỵ sĩ mặc đồ đen đã làm chàng sợ hãi như một con mèo bị chó rượt. Điều đó giống như một sự tình cờ tệ hại, ba kẻ lạ quanh làng vào cùng một thời điểm. Là ba kẻ nếu như tấm áo choàng đổi màu của kẻ đó không bao giờ đổi sang màu đen.

    “Tên bà ấy là Moiraine,” Ewin nói sau một thoáng im lặng. “Tớ nghe hắn gọi vậy. Moiraine, hắn gọi bà ấy. Phu nhân Moiraine. Còn tên hắn là Lan. Nhà Thông Thái chắc cũng không thích phu nhân ấy đâu, nhưng tớ thì thích.”

    “Sao mày nghĩ chị Nynaeve không thích bà ấy?” Rand nói.

    “Sáng nay bà ấy hỏi đường Nhà Thông Thái,” Ewin nói, “và gọi chị ấy là ‘nhóc’” Rand và Mat cùng huýt sáo nhè nhẹ qua kẽ răng, còn Ewin vội giải thích nhanh tới nỗi cắn cả vào lưỡi. “Phu nhân Moiraine không biết chị ấy là Nhà Thông Thái. Phu nhân xin lỗi khi nhận ra điều đó. Thật đấy. Rồi hỏi một vài câu về thảo mộc, và về những người quanh làng Emond’s Field, với cung cách kính trọng y như các cô các bà trong làng mình vậy – có khi còn hơn. Phu nhân toàn đặt câu hỏi, về việc người dân già trẻ thế nào, rồi họ sống ở nơi đây bao lâu rồi, và… ờ, tớ không nhớ hết. Dù sao thì, chị Nynaeve trả lời như thể cắn phải trái dâu xanh vậy. Rồi, khi phu nhân Moiraine đi khỏi, chị Nynaeve nhìn theo giống như kiểu… như, ờ, không mấy thiện cảm, có thể nói như vậy.”

    “Hết chưa?” Rand nói. “Mày biết tính khí của chị Nynaeve rồi đấy. Năm ngoài khi Cenn Buie gọi chị ấy là một đứa trẻ, chị đã thục cây gậy vào đầu ông ta, mà ông ấy thuộc Hội Đồng Làng, và đáng tuổi làm ông nội chị ấy đấy. Chị ta còn nổi quạu với bất cứ thứ gì, và không bao giờ để cơn giận qua nhanh.”

    “Cái đấy với em thì hãi lắm,” Ewin thì thầm.

    “Tớ không quan tâm chị Nynaeve đánh ai”, Mat cười ngặt nghẽo, “miễn không phải là tớ. Lễ Bel Tine đợt này sẽ là tuyệt nhất từ trước tới giờ. Một người hát rong, một phu nhân – có ai còn đòi hỏi gì hơn nữa? Ai còn cần pháo hoa nữa?”

    “Một người hát rong ạ?” Ewin nói, giọng cậu ta trở nên lanh lảnh.

    “Thôi nào Rand,” Mat tiếp, lơ thằng nhóc. “Xong việc ở đây rồi. Phải cho cậu thấy gã này.”

    Nó tót lên cầu thang, thằng Ewin lết theo sau gọi, “Có người bán hàng rong hả anh Mat? Cái này không giống vụ mấy con cho săn ma đấy chứ? Hoặc chuyện lũ ếch?”

    Rand khựng lại tắt cái đèn rồi lao theo bọn chúng.
     
    conruoinho thích bài này.
  9. luukim

    luukim Gà tích cực Nhóm Chuyển ngữ Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    167
    Được thích:
    86
    Đã thích:
    26
    GSP:
    Ap
    The eye of the world - Con mắt thế giới

    Chương 2: Những kẻ lạ (phần 2)

    Trong sảnh lớn Rowan Hurn và Samel Crawe đã nhập bọn vào nhóm người trước bếp lửa, vậy là toàn thể Hội Đồng Làng đã ở đó. Bran al’Vere đang nói, cái giọng chân chất thường ngày của ông hạ thấp tới nỗi chỉ còn là tiếng thì thầm lan truyền qua những cái ghế chung quanh. Ngài Thị Trưởng nhấn mạnh lời của mình bằng cách gõ gõ ngón trỏ vào lòng bàn tay, và lần lượt nhìn từng người một. Tất cả bọn họ gật đầu đồng ý với bất cứ điều gì ông nói, tuy lão Cenn có vẻ miễn cưỡng hơn những người còn lại

    Cách nói của nhóm đàn ông túm tụm với nhau kia thẳng thắn chứ không màu mè. Dù họ đang nói cái gì, thì cũng là chuyện của riêng Hội Đồng Làng, chí ít là cho tới bây giờ. Họ không để ý thấy Rand đang cố nghe lỏm. Rồi miễn cưỡng chàng tránh ra xa. Vậy là có người bán hàng rong. Và những kẻ lạ đó.

    Bên ngoài, con Bela và chiếc xe ngựa đã rời đi, chắc là Hu hay Tad, người trông ngựa, đánh đi. Mat và Ewin đứng cách cửa quán trọ mấy paces nhìn nhau, áo choàng tung bay trong gió.

    “Tao bảo lần cuối,” Mat quát, “Tao không có đùa. Có người hát rong. Giờ thì biến. Rand, cậu làm ơn bảo thằng đầu đất này là tớ đang nói thật cho nó để tớ yên cái.”

    Kéo gập tấm áo choàng lại, Rand bước lên giúp Mat, nhưng miệng chàng chết cứng khi mái tóc cuộn ngược ra sau cổ. Một lần nữa chàng đang bị theo dõi. Cảm giác này khác hẳn với tay kỵ sĩ, nhưng cả hai đều khó chịu, nhất là vụ đó vừa mới xảy ra đây.

    Lướt nhìn về phía bãi Green chàng thấy điều chàng vẫn thấy trước đây – đám trẻ con nô đùa, người dân sắm sửa cho Lễ Hội, và chẳng có lấy một cái lướt nhìn nào về phía chàng. Cột Xuân vẫn đứng chơ vơ, chờ đợi. Tiếng trẻ nô đùa ngập tràn các con phố. Tất cả vẫn vậy. Ngoại trừ việc chàng đang bị theo dõi.

    Rồi có thứ gì đó khiến chàng xoay quanh, hướng mắt lên. Trên rìa mái ngói ngôi quán trọ một con quạ đậu ở đó, khẽ lắc lư trong trận cuồng phong thổi đến từ dãy núi. Đầu nó nghiêng sang một bên, và một con mắt tròn, đen đang tập trung… nhìn chàng, chàng nghĩ vậy. Chàng nuốt nước bọ, rồi bất ngờ cơn giận trỗi lên, hừng hực và tức tối.

    “Đồ ăn xác thối tha,” chàng lầm bầm.

    “Tao mệt với cái kiểu nhìn đấy rồi nhé,” Mat càu nhàu, và Rand nhận ra thằng bạn đã bước đến bên cạnh mình và cũng đang bực mình với con quạ.

    Hai hòn đá bay lên… con quạ bước dịch sang bên; hai hòn bay vèo xuống đất trở lại. Khua nhẹ đôi cánh, nó lại nghiêng đầu, chiếu đôi mắt đen xì xuống hai thằng, chẳng hề sợ hãi, làm như chưa có gì xảy ra vậy.

    Rand hoảng sợ nhìn con chim. “Cậu có thấy con quạ nào làm vậy chưa?” Chàng hỏi thầm.

    Mat lắc đầu mà mắt không rời khỏi con quạ. “Chưa từng. Cũng chưa thấy con chim nào khác làm vậy.”

    “Một con quái,” giọng một phụ nữ thốt ra sau lưng chúng, tuy khó chịu nhưng nghe lại êm tai, “rõ ràng rất đáng hồ nghi.”

    Với một tiếng kêu eng éc con quạ phóng mình vào không trung nhanh tới mức hai cọng lông đen vương lại trên mái nhà.

    Chăm chú, Rand và Mat xoay người nhìn theo hướng bay của con chim, qua Bãi Xanh và hướng về Dãy Núi Mù Sương phủ mây, vươn lên bên kia rừng Westwood, cho tới khi nó chỉ còn là một đốm nhỏ rồi dần mất hút khỏi tầm nhìn.

    Ánh mắt của Rand rớt xuống người phụ nữ vừa nói. Bà ta, cũng nhìn theo con quạ, nhưng giờ đã quay lại, và bắt gặp ánh mắt chàng. Chàng kinh ngạc. Đây chắc hẳn là phu nhân Moiraine, và bà ta đúng như lời Mat và Ewin nói, thậm chí còn hơn.

    Khi nghe bảo cô ta gọi Nynaeve là nhóc, chàng mường tưởng hẳn cô ta đã già, nhưng không phải. Ít nhất, chàng không thể đoán được tuổi cô ta. Ban đầu chàng thấy cũng trẻ như Nynaeve, nhưng nhìn lâu hơn thì lại thấy cô ta lớn tuổi hơn. Có một sự già giặn trong đôi mắt đen, tròn của cô ta, một dấu hiệu của sự hiểu biết mà không phải ai cũng có khi còn trẻ. Trong khoảnh khắc chàng nghĩ đôi mắt ấy là một hồ nước sâu thẳm nuốt chửng lấy chàng. Dễ hiểu tại sao Mat và Ewin đều gọi cô ta là một phu nhân như trong truyện của người hát rong. Cô ta có một vẻ duyên dáng và thần thái chỉ huy khiến chàng cảm thấy ngượng ngịu và run chân. Cô ta cao vừa tới ngực chàng, nhưng sự vóc dáng lại rất thích hợp với chiều cao cô ta, và chàng cảm thấy lóng ngóng với chiều cao của mình.

    Nhìn chung là cô ta không giống bất kì ai chàng từng gặp. Cái mũ trùm rộng của tấm áo choàng đóng khung lấy khuân mặt và mái tóc đen của cô, một mái tóc xoăn bồng bềnh để xõa. Chàng chưa bao giờ thấy một phụ nữ trưởng thành mà lại không tết tóc; mọi cô gái trong vùng Sông Đôi đều tha thiết mong đến ngày Hội Phụ Nữ nói rằng mình đã đến tuổi tết tóc. Trang phục cô ta cũng kì lạ như vậy. Tấm áo choàng bằng nhung màu thiên thanh, với những họa tiết hoa lá bằng bạc thuê dày viền quanh áo. Bộ váy lóng lánh theo nhịp bước của cô ta, có màu xanh đậm hơn áo choàng, và có sọc màu kem. Một sợi dây chuyền với những mắt xích bằng vàng đeo quanh cổ, trong khi một sợi bằng vàng khác, thanh nhã quấn quanh mái tóc, treo một viên đá nhỏ màu dương lấp lánh ngay chính giữa vầng trán. Một sợi dây lưng rộng bản dệt bằng vàng quấn quanh eo cô ta, và trên ngón giữa bàn tay trái là một chiếc nhẫn vàng có hình mãng xà cuộn mình. Chàng chắc chắn chưa bao giờ thấy một chiếc nhẫn như vậy, tuy chàng nhận ra đó là hình Mãng Xà Chúa, một biểu tượng của sự vĩnh cửu còn xưa hơn là Bánh Xe Thời Gian.

    “Chào buổi sáng, bà… à không… thưa phu nhân Moiraine,” Rand nói. Mặt đỏ bừng vì ngượng ngịu.

    “Chào buổi sáng, phu nhân Moiraine,” Mat lập lại cho trơn tru hơn, nhưng chẳng khá hơn là mấy.

    Cô ta mỉm cười, và Rand tự hỏi liệu có thứ gì mình có thể làm vì cô ấy không, để rồi có một cái cớ được gần cô hơn. Chàng biết cô ta đang cười với cả hai đứa, nhưng lại nghĩ là cười riêng với chàng chăng. Thật cứ như câu chuyện của người hát rong đã thành sự thật. Mat toét ra một nụ cười ngu ngốc trên khuân mặt.

    “Các cậu biết tên ta,” bà nói, nghe vui tươi, như thể không biết sự hiện diện của mình, dù ngắn ngủi, đã biến thành câu chuyện của năm trong làng này! “Nhưng các cậu gọi ta là Moiraine thôi, không có phu nhân. Vậy các cậu tên gì?”

    Ewin nhào ra trước khi một trong hai đứa kịp lên tiếng. “Tên con là Ewin Finngar, thưa phu nhân. Chính con cho hai anh này biết tên bà; nên họ mới biết. Con nghe ông Lan nói, nhưng không phải nghe lén đâu. Trước giờ chưa từng có ai giống phu nhân ghé qua làng Emond’s Field. Có một người hát rong cũng đến làng để dự lễ Bel Tine. Và tối nay là Đêm Đông rồi. Phu nhân ghé nhà con được không? Mẹ con có nấu món bánh táo.”

    “Ta phải xem đã,” cô ta đáp, đặt tay lên vai Ewin. Đôi mắt cô nhấp nháy vui tươi, tuy rằng chẳng có ý gì cả. “Ta không biết liệu có cạnh tranh được với người hát rong không Ewin à. Nhưng mấy đứa phải gọi ta là chị Moiraine thôi. Cô ta nhìn Rand và Mat khẩn khoản.

    “Em là Matrim Cauthon, thưa Phu… à… thưa chị Moiraine,” Mat nói. Nó thình lình cúi người xuống một cách cứng nhắc, rồi khi đứng thẳng dậy thì mặt đã đỏ bừng.

    Rand đã tự hỏi liệu có nên làm theo kiểu mấy người trong truyện không, nhưng thấy Mat đã vậy, chàng chỉ đơn giản nêu tên mình ra. Ít ra thì lần này chàng cũng không líu lưỡi lại.

    Moiraine nhìn từ chàng qua Mat rồi ngược lại. Rand nghĩ nụ cười của cô ta, hơi nhếch hai bên mép, lúc này trông giống như kiểu cười của Egwene mỗi khi có bí mật gì đó. “Ta có chút việc nhỏ phải làm mỗi lần ghé qua Emond’s Field,” cô ta nói. “Chắc mấy đứa sẽ giúp ta chứ?” Cô cười lớn khi từng đứa nó tán thành. “Đây,” cô nói, và Rand ngạc nhiên khi cô ta ấn một đồng xu vào tay chàng, dùng hai ngón tay nắm chặt bàn tay ấy lại.

    “Không cần đâu,” chàng bắt đầu, nhưng cô ta bỏ qua sự phản đối của chàng và trao cho Ewin một đồng xu, rồi ấn vào tay Mat y như cách đã làm với Rand.

    “Tất nhiên là cần chứ,” cô ta nói. “Mấy đứa sao có thể làm không công được. Cứ xem đó là vật làm tin đi, và mang theo nó, như thế mấy đứa sẽ nhớ là đã đồng ý đến với ta khi ta cần. Vậy giờ giữa chúng ta có sự ràng buộc rồi nhé.”

    “Em sẽ không quên,” Ewin thốt lên.

    “Chúng ta sẽ nói chuyện sau,” cô ta nói, “và mấy đứa phải nói cho ta biết về bản thân mình đấy.”

    “Thưa Phu… ý em là, chị Moiraine?” Rand hỏi vội khi cô ta quay đi. Bà dừng lại và nhìn qua vai, và chàng phải nuốt nước bọt để nói tiếp. “Sao chị lại đến làng Emond’s Field?” Biểu cảm của cô ta không thay đổi, nhưng bỗng nhiên chàng ước mình đừng hỏi, tuy chàng không biết tại sao. Nhưng rồi chàng cũng hấp tấp giải thích. “Em không có ý thất lễ. Em xin lỗi. Chỉ là trong khi tuyết vẫn chưa ngập quá sâu để đi từ trấn Baerlon xuống thì ngoài cánh lái buôn và những người bán hàng rong thì không có ai đến Emond’s Field cả. Hầu như không có ai. Tất nhiên là không có ai giống chị hết. Những người cận vệ của cánh lái buôn đôi lúc bảo nơi đây mãi mãi là cuối đường, và em nghĩ đấy hẳn là cách nghĩ của bất kì ai sống bên ngoài. Em chỉ tự hỏi vật thôi.”

    “Vì Bánh Xe xoay vần,” Moiraine nói, nửa như thì thầm và đôi mắt nhìn xa xăm, “các vùng đất sẽ mang nhiều tên. Mỗi người sẽ mang nhiều tên, nhiều khuân mặt. Những khuân mặt khác nhau, nhưng luôn là cùng một người. Nhưng không ai biết được Số Kiếp mà Bánh Xe thuê dệt, hoặc ngay cả Số Kiếp của một Thời Đại. Chúng ta chỉ biết quan sát, ghi nhận và hi vọng mà thôi.”

    Rand nhìn cô ta, không nói được một lời, dù là để hỏi xem ý cô nói gì. Chàng nghĩ cô ta không nói cho bọn nó nghe. Hai thằng kia cũng tặc lưỡi. Ewin còn há hốc mồm.

    Moiraine lại nhìn bọn chúng, và cả ba hơi rùng mình như thức tỉnh. “Chúng ta sẽ nói chuyện sau,” cô ta nói. Không đứa nào đáp lời. “Hẹn sau nhé.” cô ta tiến về phía cầu Wagon, trông như lướt đi chứ không phải bước, tấm áo choàng của cô ta giang rộng hai bên như đôi cánh.

    Khi cô ta đi rồi, một người đàn ông cao lớn mà Rand không để ý từ trước ra khỏi quán trọ theo cô ta, một tay đặt trên chuôi gươm. Trang phục của ông ta một màu xanh đậm ẩn hiện trong lá cây và bóng tối, và tấm áo choàng xoay chuyển giữa các tông màu xám, xanh lá và nâu khi nó tung bay trong gió. Đôi lúc, tấm áo choàng đó, dường như tan biến, hòa vào bất cứ thứ gì xung quanh. Tóc người đó dài, chỗ thái dương đã điểm bạc, và bị dải băng buộc đầu chải về phía sau. Khuân mặt ấy tạo thành bằng những mặt phẳng cứng nhắc và góc cạnh, phong trần nhưng lại không gợn nếp nhăn dù tóc đã phai sương. Khi người đó di chuyển, Rand thấy không khác gì một con sói.

    Khi băng qua ba thiếu niên người đó quét ánh mắt nhìn chúng, đôi mắt lạnh lẽo và có màu xanh như bình minh lúc giữa đông. Người đó cứ như thể đang ước lượng bọn chúng trong tâm trí, nhưng trên khuân mặt ấy không có dấu hiệu nào cho thấy bọn chúng có kí lô nào cả. Ông ta dồn bước cho tới khi bắt kịp Moiraine, rồi chậm rãi bước bên cô ta, cúi người nói chuyện. Rand bất giác thở hắt ra một hơi dồn nén nãy giờ.

    “Đó là Lan,” Ewin hạ giọng nói, như thể nó cũng nén hơi nãy giờ. “Em dám cược ông ta là một Cai Ngục.”

    “Mày điên à.” Mat bật cười, nhưng là một cái cười rờn rợn. “Những Cai Ngục chỉ có trong chuyện thôi. Dù sao thì bọn họ có kiếm và áo giáo nạm vàng cùng ngọc ngà, và dành hết thời gian để đi lên phương bắc, trong vùng Great Blight, để chiến đấu với cái ác và bọn Trolloc cùng những thứ như vậy.”

    “Ông ta có thể là Cai Ngục lắm chứ,” Ewin cương quyết.

    “Mày có thấy vàng hay ngọc ngà gì trên áo ông ta không?” Mat quạu. “Bộ trong vùng Sông Đôi này có bọn Trolloc hả? Chỉ có cừu thôi. Tao tự hỏi có cái quái gì ở đây mà khiến người như chị ấy thích thú chứ.”

    “Có thể có gì đó,” Rand chậm rãi trả lời. “Họ nói quán trọ này đã ở đây ngót một ngàn năm, có khi hơn”

    “Một ngàn năm cái con khỉ.” Mat nói

    “Một đồng bạc!” Ewin thốt lên. “Bà ấy cho em cả một đồng bạc này! Thử nghĩ xem khi những người bán hàng rong tới em sẽ có khối thứ để mua.”

    Rand xòe tay xem đồng bạc bà ta cho mình, quá đỗi ngạc nhiên. Chàng không nhận ra đồng bạc dày cui với hình chạm nổi một người đàn bàn đứng tay giơ cao giữ một ngọn lửa này ở đâu, nhưng chàng đã từng thấy Bran al’Vere cân bạc mà đám quân buôn mang đến từ đủ các miền, và chàng biết giá trị của nó. Số bạc thế này mua được cả một con ngựa ở bất cứ đâu trong vùng Sông Đôi, mà còn dư lại một ít nữa.

    Chàng nhìn Mat và thấy cùng một biểu cảm sững sờ mà chắc chắn cũng đang có trên khuân mặt mình. Hơi nghiêng bàn tay cho Mat thấy đồng bạc nhưng không để Ewin thấy, chàng nhíu mày tỏ ý dò hỏi. Mat gật đầu, và thoáng chốc cả hai nhìn nhau đầy bối rối.

    “Chị ấy có việc vặt gì thế không biết?” Cuối cùng Rand hỏi.

    “Tớ không biết,” Mat khẳng định, “cũng không quan tâm. Tớ cũng sẽ không tiêu nó. Dù những người bán hàng rong có đến.” Nói xong nó nhét đồng bạc vào túi áo.

    Gật đầu, rồi Rand cũng làm y vậy. Chàng không chắc tại sao, nhưng biết đâu lời Mat nói có lý. Không nên tiêu đồng bạc. Khi mà nó đến từ bà ta. Chàng không nghĩ những điều có lợi khác từ đồng bạc, nhưng…

    “Hai anh nghĩ em cũng nên giữ lại cho mình ư?” Nét do dự khổ sở điểm to khuân mặt Ewin.

    “Không trừ khi chính mày muốn vậy,” Mat nói.

    “Anh nghĩ bà ta đưa nó cho em xài đấy,” Rand nói.

    Ewin nhìn đồng bạc, rồi lắc đầu và nhét nó vào trong túi. “Em sẽ giữ nó,” nó nói đầy đau khổ.

    “Vẫn còn người hát rong nữa,” Rand nói, và thằng Ewin sáng mắt ra.

    "If he ever wakes up," Mat added.

    "Rand," Ewin asked, "is there a gleeman?"

    "You'll see," Rand answered with a laugh. It was clear Ewin would not believe until he set eyes on the gleeman. "He has to come down sooner or later."

    Shouting drifted across the Wagon Bridge, and when Rand looked to see what was causing it, his laughter became wholehearted. A milling crowd of villagers, from gray-haired oldsters to toddlers barely able to walk, escorted a tall wagon toward the bridge, a huge wagon drawn by eight horses, the outside of its rounded canvas cover hung about with bundles like bunches of grapes. The peddler had come at last. Strangers and a gleeman, fireworks and a peddler. It was going to be the best Bel Tine ever.

    “Nếu ông ta hẵng còn thức,” Mat bổ sung.

    “Rand,” Ewin hỏi, “có người hát rong không anh?”

    “Để rồi xem,” Rand cười đáp. Rõ ràng Ewin sẽ không tin chừng nào tận mắt thấy người hát rong. “Ông ta sớm muộn cũng phải đến thôi.”

    Có tiếng ồn tràn qua cầu Wagon, và khi Rand nhìn xem là do đâu, chàng cười ngất ngưởng. Một đám đông dân làng, từ những ông già bạc tóc cho đến lũ trẻ chập chững biết đi, hộ tống một chiếc xe ngựa cao giàn đi về phía cầu, một chiếc xe cỡ đại tám ngựa kéo, bên ngoài tấm bạt phủ treo những bao bịch trông như những chùm nho. Người bán hàng rong cuối cùng đã đến. Những người lạ đến cùng người hát rong, pháo hoa đến cùng người bán hàng rong. Lần này nhất định sẽ là lễ Bel Tine tuyệt nhất từ trước tới giờ.
     
    conruoinho thích bài này.
  10. luukim

    luukim Gà tích cực Nhóm Chuyển ngữ Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    167
    Được thích:
    86
    Đã thích:
    26
    GSP:
    Ap
    The eye of the world - Con mắt thế giới

    Chương 3: Người bán hàng rong

    Những bao bị kêu loảng xoảng ồn ào khi chiếc xe của người bán hàng rong rầm rập chạy qua những thanh gỗ chắc nịch của cầu Wagon. Trong khi vẫn còn bị bao quanh bởi một đám đông dân làng và nông dân đến dự Lễ Hội, người bán hàng rong ghì cương ngựa dừng lại trước cửa quán trọ. Từ mọi ngả một số lượng khổng lồ dân chúng kéo đến vây lấy chiếc xe ngựa vĩ đại, bánh của nó cao hơn hết thảy những kẻ đang dán mắt vào người bán hàng ngồi bên trên.

    Người trên xe ngựa là Padan Fain, một ông bạn xanh xao, gầy guộc với đôi tay khẳng khiu và một cái mũi khoằm khổng lồ. Fain, luôn luôn tươi cười như thể ông ta biết một chuyện tiếu lâm mà không ai khác biết, vẫn đánh xe ngựa vào làng Emond’s Field mỗi mùa xuân từ hồi mà Rand còn có thể nhớ được.

    Cửa quán trọ bật mở ngay khi lũ ngựa dừng lại trong tiếng ồn ào của bộ yên cương, và Hội Đồng Làng xuất hiện, dẫn đầu bởi ngài al’Vere và Tam. Họ khoan thai tiến ra, có cả Cenn Buie, giữa sự ồn áo kích động của dân chúng vì đinh ghim, dây buộc, sách và hàng tá các thứ khác. Đám đông miễn cưỡng tách ra để họ đi lên trước, rồi nhanh chóng khép lại phía sau và không ngừng gọi người bán hàng rong. Chủ yếu, dân làng hỏi thăm tin tức.

    Trong mắt của dân làng, kim khâu và trà đại loại như vậy chiếm không tới một nửa một những thứ có trên xe của người bán hàng rong. Mọi chi tiết nhỏ nhặt về thế giới bên ngoài cũng quan trọng không kém, tin về thế giới bên ngoài vùng Sông Đôi. Một số người bán hàng rong đơn giản chỉ kể những gì họ biết, kể ra tuốt luốt, một đống những chuyện linh tinh nhưng nhờ đó họ không bao giờ nhàm chán. Số khác thì tuân ra đủ các thứ, nói năng một cách thô lỗ, mất lịch sự. Tuy nhiên, Fain nói năng rất cởi mở và thường hài hước, phun nước miếng khi nói, nói hăng say gần như bì kịp với cả người hát rong. Ông thích thú trở thành tâm điểm của đám đông, nghênh ngang nhìn quanh như nhìn những con gà trống dưới cơ đang dõi mắt theo ông. Còn Rand thì cho rằng Fain sẽ không hài lòng lắm nếu biết trong làng Emond’s Field có một người hát rong.

    Người bán hàng rong dành cho Hội Đồng và dân làng cùng một sự chú ý như nhau khi ông ngự trên chỗ của mình mà nhìn xuống, chú ý theo kiểu chẳng chú ý đến ai. Ông ta đại khái cứ gật đầu mà chẳng rõ với ai. Ông ta cười mà không nói, và vẫy vẫy đám đông những kẻ xem ông thân thiện một cách đặc biệt, tuy rằng sự thân thiện của ông ta vẫn luôn là một thứ xa cách kì lạ, rất nồng nhiệt nhưng lại không gần gũi.

    Những yêu cầu đòi ông lên tiếng trở nên ồn ào hơn, nhưng Fain vẫn đợi, loay hoay với mấy thứ vặt vẵn quanh chỗ ngồi, chờ cho đám đông và sự phấn khởi đến đức mức độ ông muốn. Chỉ có Hội Đồng là giữ im lặng. Họ giữ phong cách thích hợp với địa vị của mình, nhưng những đám mây thuốc lá bốc ngùn ngụt trên đầu họ cho thấy họ đang phải kiềm chế thế nào.

    Rand và Mat đứng ngoài rìa đám đông, cố len đến gần chiếc xe ngựa. Rand phải bỏ cuộc nửa đường, nhưng Mat thì vẫn luồn lách qua sức ép, kéo Rand phía sau mình, cho tới khi chúng đứng ngay sau Hội Đồng.

    “Tớ cứ tưởng cậu sẽ ở lại ngoài nông trại suốt dịp Lễ chứ,” Perrin Aybara la lên với Rand giữa sự ồn ào. Thấp hơn Rand nửa cái đầu, học trò bác thợ mỏ có mái tóc xoăn này chắc nịch ra dáng một người đàn ông sức dài vai rộng, với đôi tay và bờ vai đủ săn chắc chẳng kém chính ngài Luhhan. Cậu ta có thể dễ dàng luồn qua đám đông, nhưng lại không muốn làm vậy. Cậu cẩn thận mở đường, nói xin lỗi với những người chỉ còn một nửa tâm trí để chú ý đến những thứ khác ngoài người bán hàng rong. Dù sao thì cậu ta cũng xin lỗi, và cố không xô đẩy ai cả khi len qua đám đông để đến chỗ Rand và Mat. “Tưởng tượng xem,” cậu nói khi cuối cùng đã tới chỗ họ. “Lễ Bel Tine với người bán hàng rong, cả hai luôn. Tớ cá là sẽ có pháo hoa nữa.”

    “Cậu thì biết cái gì.” Mat cười. Perrin nhìn nó đầy ngờ vực, rồi hướng ánh mắt chất vấn vào Rand.

    “Phải đấy,” Rand hét lên, rồi ra hiệu chỉ vào đám đông vĩ đại đang tranh nhau nói. “Tí nữa đi, tớ sẽ giải thích. Tớ bảo là tí nữa.”

    Ngay lúc đó Padan Fain đứng lên trên xe ngựa, và cũng ngay lúc đó đám đông im lặng. Những lời cuối cùng của Rand bùng nổ trong khung cảnh yên ắng hoàn toàn, ngay lúc cánh tay của người bán hàng rong giơ lên để gây chú ý thì mồm chàng lại mở toang. Mọi người hướng mắt nhìn Rand. Người đàn ông gầy guộc trên chiếc xe ngựa, đang khiến đám đông chú ý đến những lời đầu tiên của mình, trao cho Rand một cái nhìn sắc bén và dò xét. Mặt Rand đỏ bừng, và chàng ước mình chỉ cao như thằng Ewin để khỏi trông quá nổi bật. Những thằng bạn của chàng cũng lấy làm ngại ngùng lắm. Mới năm rồi Fain lần đầu tiên để ý đến bọn chúng, xem chúng như những người đàn ông. Không phải lúc nào Fain cũng chú ý tới bọn thanh niên mua đồ ở xe ông. Rand hi vọng mình không trở thành trẻ con trở lại trong mắt người bán hàng rong.

    Đằng hắng một tiếng, Fain hất tấm áo choàng. “Không, tí nữa làm gì,” người bán hàng rong tuyên bố, một lần nữa trịnh trọng giơ tay lên. “Ta sẽ nói các người ngay.” Trong khi nói ông thực hiện những điệu bộ khoa trương, quăng lời lên đám đông. “Các người đang nghĩ mình gặp rắc rối trong vùng Sông Đôi phải không? Vâng, cả thế giới này đều gặp rắc rối, từ vùng Great Blight phía nam đến Biển Giông Tố, từ Biển Aryth trời tây cho đến sa mạc Aiel Waste phương đông. Thậm chí xa hơn nữa. Còn mùa đông thì khắc nghiệt hơn bao giờ hết, đủ lạnh để làm đông máu và bóp gẫy xương đúng không? Á à! Khắp nơi mùa đông đều lạnh lẽo và khắc nghiệt. Tại Dải Borderlands họ đang gọi mùa đông là mùa xuân. Nhưng mùa xuân không đến, các vị nói vậy đúng không? Lũ sói đã giết bọn cừu ư? Hay chúng còn tấn công con người nữa? Phải thế không? Xin thưa rằng. Nơi nào mùa xuân cũng đến trễ. Nơi nào cũng có sói, thèm khát bất cứ thứ thịt gì chúng có thể nhét vào răng, cừu, bò hay cả người nữa. Nhưng có những thứ còn tệ hơn cả lũ sói và mùa đông. Nhiều người chỉ mong có những vấn đề nhỏ nhặt như các vị.” Ông ta ngừng lại vẻ khiêu khích.

    “Còn có gì tệ hơn việc sói giết cừu và giết người?” Lão Cenn Buie hỏi. Những người khác xì xào ủng hộ.

    “Người giết người.” Người bán hàng rong đáp, bằng một giọng trang nghiêm, khiến cho tiếng xì xào kinh ngạc dậy lên khi ông nói tiếp. “Tôi muốn nói đó là chiến tranh. Có chiến tranh ở Ghealdan, chiến tranh và điên loạn. Tuyết trong rừng Dhalin bị máu người nhuộm đỏ. Lũ quạ với tiếng kêu của chúng tràn ngập không trung. Những đạo quân tiến đến Ghealdan. Các quốc gia, những dòng dõi lớn và những con người vĩ đại, sai quân đi đánh nhau.”

    “Chiến tranh ư?” Ngài al’Vere há hốc mồm thốt ra từ ngữ xa lạ ấy. Không có ai trong vùng Sông Đôi từng dính líu tới một cuộc chiến. “Sao họ lại chiến tranh chứ?”

    Fain bật cười, còn Rand thì thấy đáng ngại thay cho sự cách biệt của dân làng với thế giới, cả sự ngây ngô của họ. Người bán hàng rong nghiêng người về trước như thể sắp tiết lộ một bí mật cho ngài Thị Trưởng, nhưng tiếng thì thầm của ông lại vang khá xa. “Cờ hiệu của Con Rồng đã được giương lên, và người ta tụ lại vừa để chống đối, vừa để ủng hộ.”

    Mọi cổ họng bắt đầu thở gấp gáp, và Rand thì rùng hết cả mình.

    “Con Rồng!” ai đó rên rỉ. “Chúa Tể Bóng Tối đã được thả ra ở Ghealdan!”

    “Không phải là Chúa Tể Bóng Tối,” Haral Luhhan làu bàu. “Con Rồng không phải là Chúa Tể Bóng Tối. Đây nhất định là Con Rồng giả rồi.”

    “Để nghe coi ngài Fain nói gì,” ngài Thị Trưởng nói, nhưng thiên hạ không dễ gì im lặng. Chỗ nào cũng có người thốt lên, đàn ông, đàn bà la lối nói với nhau.

    “Kinh khủng y như Chúa Tể Bóng Tối vậy!”

    “Con Rồng giáng thế rồi hả?”

    “Rồi đấy! Hắn đã từng gây ra một Thời Loạn Lạc!”

    “Ông biết mấy lời tiên tri không! Khi Con Rồng tái sinh, thì cơn ác mộng kinh khủng nhất của ông thành thử lại là là giấc mơ đẹp nhất đấy!”

    “Hắn chỉ là một Con Rồng giả khác mà thôi!”

    “Thế thì có khác gì! Ông không nhớ Con Rồng giả gần đây nhất sao, hắn cũng phát động cả một cuộc chiến đấy. Hàng ngàn người chết phải không ông Faint nhỉ. Hắn vây hãm Illian.”

    “Đây là thời điểm khốc liệt! Trong hai chục năm không ai tự nhận là Rồng Tái Sinh, nhưng chỉ trong năm năm gần đây lại có tới ba kẻ. Đúng là thời kỳ khốc liệt. Nhìn thời tiết mà xem.

    Rand trao đổi ánh mắt với Mat và Perrin. Đôi mắt Mat rực lên thích thú, nhưng Perrin thì lại đượm vẻ lo âu. Rand nhớ mọi câu chuyện về những kẻ tự xưng mình là Rồng Tái Sinh, và rồi họ tự chứng minh sự giả hiệu của mình khi chết đi và tan biến mà chẳng hoàn tất lời tiên tri nào. Nhưng chẳng lẽ những tệ hại họ gây ra còn chưa đủ sao. Những quốc gia bị giày xéo bởi chiến tranh, và các thành phố lẫn thị trấn bị thiêu rụi. Xác chết lả tả như lá mùa thu, và người tị nạn chen kín các con đường như đàn cừu bị quây trong trại. Như những người bán hàng rong đã nói, cả cánh lái buôn, và không ai trong vùng Sông Đôi này có chút hoài nghi về điều đó. Thế giới sẽ đến hồi kết, ai đó nói vậy, khi Con Rồng thật sự tái sinh.

    “Thôi đi!” Ngài Thị Trưởng thét lên. “Trật tự! Thôi cái trò thổi phồng trí tưởng tượng của các người đi. Hãy để ngài Fain nói với chúng ta về Con Rồng giả hiệu này.” Dân chúng dần im lặng, nhưng Cenn Buie thì lại không.

    “Đây là Con Rồng giả ư?” bác thợ lợp mái cáu kỉnh hỏi.

    Ngài al’Vere chớp mắt như thể ngạc nhiên lắm, rồi ngắt lời, “Đừng hỏi dại vậy ông Cenn!” Nhưng Cenn đã lại kích động đám đông.

    “Hắn ta không thể là Rồng Tái Sinh được! lạy Sự Sáng cứu vớt chúng ta, hắn không thế”

    “Cái ông Buie điên khùng này! Ông muốn xui xẻo phỏng?”

    “Ông kêu danh Chúa Tể Bóng tối luôn đi! Rồi Con Rồng sẽ bắt ông đi Cenn ạ! Cứ thử làm loạn nữa xem.”

    Cenn nhìn quanh đầy thách thức, trước những ánh mắt giận dữ, rồi cao giọng. “Ta nào có nghe Fain nói rằng đây là Con Rồng giả hiệu, phải không? Mở mắt ra đi! Đâu là nơi mà lẽ ra mùa màng đã cao tới đầu gối và xanh tốt hơn? Tại sao mùa đông vẫn dai dẳng trong khi mùa xuân lẽ ra phải tới được một tháng rồi?” Có những tiếng la lối giận dữ buộc Cenn im miệng. “Tôi sẽ không im lặng! Tôi cũng không thích phải nói những lời này, nhưng tôi sẽ không chui đầu vào một xó đợi một tên ở trấn Taren Farry đến cắt cổ. Và tôi sẽ không giữ phép lịch sự với Fain đâu, lần này thì không. Nói to và rõ ràng đi ông bán hàng rong. Ông đã nghe thấy gì? Sao? Kẻ lần này là một Con Rồng giả phải không?”

    Nếu Fain bị phiền toái bởi tin tức ông mang đến hoặc bởi sự hoang mang ông đã gây ra, ông sẽ không bày tỏ gì cả. Ông chỉ nhún vai và đặt ngón tay khẳng khiu lên sống mũi. “Về điều đó, thì ai mà biết được cho tới khi nó đã hoàn tất và qua đi chứ?” Ông khựng lại với một nụ cười bí hiểm, lướt ánh mắt qua đám đông như thể tưởng tượng xem họ phản ứng và thích thú thế nào. “Ta biết rằng,” ông chợt thốt lên, “rằng hắn có thể sử dụng Nguồn Quyền Năng. Những kẻ khác thì không thể, nhưng hắn có thể khu dụng. Mặt đất tẽ ra dưới chân kẻ thù hắn, và những bức tường kiên cố đổ sập khi hắn hét lên. Sét giáng xuống khi hắn gọi và đánh và nơi nào hắn chỉ. Ta nghe như thế, từ những người đáng tin.”

    Một sự im lặng ngột ngạt buông xuống. Rand nhìn đám bạn. Perrin thì y như kiểu thấy những thứ mình không thích, nhưng Mat thì trông vẫn hưng phấn lắm.

    Tan, nét mặt chỉ hơi nhăn lại so với mọi khi, kéo ông Thị Trưởng lại gần, nhưng trước khi nói được thì thì thằng Ewin Finngar đã la toáng lên.

    “Hắn ta sẽ nổi điên và sẽ chết! Trong truyện, những người có thể khu dụng Quyền Năng đều bị điên, rồi phá sạch giết sạch. Chỉ một người phụ nữ mới thoát được. Ông đã nghe tới điều đó chưa?” Nó lấy tay che đầu cho Ngài Buie khỏi thấy.

    “Thằng nhóc lắm mồm!” Cenn nhứ nắm đấm vào mặt Ewin. “Chỗ người lớn đang nói chuyện cấm có xen vào. Biến đi chỗ khác.”

    “Bình tĩnh nào Cenn,” Tam càu nhàu. “Thằng bé nó tò mò thôi. Có cần phải nổi điên lên thế không.”

    “Người lớn tí đi,” Bran nói thêm. “Với lại nhớ rằng ông là thành viên của Hội Đồng đấy.”

    Khuân mặt nhăn nheo của Cenn sa sầm hơn theo mỗi lời Tam và ngài Thị Trưởng nói, cho tới khi đỏ mặt tía tai. “Mấy người có biết ông ta nói về hạng đàn bà nào không. Đừng có nhìn tôi kiểu đó Luhhan, cả anh nữa, Crawe. Đây là một ngôi làng văn hóa, của những người có văn hóa, và thật tồi tệ khi ông Fain ở đây nói về Con Rồng giả hiểu sử dụng Quyền Năng mà lại không có một tên đồng lõa lôi kéo hội Aes Sedai vào vụ này. Có một vài điều không nên nói tới, và ta không quan tâm liệu các người có để cho tên hát rong ngu xuẩn đó kể bất cứ chuyện gì hắn muốn hay không. Cái đấy vừa sai mà lại vừa vô văn hóa.”

    “Ta chưa bao giờ thấy hay nghe hay ngửi bấy cứ cái gì không thể nói tới được,” Tam nói, nhưng Fain vẫn chưa chấm dứt.

    “Hội Aes Saida đã nhập cuộc rồi,” người bán hàng rong lên tiếng. “Một nhóm bọn họ từ Tar Valon đã phi ngựa về nam. Vì hắn ta có thể sử dụng Quyền Năng, nên ngoài Ase Saida không ai có thể đánh bại hắn, như trong mọi cuộc chiến họ tham gia, hoặc xử lý hắn một khi hắn bị đánh bại. Giả như hắn có thua trận.”

    Có người trong đám đông thốt lên, đến Tam và Bran cũng phải trao nhau một cái nhìn bực dọc. Đám đông dân làng túm tụm lại, một vài kẻ xiết tấm áo choàng quanh người chặt hơn, tuy thực tế gió đã giảm bớt.

    “Tất nhiên, hắn sẽ bị đánh bại.” Ai đó la lên. “Cuối cùng chúng luôn bị hạ, những Con Rồng giả hiệu.”

    “Hắn phải bị đánh bại có đúng không?”

    “Nếu không thì sao?”

    Rốt cuộc thì Tam cũng tìm được cách nói nhỏ vào tai ông Thị Trưởng, và Bran, lia lịa gật đầu và phớt lờ sự ồn ào chung quanh, chờ cho tới khi Tam nói xong mới cất cao giọng:

    “Tất cả nghe đây. Im mà nghe này!” Tiếng la lại chết chìm trong sự ồn ào. “Điều này không chỉ là tin tức thuần túy từ bên ngoài. Nó phải được Hội Đồng Làng thảo luận. Ngài Fain, phiền ngài vô quán trọ ngồi chơi chúng tôi có điều muốn hỏi.”

    “Lúc này thì tôi sẽ không bỏ lỡ một cốc rượu nóng đâu,” người bán hàng rong cười đáp. Ông ta nhảy xuống xe, phủi tay lên áo, sửa sang lại áo choàng. “Phiền ai đó trông hộ mấy con ngựa giùm nhé.”

    “Tôi muốn nghe ông ấy nói gì!” nhiều giọng nói vang lên phản đối.

    “Các ngài không được mang ông ấy đi! Vợ tôi bảo tôi đi mua đinh ghim đây này!” Đó là Wit Congarl, gã ta gập vai lại mà nhìn những kẻ nhìn mình, nhưng cũng chỉ đứng yên tại chỗ.

    “Bọn tôi cũng có quyền hỏi chứ,” ai đó trong đám đông la lên.

    “Tôi…” “Xin im lặng!” ngài Thị Trưởng gầm lên, ai nấy đều giật mình ngậm miệng. “Khi nào Hội Đồng hỏi chuyện xong, ngài Fain sẽ trở lại nói cho các người tất cả. Và bán đồ cho các người. Hu! Tad! Trông ngựa cho ngài Fain.”

    Tam và Bran đi hai bên người bán hàng rong, số còn lại của Hội Đồng đi sau họ, rồi tất cả đi vào trong quán trọ Winespring, đóng sập cửa lại trước mặt những kẻ cố theo họ chen vào bên trong. Có tiếng giộng vào cánh cửa và giọng ngài Thị Trưởng vang lên:

    “Về nhà đi!”

    Dân chúng tụ tập trước quán trọ bàn tán về điều người bán hàng rong đã nói, xem thử nó nghĩa gì, và Hội Đồng liệu sẽ hỏi gì, và sao họ lại phải hỏi han kín đáo kia chứ. Vài người nhìn vào trong qua cửa sổ, vài kẻ thậm chí còn hỏi chuyện Hu và Tad, dù về chuyện này hai người họ hoàn toàn mù tịt. Hai người lái ngựa chất phác chỉ ậm ờ qua chuyện rồi tiếp tục tháo yên cương. Họ đưa ngựa của Fain đi từng con một, rồi không quay lại nữa.

    Rand không đoái hoài đến đám đông. Chàng ngồi lên rìa cái nền đá cũ, kéo áo choàng quanh người, và nhìn vào trong quán trọ. Ghealdan. Tar Valon. Những cái tên hết sức xa lạ và thú vị. Chàng chỉ biết tới nhờ tin tức của người bán hàng rong và từ những mẩu chuyện mà cánh vệ sĩ của quân buôn kể. Aes Sedai và những cuộc chiến với những Con Rồng giả hiệu: đó là kiểu chuyện để kể lúc nửa đêm cạnh bếp lửa, với một cây nên hắt những bóng dáng kì lạ lên tường và gió lạnh lùa u u qua cửa chớp. Nhưng trên hết, chàng tin rằng thà là có bão tuyết và lũ sói còn hơn. Tuy nhiên, ngoài kia, ngoài vùng Sông Đôi, chắc hẳn sẽ rất khác, như cuộc sống trong truyện của người hát rong. Một cuộc phiêu lưu. Một chuyến phiêu lưu dài. Mất cả một đời.

    Dân làng từ từ giải tán, nhưng tiếng xì xào và những cái lắc đầu vẫn còn dai dẳng. Wit Congar dừng lại để nhìn vào chiếc xe ngựa đã bị tháo cương như thể muốn tìm một người bán hàng rong khác trong đó. Cuối cùng chỉ còn lại mấy đứa thanh niên. Mat và Perrin đến chỗ Rand ngồi.

    “Tớ không hiểu sao người hát rong lại kể chuyện này,” Mat hào hứng nói. “Không biết chúng ta có thể đi xem Con Rồng giả hiểu đó không nhỉ?”

    Perrin lắc cái đầu bờm xờm. “Tớ không muốn thấy hắn đâu. Ở đâu đó thì được chứ trong vùng Sông Đôi này thì không. Như vậy chẳng phải là có chiến tranh sao.”

    “Vậy cũng có nghĩa là Aes Sedai sẽ ở đây,” Rand bổ sung. “Bằng không thì chắc các cậu đã quên kẻ nào gây ra vụ Sụp Đổ? Tuy Con Rồng khơi mào, nhưng hính Aes Sedai mới thật sự là những kẻ làm thế giới Sụp Đổ.”

    “Có lần tớ nghe một câu chuyện,” Mat chậm rãi nói, “từ tay lính gác của người buôn lông cừu. Anh ta nói Con Rồng sẽ tái sinh vào giờ khắc khẩn thiết nhất của loài người, và cứu rỗi tất cả chúng ta.”

    “À, hắn có điên mới tin thế,” Perrin khẳng khái nói. “Còn cậu có điên mới nghe vậy.” Âm điệu không có vẻ tức giận; Nó là đứa chậm giận. Nhưng đôi lúc cũng nổi khùng vì cái tật tài lanh của Mat, nên giọng nói cũng có chút bực dọc. “ Rồi anh ta khẳng định rằng tất cả chúng ta sau đó sẽ sống lại trong Tân Thời Đại Truyền Thuyết, có đúng không.”

    “Tớ có bảo là tin đâu,” Mat chống chế. “Tớ nghe vậy thôi. Chị Nynaee cũng nghe nữa, và tớ nghĩ chị ấy sẽ lột da cả tớ lẫn tay cận vệ đó. Gã ta nói – tay cận vệ ấy – rằng có nhiều người tin lắm, chỉ là khiếp không dám nói thôi, khiếp hội Aes Sedai và khiếp cả Con Cái Sự Sáng nữa. Gã ta không nói thêm gì nữa vì chị Nynaeve mắng bọn tớ. Chị ta nói với tay lái buôn, và ông ta nói đây sẽ là lần cuối cùng gã cận vệ còn được đi chung với ông.”

    “Cũng tốt đấy chứ,” Perrin nói. “Con Rồng sẽ cứu chúng ta đấy? Nghe cứ như là thằng Coplin đang nói vậy.”

    “Liệu chúng ta có cần điều gì đó đến mức muốn được Con Rồng cứu vớt không?” Rand trầm ngâm. “Như là xin sự giúp đỡ từ Chúa Tể Bóng Tối chẳng hạn.”

    “Gã ta không có nói,” Mat khó chịu trả lời. “Và gã ta không cũng không nhắc tới bất cứ Tân Thời Đại Truyền Thuyết nào cả. Gã nói sự xuất hiện của Con Rồng sẽ xé tan thế giới này.”

    “Cái đó chắc sẽ cứu chúng ta đấy,” Perrin nói cộc lốc. “Một vụ Sụp Đổ khác.”

    “Bực thật đấy!” Mat càu nhàu. “Tớ chỉ nói lại những gì tay cận vệ nói thôi mà.”

    Perrin lắc đầu. “Tớ chỉ mong cái hội Aes Saida với lại Con Rồng, thật giả mặc kệ, ở yên chỗ của chúng. Như thế thì họa may vùng Sông Đôi mới thoát nạn.”

    “Cậu có nghĩ bọn họ là Bằng Hữu Bóng Đêm không?” Mat lầm bầm có vẻ suy tư.

    “Ai?” Rand hỏi.

    “Hội Aes Sedai.”

    Rand liếc sang Perrin, nó nhún vai. “Những câu chuyện,” chàng nói, nhưng Mat ngắt lời ngay.

    “Không phải mọi câu chuyện đều nói họ phục vụ Chúa Tể Bóng Tối đâu Rand.”

    “Ôi Sự Sáng, Mat ơi là Mat,” Rand nói, “Họ đã gây ra vụ Sụp Đổ. Cậu còn muốn gì nữa?”

    “Tớ đồ rằng.” Mat thở dài, nhưng lại toét miệng cười ngay sau đó. “Ông Bili Congar già nói bọn họ không hề tồn tại. Aes Sedai đấy. Bằng Hữu Bóng Đêm ư. Bọn họ chỉ có trong truyện. Ông ta nói ông ta cũng không tin có Chúa Tể Bóng Tối nốt.”

    Perrin khịt mũi. “Thằng Coplin nghe từ ông Congar. Còn gì để nói kia chứ?”

    “Ông Bili già nêu danh Chúa Tể Bóng Tối. Tôi cá cậu không có biết đâu.”

    “Ôi Sự Sáng!” Rand thở ra một hơi.

    Mat cười toét cả miệng. “Đó là mùa xuân cuối cùng, ngay trước khi con sâu bướm bay vào những cánh đồng vô chủ. Ngay trước khi mọi người trong nhà mình nằm xuống vì cơn sốt mắt vàng. Tớ đã nghe ông ta nói vậy. Ông ta nói ông ta không tin, nhưng bất cứ khi nào tớ bảo ông thử xưng danh Chúa Tể Bóng Tôi ra xem thì ông ta lại đuổi tớ đi.”

    “Cậu nghĩ sao mà đi làm vậy hả Matrim Cauthon?” Nynaeve al’Meara bước đến chỗ bọn chúng đang túm tụm, mái tóc tết đen tuyền xõa qua vai cô như xù lên vì tức giận. Rand chết trân. Tuy mảnh mai và chỉ cao hơn vai Mat một chút, nhưng vào lúc đó Nhà Thông Thái dường như cao hơn hết cả bọn, và không phải bàn cãi là cô trẻ và đẹp.

    “Lúc đó ta hoài nghi về Bili Congar, nhưng ta nghĩ cậu ít ra phải ý thức hơn để không lôi chuyện đó ra mà cười nhạo ông ta chứ. Cậu sắp lấy vợ đến nơi rồi đấy Matrim Cauthon, nhưng ta thấy cậu vẫn chưa có rời cái tạp dề của mẹ ra được đâu. Thế nào rồi cậu cũng nêu danh Chúa Tế Bóng Tối ra cho mà xem.”

    “Không đâu Nhà Thông Thái,” Mat phản đối, trông như thế muốn chui xuống đất lắm rồi. “Là ông Bil già – Ý con là ngài Congar, không phải con! Thề có máu và tro, con…”

    “Ăn nói cho cẩn thận Matrim!”

    Rand đứng thẳng người hơn, tuy là ánh mắt của cô không chiếu thẳng vào mình. Perrin cũng lúng túng tương tự. Lát sau một trong số chúng thế nào cũng than vãn về việc bị một cô gái chẳng lớn hơn mình bao nhiêu quở trách – ai đó luôn làm gì đó sau mỗi lần bị Nynaeve mắng, khi cô đi xa rồi – nhưng khoảng cách tuổi tác dường như luôn được gia tăng mỗi khi đối diện với cô. Nhất là khi cô nổi giận. Cây gậy trong tay cô một đầu phình lên một đầu thon lại, và cô có thể giáng cho bất kì ao đó một cú nếu nghĩ rằng họ đã hành động ngu ngốc – vào đầu, tay hoặc chân – bất kể tuổi tác hay địa vị của họ.

    Nhà Thông Thái khiến Rand chăm chú tới nỗi thoạt tiên không để ý rằng cô không đi một mình. Khi chàng nhận ra nhầm lẫn đó, chàng toan chuồn khỏi đây bất kể sau đó Nynaeve có nói hay làm gì.

    Egwene đứng sau Nhà Thông Thái vài pace, chăm chú quan sát. Cao cỡ Nynaeve, và cũng tức giận y như vậy, lúc đó cô nàng như thể phản chiếu lại thái độ của Nynaeve, cả đôi tay chống nạnh và cái miệng ngậm chặt bực tức.

    Nếu có chút công bằng nào, chàng nghĩ người lớn hơn hơn cô ta hai tuổi cũng nên có chút lợi thế, nhưng khó mà được thế. Ngay cả trong những lúc thuận tiện nhất chàng cũng chưa bao giờ khéo miệng khi nói chuyện với gái làng, không như Perrin, nhưng bất cứ khi nào Egwene nhìn chàng kiểu chăm chú như vậy, với đôi mắt trừng lên như muốn văng ra ngoài, như thể cô ta dồn nén hết sự chú ý lên người chàng, thì chàng gần như không thốt lên được một lời nào cho đúng đắn. Có lẽ Nynaeve nói xong là chàng phải chuồn ngay. Nhưng chàng biết không làm vậy được, dù chẳng hiểu tại sao.

    “Nếu cậu đã chăm chú như một con cừu dở hơi như vậy, Rand al’Thor,” Nynaeve nói, “thì chắc cậu có thể nói cho ta biết tại sao cậu lại nói về thứ mà ngay cả khi ba cậu có là con bò đi chăng nữa thì cũng phải biết là chớ nói động đến.”

    Rand rùng mình và giật ánh mắt ra khỏi Egwene; cô ấy buông ra một nụ cười gây lúng tung khi Nhà Thông Thái mở màn. Giọng của Nynaeve chua chát, nhưng cô cũng nhoẻn một nụ cười trên khuân mặt, có lẽ do thằng Mat cười lớn quá. Nụ cười của Nhà Thông Thái biến mất, và ánh mắt của cô khiến tràng cười của thằng Mat méo mó.

    “Sao nào Rand?” Nynaeve nói.

    Trong khóe mắt mình chàng thấy Egwne vẫn còn đang cười. Bộ cô ta thấy vui lắm hay sao? “Nói ra không được tự nhiên cho lắm thưa Nhà Thông Thái,” chàng lắp bắp. “Người bán hàng rong – ông Padan Fain … à … ngài Fain – mang tới tin tức về Con Rồng giả hiệu ở Ghealdan, và một cuộc chiến, hội Aes Sedai nữa. Hội Đồng nghĩ chuyện này hệ trọng nên cần bàn kĩ với ngài ấy. Chúng tôi còn gì khác để nói đâu cơ chứ?”

    Nynaeve lắc đầu. “Vậy đó là lí do sao chiếc xe ngựa của ông ta lại để không. Ta nghe dân làng đổ xô tới đây để xem nó, nhưng ta không thể rời khỏi bà Ayellin cho tới khi bà ta dứt cơn sốt. Hội Đồng đang hỏi chuyện người bán hàng rong về những chuyện xảy ra tại Ghealdan phải không? Cứ theo như ta biết, thì họ sẽ chỉ toàn hỏi vớ vẩn chẳng có lấy một câu nào ra hồn. Ta sẽ giúp Hội Phụ Nữ hiểu ra chuyện gì đó hữu dụng hơn.” Quàng tấm áo choàng qua vai cô ta biến mất vào trong quán trọ.

    Egwene không đi theo Nhà Thông Thái. Khi cửa quán trọ đóng lại sau lưng Nynaeve, cô thiếu nữ đến đứng trước mặt Rand. Vẻ nhăn nhó đã biến mất khỏi khuân mặt cô, nhưng cái nhìn chăm chú của cô khiến chàng không thoải mái lắm. Chàng nhìn mấy thằng bạn, nhưng chúng đã chuồn mất, khi bỏ đi còn toét miệng cười chàng.

    “Anh không nên để Mat lôi mình vào những chuyện điên khùng này Rand à,” Egwene nói, vẻ nghiêm trọng y như Nhà Thông Thái, rồi bỗng nhiên cười khúc khích. “Tôi chưa từng thấy anh như vậy kể từ cái lần ông Cenn Buie bắt gặp anh và Mat trên cây táo nhà ông ta lúc anh mười tuổi.”

    Chàng kiễng chân lên tìm lũ bạn. Chúng đứng cách đó không xa lắm, Mat làm điệu bộ rất hào hứng khi chàng nói.

    “Ngày mai cô khiêu vũ với tôi chứ?” Đấy không phải là điều chàng định nói. Chàng muốn khiêu vũ với cô, nhưng đồng thời chàng không muốn cái cảm giác không thoải mái chắc chắn sẽ có khi chàng bên cạnh cô. Đó là cảm giác chàng sẽ thấy ngay sau đó.

    Khóe miệng cô nhoẻn một nụ cười. “Buổi chiều nhé,” nàng nói. “Buổi sáng tôi bận mất rồi.”

    Từ xa vọng đến tiếng kêu của Perrin. “Người hát rong!”

    Egwene quay về phía chúng, nhưng Rand nắm lấy tay cô. “Bận hả? Sao vậy?” Dù trời lạnh nhưng nàng vẫn kéo cái mũ trùm của tấm áo choàng xuống và khi không còn bị trùm nữa thì mái tóc nàng xõa xuống hai bên vai. Lần cuối cùng chàng nhìn thấy cô, mái tóc cô hẵng còn buông xõa xuống dưới vai, có mấy sợi ruy băng nhỏ cột nó lại cho khỏi che mặt, giờ mái tóc ấy đã được tết thành búi rồi.

    Chàng nhìn mái tóc búi ấy như thể đó là một con rắn, rồi trộm nhìn sang Cột Xuân, đứng chơ vơ trên Bãi Xanh, sẵn sàng cho ngày mai. Vào buổi sáng các chị em ở độ tuổi lấy chồng sẽ khiêu vũ bên Cột. Chàng khó nhọc nuốt nước bọt. Bằng cách nào đó, chàng chưa bao giờ nghĩ rằng nàng sẽ đến tuổi lập gia đình cùng lúc với mình.

    “Không phải cứ ai đủ tuổi lập gia đình,” chàng lầm bầm, “thì họ sẽ làm thế. Không lấy vợ ngay lập tức.”

    “Tất nhiên không. Có khi mãi mãi, tùy thôi.”

    Rand nháy mắt: “Mãi mãi ư?”

    “Những Nhà Thông Thái không bao giờ lập gia đình. Nynaeve bảo tôi thế. Chị ấy nói tôi có năng khiếu, rằng tôi có thể nghe được tiếng gió. Nynaeve nói không phải Nhà Thông Thái nào cũng làm được, dù họ nói là có đi chăng nữa.”

    “Nhà Thông Thái!” chàng thốt lên mà không thấy tia sáng ánh lên trong mắt cô. “Nynaeve sẽ là Nhà Thông Thái ở đây ít nhất năm mươi năm nữa. Có khi hơn. Chẳng lẽ cô định dành hết đời để học nghề sao?”

    “Còn có những làng khác nữa,” cô bực mình nói. “Nynaeve nói dân làng ở trấn Taren phương bắc luôn chọn một Nhà Thông Thái từ nơi xa. Họ nghĩ như vậy thì người đó sẽ không yêu một trai làng nào đấy.”

    Chàng tiu ngỉu ngay lập tức. “Bên ngoài vùng Sông Đôi ư? Tôi sẽ không còn được thấy cô nữa.”

    “Anh không thích vậy ư? Anh có bao giờ cho thấy là anh quan tâm người ta đâu.”

    “Đâu có ai lại rời khỏi vùng Sông Đôi này,” chàng nói tiếp. “Có thể ai đó ra khỏi trấn Taren Ferry, nhưng họ cũng lạ lùng lắm. Khó mà giống người ở Sông Đôi được.”

    Egwene buông một tiếng thở dài trầm trọng hơn. “Thì, tôi cũng lạ lùng vậy đó. Có khi tôi muốn đến chỗ nào giống trong truyện. Anh có bao giờ nghĩ thế không?”

    “Tất nhiên là có rồi. Thỉnh thoảng cũng mơ tới, nhưng tôi biết sự khác nhau giữa mơ với thật.”

    “Còn tôi thì không ư?” Cô cáu kính, và toan quay lưng khỏi chàng.

    “Ý tôi không phải vậy. Tôi đang nói về tôi mà. Kìa Egwene?”

    Cô cuộn áo choàng quanh người thành một bức tường ngăn cách chàng, và cương quyết bỏ đi. Chàng vò đầu đầy bối rối. Giải thích sao đây? Đây không phải lần đầu nàng ta rút ra từ lời chàng những điều chàng không hề định nói. Trong tâm trạng của cô nàng bây giờ, nếu cư xử sai lầm là to chuyện ngay, và chàng chắc chắn là gần như bất cứ thứ gì nói ra lúc này cũng sẽ là một sai lầm.

    “Moiraine cũng đưa cho Perrin một đồng bạc,” Mat nói. “Như chúng ta vậy.” Nó ngừng một lát trước khi tiếp, “Và ca ta đã thấy tay kị sĩ đấy.”

    “Ở đây?” Rand hỏi. “Khi nào? Có ai khác thấy hắn không? Cậu có nói với ai không?”

    Perrin chầm chậm giơ hai bàn tay rộng của mình lên. “Hỏi từng câu thôi. Tớ thấy hắn ngoài rìa làng, đang quan sát lò rèn, mới lúc chập tối hôm qua. Tớ run hết cả người, do hắn. Tớ bảo sư phụ Luhhan, rồi khi ông quay ra thì không thấy ai nữa. Ông bảo tớ hoa mắt. Nhưng ông cũng thủ sẵn cái búa tạ bên người trong khi hai chúng tôi thổi lửa và sửa soạn dụng cụ. Ông chưa bao giờ làm thế trước đây.”

    “Vậy ông ta tin cậu,” Rand nói, nhưng Perrin thì nhún vai.

    “Tớ không biết. Tớ hỏi ông ấy thủ búa làm gì khi cho rằng tớ chỉ hoa mắt, và ông bảo bọn sói dễ cũng dám vào làng lắm. Chắc ông ấy nghĩ đó là thứ tớ thấy, nhưng ông nên biết tớ có thể phân biệt giữa một con sói với một người trên lưng ngựa chứ, dù trời có chập choạng đi nữa. Tớ biết tớ thấy gì, và không ai có thể lay chuyển điều đó được.

    “Tớ tin cậu,” Rand nói. “Nhớ là tớ cũng đã thấy hắn.” Perrin ậm ờ hài lòng, như thể nó cũng không chắc cho lắm.

    “Các cậu đang nói cái gì vậy?” Bỗng nhiên Egwene hỏi.

    Rand chợt ước giá như mình kín tiếng hơn. Chàng đã làm vậy nếu như biết nàng ta đang nghe ngóng. Mat và Perrin, cười toét ra như mấy thằng khùng, rồi đua nhau nói cho nàng ta nghe về những cuộc chạm chán với tay kị sĩ mặc áo choàng đen, nhưng Rand thì im lặng. Chàng biết chắc nàng ta sẽ nói gì khi bọn nó kể xong.

    “Nynaeve đã đúng,” Egwene nhìn lên trời nói khi hai thằng kia đã ngừng lời. “Mấy người vẫn chứng nào tật ấy. Nhữn1ẻ cưỡi ngựa, các cậu biết đấy, đâu nhất thiết sẽ là quái vậy như trong truyện của người hát rong.” Rand gật đầu, đúng như những gì chàng nghĩ. Cô nàng quay sang chàng. “Còn anh thì lại đi lan truyền mấy chuyện này. Đôi lúc anh thật là ngớ ngẩn đấy Rand al’Thor. Mùa đông này còn chưa đủ đáng sợ hay sao mà các cậu lại còn đi dọa bọn trẻ nữa.”

    Nét mặt Rand chua chát. “Tôi có lan truyền cái gì đâu Egwene. Nhưng tôi thấy gì thì nói đấy, và cái này không phải là bác nông dân nào đó ra ngoài tìm bò đi lạc đâu.”

    Egwene hít một hơi thở sâu rồi mở miệng ra, nhưng dù nàng đang định nói gì thì chúng cũng tan biến ngay vì cánh cửa quán trọ đã bật mở và một người đàn ông với mái tóc tráng bù xù vội vã lao ra ngoài như thể bị rượt.
     
    Chỉnh sửa cuối: 22/8/15
    conruoinho thích bài này.
  11. luukim

    luukim Gà tích cực Nhóm Chuyển ngữ Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    167
    Được thích:
    86
    Đã thích:
    26
    GSP:
    Ap
    The eye of the world - Con mắt thế giới

    Chương 4: Người hát rong (Phần 1)

    Cửa quán trọ đóng sập lại sau lưng một ông già tóc trắng, đang trừng mắt tức giận. Ông già gầy guộc này hẳn sẽ cao hơn nếu đôi vai không còng xuống, nhưng tuy già ông cũng còn nhanh nhẹn lắm. Ông ta mặc tấm áo choàng vá víu chằng chịt có hình thù và kích thước kì quặc, rung rinh trong gió, đủ sắc khoe màu. Tuy ngài Master al’Vere có nói những tấm áo vá này là mốt nhưng Rand vẫn thấy nó rách rưới quá thể.

    “Người hát rong!” Egwene thầm thì đầy phấn khích.

    Ông già tóc trắng hất tấm áo lên. Bên trong lộ ra một cái áo dài kì quặc khác có ống tay rộng thùng thình và những cái túi khổng lồ. Ông có bộ ria rập như tóc, và khuân mặt hốc hác như cây trụi mùa đông. Ông ta ra vẻ hống hách với Rand và những người khác bằng cách đưa cái tẩu dài được chạm khắc cầu kì lên phả ra một làn khói dày. Đôi mắt xanh lộ ra bên dưới hàng lông mày rậm rạp xoáy vào bất cứ thứ gì ông nhìn.

    Rand chăm chú vào đôi mắt ấy chẳng khác mọi người. Ai nấy ở vùng Sông Đôi đều có mắt đen, đa phần cánh lái buôn cũng thế, cả cận vệ của họ, và hết thảy những người chàng từng thấy. Nhà Congars và nhà Coplins cười nhạo đôi mắt xám của chàng, cho tới ngày chàng tộng quả đấm vào mũi thằng Ewal Coplin thì mới thôi; Nhà Thông Thái đương nhiên vì thế mà nổi điên với chàng. Chàng tự hỏi liệu trên đời có chỗ nào người ta không mang mắt đen không. Có lẽ ông Lan đến từ một nơi như thế.

    “Chỗ quái quỷ gì thế này!?” người hát rong cất giọng âm trầm vang hơn hẳn người thường. Dù ngoài trời nhưng thứ ấy dễ có thể khỏa lấp một căn phòng khổng lồ và vang dội vào những bức tường. “Bọn quê mùa trên đồi bảo ta có thể đến đây trước khi trời tối, nào có nói là phải đến trước buổi trưa đâu. Khi ta đến, lạnh thấu xương và cần một cái giường ấm, thì ông chủ quán trọ cau có về giờ giấc như thể ta là một tên chăn lợn chứ không phải chính Hội Đồng Làng đã van nài ta tới Lễ Hội này để biểu diễn. Lại còn không thèm nói mình chính là Thị Trưởng.” Ông già ngừng lại để thở, nhìn tất cả bằng ánh mắt giận dữ, rồi phát tác ngay. “Khi ta xuống lầu đến bên lò sưởi để hút thuốc và uống bia, thì đám người này nhìn ta cứ như thể nhìn thằng anh rể đáng ghét đến mượn tiền. Một ông nội khua môi múa mép bảo ta phải kể những chuyện gì và tránh những chuyện gì, rồi một con nhóc hét toáng lên đuổi ta ra ngoài, lại con giơ dùi cui bắt ta phải đi cho nhanh. Có ai từng thấy có người hát rong nào bị đối xử như thế chưa?”

    Khuân mặt Egwene đăm chiêu, đôi mắt trợn trừng của cô kinh ngạc nhìn người hát rong với khao khát bênh vực Nynaeve.

    “Xin lỗi thưa ngài Hát Rong,” Rand nói. Chàng biết mình đang toét cả miệng cười. “Đó là Nhà Thông Thái, và…”

    “Con bé xinh đẹp xấc láo đó hả?” Người hát rong kêu lên. “Là Nhà Thông Thái của làng ư? Sao, ở tuổi cô ta thì lẽ ra đang bị cánh đàn ông ve vãn chứ không phải đi nói tiên tri và chữa bệnh.”

    Rand nhún chân ái ngại. Chàng mong Nyvaeve không nghe thấy lời của ông ta. Ít ra, cho tới khi chàng không dính dáng gì nữa. Perrin nhăn mặt trước mấy lời của người hát rong, còn Mat thì làm bộ hót sáo, như thể cả hai đứa nó đều có cùng suy nghĩ với chàng.

    “Còn đám người đó là Hội Đồng Làng,” Rand tiếp. “Tôi nghĩ là họ không định thất lễ đâu. Ngài thấy đấy, chúng tôi mới biết là có một cuộc chiến ở Ghealdan, và có người tự nhận là Rồng Tái Sinh. Một Con Rồng giả hiệu. Hội Aes Sedai đang từ Tar Valon tiến về đó. Hội Đồng đang bàn xem ở đây liệu chúng tôi có bị nguy hiểm không.”

    “Tin cũ rồi, cả trấn Baerlon cũng đã biết,” người hát rong cộc cằn nói, “dù đó là nơi cuối cùng trên Trái Đất mà tin tức bay đến.” Ông ta ngừng lại, nhìn quanh dân làng, rồi tiếp. “Gần như là nơi cuối cùng.” Rồi ánh mắt rớt trên chiếc xe ngựa trước quán trọ, đứng lẻ loi, với càng xe chống trên đất. “Vậy. Hình như ta thấy có Padan Fain trong đó.” Giọng ông ta vẫn khàn khàn, nhưng tiếng vang đã mất, thay bằng vẻ chế nhạo. “Lão Fain luôn là kẻ nhanh chân loan tin xấu, tin càng xấu thì loan càng nhanh. Có một con quạ trong người ông ta đấy.”

    “Ngài Fain vẫn thường đến Emond’s Fiend thưa ngài Hát Rong,” Egwene nói, dấu hiệu cho thấy cô nàng rốt cuộc đã bực lắm. “Ngài ấy luôn tươi cười, và mang đến nhiều tin vui hơn tin xấu.”

    Người hát rong bỗng chốc nhìn nàng, rồi nhoẻn miệng cười. “Ra là một thiếu nữ yêu kiều. Cô nên cài nụ hồn tên tóc. Tiếc thay, ta không thể biến ra cành hồng từ không khí được, năm nay thì không, nhưng liệu cô đồng ý đứng cạnh ta trong buổi trình diễn ngày mai chứ? Đưa sáo và các dụng cụ khác khi ta cần. Ta luôn chọn những thiếu nữ xinh đẹp nhất có thể để làm phụ tá.”

    Perrin cười khúc khích, và thằng Mat từ khúc khích chuyển sang vang dội. Mắt Rand chớp chớp ngạc nhiên; Egwene đang nhìn chàng, và chàng thậm chí không cười nổi. Nàng nhìn quanh rồi dõng dạc nói.

    “Cám ơn thưa ngài Hát Rong. Tôi rất vui được hầu ngài.”

    “Thom Merrilin,” người hát rong nói. Cả bọn nhìn. “Tên ta là Thom Merrilin, không phải ngài Hát Rong.” Ông ta thắt áo choàng quanh vai, và đột nhiên giọng ông lại một lần nữa như vang dội trong đại sảnh. “Từng là một thi sĩ trong triều đình, giờ ta đã được nâng lên địa vị đáng kính là Ngài Hát Rong, nhưng tên ta đơn gian chỉ là Thom Merrilin, và người hát rong đơn giản là danh hiệu mà ta lấy làm vinh dự.” rồi ông ra cúi người kiểu cách tới nỗi cả Mat phải vỗ tay còn Egwene thì thầm khen ngợi.

    “Thưa ngài… à… ngài Merrilin,” Mat nói, không chắc chắn lắm cách xưng hô thế nào là hợp với những gì Thom Merrilin vừa nói, “Ở Ghealdan đang xảy ra chuyện gì? Ngài có biết gì về Con Rồng giả hiệu không? Hoặc về Aes Sedai?”

    “Trông ta có giống tay bán hàng rong không nhóc?” người hát rong lầm bầm, gõ gõ tẩu thuốc lên lòng bàn tay. Rồi ông ta làm chiếc tẩu biến mất đâu đó vào tấm áo choàng, hoặc áo dài; Rand không chắc nó đi đâu và đi làm sao. “Ta là người hát rong chứ không phải tên buôn chuyện. Và ta chủ trương rằng sẽ không bao giờ thèm biết đến Aes Sedai. Vậy an toàn hơn nhiều.”

    “Nhưng còn cuộc chiến,” Mat bắt đầu khẩn khoản, cho tới lúc bị ngài Merrilin cắt ngang.

    “Về chiến tranh nhóc ạ, chỉ là những tên ngu xuẩn giết những tên ngu xuẩn khác vì những lí do ngu xuẩn. Vậy là đủ cho ai cần biết nó. Ta ở đây là vì nghệ thuật.” Bỗng nhiên ông chỉ ngón tay và Rand. “Này con trai. Cậu là đứa cao ráo. Nhưng cậu hẵng còn cao hơn nữa, ta ngờ rằng trong xứ này còn có người khác cao như cậu. Ta cá trong làng này cũng chẳng mấy ai có màu mắt đó, cậu lực lưỡng và cao như một người Aiel vậy. Tên cậu là gì?”

    Rand lấy làm bối rối, không biết có phải ông ta đang cười nhạo mình không, nhưng người hát rong đã xoay sự chú ý sang Perrin. “Còn cậu thì to như loài Orier. Đến gần đây coi. Cậu gọi bằng gì?”

    “Không đâu trừ khi chúng tôi không biết mình là ai nữa.” Perrin cười. “Tôi e rằng tôi và Rand chỉ là những người bình thường thôi, thưa ngài Merrilin, không phải những sinh vật hư cấu trong truyện của ngài đâu. Tôi là Perrin Aybara.”

    Merrinlin giật mạnh bộ ria mép. “À, vật thì. Nhưng sinh vật hư cấu trong truyện của ta. Chúng là gì chứ? Các cậu có vẻ đi đây đó nhiều rồi đấy nhỉ.”

    Rand ngậm miệng, rõ ràng lúc này bọn nó đang biến thành trò cười. Nhưng Merriling vẫn nói oang oang.

    “Bọn cháu từng đến làng Watch Hill và Diven Ride rồi. Ít người trong làng từng đi xa tới vậy.” Perrin không khoác lác, ít khi nó làm vậy, nó luôn chỉ nói sự thật.”

    “Bọn cháu cùng từng thấy Mire nữa,” Mat bổ sung, và nó có vẻ tự đắc. “Đó là vùng đầm lầy cách xa rừng Waterwood. Chưa hề có ai đi đến đó – nơi đầy cát lún và bãi lầy – ngoại trừ bọn cháu. Và cũng chưa hề có ai đi đến Dãy Núi Mù Sương, nhưng cháu cháu đã một lần đi rồi. Dù chỉ mới tới chân núi.”

    “Xa đến thế ư?” người hát rong lầm bầm, liên tục vuốt vuốt bộ râu. Rand nghĩ ông ta đang giấu một nụ nười, và chàng thấy Perrin đang nhăn mặt.

    “Lên núi là việc xui xẻo,” Mat nói, kiểu như thanh minh việc mình không đi xa hơn. “Ai cũng biết thế.”

    “Chỉ dại mới làm vậy thôi Matrim Cauthon,” Egwene bực tức ngắt lời. “Chị Nynaeve nói…” Nàng im bặt, đôi má ửng hồng, và ánh mắt nàng nhìn Thom Merrilin không còn thân thiện nữa. “Ngài không nên… không nên trêu chọc…” Mặt nàng ửng đỏ, rồi im bặt. Mat chớp mắt, như thể nó vừa đoán điều gì sẽ xảy ra tiếp theo.

    “Đúng đấy cô bé,” người hát rong tỏ vẻ hối hận. “Ta thật lòng xin lỗi. Ta ở đây để biểu diễn. Thật là, vạ miệng mất rồi.”

    “Có thể chúng tôi chưa đi xa bằng ngài,” Perrin nói thẳng, “Nhưng Rand cao thì đã làm sao thưa ngài?”

    “Thế này nhé nhóc. Lát nữa ta sẽ để cậu thử lôi ta dậy, nhưng cách cậu không nhấc nổi chân ta lên khỏi mặt đất đâu. Cậu không, cả anh bạn cao kều kia nữa – Rand phải không nhỉ? – hay bất kì ai khác. Giờ cậu nghĩ sao về điều đó.”

    Perrin cười. “Tôi nghĩ có thể nâng ngài dậy ngay đây.” Nhưng khi nó bước đến thì Thom Merrilin lùi lại.

    Một vài dân làng đã tụ tập trên Bãi Xanh từ lúc người hát rong xuất hiện ngoài quán trọ, từ cánh thanh niên thiếu nữ cho tới trẻ con len lén nhìn, với đôi mắt thao láo, từ phía sau những khán giả lớn tuổi hơn. Tất cả đều nhìn như thể họ chờ đợi những phép lạ từ người hát rong. Ông già tóc trắng nhìn lại họ - ông ta hình như đang đếm - rồi lắc đầu thở dài.

    “Ta nghĩ tốt hơn nên cho các người một ví dụ nhỏ. Để các người đi đồn cho dân làng. Hả? chỉ là chút gia vị cho Lễ Hội ngày mai thôi.”

    Ông ta lùi lại một bước, rồi thình lình nhảy lên không, xoay vòng rồi lộn nhào chổng mặt xuống cái nền đá cũ. Hơn thế nữa, ba quả bóng – đỏ, trắng, và đen – vẫn nhảy múa trên đôi tay khi ông tiếp đất.

    Một âm thanh khe khẽ phát ra từ khán giả, nửa ngạc nhiên nửa thỏa mãn. Ngay cả Rand cũng quên đi sự bực tức. Chàng nhìn Egwene cười lớn và nhận lại được một nụ cười đáp trả, rồi cả hai nhìn người hát rong không còn ngại ngùng nữa.

    “Các người muốn nghe chuyện ư?” Thom Merrilin lớn tiếng nói. “Ta có những câu chuyện, và sẽ kể cho nghe. Nhờ ta chúng sẽ sống động trước mắt các người.” Một quả bóng màu xanh không biết từ đâu đã nhập bọn, rồi một quả màu lục nữa, rồi thêm quả màu vàng. “Có chuyện kể về những cuộc chiến và những anh hùng vĩ đại, dành cho người lớn và thanh niên. Còn đối với quý bà và quý cô thì hãy nghe trọn bộ Aptarigine Cycle. Có chuyện kể về Artur Paendrag Tanreall, Artur Thần Ưng, Artur Đại Đế, là vị vua từng cai trị những miền đất trải từ Aiel Waste cho đến Đại Dương Aryth, và còn xa hơn nữa. Có những câu chuyện phi thường về những con người và vùng đất kì lạ, về Người Cây, về những chiến binh Wader và bọn Trolloc, về loài Ogier và chủng tộc Aiel, Ngàn Lẻ Một Chuyện về Anla, vị Cố Vấn Khôn Ngoan. ‘Jame Người Giết Bọn Khổng Lồ’. Còn có truyện Susa Tamed Jain Farstrider. Truyện ‘Mara và ba ông vua ngu.’”

    “Hãy kể chúng tôi nghe chuyện về Lenn,’ Egwene lên tiếng. “Về cách người đã cưỡi đại bàng lửa bay lên mặt trăng. Rồi kể về nàng Salya con gái của người dạo bước giữa các vì sao.”

    Rand nhìn nàng qua khóe mắt, nhưng nàng chỉ chăm chú vào người hát rong. Nàng có bao giờ thích chuyện phiêu lưu hay du ngoạn đâu chứ. Thứ nàng thích luôn là truyện cười, hoặc chuyện những phụ nữ thông minh hơn người thường. Rõ ràng nàng yêu câu truyện về Lenn và Salya là để chọc tức chàng. Chắc chắn với nàng thế giới bên ngoài chỉ là hư vô. Nghe những chuyện phiêu lưu, thậm chí là mơ về chúng, là một chuyện; tin rằng chúng xảy ra quanh bạn lại là một chuyện khác.

    “Những chuyện xưa,” Thom Merrilin nói, rồi đột nhiên chuyển sang tung hứng một tay. “Chuyện từ Thời Đại trước cả Thời Đại Truyền Thuyết, như có người vẫn nói. Thậm chí còn xưa hơn. Nhưng ta xin lưu ý cô bé rằng ta biết mọi truyện về những Thời Đại trước đây và sau này. Những thời đại loài người thống trị các tầng trời và các vì sao cùng những thời đại loài người còn gầm vang như thú vật. Những thời đại tuyệt diệu cùng những Thời Đại khủng khiếp. Những thời đại kết thúc trong lửa sa xuống từ trời cùng những Thời Đại tàn phai vì băng tuyết phủ ngập mặt đất biển cả. Ta biết mọi truyện, và ta sẽ kể mọi truyện. Truyện về Mosk Khổng Lồ có Thanh Đao Lửa có thể phóng đi vòng quanh thế giới, và những cuộc chiến của anh ta với Alsbet, Nữ Hoàng Muôn Loài. Truyện về Materese Đấng Chữa Lành, là Mẹ của xứ Ind Kỳ Diệu.”

    Những trái bóng giờ đang cuộn vào nhau xoay tròn trên đôi tay Thom. Giọng ông ta như hát, rồi chuyển dần sang nói, như thể hiệu ứng để lôi kéo khán giả. “Ta sẽ kể về thời cánh chung của Thời Đại Truyền Thuyết, về Con Rồng, và nỗ lực của nó để mang Chúa Tể Bóng Tối đến thế giới loài người. Ta sẽ kể về Thời Gian Điên Loạn, khi hội Aes Sedai tàn sát thế giới; về Cuộc Chiến Trolloc, khi loài người giao tranh với loài Trolloc để tranh quyền thống trị mặt đất; về Cuộc Chiến Trăm Năm, khi loài người đánh loài người và những quốc gia ngày nay đều tham chiến. Ta sẽ kể về về những cuộc phiêu lưu của cả trai lẫn gái, cả giàu lẫn nghèo, vĩ đại cũng như nhỏ bé, kiêu hãnh cũng như thấp hèn. Cuộc Vây Hãm những Cột Trụ Trời. chuyện “Cô Hiền Thê Chữa Bệnh Kéo Gỗ Cho Chồng’. Chuyện về vua Darith và sự sụp đổ của dòng dõi…”
     
    conruoinho thích bài này.
  12. luukim

    luukim Gà tích cực Nhóm Chuyển ngữ Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    167
    Được thích:
    86
    Đã thích:
    26
    GSP:
    Ap
    The eye of the world - Con mắt thế giới

    Chương 4: Người hát rong (Phần 2)
    Lời đang tuân ra như suối thì bỗng khựng lại và việc tung hứng cũng bị ngừng. Thom chụp lấy những quả bóng trên không rồi ngừng lời. Rand không hề để ý rằng Moiraine đã ở trong đám thính giả. Gã Lan đứngsau vai cô ta, và chàng phải nhìn đi nhìn lại mới thấy gã. Thom thoáng nhìn về phía Moiraine, nhưng vẫn tập trung khuân mặt và cơ thể để làm cho những trái bóng biến mất vào trong ống tay rộng thùng thình của mình. Rồi ông cúi mình, giang rộng tà áo choàng. “Xin thứ lỗi, nhưng chắc hẳn quý cô đây không phải người vùng này?”

    “Phu nhân!” Ewin thốt lên. “Phu nhân Moiraine.”

    Thom chớp mắt, rồi cúi người một lần nữa, thấp hơn. “Xin lỗi quý cô lần nữa… à, thưa Phu nhân. Tôi không có ý thất lễ.”

    Moiraine khẽ phất tay. “Không có gì ngài Bard. Và tên tôi đơn giản là Moiraine thôi. Ở đây tôi đương nhiên là người lạ, một du khách như ngài vậy, một thân một mình nơi đất khách. Đối với một người lạ thì thế giới chung quanh thật nguy hiểm.”

    “Phu nhân Moiraine sưu tầm những câu chuyện,” Ewin chen vào. “Những chuyện sắp xảy ra trong vùng Sông Đôi. Tuy cháu không biết ở đây liệu có gì đáng viết thành truyện không.”

    “Tôi tin cô cũng sẽ thích những câu chuyện của tôi… cô Moiraine.” Thom thận trọng quan sát người phụ nữ. Trông ông không hài lòng lắm khi cô ta ở đây. Bỗng nhiên Rand tự hỏi một phu nhân như cô ta liệu sẽ biểu diễn trò gì trong một thành phố như Baerlon hay Caemly. Chắc chắn không thể là thứ hay hơn một người hát rong được.”

    “Tùy sở thích mỗi người thôi thưa ngài Bard,” Moiraine trả lời. “Có chuyện tôi thích, có chuyện không.”

    Thom cúi người sâu hơn nữa, song song với mặt đất. “Tôi xin đảm bảo, không có chuyện nào của tôi lại không thú vị. Tất cả đều rất lôi cuốn . Và quý cô đã dành cho tôi thật nhiều vinh hạnh, khi tôi chỉ là một người hát rong; không hơn không kém.”

    Moiraine trả lời cái cúi mình của ông ta bằng một cái gật đầu lịch thiệp. Trong thoáng chốc cô ta còn cao quý hơn cả cái danh hiệu phu nhân mà Ewin gọi, một người đang chấp nhận một thỉnh cầu từ thần dân của mình. Rồi cô ta quay đi, Lan theo sau, một con sói bám theo nàng thiên nga. Thom vuốt bộ ria nhìn theo họ, đôi lông mày nhăn lại, cho tới khi họ ở lưng chừng con đường đến Bãi Xanh. Ông ta không hài lòng chút nào, Rand nghĩ.

    “Ông không tung hứng nữa sao?” Ewin đề nghị.

    “Nuốt lửa đi,” Mat la lên. “Tôi muốn xem ông nuốt lửa lắm.”

    “Đàn hạc!” một giọng nói vang lên từ trong đám đông. “Chơi đàn hạc đi!” Ai đó khác còn đòi nghe sáo.

    Lúc đó cửa quán trọ bật mở và Hội Đồng Làng tuân ra, Nenaeve đứng giữa. Rand nhận thấy Padan Fain không ở cùng họ; có vẻ người hát rong muốn ở lại trong tòa sảnh ấm áp với rượu nóng trên tay.

    Đang thì thầm về “một loại rượu mạnh,” Thom Merrilin đột ngột nhảy xuống nền đá cũ. Ông ta phớt lờ tiếng la hò của những người đang nhìn mình, chen vào giữa đám đông chuồn khỏi các Ủy Viên trước khi họ ra tới những bậc thềm.

    “Không rõ ông là một người hát rong hay là một ông vua?” Cenn Buie gay gắt hỏi. “Một thứ hoang phí, tôi xin có ý kiến như vậy.”

    Bran al’Vere hơi xoay người lại về phía người hát rong rồi lắc đầu nói. “Ông ta có thể phiền phức hơn mức cần thiết đấy.”

    Nynaeve, luôn tay kéo áo choàng phủ quanh người, hít mạnh một cái. “Cứ lo lắng về người hát rong nếu ông muốn, Brandelwyn al’Vere. Ít nhất ông ấy cũng ở trong làng Emond’s Field, chứ không như Con Rồng giả hiệu kia. Nhưng chừng nào các người còn thích lo lắng, chừng đó còn thấy có lắm kẻ gây sự.”

    “Nếu vui lòng bà thưa Nhà Thông Thái,” Bran gằn giọng, “xin cứ để kẻ nào thích gây sự cho tôi định đoạt. Phu nhân Moiraine và ngài Lan là khách trong quán tôi, và là những người lịch sự đáng kính. Không ai trong bọn họ gọi tôi là tên ngốc trước mặt Hội Đồng. Không ai trong số họ nói Hội Đồng là một lũ khôi hài.”

    “Xem ra sự đánh giá của tôi có hơi quá,” Nynaeve vặn lại. Cô sải bước đi mà không thèm nhìn lại, bỏ mặc Bran còn đang lúng túng tìm câu trả lời.

    Egwene nhìn Rand như muốn nói, nhưng rồi lại chạy theo Nhà Thông Thái. Rand thấy nhất định phải tìm cách ngăn nàng ta rời khỏi vùng Sông Đôi, nhưng cách duy nhất chàng nghĩ ra được thì lại khó mà làm, dù chàng có sẵn sàng đi nữa. Và nàng ta đã nói đi nói lại là không muốn, làm chàng cảm thấy còn tệ hơn.

    “Cô gái trẻ đó cần một tấm chồng,” Cenn Buie lầm bầm, dậm dậm ngón chân. Khuân mặt ông ta ửng đỏ, rồi sẫm lại. “Cô ta thiếu sự kính trọng cần thiết. Chúng ta là Hội Đồng Làng chứ không phải bọn trẻ con chạy nhảy trong sân nhà cô ta, và…”

    Ngài Thị Trưởng thở phì phò, rồi đột nhiên quay sang bác thợ lợp mái. “Im giùm đi ông Cenn! Thôi cái kiểu cư xử như một người Aiel che mạng ấy đi!” Lão già nhỏ thó tức đến cứng người. Ngài Thị Trưởng chưa bao giờ phát tác đến như vậy với lão. Bran trừng mắt. “Thứ lỗi cho tôi, nhưng hẵng còn những chuyện quan trọng hơn chuyện điên rồ này. Hay ông định chứng minh Nynaeve nói đúng?” Nói xong ông bỏ vào trong quán trọ rồi đóng rầm cửa lại.

    Cả Hội Đồng trừng mắt nhìn Cenn, rồi mỗi người đi một ngả. Tất cả ngoại trừ Haral Luhhan, người cùng đi với bác thợ lợp mái cộc cằn, đang nói lảm nhảm. Bác thợ rèn là người duy nhất có thể mở mắt cho lão Cenn.

    Rand đến gặp cha, có lũ bạn theo sau.

    “Con chưa từng thấy ngài al’Vere giận đến vậy,” là câu đầu tiên Rand nói, khiến thằng Mat nhìn chàng không mấy vui vẻ.

    “Ngài Thị Trưởng và Nhà Thông Thái hiếm khi hòa thuận,” Tam nói, “Và hôm nay họ còn ít hòa thuận hơn bình thường. Thế thôi. Ở làng nào mà chẳng vậy.”

    “Thế còn Con Rồng giả thì sao?” Mat hỏi, và Perrin lầm bầm hưởng ứng. “Cả hội Aes Sedai nữa?”

    Tam chậm rãi lắc đầu. “Ngài Fain biết ít hơn điều ông ta nói. Chí ít, ít hơn chúng ta mong muốn. Chuyện thắng bại của những cuộc chiến. Những thành phố chiếm đi chiếm lại. Tất cả đều diễn ra ở Ghealdan, tạ ơn Sự Sáng. Nó không lan ra, hoặc chưa lan ra theo như ngài Fain biết.”

    “Cháu thích những cuộc chiến,” Mat nói, Perrin thêm vào, “Ông ta nói sao về chúng?”

    “Ta thì không thích đâu Matrim,” Tam nói. “Nhưng ta chắc lúc khác ông ta sẽ vui lòng kể chúng cho cậu nghe. Điều ta thích là chúng ta sẽ không phải lo lắng về những chuyện đó ở đây, Hội Đồng đảm bảo vậy. Chúng ta thấy Aes Sedai chẳng việc gì phải ghé qua đây trên đường nam tiến. Và khi trở về, chắc họ cũng không muốn phải băng qua Rừng Âm U và bơi qua Sông Trắng đâu.”

    Ý tưởng đó làm Rand và lũ bạn bật cười. Có ba lí do khiến người ta không thể vào vùng Sông Đôi nếu không đi từ phương bắc, theo con đường qua thị trấn Taren Ferry. Dãy Núi Mù Sương, về hướng tây, đương nhiên là lí do thứ nhất, và Đầm Lầy phong tỏa hướng đông. Về hướng nam là Sông Trắng, có tên như vậy là vì lòng sông toàn đá sỏi khiến nước cuộn bọt trắng xóa. Và bên kia Sông Trắng là Rừng Âm U án ngữ. Rất ít người vùng Sông Đôi từng vượt qua Sông Trắng, và số quay trở lại còn ít hơn. Ấy thế nhưng ai cũng nhất trí rằng Rừng Âm U trải dài về hướng nam một trăm dặm hoặc hơn mà không có lấy một con đường hay một ngôi làng nào, nhưng sói và gấu thì nhan nhản.

    “Nếu thế thì chúng ta hết chuyện rồi,” Mat nói. Giọng tỏ vẻ thất vọng.

    “Không hẳn,” Tam nói. “Ngày mốt chúng ta sẽ cho người đến làng Deven Ride và Watch Hill, cả trấn Taren Ferry nữa, để thám thính, bố trí kỵ sĩ tuần tra dọc theo Sông Trắng và sông Taren. Hôm nay có lẽ sẽ thông qua, nhưng còn phải chờ ngài Thị Trưởng đồng ý đã. Khó mà bắt ai nghỉ kì lễ này để ra khỏi vùng Sông Đôi lắm.”

    “Cháu tưởng chú bảo không có gì phải lo,” Perrin nói, và Tam lắc đầu.

    “Ta nói là không nên, nhóc ạ, chứ không phải là không lo lắng. Ta từng thấy nhiều người chết vì cho rằng điều gì đó sẽ không xảy ra.Với lại cuộc chiến sẽ vạ lây mọi loại người. Hầu hết sẽ chỉ cố tìm chỗ an toàn, nhưng số khác sẽ tìm cách để trục lợi trong cảnh hỗn loạn. Chúng ta sẽ sẵn lòng giúp nhóm thứ nhất, và kiên quyết tống cổ nhóm thứ hai đi chỗ khác.

    Bỗng Mat ngắt lời. “Bọn cháu tham gia được không? Cháu muốn thế. Bác biết là cháu cũng có thể cưỡi ngựa chẳng kém ai trong làng này.”

    “Cậu có muốn sống vài tuần trong giá lạnh, tẻ nhạt và mất ngủ không?” Tam cười lớn. “Ở ngoài kia đại khái là thế đấy. Ta mong là chỉ có vậy thôi. Chúng ta sẽ nằm ngoài chuyện này ngay cả với những người tị nạn. Nhưng nếu cậu sẵn lòng thì cứ hỏi ngài al’Vere xem. Rand, đến lúc chúng ta về nông trại rồi.”

    Rand chớp chớp mắt ngạc nhiên. “Con tưởng chúng ta ở lại qua Đêm Đông.”

    “Cần phải về trông coi nông trại, con đi với ta.”

    “Dù thế thì chúng ta cứ chậm lại vài giờ đã. Con cũng muốn tình nguyện đi tuần tra.”

    “Chúng ta đi ngay,” cha chàng đáp với giọng không thể tranh cãi. Rồi ông dịu giọng lại nói, “Ngày mai khi chúng ta quay lại con sẽ tha hồ mà nói với Thị Trưởng. Tha hồ mà chơi lễ. Giờ con có năm phút, rồi gặp ta ở chuồng ngựa.”

    “Cậu có định theo tớ và Rand đi tuần không?” Mat hỏi Perrin khi Tam đã rời đi. “Tớ cá là trước giờ chưa từng có dịp thế này trong vùng Sông Đôi đâu. Sao nào, khi đến sông Taren chúng ta sẽ thấy quân lính đấy, hoặc thứ gì đó ai biết được. Thậm chí là cả những người Du Cư.”

    “Tớ cũng muốn,” Perrin khẽ nói, “nếu sư phụ Luhhan không cần tớ.”

    “Cuộc chiến ở Ghealdan,” Rand ngắt lời, rồi cố hạ giọng xuống. “Cuộc chiến thì ở Ghealdan, còn hội Aes Sedai ở đâu có Sự Sáng mới biết, nhưng ở đây thì chẳng có gì. Cái gã mặc áo choàng đen là… mà có khi các cậu quên gã rồi cũng nên.” Những đứa khác nhìn nhau bực bội.

    “Xin lỗi nhé Rand,” Mat càu nhàu.” Nhưng không phải lúc nào tớ cũng có cơ hội để làm gì đó ngoài việc vắt sữa con bò cái của bố tớ đâu.” Nó khẳng khái nói khiến cả bọn giật mình. “Lúc nào tớ cũng chỉ có vắt sữa bò, mỗi ngày.”

    “Tay kỵ sĩ đen,” Rand nhắc cả bọn. “Lỡ hắn đả thương ai thì sao?”

    “Có khi hắn chỉ là một kẻ tị nạn khỏi cuộc chiến,” Perrin nghi hoặc nói.

    “Dù hắn là ai,” Mat nói, “Đội tuần tra sẽ tìm ra hắn.”

    “Cũng có khi,” Rand nói, “Nhưng gã ta biết hô biến đấy. Họ nên biết điều đó nếu muốn tìm kiếm hắn.”

    “Chúng ta sẽ nói cho ngài al’Vere khi đến xin nhập đội tuần tra,” Mat nói, “tớ sẽ cho Hội Đồng hay, và họ sẽ nói lại với đội tuần tra.”

    “Hội Đồng!” Perrin ái ngại nói. “ngài Thị Trưởng mà không cười sặc sụa tớ chết liền. Sư phụ Luhhan và cha Rand thì đã nghĩ hai đứa chúng ta lú hết cả rồi.”

    Rand thở dài. “Nếu phải nói, chúng ta nên nói ngay lúc này. Hôm nay ngài ấy cũng chẳng cười to hơn ngày mai đâu.”

    “Có thể,” Perrin nhìn Mat nói, “Chúng ta nên cố tìm thêm ai đó đã thấy hắn. Tối nay chúng ta sẽ gặp đầy đủ dân làng.” Mat càng cau có hơn, nhưng vẫn chưa nói gì. Cả bọn đều hiểu ý của Perrin là họ nên tìm nhân chứng đáng tin hơn Mat. “Để đến ngày mai ngài ấy cũng chẳng cười lớn hơn đâu.” Perrin nói thêm khi thấy Rand lưỡng lự. “Và chúng ta sẽ nói ngay khi tìm được ai đó đi cùng chúng ta. Một nửa dân làng ở đây đều thích hợp đấy.”

    Rand khẽ gật đầu. Chàng đã có thể nghe thấy tiếng cười của ngài al’Vere. Tìm thêm người cho chắc ăn. Và nếu ba đứa bọn nó đã thấy gã kia, thì chắc người khác cũng thấy. Nhất định vậy. “Vậy thì để mai. Tối nay hai cậu đi tìm người đi, rồi ngày mai chúng ta đến gặp Thị Trưởng. Sau đó…” Cả bọn nhìn chàng im lặng, không ai đặt vấn đề liệu chuyện gì sẽ xảy ra nếu họ không tìm được ai khác từng thấy gã mặc áo choàng đen. Tuy nhiên câu hỏi đó đã hiện rõ trong mắt từng đứa, và chàng thì không có câu trả lời. Chàng thở dài nặng nhọc. “Tớ đi đây, không cha tớ lại tưởng tớ rớt xuống cái hố nào rồi.”

    Theo sau bởi những lời tạm biệt, chàng chạy vòng ra chuồng ngựa chỗ người ta dựng chiếc xe cao giàn.

    Chuồng ngựa là một cái nhà dài, hẹp, mái nhọn, lợp rơm. Nền của những ngăn có không gian tù mù bên trong trải rơm ngập cả hai bên, chỉ chừa lại ít không không gian để mở hai cái cửa hai đầu. Ngựa của người bán hàng rong chiếm tám cái chuồng đang nhai lúa mạch tóp tép, và những con ngựa khổng lồ giống Dhurran của ngài al’Vere, vốn dùng cho những nông dân thuê khi hàng hóa quá sức lũ ngựa của họ, chiếm hơn sáu chuồng, các con khác chỉ chiếm ba chuồng. Rand nghĩ mình hoàn toàn có thể cưỡi ngựa và làm một kỵ sĩ. Cái con ngựa ô cao lớn cổ dài đang hất hất cái đầu kia chắc là của gã Lan. Còn con ngựa bạch duyên dáng có cái cổ thon thả, dù bị nhốt trong chuồng mà dáng đi vẫn cứ như khiêu vũ kia chỉ có thể là của Moiraine. Và con ngựa thứ ba hơi lạ màu nâu bụi bặm, gầy guộc cao lêu khêu và bị thiến, hoàn toàn thích hợp với Merrilin.

    Tam đứng cạnh chuồng ngựa, giữ cương con Bela và thì thào nói chuyện với Hu và Tad. Khi Rand bước vào chuồng ông liền gật đầu với mấy người giữ ngựa rồi dắt Bela ra, rồi lôi Rand đi mà không nói thêm gì nữa.

    Họ im lặng thắng cương con ngựa bờm xờm. Tam tỏ ra ưu tư đến nỗi Rand không dám mở miệng. Chàng thật không định thuyết phục cha tin về tay kỹ sĩ đen, khó hơn cả với ông Thị Trưởng. Để ngày mai rồi tính, khi Mat và mấy đứa khác tìm ra ai đó từng thấy gã ta. Nếu họ có tìm được.

    Khi chiếc xe lăn bánh, Rand lấy cây cung và bao tên cất ở phía sau, vừa chạy cạnh chiếc xe vừa lúng túng buộc cái bao tên vào hông. Khi họ đến dãy phố cuối cùng trong làng, chàng lắp một mũi tên thủ sẵn. Chẳng có gì đế ngắm ngoài những thân cây trụi lá, nhưng chàng vẫn xiết chặt đôi vai. Tay kĩ sĩ đen có thể đang nhìn họ mà họ chẳng biết. Nếu không thủ sẵn cung tên thì có khi chẳng kịp bắn.

    “Cha,” cuối cùng chàng nói, “Con không hiểu sao Hội Đồng lại phải tra hỏi Padan Fain.” Chàng cố dằng mắt ra khỏi khu rừng nhìn Tam đứng bên kia con Bela. “Con thấy, quyết định mà mọi người đưa ra chỉ đúng trước mắt. Ngài Thị Trưởng sợ mọi người ở vùng Sông Đôi nói về hội Aes Sedai và Con Rồng giả, dù họ chỉ bán tín bán nghi.”

    “Dân làng rất vui vẻ Rand à, điều đó tốt nhất cho họ. Cứ xem ông Haral Luhhan đấy. Ngài Luhhan là người khỏe mạnh, và là kẻ dũng cảm, nhưng cứ thấy cảnh giết chóc là xanh như tàu lá.”

    “Vậy thì đã sao? Ai cũng biết sư phụ Luhhan sợ máu, và trừ nhà Coplin và nhà Congar ra thì có ai lại để ý chuyện đó.”

    “Thế này con trai ạ. Dân làng không phải lúc nào cũng nghĩ hoặc cư xử theo cách mà con tưởng. Bọn họ… chịu để mưa đá biến mùa màng thành vũng bùn, để gió cuốn phăng mọi nóc nhà trong vùng, và để lũ sói giết hết nửa số gia súc, rồi sẽ xắn tay áo lên làm lại từ đầu. Có thể họ sẽ than thở, nhưng sẽ không lãng phí khoảnh khắc nào đâu. Nhưng chỉ cần con gieo vào đầu họ suy nghĩ về hội Aes Sedai và Con Rồng giả tại Ghealdan, thì họ sẽ lập tức nghĩ rằng Ghealdan chẳng phải nơi nào xa xôi bên kia Rừng Âm U cả, và con đường thẳng từ Tar Valon đến Ghealdan họ sẽ tưởng nằm ngay cạnh chúng ta về hướng đông. Như thể hội Aes Sedai sẽ không đi con đường qua Caemlyn và Lugard mà lại băng qua vùng này! Rồi chỉ sáng ngày hôm sau thôi một nửa dân làng sẽ đoan chắc rằng cả cuộc chiến sắp sửa ụp xuống đầu họ. Muốn làm họ nghĩ lại phải mất nhiều tuần. Vì muốn lễ Bel Tine diễn ra tốt đẹp Bran thà cung cấp cho họ một ý tưởng chứ không để họ tự tưởng tượng ra.

    “Họ đã thấy Hội Đồng bàn thảo vấn đề này, và lúc này họ sẽ được nghe điều bọn ta quyết định. Họ chọn bọn ta làm Hội Đồng Làng vì tin bọn ta có thể giải thích mọi điều theo cách tốt nhất cho mọi người. Họ tin quan điểm của bọn ta. Ngay cả quan điểm của lão Cenn, vốn chẳng ăn nhập gì với những người khác. Bằng mọi giá, họ phải nghe và tin rằng chẳng có gì phải lo lắng cả. Không phải họ không thể hoặc sẽ không tự rút ra kết luận ấy, nhưng bằng cách này bọn ta sẽ giữ buổi lễ khỏi tan tành, và không có ai phải mất hàng tuần lo lắng về điều gần như sẽ không xảy ra ấy. Nếu có, họa hoằn lắm… thì, đội tuần tra sẽ cảnh báo để chúng ta sẽ làm những gì có thể làm. Nhưng ta hoàn toàn không nghĩ sẽ đến nước đó đâu.”

    Rand phùng má. Có vẻ như làm thành viên trong Hội Đồng phức tạp hơn chàng nghĩ. Chiếc xe ngựa rùng rình trên con đường Quarry đá sỏi.

    “Có ai ngoài Perrin trông thấy tay kị sĩ lạ ấy không?” Tam hỏi.

    “Có thằng Mat nữa nhưng…” Rand chớp mắt, rồi tròn mắt nhìn cha qua tấm lưng con Bela. “Cha tin con rồi ư? Vậy chúng ta phải quay lại. Con phải nói với họ.” Tam quát chàng dừng bước khi chàng định quay lại làng.

    “Khoan đã nào con trai! Con không nghĩ xem sao cha phải đợi đến giờ mới hỏi sao?”

    Rand miễn cưỡng đi tiếp cạnh chiếc xe, vẫn rung lên cọt kẹt sau lưng con Bela điềm tĩnh. “Sao cha lại nghĩ lại? Sao con không được nói với người khác?”

    “Họ sẽ sớm biết thôi. Ít nhất thì Perrin sẽ nói. Thằng Mat thì ta không chắc. Tin tức phải được loan ra sao cho hiệu quả nhất, nhưng mặt khác không nên để bất cứ đứa trẻ nào ở độ tuổi mười sáu tại làng Emond’s Field, độ tuổi đủ chịu trách nhiệm rồi đấy, biết việc có một kẻ lạ đang lẩn trốn quanh quẩn đâu đây và kẻ ấy không phải loại người có thể mời tới chơi Lễ được. Mùa đông thế này là đã đủ lắm rồi, không cần phải dọa đám trẻ ấy thêm nữa.”

    ‘Lễ Hội ư?” Rand nói. “Nếu từng thấy hắn thì trong vòng mười dặm cha chẳng muốn có hắn lai vãng đâu. Có khi là một trăm dặm.”

    “Chắc vậy,” Tam điềm nhiên nói. “Hắn ta có thể là một di dân lánh những rắc rối tại ghealdan, hoặc có khi là một tên trộm cho rằng thó đồ ở đây sẽ dễ hơn ở làng Baerlon hay ở trấn Taren Ferry. Dầu vậy, quanh đây chẳng mấy ai dư dả để mà trộm cắp đâu. Nếu gã đó đang cố thoát khỏi chiến tranh thì… không việc gì phải làm dân làng lo lắng. Một khi đội tuần tra lên đường, họ sẽ tìm ra hắn hoặc dọa cho hắn bỏ đi.”

    “Mong là họ dọa cho hắn đi. Nhưng sao giờ cha lại tin con, còn sáng nay thì không?”

    “Ta phải tin vào mắt mình trước con trai, mà ta có trông thấy gì đâu.” Tam lắc mái đầu hoa râm. “Có vẻ chỉ có bọn trẻ các con là thấy gã này. Tuy nhiên khi ông Haral Luhhan nhắc tới việc Perrin hoa mắt thì mọi chuyện đã rõ. Đứa con cả của ông Jo Thane cũng thấy hắn, cả thằng bé nhà Samel Crawe cũng vậy. Uhm, khi mà cả bốn đứa con đều nói trông thấy một thứ có hình dạng thì… bọn ta bắt đầu nghĩ có thể hắn ở đó dù bọn ta không hề thấy. Dĩ nhiên là tất cả trừ lão Cenn. Thôi thì, vì thế mà chúng ta phải về nhà. Khi chúng ta đi rồi, kẻ lạ này có thể thôi không quấy nhiễu ở đó nữa. Nếu không phải vì Lễ Hội thì mai ta cũng không trở lại đây đâu. Nhưng chúng ta không thể tự biến mình thành tù nhân trong chính nhà mình chỉ vì có một gã lảng vảng ngoài kia được.”

    “Con không biết thằng Ban với thằng Lem,” Rand nói. “Mấy đứa bạn con mai sẽ đến gặp ngài Thị Trưởng, nhưng bọn con sợ ngài ấy cũng không tin.”

    “Đầu bạc chưa hẳn não đã bạc đâu con,” Tam nói cộc lốc. “Thôi căng mắt ra mà nhìn đường. Có thể chúng ta sẽ lại bắt gặp hắn xuất hiện đấy.”

    Rand cũng đang rất tập trung. Chàng ngạc nhiên nhận ra mình bước nhẹ hơn. Những băn khoăn đã tan biến. Chàng vẫn còn sợ, nhưng không sợ như lúc trước nữa. Hồi sáng nay chỉ có Tam và chàng trên đường Quarry, nhưng giờ chàng có cảm giác cả dân làng cùng đi với họ. Những người khác biết và tin làm cho mọi việc trở nên khác hẳn. Chẳng có tay kị sĩ đen nào có thể làm dân làng mất đoàn kết được.
     
    conruoinho thích bài này.
  13. luukim

    luukim Gà tích cực Nhóm Chuyển ngữ Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    167
    Được thích:
    86
    Đã thích:
    26
    GSP:
    Ap
    The eye of the world - Con mắt thế giới

    Chương 5: Đêm đông

    Mặt trời lên lưng chừng vào giấc trưa cũng là cũng chiếc xe ngựa về tới nông trại. Đó không phải là một căn nhà lớn, cũng không rộng như những trang trại trải dài ở phía đông nơi cư ngụ của những đại gia đình hình thành qua nhiều năm sinh sống. Trong vùng Sông Đôi, thường thì là ba đến bốn thế hệ chung sống dưới một mái nhà, bao gồm cả cô gì, chú bác, anh chị em họ và cháu con. Tam và Rand có thể xem là ngoại lệ khi hai người họ sống cô độc để canh tác trong rừng Westwood.

    Ở đây hầu hết các phòng đều chung một nền, một cái hình chữ nhật vừa khít không có mái hiên hay thứ gì khác. Hai phòng ngủ và một cái nhà kho trên gác vừa vặn dưới cái mái rơm đổ xuôi xuống. Nếu lớp vôi mà có bị các cơn giông mùa đông tẩy sạch khỏi những bức tường gỗ chắc chắn, thì căn nhà vẫn trong tình trạng được sửa chữa tốt, mái rơm tết chặt lại và các cánh cửa lẫn cửa chớp đóng bản lề chắc hơn.

    Nhà cửa, kho thóc và chuồng cừu quây bằng đá tạo thành ba điểm của một tam giác bao quanh trang trại, nơi vài con gà đã mạo hiểm ra ngoài để bới tìm trên mặt đất giá lạnh. Một cái bãi xén lông cừu lộ thiên và một cái máng ăn bằng đá đặt bên chuồng cừu. Nằm sát những cánh đồng giữa trang trại và những hàng cây thấp thoáng kho dụng cụ vững chãi cao cao. Một vài nông dân vùng Sông Đôi có thể xoay xở dù không có lông cừu lẫn thuốc lá để bán khi cánh lái buôn đến.

    Khi Rand nhìn vào cái chuồng đá, một con cừu đực có cái sừng kềnh càng nhìn ngược lại chàng, nhưng hầu hết đàn cừu mặt đen hoặc vẫn yên vị nơi chúng ở, hoặc thúc đầu vào cỏ. Bộ lông của chúng đã dày và mượt lắm, nhưng trời còn lạnh quá chưa xén được.

    “Con không nghĩ tay kỵ sĩ đen đã đến đây.” Rand gọi cha, ông đang rảo bước quanh trang trại, thủ sẵn cây giáo, chăm chú dò xét mặt đất. “Nếu có ai đó quanh đây thì lũ cừu đã không chịu đứng yên như vậy.”

    Tam gật đầu nhưng vẫn không dừng lại. Khi đã đi hết một vòng quanh nhà, ông làm một vòng nữa quanh kho rồi quanh chuồng cừu, vẫn ngó chừng mặt đất. Ông thậm chí còn kiểm tra cả ống khói và xưởng dụng cụ. Múc một thùng nước từ dưới giếng, ông vốc nước vào tay, ngửi ngửi, rồi lấy lưỡi nếm nếm. Bỗng ông bật ra một tràng cười, rồi uống luôn một hớp.

    “Cha cho là hắn không đến đây đâu,” ông bảo Rand, chùi tay vào vạt áo. “Chuyện về đám người và lũ ngựa mà cha không thấy cũng không nghe được chỉ làm cha thêm chú ý mọi thứ.” Ông đổ nước giếng sang cái xô khác rồi bước về phía căn nhà, một tay xách cái xô còn tay kia cầm giáo. “Để ta nấu gì đó cho bữa tối. Và chừng nào còn ở đây, chúng ta cần giải quyết chút việc vặt.”

    Rand nhăn nhỏ, tiếc xót Đêm Đông tại làng Emond’s Field. Nhưng Tam nói đúng. Quanh nông trại việc chẳng bao giờ hết; ngay khi việc này vừa xong thì hai ba việc khác lại đến. Chàng hơi lưỡng lự nhưng rồi cũng vơ lấy cây cung và bao tên. Nếu tay kị sĩ đen kia xuất hiện, chàng không thể đối mặt hắn chỉ với cái cán xẻng được,

    Lúc đầu Bela đứng yên. Chàng đã tháo cương và cho cô nàng vào chuồng cạnh con bò của họ, chàng vắt áo choàng sang bên và lấy ít rơm khô chà xát mình mẩy con ngựa cái, rồi lấy đôi bàn chải chải lông cho nó. Leo lên một cái thang hẹp lên gác xép, chàng lôi cỏ khô xuống cho nó ăn. Chàng còn xúc cho nó mấy xẻng yến mạch, tuy là chẳng còn bao nhiêu và có thể sắp tới sẽ cạn trừ khi thời tiết mau chóng ấm lại. Con bò cái tinh sương hôm nay đã được vắt sữa rồi, chỉ được phần tư số lượng bình thường; Nó có vẻ đã cạn sữa vì mùa đông dai dẳng này.

    Thức ăn có đủ cho lũ cừu trong hai ngày – giờ chúng lẽ ra phải ở ngoài đồng, nhưng chẳng có gì hứa hẹn là có cỏ cả - dẫu sao chàng đã cho chúng uống nước xong. Mấy quả trứng vương vãi cũng cần phải đi gom lại. Chỉ có ba trái. Lũ gà mái dạo này giấu mới khéo làm sao.

    Chàng đang đi lấy cái cuốc ra vườn rau sau nhà thì Tam đi ra rồi ngồi trên cái ghế trước chuồng gia súc vá lại bộ yên ngựa, cây giáo để sang bên. Điều đó làm Rand thấy khá hơn về cái cung đang quăng chỗ cái áo khoác cách chỗ chàng đứng vài pace.

    Chỉ có tí cỏ dại chen ngang mặt đất thế mà lại nhiều hơn bất cứ thứ gì khác. Bắp cải thì còi cọc; những hạt đậu và cây con trơ ra, khó lòng mà lớn thành củ cải được. Không phải loại nào cũng được đem ra trồng; chỉ một phần, với hi vọng rằng cơn lạnh rồi đến lúc sẽ tan để vài thứ cây còn lớn được trước khi kho lẫm trống trơn. Xới đất cũng chẳng mất bao nhiêu thời gian, công việc này mới chỉ dành cho chàng vài năm trở lại đây, nhưng giờ chàng tự hỏi liệu phải làm sao nếu năm nay không thu hoạch được gì. Không một ý nghĩ lạc quan. Rồi còn phải chẻ củi nữa.

    Có vẻ như Rand thích những năm không cần phải chẻ củi. Nhưng than phiền cũng chẳng làm lũ ngựa ấm hơn, nên chàng xách rìu lên, đặt cung tên cạnh cái thớt, và làm việc. Gỗ thông để nhóm bếp, gỗ sồi để đốt lửa. Phải một lúc lâu chàng mới thấy nóng người mà cởi áo khoác ra. Khi đống củi lớn dần lên, chàng xếp nó bên hông nhà, cạnh mấy đống đã có sẵn, hầu như choán hết cái mái hiên. Thường thì vào độ này củi đóm chẳng cần đến, nhưng năm nay thì lại cần. Chẻ rồi xếp, cứ thế, chàng đắm mình trong nhịp điệu đều đều của chiếc rìu và động tác bổ củi. Bàn tay Tam đặt lên vai chàng lôi đến chỗ ông, thoáng chốc chàng tròn mắt ngạc nhiên.

    Hoàng hôn đã tắt trong khi chàng làm việc, và trời đã chuyển tối. Trăng tròn đã lên tới ngọn cây, tỏa ánh vàng nhợt nhạt và phình ra như thể sắp rớt xuống đầu họ. Gió lạnh hơn mà chàng cũng không để ý, và những vạt mây chăng ngang bầu trời đêm.

    “Rửa ráy đi con, rồi sửa soạn bữa tối. Cha đã xách nước để tắm nóng trước khi ngủ rồi đấy.”

    “Con nghe cái gì nóng nóng là thích rồi,” Rand nói, nhặt cái áo choàng lên cuốn quanh vai. Mồ hôi tưới đẫm áo chàng, và giờ đang bị gió lạnh, khi nãy quai búa nóng người chàng chẳng để ý tới, làm cho đông lại. Chàng ngáp mạnh, run run khi dọn dẹp những thứ còn sót lại. “Và ngủ nữa. Chắc con ngủ qua Lễ Hội luôn quá.”

    “Con dám không?” Tam cười, và Rand toét miệng cười lại. Dù có không ngủ cả tuần chàng cũng chẳng thể bỏ lỡ lễ Bel Tine được. Ai có điên mới làm vậy.

    Tam thắp rất nhiều nến, và lửa bập bùng trong lò sưởi lớn bằng đá, để căn phòng có một cảm giác ấm cúng. Ngoài lò sưởi ra thì cái bàn gỗ sồi rộng là đặc điểm nổi bật của căn phòng, đủ chỗ cho một tá người hoặc hơn, tuy từ khi mẹ Rand mất hiếm khi tiếp nhiều khách như vậy. Một cái cái tủ và rương, đều do Tam đóng lấy, xếp dọc tường, và mấy cái ghế tựa kê quanh bàn. Chiếc ghế nệm mà Tam gọi là ghế đọc sách đặt ngay trước ngọn lửa. Rand thì thích nằm dài trên tấm phản trước lò sưởi mà đọc hơn. Kệ sách đặt cạnh cửa xấp xỉ cũng bằng cái kệ trong quán Winespring, nhưng sách thì khó mà bằng được. Mấy người hát rong chỉ mang đến một nhúm và bày ra trước mắt tất cả những ai muốn mua.

    Căn phòng tuy không quá sạch sẽ như khi có bàn tay các bà vợ – Tẩu thuốc của Tam và cuốn Những Hành Trình của Jain Farstrider quăng trên bàn, trong khi một cuốn sách bìa gỗ khác nằm trên chiếc ghế đọc sách của ông; Bộ yên cần được vá thì để ở cái ghế trước lò sưởi, còn mấy cái áo cần khâu vá thì ném trên tay ghế - tuy không quá tinh tươm, nhưng nó vẫn khá tươm tất và ngăn nắp, nhìn cũng ấm cúng và thoải mái như bếp lửa kia vậy. Nơi đây, có thể quên đi cái lạnh ngoài kia. Nơi đây không có Con Rồng giả hiệu. Không chiến tranh hay Hội Aes Sadai gì hết. Không có những kẻ mặc áo choàng đen. Mùi thơm từ nồi thịt hầm bắc trên bếp tỏa lan căn phòng, khiến Rand thấy đói cồn cào.

    Rand vội vã rửa ráy mặt mũi; Ngoài chỗ rửa cạnh cửa có một cái gầu với cái chậu. Tắm nóng là thứ chàng muốn, để tẩy sạch mồ hôi xua đi cái lạnh, nhưng muốn thế thì phải đem cái ấm nước đi đun ở nhà sau trước.

    Tam rút dưới đáy tủ ra cái chìa khóa dài như bàn tay của ông. Ông xoáy nó vào cái ổ khóa lớn bằng sắt trên cánh cửa. Khi thấy ánh mắt nghi vấn của Rand thì ông nói, “An toàn là trên hết. Có thể là cha hơi điên, mà cũng có thể do thời tiết làm tâm trạng cha bất an, nhưng…” Ông thở dài nắm cái chìa khóa trong tay. “Ta phải trông chừng cái cửa,” ông nói, và biến mất vào trong buồng.

    Rand không thể nhớ là cánh cửa có từng bị khóa hay không. Không ai trong vùng Sông Đôi khóa cửa cả. Không cần thiết. Ít nhất là cho tới giờ.

    Đằng trước, phía giường ngủ của Tam, có tiếng xoèn xoẹt, như thể thứ gì đó đang bò trên sàn nhà. Rand nhăn mặt. Trừ khi Tam bỗng nhiên quyết định chuyển chỗ đồ đạc, nếu thế thì chỉ có mỗi cái rương cũ dưới giường ông thoi. Còn thứ gì đó khác thì Rand nhớ là chưa từng có.

    Chàng đong nước đầy cái ấm nhỏ bắc lên bếp pha trà, rồi dọn bàn. Chén dĩa do chính tay chàng đẽo lấy. Cửa chớp phía trước còn chưa đóng, và chàng cứ nhìn luôn ra ngoài, nhưng đêm đã sâu nên chỉ thấy được ánh trăng mờ nhạt. Tay kị sĩ đen dễ cũng ở ngoài đó, nhưng thôi mặc kệ.

    Khi Tam trở lại, Rand ngạc nhiên nhìn ông. Một sợi dây đai vắt qua eo ông, treo một thanh kiếm có tạc hình hạc trên cái vỏ đen và trên chuôi. Những kẻ duy nhất Rand từng thấy đeo kiếm là đám cận vệ của cánh lái buôn. Và tất nhiên là Lan. Nhưng chuyện cha chàng có một thanh thì chàng chưa từng nghĩ tới. Ngoại trừ hình mấy con hạc, thanh kiếm trông không kém gì thanh của Lan.

    “Thứ đó ở đâu vậy?” chàng hỏi. “Cha mua của người bán hàng rong phải không, mắc không cha?”

    Tam từ từ tuốt kiếm ra; ánh lửa chập chờn trên lưỡi bóng loáng. Thứ này tuyệt không giống hạng kiếm thô kệch của đám cận vệ. Không khảm ngọc hay vàng, nhưng trông rất oai vệ. Lưỡi kiếm, sắc lẹm và trên một cạnh có khắc hình một con hạc khác. Quai kiếm ngắn, tạo hình giống một dải buộc tóc uốn qua chuôi kiếm. So với kiếm của đám cận vệ thì nó có vẻ mỏng manh; hầu hết những thanh kiếm đó có hai lưỡi, và độ dày thì đủ để đốn cả cây.

    “Cái này cha có từ lâu rồi,” Tam nói, “ở cách đây rất xa. Tốn cũng khá đấy; hai đồng bạc là đủ mua một cây rồi. Mẹ con thì không chịu, nhưng bà ấy lúc nào cũng khôn ngoan hơn ta. Ta thì hẵng còn trẻ, và lúc đó thấy cũng đáng giá. Bà ấy luôn muốn ta tránh xa thứ này, mấy lần ta cũng nghĩ bà nói đúng, rằng ta nên quẳng cái này đi.”

    Thanh kiếm như bừng cháy bởi ánh lửa phản chiếu. Rand đăm đăm nhìn. Chàng vẫn thường ước có một thanh. “Ném nó đi? Kiếm thế này mà bỏ hay sao?”

    Tam khịt mũi. “Chăn cừu thì chẳng cần đến, vậy dùng nó làm gì đây? Cũng chẳng lấy mà cày bừa được.” Ông chăm chút nhìn thanh kiếm như thể đang tưởng tượng dùng thứ như vậy vào những việc gì. Sau cùng ông dứt ánh mắt ra. “Hoặc là ta lại có sở thích đen tối, hoặc vận số chúng ta đen đủi, bằng không thì vài ngày nữa ta sẽ vui vẻ mà nhét nó trở lại cái rương cũ.” Ông tra kiếm vào vỏ trở lại và chùi tay lên áo với khuân mặt nhăn nhó. “Nước chắc được rồi đấy. Ta sẽ dọn bát đĩa còn con hãm ấm trà nhé.”

    Rand gật đầu rồi đi lấy cái ấm, nhưng chàng muốn rõ mọi việc. Sao Tam lại mua kiếm? Thật không hiểu nổi. Và Tam mua ở đâu? Xa không? Chưa từng có ai ra khỏi vùng Sông Đôi; Họa chăng là rất ít. Chàng luôn có cảm tưởng rằng cha mình đã từng đi ra ngoài – vì mẹ chàng là người ngoại vùng – nhưng còn một thanh kiếm thì…? Chàng đã sẵn sàng hỏi nhiều điều khi nào bàn dọn xong.

    Nước pha trà đang sôi bạo, và chàng phải quấn vải quanh cái quai để nhấc cái ấm ra khỏi móc. Hơi nóng tức thì phả ra. Vừa khi chàng rời khỏi ngọn lửa thì có tiếng đấm mạnh ngoài cửa làm rung cả ổ khóa. Mọi suy nghĩ về thanh kiếm, và về cái ấm nước sôi trong tay chàng, bay biến sạch.

    “Chắc là hàng xóm,” chàng nghi hoặc nói. “Chắc ngài Dautry muốn mượn…” Nhưng nông trại ngài Dautry, người hàng xóm gần nhất, cách đây tới một giờ đi bộ dù là giữa ban ngày, và ông Oren Dautry ấy, kẻ mặt dày chuyên đi mượn bợ, khó lòng mà ra khỏi nhà giữa lúc đêm hôm thế này.

    Tam nhẹ nhàng đặt mấy cái chén lên bàn. Rồi ông từ từ đi ra, cả hai tay đã đặt lên chuôi kiếm. “Ta không nghĩ…” ông bắt đầu, và cánh cửa bật mở, cái ổ khóa vỡ thành từng mảnh văng lên sàn nhà.

    Một kẻ đứng chắn ngay cửa, to hơn bất cứ ai Rand từng thấy, gã mặc áo giáp đen phủ tới đầu gối, có đinh nhọn đóng ở khủy tay, ở eo và ở vai. Một tay gã cầm thanh kiếm to như cái lưỡi hái; tay kia che trước mặt hộ vệ.

    Rand thấy nhẹ nhõm đến kì quặc. Dù kẻ này là ai thì cũng không phải là tay kị sỹ đen. Rồi chàng thấy mấy cái sừng dê cong cong trên cái đầu cao tới thành cửa của gã, và ở chỗ lẽ ra là mồm và mũi thì lại là một cái mõm lông lá. Chàng nhận ra tất cả những điều ấy trong một hơi thở mạnh mà chàng thốt ra thành một tiếng kêu kinh hãi, không nghĩ ngợi gì, chàng ném luôn cái ấm nước sôi vào cái đầu nửa người nửa ngợm ấy của gã.

    Sinh vật đó gầm lên, nửa như đau đớn, nửa như tiếng thú dữ, khi bị nước sôi ụp lên mặt. Cả cái ấm cũng đập trúng gã, thanh gươm của Tam lóe lên. Tiếng gầm chuyển thành tiếng ùng ục, và thân hình khổng lồ ấy đổ vật ra sau. Nhưng xác gã còn chưa chạm đất thì một kẻ khác đã xông lên. Rand vừa thoáng nhìn thấy cái đầu méo mó mọc sừng nhọn thì Tam đã lại hạ hắn, và hai cái xác kềnh càng chắn ngay cửa. Chàng nghe tiếng cha quát lớn:

    “Chạy đi con, trốn vào rừng mau!” Những cái xác ngoài cửa giãy nảy lên khi những kẻ khác lôi chúng sang bên. Tam xô vai vào cái bàn khổng lồ; vừa chửi mắng vừa đẩy nó chắn đường bọn kia. “Đông quá không trụ được! Đi cổng sau! Đi mau! Cha sẽ đuổi theo!”

    Ngay khi vừa quay đi Rand thấy xấu hổ vì đã nhanh nhảu như vậy. Chàng muốn ở lại giúp cha, tuy không biết bằng cách nào, nhưng nỗi sợ đã dâng tới cổ họng rồi, và chân chàng thì cứ thế mà chạy. Chàng xông ra khỏi phòng, chạy ra sau nhà, lấy hết sức bình sinh mà chạy. Tiếng đâm chém và la hét từ cửa trước bám theo chàng.

    Chàng chụp lấy thanh chắn cửa sau khi mắt vừa thấy cái ổ khóa vốn chẳng bao giờ khóa. Nhưng đêm nay Tam đã khóa mất rồi. Bỏ qua cái thanh chắn, chàng lao ra chỗ cửa sổ, đẩy cái chắn cửa lên rồi mở cửa chớp ra. Đêm đen đã thay thế hẳn ánh hoàng hôn. Trăng tròn và những đám mây lờ lững tạo thành những mảng tối đuổi bắt nhau kéo qua trang trại.

    Bóng tối, chàng tử nhủ. Chỉ bóng tối. Cửa sau kêu cọt kẹt như thể có ai đó, hoặc cái gì đó, bên ngoài, đang cố đẩy nó ra. Miệng chàng khô khốc. Một cú húc đẩy văng cánh cửa khiến chàng giật thót; chàng trượt qua cửa sổ như con thỏ chui đầu xuống đất, rồi ngồi nép mình bên hông nhà. Trong phòng, tiếng đồ đạc đổ vỡ như tiếng sấm.

    Chàng chổng mông mắt nhắm mắt mở nhìn vào bên trong, ngay góc cửa sổ. Trong bóng tối chàng không nhận ra gì rõ ràng, nhưng cũng nhiều hơn chàng nghĩ. Cánh cửa xiêu vẹo, và những hình thù tăm tối di chuyển một cách thận trọng trong phòng, thì thào trao đổi. Rand không hiểu chúng nói gì; một thứ ngôn ngữ thô ráp, không giống tiếng người. Rìu và giáo và những thứ có đầu nhọn loang loáng ánh trăng. Tiếng giày nện trên nền nhà, và còn có tiếng lách cách đều đặn, như tiếng bụng sôi.

    Chàng chép miệng cho bớt khô. Hít vào một hơi thở sâu, chàng la toáng lên hết cỡ. “Chúng đang đến phía sau!” Những thanh kiếm loảng xoảng, sau cùng tuốt cả ra. Nhưng chàng không biết liệu chúng sẽ làm gì. “Con ở bên ngoài! Chạy đi cha ơi!” Dứt lời chàng chạy thục mạng khỏi trang trại.

    Tiếng quát tháo thô lậu bằng thứ ngôn ngữ lạ kì dồn dập vọng đến từ buồng trong. Kính vỡ loảng xoảng, và có thứ gì đó rơi bịch trên mặt đất phía sau chàng. Chàng đoán một trong số chúng đã phá cửa số phi ra chứ không không mất công mở nó, nhưng chàng không ngoái lại xem mình đoán có đúng không. Như con cáo bị chó săn rượt chàng lao vào bóng râm gần nhất do mặt trăng tạo ra thay vì chạy vào rừng, rồi cúi người trườn trở về kho thóc, nơi có bóng râm tối hơn và rộng hơn. Có thứ gì đó rơi lên vai chàng, chàng phủi đi, không chắc là mình đang chiến đấu hay đang bỏ chạy, cho tới khi chàng nhận ra mình đã tóm lấy cái cuốc tay do Tam chế từ lúc nào.

    Ngu xuẩn! Chàng nằm xuống một thoáng, cố ghìm hơi thở. Thằng Coplin ngu xuẩn! Cuối cùng chàng bò dọc theo mặt sau của kho thóc, lôi cái cuốc theo sau. Tuy không rõ hiệu quả nhưng vẫn tốt hơn là không làm gì. Chàng thận trọng nhìn quanh cái góc tạo bởi nông trại và căn nhà.

    Không thấy bóng dáng những sinh vật lao ra ngoài để đuổi theo chàng. Chúng có thể ở bất cứ đâu. Săn đuổi chàng, chắc chắn rồi. Thậm chí là giày xéo lên chàng ngay bây giờ nữa.

    Những tiếng bebe kinh hoảng tràn ngập chuồng cừu nằm bên tay trái chàng; Lũ cừu chạy tán loạn như muốn tìm đường thoát ra ngoài. Những hình thù tăm tối chập chờn bên trong cửa sổ sáng đèn của căn nhà, và tiếng binh khí va chạm túa ra ngoài bóng đêm. Bỗng nhiên từ phía cửa sổ một trận mưa kính vỡ cùng gỗ vụn túa ra khi Tam phi mình qua nó, kiếm vẫn nắm trong tay. Ông tiếp đất, nhưng thay vì bỏ chạy khỏi căn nhà thì ông lại lao trở về phía ấy, mặc kệ lũ quái vật ùa ra lối cửa sổ vỡ và cửa trước đuổi theo ông.

    Rand không tin nổi vào mắt mình. Sao ông lại không chịu bỏ chạy? Rồi chàng hiểu ra. Tam đã nghe thấy tiếng kêu của chàng ban nãy phía bên hông nhà. “Cha!” Chàng la toáng lên. “Con ở đây!”

    Đang dở bước chân Tam liền quay lại, nhưng không chạy về phía Rand mà theo một hướng cách xa chàng. “Chạy đi! Con trai!” Ông thét lên, vung thanh kiếm như thể có ai đó chắn trước mặt. “Trốn đi!” Một tá những hình thù to lớn rượt theo ông, nhưng tiếng la hét, hò reo chát chúa và thô kệch tỏa ra khắp không gian.

    Rand lùi vào bóng tối sau kho thóc. Đứng từ phía căn nhà sẽ không thấy chàng ở đó, trong trường còn có ai đó núp bên trong. Ít ra thì giờ chàng tạm an toàn. Nhưng Tam, người đang cố dụ bọn kia đi xa khỏi chàng, thì không. Bàn tay chàng xiết lại trên cán cuốc, và phải nghiến răng lại để không bật ra một tràng cười bất ngờ. Một cái cán cuốc. Đối phó với đám súc vật đó bằng một cái cán cuốc thì có khác nào chơi đánh gậy với Perrin. Nhưng chàng không thể để Tam đối mặt với những kẻ đang lăm lăm bám theo ông.

    “Nếu mình di chuyển nhẹ nhàng như con thỏ,” chàng tự nhủ, “chúng sẽ không nghe, không thấy mình.” Những tiếng la kì quái vang vọng trong bóng tối, chàng cố nuốt nước bọt. “Nghe như một đàn sói đói.” Chàng lặng lẽ lê khỏi kho thóc, hướng về khu rừng, xiết cán cuốc chặt tới nỗi đau cả tay.

    Thoạt tiên, khi được cây cối bao bọc, chàng lấy làm thoải mái. Chúng giúp chàng trốn khỏi lũ súc vật không rõ lai lịch đã tấn công trang trại kia. Tuy nhiên, khi chàng lẩn đi giữa rừng, ánh trăng đã đổi khác, khiến bóng đêm trong rừng như thể cũng đang chuyển chỗ. Cây cối hiện ra một cách tai hại; cành lá cứ quấn lấy chàng. Nhưng liệu chúng chỉ là cành lá và cây cối thôi ư? Chàng có thể nghe được những tiếng cười đe dọa u u trọng cổ họng chúng trong khi rình đón chàng. Những tiếng la ó của những kẻ đuổi theo Tam tan dần trong đêm; nhưng trong sự im lặng thay thế ấy chàng vẫn cứ run lên mỗi khi gió chà xát những cành cây với nhau. Càng lúc chàng càng cúi người thấp hơn, di chuyển chậm hơn. Chàng không dám thở mạnh vì sợ nghe thấy nỗi sợ của mình.

    Bỗng một bàn tay từ phía sau bịt miệng chàng lại, và một thanh sắt đặt chỗ cổ tay chàng. Chàng kinh hãi ngoặc tay ra sau mong tóm được kẻ tấn công.

    “Đừng có bẻ cổ cha chứ con trai,” giọng Tam khàn khàn vang lên. Chàng thở phào nhẹ nhõm, toàn thân nhão ra như cháo. Tam thả người xuống cạnh chàng, ngả về một bên hông.

    “Ta phải làm thế dù biết rằng con đã lớn ra nhiều mấy năm gần đây,” Tam nhẹ nhàng nói. Đôi mắt ông chớp chớp rọi vào bóng tối. “Nhưng cần phải đảm bảo là con sẽ không la lên. Một vài tên Trolloc nghe tốt như chó, có khi tốt hơn.”

    “Nhưng bọn Trolloc chỉ là…” Rand bỏ lửng. Không phải chỉ có trong truyện, đêm nay thì không phải. Những thứ đó có thể là bọn Trolloc hoặc là chính Chúa Tể Bóng Tối như chàng biết. “Cha có chắc là?” chàng thì thào. “Ý con… tức là bọn Trolloc.”

    “Ta chắc chắn. Tuy không rõ sao chúng lại đến vùng Sông Đôi này… ta chưa từng thấy một tên nào cho tới đêm nay, nhưng ta đã có nói với những người từng thấy chúng, nên ta cũng có biết đôi chút. Chắc cũng đủ để giữ mạng chúng ta. Nghe cho kỹ này. Bọn Trolloc nhìn trong đêm tốt hơn con người, nhưng ánh mặt trời làm lóa chúng, ít nhất là độ một lúc. Đó có thể là cách thoát thân duy nhất cho chúng ta. Một vài tên có thể lùng theo mùi hoặc tiếng động, nhưng ai cũng bảo chúng rất lười biếng. Nếu chúng ta trốn được lâu, chúng sẽ bỏ cuộc.”

    Điều đó khiến Rand phần nào yên tâm hơn. “Trong truyện nói chúng ghét con người, và phụng sự Chúa Tể Bóng Tối.”

    “Nếu có thứ gì đó thuộc về băng đảng của Mục Đồng Bóng Đêm, thì đó chính là bọn Trolloc này đây. Chúng lấy giết chóc làm vui, như người ta vẫn bảo. Nhưng ta chỉ biết đến đấy thôi, còn điều nữa là chỉ có thể tin chúng khi chúng sợ con, và cái đấy thì còn lâu.”

    Rand rùng mình. Chàng đời nào lại nghĩ sẽ gặp một tên Trolloc nhát gan. “Cha có cho rằng chúng vẫn đang truy lùng chúng ta không?”

    “Có thể có mà cũng có thể không. Bọn chúng không khôn gì lắm. Một khi chui được vào rừng rồi thì cha sẽ làm mấy cái dấu dụ chúng đi về phía dãy núi.” Tam mò mò bên hông rồi đưa tay lên sát mặt. “Thứ tệ nhất chúng gây ra đây.”

    “Cha bị thương.”

    “Nhỏ mồm chứ. Trầy xước tí thôi, với lại giờ cũng không phải lúc lo tới chuyện đó. Ít ra thì trời có vẻ đang trở ấm.” Ông thở dài rồi ngả người ra sau. “Ngủ đêm ngoài này chắc cũng không đến nỗi nào.”

    Trong đầu mình thì Rand vừa vui vẻ nghĩ về áo sống của mình. Cây cối tuy cản gió nhưng chúng vẫn giật từng cơn lướt qua như lưỡi dao lạnh giá. Chàng ngập ngừng chạm vào khuân mặt Tam, và nhăn mặt lại. “Cha nóng như lửa. Con phải đưa cha đến chỗ chị Nynaeve.”

    “Không sao đâu con.”

    “Chúng ta không thể chần chừ thêm một khắc nào nữa. Trời đêm đường ghập ghềnh lắm.” Chàng khua chân và cố lôi cha dậy. Một tiếng rên khô khốc bật ra từ kẽ răng của Tam làm Rand vội vã ngồi xuống.

    “Để ta nghỉ một tí đã, ta thấy mệt.”

    Rand đấm đấm vào đùi. Nếu như ở trong ngôi nhà ấm cúng, có lửa và chăn mền, có nước và trà, chàng sẽ sẵn lòng chờ đến rạng đông rồi thắng con Bela đưa cha vào làng. Nhưng giờ đây không có lửa, không chăn mền, không xe, không ngựa. Nhưng những thứ ấy vẫn còn kia trong căn nhà. Nếu chàng không thể đưa Tam về, thì ít nhất vẫn có thể đi lấy chúng đến cho ông. Nếu bọn Trollocs đã bỏ đi. Sớm muộn gì chúng cũng phải đi thôi.

    Chàng nhìn vào cái cán cuốc, rồi thả nó xuống. Thay vào đó chàng với lấy thanh kiếm của Tam. Lưỡi kiếm ẩn hiện trong ánh trăng nhợt nhạt. Chuôi kiếm dài làm chàng thấy hơi ngượng tay; trọng lượng và kích cỡ cũng khá lạ lẫm. Chàng chém vào không khí vài phát rồi dừng lại thở dài. Chém gió thì có gì khó đâu. Nếu gặp bọn Trolloc hẳn chàng sẽ chạy mất dép thôi, bằng không thì cũng chết đứng chờ cho những thanh gươm quái đản của chúng… Thôi! Nghĩ vớ vẩn quá!

    Đang chuẩn bị đứng dây thì Tam chụp lấy tay chàng. “Con định đi đâu?”

    “Chúng ta cần xe,” chàng nói khẽ. “Ít chăn mền nữa.” Chàng hơi run sợ khi kéo tay cha ra sao mà dễ dàng quá. “Cha nghỉ đi, con sẽ về liền.”

    “Cẩn thận,” Tam thở ra một hơi.

    Trong ánh trăng chàng không nhìn thấy mặt Tam, nhưng có thể cảm nhận được ánh mắt ông. “Vâng ạ.” Mình sẽ cẩn thận như một con chuột tìm đường vào rương, chàng nghĩ.

    Chàng lẳng lặng lướt vào bóng tối. Chàng cứ nghĩ về những lần chơi trốn tìm với đám bạn trong rừng hồi còn bé, lén lén lút lút tìm nhau, cố không phát ra tiếng động rồi chụp lên vai một đứa nào đấy. Nhưng kiểu gì thì kiểu đêm nay dứt khoát không phải như vậy.

    Bò từ cây này sang cây khác, chàng cố nghĩ kế, nhưng đến lúc ra tới bìa rừng thì đã lập rồi lại bỏ tới mười phương án. Mọi thứ đều trông cả vào việc lũ Trollocs còn đó không. Nếu chúng bỏ đi rồi, thì chàng chỉ cần vào nhà lấy những thứ cần thiết. Còn như chúng vẫn ở đó… trong trường hợp này thì chỉ có nước quay lại với Tam thôi. Chàng không thích ý nghĩ đó, nhưng nếu chàng bị giết thì nguy cho Tam lắm.

    Chàng rọi mắt vào mấy khu nhà của nông trại. Kho thóc và chuồng cừu chỉ là những hình thù tăm tối dưới ánh trăng. Tuy nhiên có ánh sáng lọt ra ngoài khung cửa sổ về tỏa ra từ cửa trước. Chắc là nến mà cha thắp, mà có khi là bọn Trolloc đang phục trong đó.

    Chàng nhảy dựng lên khi nghe một con cú đêm kêu lên khô khốc, rồi lách vội vào một thân cây, run lên bần bật, không còn biết mình đang ở đâu nữa. Cùi gằm xuống, chàng trườn đi, lóng ngóng thủ kiếm phía trước. Chàng cứ để cái cằm dính đất vậy suốt quãng đường quay lại chuồng cừu.

    Nép mình vào bức tường đá, chàng nghe ngóng. Màn đêm tịnh không tiếng động. Cẩn thận chàng nhón chân vừa đủ nhìn qua bức tường. Trong nông trại không có động tĩnh gì. Cũng không có bóng đen nào chắn ngang ánh sáng hắt ra từ cửa sổ lẫn lối cửa ra vào. Con Bela và chiếc xe, hay chăn mền và những thứ khác mới là cần nhất. Chính ánh sáng đã giúp chàng quyết định. Kho thóc tối om. Trong đó dễ có thứ gì đang núp lắm, khó mà biết được cho đến khi quá trễ. Còn trong nhà thì ít nhất cũng có thể biết liệu có gì.

    Đang lúc cúi xuống thì chàng chợt khựng lại. Yên tĩnh quá. Lũ cừu có lẽ đã yên trở lại và đi ngủ cả, tuy không hẳn vật, có vài con vẫn hay thức dậy lúc nửa đêm, vừa đi lăng xăng vừa kêu be be. Chàng dễ dàng nhận ra nhưng cái bóng đen đen của lũ cừu in trên mặt đất. Một cái ở ngay dưới chân chàng.

    Cố không phát ra tiếng động, chàng lê mình theo bức tường cho tới khi có thể với tay tới một thứ mờ nhạt. Nhón tay chàng chạm vào bộ lông cừu xoăn tít, thấy ướt ướt; lũ cừu không không di chuyển. Lúc kéo tay về hơi thở chàng đổ dồn, thanh kiếm gần như rớt xuống ngay ngoài chuồng cừu. Chúng giết cho vui. Chàng chùi chùi cái thứ ướt ướt trên tay vào đất.

    Chàng tự nhủ rằng không có gì thay đổi cả. Bọn Trolloc đã xong việc của chúng và biến rồi. Lặp lại điều đó trong đầu, chàng bò qua sân, cúi người thật thấp, nhưng vẫn cố quan sát tứ phía. Chàng chưa bao giờ nghĩ có lúc mình lại muốn biến thành một con trùng.

    Đến trước nhà chàng lại nép vào tường, ngay dưới cái cửa sổ đã bể tan, và nghe ngóng. Tiếng máu chảy dội trong tai chàng to chưa từng thấy. Chậm rãi chàng nhón lên nhìn vào trong.
    Cái ấm nước nằm chổng ngược trên đống tro bếp. Gỗ vụn vương vãi khắp nhà; không có lấy một thứ đồ nào còn nguyên vẹn. Ngay cả cái bàn kê trong góc, hai chân bị chặt văng. Ngăn kéo bị lôi hết ra mà đập vỡ; tất cả tủ chén và tủ kệ mở toang, nhiều cánh cửa sứt bản lề. Những thứ bên trong vỡ nát vương vãi, và tất cả bị phủ lên một thứ bụi trắng. Bột mì và muối, chứa trong nhưng bao tải giờ đã rách bươm vãi ra tung tóe trước bếp lửa. Bốn cái thây co quắp nằm trong đống đồ đạc ngổn ngang ấy. Bọn Trolloc.

    Rand nhận ra một tên nhờ cái sừng dê trên đầu hắn. Những tên khác trông cũng hao hao vậy, chỉ có khuân mặt giống người của chúng là thấy có khác nhau đôi chút, thậm chí còn méo mó biến dạng bởi mõm thú, sừng, lông lá các kiểu. Tay chúng, gần như tay người, càng làm chúng ghê tởm hơn. Hai tên đeo ủng; mấy tên khác chân móng guốc. Chàng nhìn mà không chớp lấy một cái cho tới khi mắt đỏ lên. Không tên Trolloc nào còn cử động. Chúng hẳn chết cả rồi. Còn Tam thì đang đợi.

    Rand phi qua cửa trước vào nhà, chững lại vì mùi hôi thối. Một cái chuồng ngựa mấy tháng liền không được dọn phân là thứ duy nhất mà chàng nghĩ phù hợp với chỗ này. Những vết bẩn loang lổ những bức tường. Cố gắng thở ra đằng miệng, chàng nhón bước qua sàn nhà bừa bộn. Trong tủ chén có một cái bị nước.

    Một tiếng động sột soạt phía sau khiến chàng chết ngất, người bủn rủn như muốn đổ xuống cái bàn chổng trơ. Chàng rúm người lại, tiếng rên khe khẽ vọng ra từ phía sau hai hàm răng đang va lạp cạp vào nhau mà chàng không tài nào kìm lại được.

    Một tên Trolloc đang bò dậy. Cái mõm sói của hắn trồi ra phía dưới đôi mắt sâu hoắm. Một cặp mắt phẳng lì, vô cảm, và rất giống mắt người. Đôi tai lông lá, nhọn hoắt giật giật liên hồi. Hắn lê bộ móng guốc qua xác đồng bọn. Bộ áo giáp cùng loại với những tên khác của hắn va loẹt xoẹt vào cái quần da, và bên hông hắn lủng lẳng mấy thanh kiếm bầu khổng lồ.

    Hắn lầm bầm gì đấy trong cuống họng rồi nói, “Tất cả đã bỏ đi hết. Narg ở lại. Vì Narg khôn.” Lời lẽ hắn lùng bùng khó hiểu, thốt ra từ một cái miệng hoàn toàn không thích hợp để nói tiếng người. Hắn nói có vẻ nhẹ nhàng, chàng nghĩ, nhưng vẫn không thể rời mắt khỏi cái hàm rằng bẩn thỉu, dài ngoằng, nhọn hoắt và lóng lánh mỗi khi hắn mở mồm ra kia. “Narg biết thế nào cũng có đứa mò về. Narg chờ. Ngươi không cần kiếm. Bỏ kiếm xuống.”

    Nhờ tên Trolloc nhắc Rand mới sực nhận ra là mình đang khua thanh kiếm trước mặt hắn bằng cả hai tay, mũi chỉ vào con quái vật đồ sộ ấy. Hắn cao hơn chàng cả một cái đầu, với bộ ngực và đôi tay săn chắc như ngài Luhhan.

    “Narg không biết đau.” Hắn tiến một bước, khua tay. “Ngươi bỏ kiếm xuống.” Bộ lông đen trên mu bàn tay hắn dày như lông thú.

    “Lui lại,” Rand nói, ước là giọng mình rắn rỏi hơn. “Sao ngươi làm điều này, tại sao?”

    “Vlya daer roghda!” Tiếng gầm gừ bỗng biến thành một nụ cười khoe hết cả hàm răng. “Bỏ kiếm xuống. Narg sẽ không làm đau. Myrddraal muốn nói với ngươi.” Một tia biểu cảm xoẹt qua gương mặt nhăn nhúm đó. Sợ hãi. “Những kẻ khác đã về, ngươi phải gặp Myrddaal.” Hắn bước thêm bước nữa, một bàn tay đặt lên chuôi kiếm. “Ngươi bỏ kiếm xuống.”

    Rand liếm môi. Myrddaal! Thứ kinh khủng nhất trong những câu chuyện lại đang đi lại trong đêm nay sao. Nếu một Ma Khách đến đây, thì bọn Trolloc chỉ là cóc nhái, phải lo mà né ra bên. Nhưng nếu tên Trolloc rút thanh kiếm vĩ đại kia ra thì chàng sẽ hết đường thoát. Chàng cố vén môi thành một nụ cười. “Được được.” Xiết chặt thanh kiếm, chàng thu tay về. “Ta sẽ nói chuyện.”

    Nụ cười mặt sói kia biến thành một tiếng gầm gừ, và tên Trolloc đột nhiên xông vào chàng. Rand không tưởng tượng nổi sao hắn có thể nhanh tới vậy. Chàng bất chấp vung thanh kiếm lên. Cái thây quái vật kia lao tới hất chàng vào tường. Chàng ná thở, chém loạn lên khi cả hai đổ nhào xuống sàn, tên Trolloc đè lên trên. Chàng giãy bần bật dưới cái sức nặng đang đè trên người, cố tránh đôi tay đang muốn chịt cổ mình và hàm răng nhe ra kia.

    Bỗng tên Trolloc giãy lên một cái rồi nằm thẳng cẳng. Bị bầm dập, ngẹt thở dưới sức nặng, trong một thoáng Rand nằm đơ ra như không biết gì nữa. Nhưng chàng cũng nhanh chóng tỉnh ra, loáy hoáy chui khỏi cái thây. Và cái thây đúng là chết rồi. Thanh kiếm vấy máu của Tam xuyên qua giữa lưng tên Trolloc. Loáy hoáy thế nào mà rốt cục chàng cũng đâm được. Máu cũng nhuộm đỏ tay Rand, và tạo ra một cái vệt lớn đen xì trên áo chàng. Bụng chàng nhão ra, chàng khó nhọc nuốt nước bọt để cố giữ bình tĩnh, người cứ run lên trong cơn sợ hãi, nhưng lần này không đến nỗi chết cứng cả người.

    Những kẻ khác đã trở về, tên Trolloc nói thế. Những tên Trolloc khác sẽ trở lại trang trại. Có cả một Myrddraal, một Ma Khách. Những câu chuyện kể rằng bọn Ma Khách cao tới hai mươi hai feet, mắt rực lửa, và cưỡi trên những cái bóng trông như ngựa. Khi một Ma Khách quay đi, nó biến mất, và không bức tường nào có thể ngăn chúng được. Chàng phải làm điều đã tính trước, rồi chuồn cho nhanh.

    Chàng nghiến răng lật cái thây tên Trolloc lại để lấy thanh kiếm – tí nữa thì bỏ chạy khi thấy mắt gã mở trừng trừng nhìn mình. Phải mất một lúc chàng mới nhận ra là đôi mắt ấy đã chết rồi.

    Chàng lau tay vào một miếng giẻ - mới sáng nay còn là mảnh áo của Tam – và giật manh thanh kiếm ra. Chùi kiếm xong, chàng miễn cưỡng giục tấm giẻ đi. Giờ không phải lúc gọn gàng, chàng nghĩ và tí nữa thì bật cười lớn. Chàng không tưởng tượng nổi liệu có thể lau sạch căn nhà này để sống tiếp nữa không. Cái mùi hôi thối dường đã ngấm vào từng thớ gỗ rồi. Nhưng không có thời giờ mà nghĩ tới chuyện đó. Không phải lúc gọn gàng. Cũng có thể không phải lúc cho bất cứ gì khác.

    Chàng chắc là mình đã quên một số thứ cần thiết, nhưng Tam đang đợi, và bọn Trollloc đang đến. Chàng gom mấy thứ đã nghĩ tới trong lúc chạy trốn. Mấy tấm chăn trong phòng ngủ trên gác, vải sạch để băng vết thương cho Tam. Lấy áo mặc và áo choàng. Một túi nước chàng mang theo lúc chăn bầy cừu vào chuồng. Chàng không biết lúc nào mới có thời giờ thay đồ, nhưng chàng muốn thay cái tấm áo vấy máu này ngay khi có thể. Mấy cái túi nhỏ làm bằng vỏ cây liễu và thuốc men thì lại nằm trong cái đống đen đen hỗn độn mà chàng không dám mó tới kia.

    Cái ấm nước Tam đặt bên bếp kì diệu thay lại chẳng việc gì. Chàng lấy nó đổ nước đầy cái bị, rửa vội cái tay, rồi vội vã nhìn quanh xem còn quên gì không. Chàng thấy cây cung nằm giữa những mảnh vụn, gãy đôi ngay ở giữa. Chàng rùng mình khi làm rớt mất món đồ. Những thứ gom được vật là đủ rồi, chàng quyết định. Rồi chàng nhanh chóng chất hết chúng ra ngoài cửa.

    Thứ cuối cùng trước khi chuồn, chàng vơ một cái đèn dầu từ trong mớ lộn xộn trước cửa. Vẫn còn dầu. Nhóm đèn lên bằng nến, chàng đóng chụp đèn lại – phần để cản gió, phần khỏi chói mắt – rồi tay đèn tay kiếm vội vã đi ra ngoài. Chàng không chắc liệu có tìm thấy trong kho thóc không. Chuồng cừu thì chẳng mấy hi vọng. Nhưng chàng cần chiếc xe ngựa để đưa Tam đến làng Emond’s Field, và chiếc xe ngựa thì lại cần con Bela. Hoàn cảnh lúc này khiến chàng chỉ còn ít hi vọng.

    Cửa kho thóc mở toang, một cánh đang bị gió thổi kêu cọt kẹt. Thoạt nhìn thì bên trong trông vẫn bình thường. Rồi mắt chàng rơi trên cái chuồng ngựa rỗng tuếch, cửa chuồng đã văng bản lề. Con Bela và cả con bò cái đã đi mất. Chàng chạy ùa ra sau kho. Chiếc xe nằm bên hông nhà, mấy cái bánh xe đã gãy hết nửa số căm. Cái càng xe chỉ còn là một cái gậy dài độ một foot.

    Sự tuyệt vọng đã lường trước tràn ngập người chàng. Chàng không biết làm sao mang nổi Tam đi đến tận làng dù cho ông có chịu nổi đi chăng nữa. Sự đau đớn có thể sẽ giết Tam còn nhanh hơn cơn sốt. Tuy nhiên, vẫn còn một cơ may. Chàng đã sống ở đây từ nhỏ cơ mà. Khi chàng toan bỏ đi thì thấy cái rùa cũ nằm trên sàn nhà đầy rơm. Bất giác chàng mỉm cười

    Vội vã chàng đặt cả đèn và kiếm xuống nền nhà, rồi chỉ tích tắc sau là đã đánh vật với chiếc xe, thúc vào lưng để dựng đứng nó lên, nghe thêm mấy tiếng tạch tạch của lan hoa bị gãy, rồi nhón vai lật ngược nó lại. Cái tay cầm vẫn còn ngon lành. Nhặt lấy thanh kiếm chàng thúc cho lớp bụi rơi xuống, rất đỗi ngạc nhiên khi những mảnh gỗ cứ theo mỗi nhát chém mà bay đi, y như thế chàng đang dùng một cây rìu tốt vậy.

    Chàng thả cái càng xe xuống, ngạc nhiên nhìn lưỡi kiếm. Ngay cả cây rìu bén nhất cũng khó mà chặt đứt khúc gỗ cứng ngắc đã có tuổi này , thế mà thanh kiếm lại bén đến vậy. Chàng lấy ngón cái sờ vào sống kiếm rồi vội vàng đưa lên miệng. Lưỡi vẫn còn bén lắm.

    Nhưng chàng không có thời gian mà ngạc nhiên. Thổi tắt ngọn đèn – để tránh thiêu trụi cái kho thóc – chàng kéo chiếc xe chạy về chỗ khi nãy để đồ đạc ở căn nhà.

    Tất cả đồ đạc tạo thành một hành trang kì quặc, không nặng lắm, nhưng khó mà giữ cho cân được, cái xe đẩy cứ xóc lên rồi xoay ngang xoay ngửa khi chàng đẩy qua cánh đồng mới xới đất. Khi đã trở lại rừng rồi tình hình còn tệ hơn, đồ đạc vướng vào cây kéo chàng dừng lại. Nếu mà kéo lê đi thì chắc dễ hơn, nhưng như thế sẽ hằn rõ dấu vết phía sau. Chàng cố tình đợi cho đến lúc thích hợp đề làm điều đó.

    Tam vẫn ở chỗ cũ, vẻ như đang ngủ. Chàng mong chỉ là ngủ thôi. Bỗng nhiên sợ hãi, chàng buông cái đồng hành lý xuống rồi đặt tay lên mặt cha. Tam vẫn còn thở, nhưng sốt cao lắm.

    Cái chạm đánh thức Tam, nhưng ông mê man. “Là con phải không?” Ông buông tiếng thở. “Tự lo cho mình đi. Những ngày tươi đẹp qua rồi. Những con ác mộng.” khẽ thì thào thế rồi ông lại im lặng.

    “Cha đừnglo,” Rand nói. Chàng khoác áo lên người Tam để tránh gió. “Con sẽ đưa cha đến chỗ chị Nynaeve thật nhanh.” Khi chàng lại loay hoay xem Tam đã ổn thỏa chưa, khi đó chàng mới cởi tấm áo dính máu của mình ra, cố làm thật nhanh cho khỏi lạnh, rồi mặc cái áo sạch lên người. Quẳng cái áo bẩn đi làm chàng cảm thấy như vừa mới tắm xong. “Vào tới làng là chúng ta sẽ an toàn, Nhà Thông Thái sẽ xử lý hết. Cha hiểu không. Mọi thứ sẽ ổn.

    Suy nghĩ đó bừng lên khi chàng khoác tấm áo vào và bó vết thương của Tam. Họ sẽ an toàn khi vào tới làng, và Nynaeve sẽ chữa cho Tam. Việc của chàng là phải đến được đó.
     
    conruoinho thích bài này.
  14. conruoinho

    conruoinho Gà ăn mày Gà về hưu Nhóm Chuyển ngữ

    Bài viết:
    1.961
    Được thích:
    4.716
    Đã thích:
    5.614
    GSP:
    Ap
    Vừa qua trích dẫn trong truyện của bạn được chọn trong Game, nhóm Thiết kế của Gác tặng bạn luukim hình trích dẫn làm kỷ niệm nhé.

    Con mắt thế giới.png
     
    luukim thích bài này.
  15. luukim

    luukim Gà tích cực Nhóm Chuyển ngữ Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    167
    Được thích:
    86
    Đã thích:
    26
    GSP:
    Ap
    The eye of the world - Con mắt thế giới
    Chương 6: Trong rừng Westwood

    Dưới ánh trăng Rand thật cũng không rõ mình đang làm gì, chỉ thấy vết thương của Tam dường như chỉ là một vết rách nhỏ trên sườn, dài khoảng lòng bàn tay. Chàng lắc đầu nghi hoặc, vì từng thấy cha bị thương nặng hơn thế mà vẫn làm việc tốt cho tới khi đi cần phải rửa ráy. Chàng hấp tấp xem xét Tam từ đầu tới chân xem vết thương nào nặng tới nỗi làm ông phát sốt, nhưng cũng chỉ thấy có vết cắt đó thôi.

    Nhỏ là thế nhưng vết cắt nghiêm trọng lắm; bỏng rát khi chạm vào chung quanh, thậm chí chỗ đó còn nóng hơn cả cơn sốt vốn đã làm Rand phải nghiến răng nghiến lợi của Tam. Sốt cao thế dễ chết người, hoặc để lại di chứng. Chàng lấy nước trong bầu nhúng ướt tấm vải rồi đắp lên trán Tam.

    Dù chàng đã cố nhẹ nhàng chùi rửa và băng bó vết cắt trên sườn cha, thế mà Tam vẫn rên hừ hừ. Cây cối trơ trọi tối tăm vây quanh hai người, rung lên trong gió đầy đe dọa. Chắc chắn lũ Trolloc khi tìm không thấy Tam và chàng, lại thấy trang trại trống rỗng, sẽ bỏ về. Chàng cố nhủ lòng tin như vậy, nhưng cứ nhìn căn nhà đổ nát vô hồn kia thì khó mà còn chỗ cho niềm tin đó. Chúng sẽ từ bỏ những kẻ hoặc những thứ có thể tìm ra, tin như vậy thật nguy hiểm, không đời nào có chuyện ấy.

    Trollocs. Ôi Sự Sáng, bọn Trolloc! Những sinh vật trong truyện của người hát rong đêm nay đã đạp cửa nhà người ta. Và còn có một Ma Khách. Xin Sự Sáng chiếu tỏa trên tôi, một Ma Khách ư!

    Chàng chợt nhận ra đôi tay vô cảm còn đang nắm chặt tấm vải băng. Nghĩ tới việc mình chết cứng như thỏ thấy bóng diều hâu mà chàng thấy khinh bỉ. Lắc đầu một cái đầy tức tối chàng cuốn nốt cái băng quanh ngực Tam.

    Dù biết mình phải làm gì, thậm chí là đang làm rồi, chàng cũng vẫn không hết sợ. Khi bọn Trolloc quay lại nhất định chúng sẽ lùng trong khu rừng quanh nhà tìm dấu vết những kẻ tẩu thoát. Cái xác chàng đã giết kia sẽ tiết lộ chúng biết chàng chỉ ở quanh đây. Ai biết được một Ma Khách sẽ làm gì, hoặc có thể làm gì chứ? Trên hết, lưu ý của cha về khả năng nghe ngóng của Trolloc cứ văng vẳng bên tai chàng như thể Tam mới nói tức thì. Nghĩ tới đó chàng thấy sao mà muốn đặt tay lên miệng Tam, để bịt đi tiếng rên rỉ. Một vài tên giỏi đánh hơi. Thế mình phải làm gì? Vô vọng, sao lại đi phí thời giờ lo những thứ không giải quyết được.

    “Cha cố giữ im lặng,” chàng nói nhỏ vào tai cha. “Bọn Trolloc sẽ còn quay lại.”

    Tam rên rỉ nói. “Em còn đẹp lắm Kari! Vẫn đẹp như thiếu nữ.”

    Rand nhăn mặt. Mẹ chàng đã mất được 15 năm, thế mà Tam đang tim bà vẫn còn sống, thể đủ biết ông sốt nặng hơn chàng tưởng. Làm sao cho ông im được đây, lúc này im lặng chính là sự sống?

    “Mẹ muốn cha giữ im lặng,” Rand thì thầm. Chàng khựng lại cho thông giọng. Mẹ có đôi tay mượt mà, chàng nhớ rõ thế. “Kari muốn cha im lặng. Đây, cha uống đi.”

    Tam uống lấy uống để, nhưng chỉ được vài ngụm lại quay ra nói nói lảm nhảm, nhưng nhỏ quá Rand nghe không rõ. Chàng cũng mong ông nói nhỏ thế bọn Trolloc cũng sẽ không nghe được.

    Chàng vội vã thu nhặt những thứ cần thiết. Ba cái chăn chàng trải ra giữa hai cái càng xe tạm thời làm thành một cái ổ. Chàng chỉ có thể kéo một đầu, còn đầu kia để kéo lê trên đất, nhưng đành chịu. Chàng lấy dao cắt một mảnh vải dài trên cái tấm chăn cuối cùng, rồi buộc hai đầu tấm vải vào hai cái càng xe.

    Cố nhẹ nhàng hết sức, chàng nhấc Tam đặt vào cái ổ, mặt nhăn lại theo mỗi tiếng rên của ông. Cha chàng vốn là ngươi bất khuất. Không gì hại được ông; không gì ngăn được ông, thậm chí còn không làm ông chậm lại được. Nhưng tình trạng ông bây giờ làm cho chút can đảm Rand góp nhặt được bay biến đi hết. Nhưng chàng phải cố, cố mà đi, nhất định phải đi.

    Khi Tam rốt cuộc đã nằm trong ổ rồi, Rand ngập ngừng, rồi lấy cái bao gươm trên hông cha, đeo lên người mình, có cảm giác hơi ngượng vì trông kì kì. Đai lưng với cái vỏ và thanh kiếm cộng lại nặng khoảng vài pound, thế mà sao khi tra gươm vào vỏ nó nặng trình trịch như kéo cả chàng xuống.

    Chàng cáu kỉnh tự mắng mỏ mình, giờ nào phải lúc cũng chẳng phải nơi mà làm trò trẻ con, chỉ là một con dao to thôi mà. Đã bao lần chàng mơ được đeo gươm đi phiêu bạt chứ? Chàng đã giết được một tên Trolloc thì những tên kia cũng có khó gì. Thế nhưng chàng cũng hiểu rõ chuyện mới xảy ra trong nông trại chỉ là ăn may thôi. Và giấc mơ phiêu bạt làm gì có chuyện răng va lạp cạp thế này, cũng chẳng chạy chối chết trong đêm, còn cha thì như ngọn đèn sắp tắt.

    Chàng cuốn vội tấm chăn cuối cùng cho Tam, đặt bầu nước cùng các thứ đồ khác cạnh cha. Chàng quỳ xuống giữa hai càng xe, thở mạnh một cái rồi luồn tấm vải qua đầu, đeo nó trên vai. Chàng nâng hai cái càng lên, cân chỉnh cho ngay ngắn, cũng không đến nỗi nặng lắm, rồi cố bước nhịp nhàng tiến về phía làng Emond’s Field, phía sau kéo theo một vệt dài ngoằng.

    Chàng quyết định đi theo đường Quarry để về làng. Nguy hiểm rõ ràng rất lớn nhưng nếu chàng cố vượt rừng mà đi thì có thể sẽ bị lạc, khi đó khó mà cứu được Tam.

    Trong bóng tối chàng đi lên con lộ Quarry lúc nào chẳng hay, đến khi nhận ra thì cổ họng ngẹn ứ. Chàng hấp tấp xoay chiếc xe rồi kéo vào một lùm cây ngồi thở, cho tim thôi đập dồn. Rồi không đợi hết mệt, chàng lại nhằm hướng đông đi về làng Emond’s Field.

    Lùng đường giữa những hàng cây khó hơn nhiều so với đưa Tam đi bằng đường lớn, nhất là trong đêm thế này, nhưng giờ có điên mới ra đường lớn. Nếu chàng có mong ước gì thì đó là đến làng mà không phải chạm trán bất kì tên Trolloc nào nữa; thậm chí là đừng nhìn thấy chúng. Chàng đồ rằng bọn Trolloc đang đuổi theo, và sớm muộn cũng sẽ nhận ra hai người đang đi về làng. Đó là nơi hẳn phải đến, và con lộ Quarry hẳn là đường đi. Trên thực tế, chàng áp sát con lộ hơn mong muốn. Đêm tối và bóng cây dường như che khuất bất cứ ai di chuyển trong nó.

    Ánh trăng chiếu qua những tán cây xơ xác càng làm quáng mắt khiến chàng tưởng rằng đã thấy gì đó dưới chân. Gốc cây chừng làm chàng vấp té mỗi bước đi, những bụi mận xôi già cấu vào chân chàng, và những ổ gà lồi lõm bất chợt trên mặt đất làm chàng xém té khi đặt chân vào chỗ mà chàng tưởng là mặt đất nhưng té ra lại là cái lỗ, hoặc loạng choạng khi ngón chân đang lúc bước đi lại vấp vào ụ đất. Tiếng thì thầm của Tam biến thành tiếng tiếng rên rỉ sắc lạnh khi chiếc xe vấp vào gốc cây hay tảng đá xóc nẩy lên.

    Sự nghi hoặc làm chàng nhìn vào bóng tối đến long cả mắt ra, cố nghe ngóng như thể trước giờ không được nghe. Tiếng cây lá xào xạc, hay tiếng cành lá sột soạt đều làm chàng đứng tim, tai căng ra, thở không ra hơi vì sợ để lọt mất động tĩnh nài, sợ nghe thấy gì đó nguy hiểm. Chỉ khi đã chắc là tiếng gió rồi chàng mới đi tiếp.

    Dần dà tay chân chàng mỏi nhừ, gió đêm đang thổi tung áo sống càng làm chàng mỏi mệt hơn. Sức nặng của cái xe đẩy, lúc đầu thấy nhẹ nhàng, giờ chỉ chực kéo chàng xuống mặt đất. Như pha lảo đảo không chỉ còn vì vấp chân nữa. Cố gắng giữ vững chiếc xe sao cho khỏi té vắt kiệt sức lực chàng. Chàng đã thức dậy trước bình minh để sửa soạn đồ đạc, và với chuyến đi đến làng Emond’s Field chàng đã mất trọn một ngày. Vào bất kì một đêm bình thường nào thì giờ chàng đã thảnh thơi bên lò sưởi, đọc sách của Tam rồi đi ngủ. Cơn lạnh cắt da ngấm vào xương tủy, và cái dạ dày luôn nhắc rằng chàng chưa ăn gì ngoại trừ mấy cái bánh của bà al’Vere.

    Chàng làu bàu, bực mình vì không mang theo đồ ăn. Mất thêm vài phút thì có hề gì đâu chứ. Vài phút để tìm bánh mì với bơ. Lũ Trolloc chắc cũng chẳng trở lại trong vài phút ấy. Không thì bánh mì thôi cũng được. Tất nhiên khi tới quán trọ, bà al’Vere sẽ dọn sẵn một bữa nóng hổi trước mặt chàng. Có lẽ là một “đĩa thịt cừu hầm bốc khói”. Và bà sẽ nướng vài ổ bánh. Lại còn trà nóng tha hồ mà uống nữa.

    “Chúng tràn qua Bức Tường Rồng như thác lũ,” bỗng nhiên Tam nói, bằng một giọng giận dữ đay nghiến “và tưới mặt đất bằng máu. Bao nhiêu người đã chết vì tội lội của Laman?”

    Rand kinh ngạc. Mệt mỏi chàng hạ cái càng xe xuống đất thở một tí. Tấm vải hằn lên vai chàng một vết bầm. Tháo những nút thắt ra, chàng quỳ xuống cạnh Tam. Lần tìm cái túi nước, chàng nhìn chòng chọc vào những hàng cây, trong ánh trăng lờ mờ cố để ý trên dưới con lộ, cách chàng không đến hai mươi pace. Không có gì di chuyển ngoại trừ bóng tối. Và ngoài bóng tối ra cũng không có gì.

    “Không có bóng dáng tên Trolloc nào đâu cha. Ít ra là bây giờ. Đến làng Emond’s Field sẽ an toàn thôi. Cha uống ít nước đi.”

    Tam gạt bị nước sang bên bằng cánh tay có lẽ đã vận hết sức lực còn sót lại. Ông túm lấy cổ áo Rand, kéo chàng gần tới nỗi có thể nghe thấy hơi do cơn sốt phả vào cằm. “Họ gọi chúng là quân man rợ, bao nhiêu thành phố đã bị thiêu hủy, trước khi họ đối diện với sự thật? Trước khi các vương quốc hiệp lại cự chúng?” Ông buông Rand ra, và giọng nói vẫn buồn rười rượi. “Cánh đồng tại Marath ngập tràn xác chết, chỉ có tiếng quạ kêu réo và tiếng quân đi dồn dập. Những tòa tháp chọc trời ở Cairhien rực cháy trong đêm như những ngọn đuốc. Khắp các nẻo đường dẫn đến Thành Ánh Sáng chúng thiêu hủy chém giết trước khi bị đẩy lui. Khắp các nẻo đường đến…”

    Rand đặt tay lên miệng cha mình. Lại có động tĩnh, tiếng bước chân huỵch huỵch, văng vẳng trong đám cây cối, cứ mờ rồi lại rõ theo tiếng gió. Chàng nhăn mặt, chậm rãi quay đầu cố nghe xem âm thanh từ hướng nào đến. Mắt chàng thấy có cái gì đó chớp lên, trong khoảnh khắc chàng sấp mình trên Tam. Chàng giật mình khi cảm thấy chuôi kiếm xiết chặt trong tay, nhưng đầu óc thì vẫn tập trung vào con lộ Quarry như thể đó là thứ duy nhất tồn tại trên đời này.

    Những bóng đen đong đưa ở phía đông dần hiện ra thành một con ngựa và một kỵ sĩ, theo sau bởi những hình thù cao lớn, đồ sộ chạy nước kiệu bám theo, một đàn thú. Ánh trăng nhợt nhạt lấp lánh trên những lưỡi rìu và ngọn giáo. Rand không mảy may cho rằng đó là dân làng đến giúp. Chàng biết những kẻ đó là ai. Chàng có thể cảm nhận được chúng, như thể có đá sỏi lạo xạo trong xương tủy, thậm chí trước khi chúng tới đủ gần để ánh trăng soi tỏ cái áo trùm đầu của tay kị sĩ, một tấm áo bất động trước gió. Tất cả những hình thù đó hiện ra đen tối trong đêm, và tiếng vó ngựa của hắn cũng chẳng khác gì những con ngựa khác, nhưng Rand lại nhận ra con ngựa ấy.

    Phía sau tên kị sị đen là những thân hình kinh khủng với sừng, mõm thú và mũi khoằm, bọn Trolloc dàn thành hai hàng, nhịp bước, tiếng giày bót và móng guốc nện xuống mặt đất đều đặn như một. Rand đếm được hai mươi tên khi chúng đi qua. Chàng tự hỏi liệu có người nào thấy cả một đàn Trolloc thế này, hay thậm chí chỉ một tên, mà còn dám quay lưng bỏ chạy không.

    Hàng ngũ đó chạy lon ton ấy biến mất về phía tây, tiếng nhịp bước tan vào bóng tối, nhưng Rand vẫn còn đứng chết trân, toàn thân cứng đờ ngoại trừ hơi thở. Có cái gì đó bảo chàng chắc chắn, hoàn toàn chắc chắn rằng chúng đã đi xa, rồi chàng mới dám cử động. Cuối cùng chàng hít một hơi dài, duỗi thẳng người ra.

    Lần này con ngựa ấy không phát ra tiếng động nào. Trong sự im lặng kì quái đó tay kị sỹ đen quay lại, con ngựa bóng đêm của hắn lững thững từng bước chậm rãi bước trở lại trên con đường. Gió thốc mạnh hơn, xào xạc qua những tàn cây; tà áo của tay kị sĩ vẫn bất động. Con ngựa hễ khựng lại là tên kị sĩ đen có cái đầu trùm mũ dáo dác nhìn vào trong rừng, tìm kiếm. Cuối cùng con ngựa dừng lại ngay trước mặt Rand, cái khoảng không tăm tối bên trong chiếc mũ trùm dõi thẳng vào chỗ chàng đang nằm sấp trên cha mình.

    Bàn tay Rand xiết chặt đốc kiếm. Cái nhìn ấy không khác gì cái nhìn sáng nọ, chất chừa đầy thù ghét, khiến chàng rùng mình dù không trông thấy mặt gã. Cứ như thể cái tên trùm tấm áo ấy căm ghét tất cả mọi người, mọi thứ có sự sống. Gió lạnh, nhưng mồ hôi vẫn chảy ròng trên mặt Rand.

    Rồi con ngựa bước đi, không phát ra tiếng động, cho tới khi Rand chỉ còn thấy một cái bóng mờ nhạt trong đêm phía xa trên con đường. Đó có thể là bất cứ thứ gì, nhưng chàng vẫn không rời mắt khỏi thứ đó, chỉ sợ nếu để mất thì lần sau trông thấy nó thì nó đã ở ngay trước mặt.

    Đột nhiên cái bóng quay phắt lại, im lặng phóng lướt qua chàng. Tay kị sĩ nhìn chằm chằm về phía trước khi phóng ngựa về phía tây trong đêm tối, về hướng Dãy Núi Mù Sương. Về hướng trang trại.

    Rand cúi thấp người, hít sâu một hơi, lấy tay áo quẹt mồ hôi lạnh khỏi mặt. Chàng không còn quan tâm chút nào tại sao bọn Trolloc lại đến. Thà rằng đừng bao giờ biết còn hơn, cứ xem như mọi thứ chấm dứt rồi đi.

    Chàng rùng mình lấy lại tỉnh táo, vội vã xem cha thế nào. Tam vẫn còn rên rỉ, nhưng yếu lắm Rand không nghe ra gì cả. Chàng thử cho ông uống nước, nhưng lại trào ra cằm. Tam ho lên vì chết sặc, rồi lại rên rỉ như chẳng có gì xảy ra.

    Rand thấm thêm nước vào tấm vải trên trán Tam, đặt bị nước trở lại cái ổ, rồi lại chui vào giữa hai cái càng, gồng mình cõng cha đi.

    Chàng khởi hành như thể vừa thức dậy sau giấc ngủ ngon, nhưng chút sức lực đó không duy trì được lâu. Lúc đầu nỗi sợ hãi còn lấn át sự mệt mỏi, giờ thì sợ hãi vẫn còn nhưng chẳng lấn át được gì nữa.

    Chàng hình dung ra làng Emond’Field trong đầu mình, những cửa chớp mở toang và nhà nhà sáng đèn vui Đêm Đông, dân chúng lớn tiếng chào hỏi nhau khi ghé thăm các nhà, tiếng vĩ cầm văng vẳng đường phố tấu những bài như “Nàng Folly của chàng Jaem” và “Heron tung cánh bay.” Ông Haral Luhhan – như thường lệ - hẳn sẽ ngất ngưởng bởi rượu brandy rồi ca bài “Chàng là gió em là cát” bằng thứ giọng như bò rống, cho tới khi bị vợ bịt miệng lại mới thôi. Còn ông Cenn Buie nhất định sẽ chứng minh rằng mình vẫn còn khiêu vũ tốt chán như ngày nào, và thằng Mat thì sẽ bày ra những trò phá phách vốn chẳng bao giờ xảy ra theo như dự tính. Chàng gần như mỉm cười khi nghĩ ngợi thế.

    Cứ một chập thì Tam lại lên tiếng

    “Loài cây Avendesora. Người ta nói nó không sinh hạt, nhưng chúng mang về Cairhien một mảnh cắt, một cây non, làm cống phẩm dâng cho Đức Vua.” Tuy giọng ông nghe giận dữ, nhưng lè nhè Rand không hiểu được. Nếu ai có nghe thấy gì thì cũng chỉ là những tiếng soàn soạt kéo lê trên mặt đất. Rand cứ đi tiếp, lơ đi không nghe. “Bọn chúng đời nào lại xây dựng hòa bình. Không đời nào, thế mà bày đặt mang đến một cây non, làm như biểu trưng cho hòa bình. Cái cây đã ngót trăm tuổi. Một trăm năm hòa bình với những kẻ không chung sống hòa bình với người lạ. Sao hắn lại chặt hạ cái cây? Tại sao? Máu là giá phải trả cho cây Avendoraldera đó. Giá máu cho sự kiêu ngạo của tên Laman.” Rồi ông lại rơi vào im lặng.

    Rand mệt mỏi thắc mắc không biết cha đang nói mớ cái gì. Avendesora. Cây Sự Sống được cho là mang đầy phép màu nhiệm, nhưng chưa hề nghe trong truyện nào có nhắc tới một cây con của nó, cũng như chẳng có“chúng” nào cả. Chỉ có một cây thôi, và nó thuộc về Người Da Xanh.

    Chàng thấy thật vớ vẫn khi nghĩ viễn vông về Người Da Xanh và Cây Sự Sống, chúng rõ là chỉ có trong truyện thôi. Bọn Trolloc mới thật là vấn đề sáng nay. Có thể tất cả mọi câu chuyện đều thật như những tin tức mà cánh bán hàng rong và bọn thương buôn mang đến, gồm luôn chuyện của người hát rong và hết thảy những chuyện kể đêm khuya bên bếp lửa. Sắp tới có khi chằng gặp Người Da Xanh thật, hoặc một người Ogier khổng lồ, hoặc là người Aielman hoang dã cũng nên.

    Tam lại nói, chàng nhận ra, thỉnh thoảng chỉ là những tiếng rên rỉ, có khi lại nghe rõ mồn một. Cứ chốc chốc ông lại dừng để lấy hơi rồi lại nói tiếp ấy thế mà Rand tưởng như ông cứ nói luôn không nghỉ. “… chiến trường luôn hừng hực dù giữa tuyết rơi, mồ hôi, máu đều tỏa hơi nóng. Chỉ có cái chết là lạnh giá. Sườn núi… nơi duy nhất không chất đầy xác chết. Phải tránh xa cái mùi ấy… cảnh tượng ấy… tiếng trẻ con kêu gào. Có khi mẹ chúng chiến đấu bên cạnh những người đàn ông, nhưng họ sinh ra chúng làm gì, ta không… sinh con ra trong cô độc, trước khi bà ấy chết do vết thương… cuốn lấy đứa trẻ trong áo choàng, nhưng con gió… cuốn tấm áo đi… đứa bé, tái xanh vì lạnh. Chắc nó chết… tiếng khóc lóc. Tiếng khóc trong tuyết rơi. Ta sao có thể bỏ rơi đứa bé… vợ chồng ta không có con… luôn biết rằng em muốn có con lắm. Ta biết em sẽ đón nhận nó bằng cả tấm lòng, Kari. Phải, em yêu ơi! Rand là một cái tên hay đấy.”

    Chân Rand đột nhiên chùng xuống. Tam nấc lên một cái, và hai sợi dây đeo xiết lên vai Rand, nhưng chàng chẳng còn để ý tới nữa. Dù có tên Trolloc nhảy xổ tới trước mặt có lẽ chàng cũng chỉ nhìn nó chằm chằm mà thôi. Chàng ngoái nhìn Tam qua vai, ông lại chìm vào trong những tiếng rên vô nghĩa. Nói mớ ư, chàng đâm ra hồ đồ. Những cơn sốt luôn làm người ta gặp ác mộng, và đây là một đêm ác mộng mà chẳng cần đến cơn sốt.

    “Cha là cha của con,” chàng nói lớn, với tay ra sau chạm vào Tam, “và con là…” Cơn sốt thật tồi tệ, quá sức tồi tệ.

    Chàng bực bội giộng bước chân. Tam đang lải nhải cái gì đó, nhưng Rand không muốn nghe thêm nữa. Xốc cái sức nặng phía sau lên một cái, chàng cố tập trung vào bước chân, hòng tới Emond’s Field cho an toàn. Nhưng chàng không thể ngăn những tiếng vọng cứ vang dội trong đầu óc mình. Ông ấy là cha của mình. Rõ là ông chỉ nói mớ thôi. Ông ấy là cha mình. Ôi Sự Sáng, con là ai đây?
     

Chia sẻ trang này