Bóng anh hùng quyển đầu: Biên cương - Cập nhật - Banhmitrung

Thảo luận trong 'Truyện dài' bắt đầu bởi Banhmitrung, 26/1/16.

  1. Banhmitrung

    Banhmitrung Gà tích cực Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    174
    Được thích:
    586
    Đã thích:
    151
    GSP:
    0p
    Tên truyện: Bóng anh hùng quyển đầu: Biên cương
    Tình trạng sáng tác: Đang chỉnh sửa
    Thể loại: Dã sử, vũ hiệp

    [​IMG]

    Lời đầu về nội dung:

    Học giả Trần Trọng Kim đã đúc kết trong quyển Việt Nam sử lược: Lê Long Đĩnh là người bạo ngược, tính hay chém giết, ác bằng Kiệt, Trụ ngày xưa.

    Ngay cả trong những tài liệu sách giáo khoa chúng tôi được học khi ở bậc phổ thông cũng đều gọi Lê Long Đĩnh là vị hôn quân, hoang dâm vô độ, thụy hiệu (hiệu xưng sau khi vua chết) là Ngọa Triều (do ông bị bệnh trĩ không thể ngồi thiết triều được, chỉ có thể nằm).

    Thế nhưng sau khi tình cờ tìm được một số tài liệu về triều đại của vì vua cuối cùng của nhà Tiền Lê này, tôi lại cảm thấy sao có quá nhiều mâu thuẫn so với những gì mình đã biết. Vỏn vẹn trong bốn năm trị vì, Lê Long Đĩnh sáu lần đánh dẹp nội chiến trong nước, xây dựng thành công chính quyền trung ương tập quyền, cải tạo thể chế triều đình học theo đường lối của triều Tống ở phương Bắc, mở rộng phạm vi nghiên cứu Phật giáo, thiết lập mối giao thương với nước ngoài, đào kênh lấp đường, đặt nền móng văn hóa sơ khởi cho nước ta.

    Những thành tựu của ông trong Đại Việt sử lược đều có ghi lại, chẳng hạn như việc sửa lại thể chế triều đình, bá quan văn võ năm 1007. Hoặc như Đại Việt sử ký toàn thư cũng có ghi chép việc ông đề nghị đặt chợ mua bán giao thương ở Ung Châu, nhưng bị nhà Tống từ chối. Thậm chí những việc như sửa cầu xây đường, dù phần nhiều để tiện việc hành quân nhưng cũng không thể phủ nhận lợi ích của nó cho dân chúng, thì các sách Đại Việt sử lược tiền biên, sử ký đều có ghi chép rõ ràng.

    Thế nhưng chẳng hiểu vì sao cả ba cuốn sách lịch sử chính thống của nước ta sau đó đều thống nhất ghi rằng Lê Long Đĩnh tàn ác bạo ngược, cuối cùng chết vì hoang dâm vô độ, bị xưng thụy hiệu nhục nhã là Ngọa Triều.

    Đó là riêng về lịch sử.

    Trong lược sử Phật Giáo Việt Nam có ghi chép rõ cột mốc vủa Long Đĩnh sai sứ sang Trung Quốc thỉnh về hai bộ Cửu Kinh và Đại Tạng Kinh. Đây là hai bộ kinh văn bao gồm tất cả nền tảng văn minh Trung Hoa và bảo vật vô giá của Phật giáo, lần đầu tiên có mặt tại nước ta. Ấy vậy mà để gièm pha Long Đĩnh, người đời cho rằng ông chẻ mía trên đầu nhà sư, cố tình lỡ tay để chảy máu rồi cười ha hả, thật là một hôn quân vậy.

    Thử hỏi một vì vua nhiều lần đích thân đánh đông dẹp bắc, gần như năm nào cũng xuất chinh, có năm xuất chinh hai lần, lại có thể bệnh tật đến mức không ngồi thiết triều được. Mà hầu như bất kỳ vị vua nào bị chú định phải mang tiếng xấu trong dòng lịch sử thì đều gắn liền với hoang dâm vô độ. Kiến thức y học của tôi non nớt, không hiểu vì sao tính hoang dâm lại bị trĩ, mà vô độ lại còn có thể cầm quân đánh nhau khắp nơi. Bí ẩn thay.

    Sách sử chép rằng đêm Lê Long Đĩnh giết anh cướp ngôi, điện tiền chỉ huy khi đó là Lý Công Uẩn ngồi ôm xác vua khóc rống lên. Long Đĩnh thấy vậy liền cho rằng đây là kẻ nhân nghĩa, nhất mực trọng dụng. Về sau nhân cơ hội Long Đĩnh bệnh tật, Lý Công Uẩn lén trộn độc vào thức ăn giết chết. Nhà Lý lên ngôi, vua căm ghét Long Đĩnh bạo ngược liền phong tặng thụy hiệu Ngọa Triều. Tôi đọc đoạn này, quả thật không khỏi phì cười. Chuyện giang sơn có lý nào lại như trò đùa con trẻ như thế?

    Tôi không có ý định viết một tác phẩm lịch sử, cũng không có khả năng lật lại lịch sử, nhưng tự dưng cảm thấy rất đồng cảm với Lê Long Đĩnh, cũng không biết vì sao. Có lẽ vì cảm thấy ông dường như rất đúng với câu: một mình mang sai lầm thiên cổ, lạnh lùng tự tiêu dao. Đó cũng là lý do Bóng Anh Hùng, một tác phẩm dã sử ra đời.

    Bóng Anh Hùng đã định sẵn có ba phần.

    Phần đầu tiên: Biên Cương, lấy mốc thời gian năm Cảnh Thụy thứ hai (1009), là năm Lê Long Đĩnh băng hà, triều Tống phương Bắc vừa mới hồi sức sau trận chiến bại năm 981 lại bắt đầu ngo ngoe chỉa giáo về phương Nam, mở ra các cuộc chiến tranh biên giới nhỏ lẻ. Đây cũng là năm Lý Công Uẩn lên ngôi, nhà Tiền Lê được kế tục bởi nhà Lý.

    Phần đầu này đã được hoàn thành năm 2009 và dự thi Kim Bút, chỉnh sửa lần đầu tiên năm 2014 và lần thứ 2 năm 2015. Phần chỉnh sửa khoảng 2 vạn chữ, làm rõ hơn về mục đích của truyện cùng các chi tiết về triều đình hai nhà Tiền Lê - Lý. Mời các bạn đọc và góp ý thêm những chỗ thiếu sót, xin cảm ơn.

    Mục lục:

    Chương 00 - 01
    Chương 02
    Chương 03
    Chương 04 (a)
    Chương 04 (b)
    Chương 05 (a)
    Chương 05 (b)

    Chương 06 (a)
     
    Chỉnh sửa cuối: 29/10/16
    Ai_Sherry, Hà Thái, Vọng1 người khác thích bài này.
  2. Hà Thái

    Hà Thái Gà cận Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    411
    Được thích:
    468
    Đã thích:
    514
    GSP:
    0p
    Trời! Tôi thích ông này lắm. Hồi phim Huyền sử thiên đô cũng xây dựng ông này rất chính trực, oai hùng.
    Ủng hộ truyện này của bạn. Đọc đủ chục chương nhất định sẽ viết review. (Review thế nào thì tùy chất lượng truyện. :D)
     
    Banhmitrung thích bài này.
  3. Banhmitrung

    Banhmitrung Gà tích cực Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    174
    Được thích:
    586
    Đã thích:
    151
    GSP:
    0p
    00. Lời dẫn

    Đó là một năm đầy biến động. Đức Phó Vương (*) nối ngôi chưa được bao lâu thì dân chúng đã chứng kiến thêm một trận tranh giành hoàng vị gió tanh mưa máu. Triều đình khi ấy chia năm xẻ bảy thành mấy phe mấy phái, các phiên vương hoàng tử dẫn theo tư quân xung đột chém giết khắp nơi. Đại Cồ Việt trở thành mảnh đất vô chủ trong suốt tám tháng ròng rã.

    Ấy vậy mà đức Trung Tông (*) vừa đăng cơ được ba ngày đã chết bất đắc kỳ tử ngay trong cung cấm. Giữa tiếng bàn tán của triều đình về tội “thí huynh”, Khai Minh Vương thượng vị, tự xưng Quang Hiếu hoàng đế (*).

    Vị tân hoàng này ra tay quả thật tàn nhẫn quyết liệt. Từng đội Tứ Sương quân tỏa đi khắp nơi trong kinh thành Hoa Lư, hễ nghe thấy ai bàn tán phong thanh gì về hoàng đế thì đều tống vào ngục Cấm Vị chờ ngày luận tội. Cả những vị cao tăng vốn đức duyên thâm hậu cũng không tránh thoát được mấy cuộc lùng sục bắt bớ này. Cũng may đức Thống lĩnh quân Tứ Sương khi đó là Công Uẩn, vốn có cảm tình với bọn học trò và giới tăng sư nên đối xử với tù phạm có phần nương nhẹ nhiều.

    Vừa lên ghế rồng chưa được bao lâu vua đã lại hạ chỉ cho quan Chi hậu họ Đào tận thu quân lương, đích thân ngự giá đánh dẹp phiên vương bốn phương. Trong nhất thời chướng khí nổi lên mù mịt khắp cả đất nước vốn đang hồi biến động.

    Mãi đến bốn năm sau, Quang Hiếu hoàng đế không biết bị bệnh tật gì, nghe nói sau khi chinh phạt đất Hoan, Đường trở về thì nằm liệt giường không dậy nổi. Dân gian râm ran đồn thổi rằng vị con trời ấy hiếu sát thành tính, dẫn đến sự phẫn nộ của trời đất, sắp phải quay về thiên đình chịu tội rồi. Dân chúng kinh thành khi ấy trở nên thu liễm rất nhiều, hồi hộp chờ đợi một cuộc chuyển dời triều đại sắp bắt đầu, trong lòng bọn họ lúc này chỉ cầu mong một điều rằng: Xin đừng để máu đỏ lại nhuộm ghế vàng.
    -------------------------------------------------------------------------

    (*) Đức Phó Vương: Chức vụ của Lê Hoàn (Lê Đại Hành) trước khi lên ngôi hoàng đế. Ông là vị vua sáng lập triều đại nhà Tiền Lê kéo dài hai mươi chín năm.

    (*) Trung Tông hoàng đế: Lê Long Việt, anh trai Lê Long Đĩnh. Kế thừa ngôi vị của Lê Đại Hành được ba ngày thì bị mưu sát. Sử sách chép rằng ông bị chính em trai là Lê Long Đĩnh giết.

    (*) Quang Hiếu hoàng đế: Lê Long Đĩnh, vị vua nổi danh tàn bạo nhà Tiền Lê, bị sử sách đặt cho cái tên Lê Ngọa Triều. Trị vì trong bốn năm, là vị hoàng đế cuối cùng nhà Tiền Lê.

    01. Đế vương chí

    Đêm đã khuya, ánh trăng trong trẻo bàng bạc, tựa như một tấm lụa mỏng ôm ấp lấy kinh thành Hoa Lư. Trời đầu thu không một ngọn gió, cả đế đô chìm trong sự im lặng tĩnh mịch thâm trầm, chỉ thi thoảng bị phá vỡ bởi tiếng mõ cầm canh.

    Trong màn đêm thăm thẳm ấy, ngọn đèn Khai Minh ở nội cung hoàng đế vẫn đang tỏa sáng rực rỡ. Đã nửa tháng từ khi ngài trở về từ cuộc chinh phạt đất Hoan, ngọn đèn ấy vẫn chưa hề lụi tắt, ngày cũng như đêm. Đám cấm quân Tùy Long canh giữ trong nội điện bị kỷ luật quân đội sắt thép ước thúc, tịnh không dám phát ra một tiếng động nào trong lúc tuần tra, thế nhưng mỗi khi đi qua trước ngọn đèn ấy đều không kìm được phải thoáng ngước nhìn. Theo đúng quy củ triều đình, khi đèn Khai Minh còn sáng thì có nghĩa là hoàng đế vẫn còn làm việc. Thế nhưng trong lúc này ngọn đèn ấy lại đại biểu cho tánh mạng của vị chí tôn đang ở trong nội điện kia.

    Đèn chưa tắt, nghĩa là hoàng đế chưa băng hà.

    Hiện nay ngoài đám quan nội thị và vị quý phi được hoàng thượng sủng ái nhất thì chỉ có duy nhất quan Tả thân vệ Lý Công Uẩn là được tự do ra vào nội điện. Theo như lời vị nội thị chuyên lo việc cơm nước hằng ngày cho hoàng đế thì sức khỏe ngài đã yếu lắm rồi, mỗi ngày chỉ ăn được lưng bát cháo, sắc mặt vàng võ đến nỗi hai má hóp lại thấy tận xương. Thậm chí bây giờ ngay cả việc ngồi thẳng lưng cũng hết sức khó khăn và hầu như phải nằm nghiêng để phê duyệt chỉ dụ.

    Mấy đội thân vệ thay nhau tuần tra nội điện ấy, không một ai không thầm cầu khẩn trời đất phù hộ cho ngọn đèn Khai Minh kia mãi mãi không bao giờ tắt.

    Dân gian gọi ngài là ác đế giết anh đoạt ngôi, giới sĩ phu rêu rao ngài lấy lạm sát làm oai, lấy khổ hình làm vui, không chuyện tàn nhẫn gì mà không làm. Những lời nói ấy đi khắp đất nước, khắc họa thành chân dung một vị hoàng đế ngang tàng bạo ngược. Sức mạnh của ngôn luận bao đời nay vẫn đáng sợ như thế.

    Thế nhưng bốn đạo Tùy Long quân, tám đạo Tứ Sương quân vẫn một mực giữ vững lòng trung thành. Bốn năm chinh chiến từ nam ra bắc, ăn gió nằm sương cùng quân vương, đã tạo nên niềm tin bất diệt với đức vua của họ. Niềm tin ấy, thứ được viết bằng máu đỏ, không phải bằng vào mấy lời chót lưỡi đầu môi là có thể thay đổi được.

    Các đại thần nội chính, các vương hầu thân gia có đe dọa chèn ép đến thế nào, có lôi kéo dụ dỗ đến thế nào, thì ngay cả một tên hiệu úy nhỏ xíu như hạt mè hạt đậu vẫn ngang nhiên đáp trả rằng: Quân đội là của vua.

    ooo
    Ánh trăng rải vào khung cửa sổ, chỉ có thể chiếu sáng nửa căn nội điện, hương hoa thơm ngát ngoài sân, lại tràn ngập cả căn phòng. Hoàng đế thích mùi lan ngọc, trong phòng ngài lúc nào cũng phải đặt một giò hoa, kể cả là khi hạ chỉ giết sạch cả nhà quan thủ phụ, hay điều quân bình định người anh em đang nổi loạn phía tây nam.

    Người thanh niên khoác trên mình một tấm áo choàng màu dụ thêu rồng, đang ngồi lặng lẽ trong nội điện, trước một tấm sa đồ rộng lớn. Tấm áo choàng này do chính tay quý phi Hoàng Lan may tặng đức vua, vốn rất đỗi vừa vặn với vóc người cao lớn của ngài, thế mà giờ đây rũ xuống bùng nhùng, khiến cho thân hình vốn đã còm cõi ấy lại càng lộ ra vẻ mệt nhọc suy kiệt rõ ràng hơn.

    Ánh trắng ánh trên mái tóc đen mun, vuốt ve gương mặt trắng muốt như ngọc tạc của người con gái ngồi chếch phía sau hoàng thượng. Mày nhạt núi xa, mắt huyền vương sương, khóe miệng hơi vểnh lên, dù nét mặt có phần mệt mỏi nhưng vẫn không làm mất đi vẻ đẹp quốc sắc của vị quý phi họ Hoàng. Có điều tuy đã cố giữ dáng vẻ thật bình tĩnh cho phù hợp với thân phận, thế nhưng hai bàn tay khẽ run đã tố cáo tâm trạng đang xao động của nàng.

    Mấy ngày theo sát bên hoàng thượng không rời, nàng biết rằng bệnh tình của ngài đã nguy kịch đến mức nào, đến nỗi ngay cả việc ngồi dậy cũng quá đỗi khó khăn. Ấy vậy mà lúc nãy khi hoàng thượng ra hiệu cho nàng đỡ ngài đến bên bàn, nàng có thể cảm nhận được có một luồng sức mạnh bùng nổ trong thân hình gầy yếu đó, mạnh mẽ đến mức tưởng như nàng có thể nghe thấy nó đang rần rật chảy trong từng đường huyết mạch. Ánh mắt vốn đã mờ đục của ngài bỗng dưng sáng lên một thứ ánh sáng kỳ dị, hừng hực lấp lánh, tựa như ngọn đèn Khai Minh đang bùng cháy ngoài hiên kia vậy.

    Biết chút tri thức y lý, trong lòng nàng lúc này chỉ có một ý nghĩ: Hồi quang phản chiếu.

    Thế nhưng kể từ khi đỡ hoàng thượng ngồi dậy, ngài chưa từng nhìn nàng lấy một lần. Bàn tay ngài khi vịn vào cánh tay nàng, lạnh đến ghê người. Lạnh đến se tim xé phổi, tựa như những cơn gió gầm thét quanh năm suốt tháng nơi quê nàng. Hoàng Lan bỗng cảm thấy một nỗi tủi thân không tên dâng lên, ép một dòng nước mắt lăn dài, tựa như trân châu rơi trên chiếu vàng. Nàng cúi đầu, cố gắng kềm nén tiếng nấc nghẹn trong lòng.

    Hoàng thượng vẫn ngồi đó, kề bên mà xa cách nghìn trùng, đem hết tâm sức còn sót lại của mình nhìn vào tấm sa đồ trước mặt.

    Bên trên tấm sa đồ ấy cắm chi chít những lá cờ nhỏ màu đỏ xanh. Nếu là kẻ thông thạo quân sự, ắt chỉ cần liếc qua là sẽ nhận ra ngay địa hình vùng đông bắc Đại Cồ Việt, bao gồm cả lộ Bắc Giang và đạo Quảng Nguyên, vùng chồng lấn tranh chấp bao nhiêu năm nay giữa người Việt và người Nùng. Xa hơn về phía bắc là một vùng xám xịt, vùng đất Quảng Nam Tây Lộ của nhà Tống.

    Nơi đó là tâm nguyện, là chí hướng, là nỗi niềm đau đáu hai mươi mấy năm của ba vị hoàng đế. Thế nhưng có lẽ đời này của ngài, vẫn không thể hoàn thành mộng ước đó.

    ooo​

    - Truyền, Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ vào nội điện.

    Lý Công Uẩn vốn túc trực suốt ngày đêm ngoài chánh điện, khi đang ngẩng mặt ngắm nhìn vầng trăng bạc treo trên mái lầu cong vút thì nghe thấy tiếng quan nội thị từ xa vọng tới. Bàn tay sắt đá từng trải trăm trận bất tri bất giác siết chặt chuôi kiếm lễ, vị tướng quân trạc ngoài ba mươi ứng giọng một tiếng, vội vã sải bước vào trong. Đây không phải lần đầu hoàng thượng truyền gặp ông vào ban đêm, thế nhưng không hiểu vì sao lần này trong lòng ông lại cảm thấy bồi hồi lo lắng một cách vô cớ. Nỗi lo này khiến ông bỏ qua lễ nghĩa, đi như chạy, bỏ tên quan nội thị vừa truyền lệnh lại sau lưng.

    Khi Công Uẩn bước vào nội điện, gần như trong một thoáng ông tưởng như mình trông thấy hình ảnh của người bạn vong niên ngày xưa. Thứ khí thế ngạo nghễ nắm gọn cả non sông, bao quát cả thiên hạ khi y sải bước trên thảm vàng giữa đại điện, giữa ánh mắt của văn võ bá quan, tựa như đang quay trở lại.

    Lê Long Đĩnh nhìn vị tướng quân đang ở độ tuổi sung sức nhất của một người đàn ông, ánh mắt thoáng hiện lên một tia nuối tiếc. Trời đã không cho ngài sức khỏe, không cho ngài cơ hội để chống đỡ đất nước đang hồi rối ren này nữa rồi. Ngài không sợ lẽ sinh tử, chỉ cảm thấy tiếc nuối vì chẳng thể bước hết một đoạn hùng tâm của mình. Ngài vươn tay, khẽ nói:

    - Ngồi đi.

    Giờ phút này trong nội điện chỉ có ba người bọn họ, đám quan nội thị đã sớm bị hoàng thượng nghiêm lệnh phải tránh xa cửa phòng từ lúc ban chiều rồi. Quý phi Hoàng Lan đứng dậy, khẽ kéo ghế mời vị chỉ huy sứ ngồi, rồi dợm bước ra ngoài. Sống trong cung cấm từ thuở thiếu niên, nàng sớm biết Long Đĩnh vô cùng chán ghét tình trạng nội cung dám xen vào việc triều chính. Ấy vậy mà khi cúi người thi lễ, một bàn tay lạnh giá đã vươn ra, nắm chặt lấy tay nàng. Người đàn ông ấy vẫn ngang ngược mà ấm áp như vậy, khẽ kéo nàng dựa vào người y. Giọng ngài hơi khàn, chậm rãi:

    - Công Uẩn, hôm nay, trong căn phòng này, không có vua tôi. Thời gian không còn nhiều nữa, ta muốn nhờ ông ba việc.

    Ngập ngừng một chút, ngài lại nói:

    - Không, là trao đổi.

    Lý Công Uẩn nghe thế thì giật mình, vừa ngồi xuống đã bật dậy, thế nhưng chưa kịp đáp trả thì Long Đĩnh đã khoát tay, nói tiếp:

    - Đừng ngắt lời ta. Ta biết ông là người trọng tình nghĩa, thế nhưng ta trao đổi, không phải với người bạn năm xưa mà là những thế lực phía sau ông. Cả hai chúng ta đều đã trưởng thành, không phải lúc nào cũng có thể vì nghĩa quên thân như ngày thiếu niên nữa.

    Dứt lời, Long Đĩnh vươn tay, đặt lên bàn một bọc lụa gấm vàng. Đó là thứ mà Công Uẩn nhìn thấy nhiều nhất trong mấy ngày hôm nay, khi hoàng thượng phê duyệt tấu chương, ngọc tỷ truyền quốc. Kèm theo đó là một mặt hổ phù bằng ngọc trắng, rực sáng trong màn đêm. Tấm hổ phù này dùng để điều động mười hai đạo Thiên tử quân, thấy phù như thấy vua.

    - Ngọc tỷ là thứ mà bọn họ muốn. Hổ phù là thứ ta trao lại cho ông. Ta đã cho điều Cam Mộc trở lại đế đô, hẳn ông đã biết. Sáu đạo vương phủ quân hàng phục và binh lệnh đều đã đưa đến doanh trại của ông ta. Chỉ cần giao ngọc tỷ cho đại sư Vạn Hạnh cất giữ thì không một phiên vương hay đại thần nào trong triều có thể ngăn cản bước tiến của họ nữa. Điều thứ nhất ta muốn ông làm là hãy bảo vệ cấm vệ quân, đừng mài cùn đi nanh vuốt con hổ này. Kể từ ngày mai họ không còn là Thiên tử quân nữa, nhưng hãy cho họ được chết trên chiến trường, chứ không phải trong ngục Cấm Vị.

    Lý Công Uẩn lặng im, không đáp lời, cũng không nhận lấy ngọc tỷ và hổ phù. Lê Long Đĩnh dường như cũng không hề chờ đợi câu trả lời rõ ràng nào từ vị tướng quân trước mặt, rút từ trong ngực áo ra một tờ giấy gấp đặt cạnh túi gấm vàng.

    - Điều thứ hai khá dài dòng, ta đã ghi lại trong giấy này, chờ đến sáng mai ông mở ra sẽ rõ ràng tất cả.

    “Điều thứ ba” – Long Đĩnh ngừng lại một chút, quay sang nhìn Hoàng Lan – “Điều thứ ba, hãy giúp ta đưa nàng ấy ra khỏi cung”.

    Hoàng quý phi giật mình, ngẩng phắt đầu lên nhìn Long Đĩnh:

    - Hoàng thượng.

    Vị quân vương tiều tụy trước mắt nàng khẽ mỉm cười, tay phải vẫn nắm chặt tay nàng, tay trái đưa lên nhẹ nhàng chùi đi vệt nước mắt trên gương mặt nàng:

    - Lan, mấy năm nay cực khổ cho nàng nhiều. Không phải ta không biết, nhưng ta là hoàng đế. Đừng giận ta, cũng đừng vì ta mà chôn thân trong chốn cung đình này nữa. Nơi nàng thuộc về là thế giới ngoài kia, là nơi chốn thỏa sức tự do. Nhớ về ta, đem theo mấy giò lan trong phòng này là đủ.

    Vỗ vỗ vào mái tóc đen huyền của người con gái đang sa lệ như mưa, Long Đĩnh nói tiếp:

    - Sau này có tặng áo cho ai, thì nhớ học cách may nách áo cho kỹ vào. Cái áo này của nàng ta cử động mấy lần đã sút chỉ rồi, phải nhờ bọn nội thị vá lại đấy.

    Lúc này Lý Công Uẩn vốn đang ngồi yên bỗng đứng dậy, tiến lại gần Long Đĩnh. Vị hoàng đế ấy vẫn bình thản ôm lấy người phụ nữ của mình, ngước mắt nhìn viên tướng cấm vệ cao lớn. Ánh mắt ấy hào hùng và trầm tĩnh, tựa như đã nhìn thấu hết mọi lẽ xoay vần của đất trời. Hoàng quý phi trông thấy cử động của vị chỉ huy sứ, thốt nhiên cựa mình, mơ hồ có ý chắn giữa Long Đĩnh và Công Uẩn.

    Chỉ thấy Lý Công Uẩn khẽ cúi người, giọng nói nhỏ nhẹ mà kiên quyết:

    - Hoàng thượng. Cho đến khi thần gặp lại ngài thì Thiên tử quân sẽ mãi mãi là Thiên tử quân. Ngọc tỷ và hổ phù này, thần nhận, nhận cả sứ mệnh mà ngài đã trao cho thần. Mối nhục tê ngưu năm ấy (*), chúng ta sẽ hoàn trả lại đầy đủ cho bọn họ. Nhưng mà kế hoạch của đại sư và Cam Mộc vốn đã khởi động mấy năm qua, chỉ sợ là không thể dừng lại được.

    Long Đĩnh nghe thế thì phất tay, cười dài:

    - So với vận nước, thanh danh của một ông vua thì có đáng gì. Họ muốn làm gì thì cứ để họ làm thôi. Ông nhận lời vậy, với ta đã quá đủ rồi. Đến đây, đến đây ngồi cạnh ta. Lan, lấy chén ra đây, lấy cho cả nàng nữa. Đã mấy năm rồi ba người chúng ta không có dịp uống cùng nhau.

    Hoàng Lan cúi người rời đi, chỉ một thoáng sau đã đã đem đến ba chung rượu lớn bằng đồng. Rượu này là rượu ngự, ngoài đạo Hải Đông ra không có nơi nào làm được, hàng năm chỉ cống lên triều có mười mấy vò. Ba người bọn họ vốn quen nhau từ thuở thiếu niên, nàng biết rõ Long Đĩnh và Công Uẩn chỉ thích uống chung rượu lớn, mấy loại chén ngọc có kích cỡ theo quy củ triều đình đều bị họ chê là đồ vật tủn mủn, chẳng bao giờ động đến.

    ooo​

    Uống hết mấy chung rượu, Lý Công Uẩn xin phép lui ra ngoài nội điện. Nhìn khí sắc của hoàng thượng, ông biết rằng Long Đĩnh khó mà qua khỏi đêm nay. Ông muốn giành cho cặp vợ chồng hoàng tộc, vốn vì phép tắc cứng nhắc hàng ngày mà khó mở lòng với nhau, những giây phút riêng tư cuối cùng.

    Trời vẫn đứng gió. Trăng ngà đã giấu mình vào rặng mây, thứ ánh sáng trong trẻo ban đầu nay đã hóa thành lờ mờ lẩn quẩn. Rảo bước trong bầu không khí thoáng đãng buổi đêm làm cho Lý Tả vệ cảm thấy lòng mình thanh tĩnh hơn. Ngọc tỷ và hổ phù trĩu nặng trong ngực ông, thế nhưng không nặng bằng một phần vận mệnh của vương triều non trẻ mà ông đã nhận gánh trên vai. Kèm theo đó là một lời hứa ngàn cân, không phải giữa bậc vua tôi mà là với người bạn vong niên thuở xưa kia.

    Khi Công Uẩn ra đến thành ngoại Hoa Lư, thì trong màn đêm tối tăm ấy, vang vọng một tiếng kêu thê thiết như xé toạc cả đất trời:

    - Hoàng thượng băng hà.

    Lý tướng quân quỳ xuống, hướng về phía nội điện dập đầu chín lạy. Sương đêm se sắt, từ khóe mắt dãi dầu rơi xuống nền đất lạnh tanh.

    Ông cho tay vào ngực áo, lấy ra tờ giấy mà Long Đĩnh đã trao cho mình ban nãy, mượn nhờ ánh sáng lờ mờ mà đọc qua mấy chữ đầu:

    “Bình chương sự Trần Thành, an bài ở ngục Bình Điện”
    -------------------------------------------------------------------------

    (*) Năm 1007, dưới triều đại Quang Hiếu hoàng đế, Đại Tống muốn xuất binh đánh Đại Cồ Việt. Lúc đó đất nước ta vẫn còn loạn biên cương và các phiên vương vẫn chưa hàng phục. Quang Hiếu hoàng đế phải chịu nhục, cống nạp tê ngưu trắng cho nhà Tống để đổi lấy hòa bình tạm thời và nhận sắc phong.
     
    Chỉnh sửa cuối: 31/1/16
    Hà Tháiphongdu93 thích bài này.
  4. Hà Thái

    Hà Thái Gà cận Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    411
    Được thích:
    468
    Đã thích:
    514
    GSP:
    0p
    Có chỗ "bất tri bấc giác" -> bất giác?
    Bạn viết tốt đấy. Tôi tưởng truyện viết về cuộc đời Lê Long Đĩnh mà chương đầu đã chết ngỏm rồi? :(

    Với lại một chi tiết nữa. Thực ra tôi không rõ về lịch sử, nhưng tưởng thời Lê này vợ vua cho tất là hoàng hậu chứ không có phi? (Vì thấy Lê Hoàn có tận 5 bà hoàng hậu liền.) Hơ hơ vụ này không rõ lắm nha, thắc mắc vậy thôi, có gì tác giả thông cảm nha. :D
     
  5. Banhmitrung

    Banhmitrung Gà tích cực Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    174
    Được thích:
    586
    Đã thích:
    151
    GSP:
    0p
    Mình viết sai chính tả, cảm ơn bạn.

    Về vụ vợ vua, mình cũng không biết, Đại Việt sử lược không thấy nói, vì hầu như tư liệu về nhà Tiền Lê quá ít. Có điều nếu cho Hoàng quý phi thành hoàng hậu thì sau khi vua băng hà sẽ phải đặt hiệu, tìm hiểu tùm lum thứ, nên mình đơn giản hóa nó đi.

    Bóng anh hùng quyển 1 chỉ viết về cuộc chiến phản gián và biên giới giữa Đại Tống và Đại Cồ Việt sau khi nhà Tiền Lê sụp đổ. Đến quyển hai là Triều Dã mới quay ngược về thời thanh xuân và cuộc tranh giành ngôi vị hoàng đế của Lê Long Đĩnh. Cảm ơn bạn đã ủng hộ.
     
    Hà Thái thích bài này.
  6. Banhmitrung

    Banhmitrung Gà tích cực Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    174
    Được thích:
    586
    Đã thích:
    151
    GSP:
    0p
    02. Thần tử trì (*)

    Ngục Bình Điện.

    Là nhà ngục chỉ dùng để giam giữ các đại thần sa cơ nên nơi này không có cái không khí nặng mùi và ghê rợn như những nhà ngục khác. Tòa nhà này có mười tám phòng giam, tường cao chỉ bảy thước sơn tuyền một màu xám. Vào cuộc biến động triều chính hai mươi chín năm trước, tại đây có lúc đã giam đến ba mươi bảy vị quan đầu triều.

    Ngục Bình Điện chỉ có một cổng ra vào duy nhất, cao lớn mà rạng rỡ. Hai cánh cửa gỗ dày nặng sơn đỏ thếp vàng, bên trên chạm khắc tinh xảo, quả thật không có mấy khí khái trấn áp của ngục môn. Trước cửa ngục có bày sẵn các lệ bộ đầy đủ như chậu than hay bàn ăn cơm, bởi vì không ai dám chắc rằng vị tù phạm hôm nay còn ngồi trong ngục, ngày mai sẽ biến thành đại quan hay phải đi thẳng ra pháp trường.

    Bước ra khỏi cửa lớn của ngục Bình Điện, vốn chỉ có hai nơi đó để đi mà thôi.

    Thế nhưng không một ai trong số cai ngục Bình Điện tin tưởng rằng quan Bình chương sự Trần Thành(*) có thể trở về triều đình. Là người đứng đầu của các văn quan, cánh tay mặt của hoàng thượng, từng một thời quyền nghiêng triều dã, thế nhưng chỉ trong nửa tháng là đức ông họ Trần đã trở thành chướng ngại vật phải bị kéo đổ đầu tiên của phe cánh quan Chi hậu. Hoàng thượng ngã bệnh, thế lực của văn quan không đủ sức chống đỡ lại sự liên hợp của hai phe phái tăng sư và võ quan, nhanh chóng rã rời như giấy mỏng dưới mưa.

    Cho nên khi trông thấy ngôi sao sáng đương thời của giới võ tướng, quan Tả cấm vệ Lý Công Uẩn ghé qua lúc trời còn âm ám, lại chỉ đích danh căn phòng biệt lập đang giam giữ Trần Thành thì bọn cai ngục, vốn nhiều thời gian rảnh rỗi, liền cho ra cả trăm giả thuyết khác nhau.
    ooo​

    Phòng giam nhỏ ấy không quá tối, không quá bí bức ẩm thấp nhưng cũng chẳng thơm tho khô ráo gì. Thậm chí còn có một ngọn đèn nhỏ trên vách tường, một cái ghế trúc cùng vài cuốn sách tùy thân của quan Bình chương sự. Trước khi có chỉ dụ của hoàng thượng hoặc phe thắng cuộc truyền tới đây, thì không ai dám trở mặt với vị tù nhân danh tiếng lẫy lừng ấy.

    Khi quan Tả vệ bước vào thì viên trưởng ngục đã sớm đặt thêm một tấm sàn gỗ lớn vào phòng, thậm chí còn cẩn thận chuẩn bị thêm một lọ hương nghi ngút khói và một mâm trà nóng nhỏ, ngõ hầu làm át đi thứ mùi đặc hữu của trại giam. Hai vị quan đầu triều vốn đã nhiều lần gặp nhau, trên triều đình có, nơi phong nhã có, trong thư phòng có, trong nội điện đế đô có, thậm chí ngay trước ba quân giữa chiến trường cũng có, chỉ có chưa từng đối mặt trong một không gian chật hẹp đến nỗi không khí cơ hồ đặc quánh lại như thế này mà thôi.

    Xuyên qua làn sương khói lờ mờ, Trần Thành khẽ đặt quyển sách trên tay xuống, chăm chú nhìn vào ông bạn đồng liêu:

    - Ông đến đây, nghĩa là hoàng thượng đã mất rồi sao?

    Công Uẩn gật đầu:

    - Khuya hôm qua.

    Trần Thành khẽ thở dài một tiếng, sau đó đứng dậy, xếp chiếc ghế trúc đưa cho quan Tả vệ:

    - Phiền ông.

    Lại thu dọn mấy quyển sách nằm vương vãi dưới sàn, bày ra một khoảng trống nho nhỏ rồi quỳ xuống, hướng về phía đế đô dập đầu chín lạy. Đó là lễ tiết cuối cùng ông có thể bày ra dành cho vị chủ thượng cũng là học trò đắc ý nhất của mình.

    Chờ cho Trần Thành ngồi lại vào ghế trúc, Công Uẩn mới lấy tờ giấy trong ngực của mình ra, đưa cho vị cựu quan, chậm rãi nói:

    - Hôm qua hoàng thượng đã an bài cho tôi vài việc, những cái khác thì không có vấn đề gì, chỉ riêng việc của ông có chút khó khăn. Ông thấy đó, thả ông và tướng quân Hổ không phải là không được, thế nhưng để hai người về lộ Bắc Giang thì lại đi ngược với chính sách của đại sư. Quả thật lúc này chúng ta không nên có hiềm khích gì với người Nùng và người Tống, cho đến khi ổn định được cục diện triều đình. Quan Chi hậu cũng đồng tình với sách lược ấy, thậm chí ngay buổi chiều hôm qua bộ binh đã gửi công hàm rút lui một trăm dặm đến biên quân rồi.

    Trần Thành cũng không vội đọc tờ giấy trong tay, chỉ hỏi lại:

    - Vậy ý ông thế nào?

    Đương kim điện tiền chỉ huy sứ, người đang nắm giữ trong tay mười hai đạo Thiên tử quân, tám đạo Phiên vương quân, trầm ngâm sắp xếp câu chữ một chút, mới trả lời:

    - Ý tôi muốn đánh, Nùng Tồn Phúc là kẻ không đáng tin. Thế nhưng mật thám của ta trong triều Tống gửi tin về báo rằng hiện giờ bên nước họ cũng nhiều chuyện rối ren, quyết sách của họ trong tương lai là án binh bất động, hòa hiếu với các nước lân bang. Nếu chúng ta thật sự hưng binh với Tồn Phúc thì sợ rằng nhà Tống sẽ cảm thấy bất an mà phản ứng kịch liệt. Vì thế tôi có phần nghiêng về sách lược của đại sư và Cam Mộc.

    Trần Thành mỉm cười:

    - Công Uẩn, biên cương nhìn qua thì có vẻ bình yên, thế nhưng có những chuyển động nho nhỏ bên dưới mà có lẽ hệ thống mật thám quân đội chưa để ý. Tháng trước tôi đã tập hợp mấy tin tức này lại, thế nhưng chưa có dịp trình lên hoàng thượng.

    - Nguyện nghe.

    - Nùng Tồn Phúc muốn xưng đế.

    Tin tức này khiến Lý Công Uẩn nhíu mày, dã tâm của đất Nùng không phải là chuyện mới mẻ gì, thế nhưng xưng đế giữa hai bề kềm kẹp của Đại Cồ Việt và Tống, không khác gì đang tìm đường diệt vong. Thế nhưng ông vẫn im lặng, không muốn cắt lời của Trần Thành.

    - Hoàng thượng hồi đầu năm đã từng cho sứ sang nước Tống, đề nghị đặt ba chợ lớn ở các nơi dân cư đông đúc cho tiện việc trao đổi. Yêu cầu này bị triều Tống bác đi, chỉ công nhận một vài điểm trung chuyển hàng hóa nhỏ sát biên giới. Lý do chính là bởi tấu chương bác bỏ của trấn phủ Quảng Nam Tây Lộ dâng lên (Quảng Tây sau này, kể từ giờ về sau sẽ dùng chữ Quảng Tây để thay thế). Trong tấu chương có nói bọn thương buôn người Tống phản đối rất dữ, bởi vì nếu đặt chợ thì những chuyến hàng qua lại trên ba đất nước của họ sẽ bị ảnh hưởng nhiều.

    Kể từ đó đến nay đội buôn người Tống đi vào đất Nùng liên tục không dứt, theo tính toán thì số lượng nhiều gấp sáu lần lúc bình thường. Người của tôi trong trại Nùng vô tình phát hiện ra một chuyện bí mật. Thật ra nếu xét cho cùng thì chuyện này quả thật không đáng gì, thế nhưng cách hai bên che giấu nó đi lại cho tôi cảm giác không yên tâm. Vì thế tôi đã chỉ thị thủ hạ đào sâu hơn nữa xem có tìm được tin tức gì đáng giá hay không.

    Lý Công Uẩn hơi ngã người ra sau, lại càng lắng nghe chăm chú hơn. Ông biết đội thám báo dưới tay Trần Thành là đội ngũ tinh nhuệ nhất của Đại Cồ Việt, do chính tay vị văn quan này tuyển chọn và bồi dưỡng. So với hệ thống thám báo của quân đội mà ông đang nắm trong tay thì tuy bọn họ ít hơn về lượng nhưng lại vượt trội hơn hẳn chất. Chính vì thế họ có khả năng tìm hiểu được những tin tức mà quân đội ở biên giới không thể nắm được.

    - Hơn tám tháng trước, một đội buôn người Tống xuất phát từ Quảng Tây đã vào trại Nùng. Đoàn buôn bọn họ lúc vào có mười tám người, lúc trở về tuy vẫn đủ mười tám người nhưng mật thám của ta tình cờ phát hiện họ đã dùng một thành viên trong đoàn để đổi lấy một người trong trại Nùng. Trước tiên nói về người ở lại, đó là một cô em họ xa đằng vợ của tri châu Quảng Tây, hiện giờ đang là vợ thứ bảy của Tồn Phúc. Người theo đoàn buôn trở về đất Tống là con gái của y, sau khi về đến Quảng Tây đã được gả vào nhà của con trai thứ ba của tri châu làm thiếp.

    Lúc nhận được tin tức này tôi cảm thấy có chút kỳ lạ. Thông hôn để giữ hòa hiếu không phải là chuyện cần phải giấu kín gì, dù sao đất Nùng muốn tồn tại giữa Tống và Việt thì bắt buộc phải thân cận với cả hai bên. Thế nhưng vì sao họ lại tiến hành rất bí mật, không muốn kẻ bên ngoài biết. Khi ấy tôi có ngờ rằng đây là một lời cam kết giữa đôi bên và việc trao đổi thân thích này giống như đang đặt con tin cho đối phương. Khi người của ta tiếp tục đào sâu hơn nữa thì phát hiện ra trong vòng bốn năm trở lại đây, tức là khi bắt đầu diễn ra biến cố trên triều ta, đất Nùng đã lén lút đưa mười mấy thanh thiếu niên tài trí vào đất Tống, theo học trường người Tống và rèn luyện trong các doanh trại binh Tống.

    Công Uẩn nghe tới đó thì gõ ngón tay xuống sàn trúc:

    - Bọn họ đang đào tạo lực lượng kế thừa. Tuy nhiên áp vào tính cách quật cường của Tồn Phúc, việc y muốn bộ tộc mình phát triển cũng không lấy gì lạ.

    - Tôi biết, thế nên việc này thủy chung vẫn chỉ ở mức theo dõi, chưa hề được trình lên hoàng thượng. Mãi đến đầu mùa thu năm nay, phía Quảng Tây lại bí mật đưa sang trại Nùng khá nhiều sách vở, đều là những cuốn nói về lập quốc và trị quốc. Các đội buôn nhà Tống đã nhận được chỉ thị có thể bắt đầu trao đổi những yếu phẩm như muối và sắt thép. Ngoài ra trong đất Nùng đã dựng lên ba chỗ khai thác sắt thép và lò rèn binh khí, dưới sự hỗ trợ của thợ thủ công người Tống. Tuy người của ta vẫn chưa tìm được chính xác vị trí của mấy lò rèn này, nhưng ý đồ của Nùng Tồn Phúc đã quá rõ ràng rồi.

    - Y muốn lập quốc sao. Điều này là bất lợi với chúng ta, nhưng cũng chưa hẳn là thuận lợi với nhà Tống. Chẳng lẽ họ không biết câu nuôi hổ thành hoạn. Hoặc là, hoặc là vị hoàng đế nhà Tống kia sẽ tự tay dựng lên một phiên vương nữa làm vùng đệm cho đất Quảng Tây. Khống chế nhu yếu phẩm và vũ khí, bồi dưỡng tham vọng và dã tâm, buộc người Nùng thành một tay đấm thuê.

    “Để đặt sẵn một quân cờ, mở sẵn một bố cục, một khi giải quyết xong chuyện rối ren trong nước” – Trần Thành tiếp lời – “Sẽ là lúc họ tiến về phương nam”.

    Hai vị đại quan nhìn nhau, là người tinh thông lịch sử, họ hiểu hơn ai hết về dã tâm của phương bắc, về sự nặng nề của hai chữ “tiến nam”. Đi kèm với hai chữ ấy, là đô hộ nghìn năm, máu và cái chết, sự tan nát của thành trì, sự sụp đổ của vương triều.

    “Rất đúng thời điểm” – Lý Công Uẩn nhắm mắt lại – “Chúng ta có quá ít thời gian, nếu như hoàng thượng không… thì ắt hẳn chỉ trong mười năm, đất ấy sẽ là vùng phên dậu của Đại Cồ Việt”.

    “Công Uẩn, để tôi về đông bắc” – Trần Thành ngồi thẳng người dậy, vẻ quyết liệt hiếm thấy xuất hiện trên nét mặt vị văn quan tính tình từ tốn điềm đạm ấy – “Lộ Bắc Giang không thể rối loạn, châu Quảng Nguyên không thể biến thành đất người Nùng. Nếu không, cửa ngõ phía bắc của chúng ta khác gì đã mở toang cho nhà Tống rồi”.

    - Tôi hiểu tấm lòng của ông.

    Lý Công Uẩn thốt lên một câu rồi im lặng. Lăn lộn trong chốn quan trường bao nhiêu năm, Trần Thành làm sao không hiểu, nếu để một vị đại quan đầu triều như ông trở về đông bắc, trong tay lại có binh lực, có thủ hạ có tướng quân, có đất đai vũ khí, khác gì thả một con hổ dữ về rừng. Chỉ e là trong mắt sư Vạn Hạnh và Đào Cam Mộc, thậm chí cả vị Tả vệ chính trực trước mặt đây, sự nguy hiểm của ông còn cao hơn cả Nùng Tốn Phúc.

    Một tia bất cam lóe lên trong mắt Trần Thành, ông thả lỏng người, trầm giọng nói:

    - Công Uẩn, ông vốn biết tôi không có vợ con. Từ lúc ra làm quan cho đến khi nhận chức Bình chương sự này, tôi chỉ có một học trò là hoàng thượng. Hai tháng trước, khi nhận được tin tức hoàng thượng trúng ám độc không thể chữa trị, tôi đã tự mình yêm hoạn rồi.

    Lý Công Uẩn giật nảy mình. Yêm hoạn vốn là con đường tiến thân cho những kẻ dưới đáy xã hội, chấp nhận từ bỏ đường con cháu sau này để có thể vào làm nội thị cho hoàng đế và các vương hầu. Tội không con vốn là tội bất hiếu lớn trong đạo Nho, nếu tin tức này lọt ra ngoài, một người xuất thân sĩ phu như Trần Thành sẽ bị cả giới học trò sỉ nhục, bất kể ông ta có làm quan cao tới đâu.

    - Hoàng thượng đã băng hà, đáng lý tôi cũng chẳng có gì phải lưu luyến nữa. Thế nhưng ngài đã tin tưởng giao lại nhiệm vụ này cho tôi, ít nhất tôi cũng phải hoàn thành nó cho xong rồi mới có mặt mũi đi gặp ngài. Công Uẩn, hãy tin tôi, giờ đây ngoài Đại Cồ Việt, tôi chẳng còn gì nữa.

    Đó, là một quyết tâm sắt đá đến nhường nào.

    Là sự quyết tuyệt đến nhường nào.

    Vua đãi ta bằng lễ quốc sĩ, ta đem mạng này trả lại cho vua.

    Lý Công Uẩn nhắm mắt lại, quai hàm bạnh ra. Một lát sau, vị quan Tả vệ ấy mới đứng dậy, đặt tay lên vai đối thủ đã tranh đấu với mình hơn mười năm:

    - Tôi tin. Chờ tôi.

    Dứt lời, ông quay người sải bước ra khỏi phòng giam, bỏ lại Trần Thành đang cúi đầu ngẫm nghĩ sau làn sương khói mờ ảo.
    ooo​

    Mười bốn ngày sau khi tin tức vua Long Đĩnh băng hà loan truyền cả nước, vị cựu tể tướng triều Tiền Lê ấy bị giáng chức thành quan thủ phụ lộ Bắc Giang, một trong những vùng đất nghèo nàn nhất Đại Cồ Việt. Lệnh ban xuống buộc ông phải rời khỏi đế đô ngay trong đêm, với sự hộ tống của tướng quân Hổ cùng một đạo Phiên vương quân.

    Nghe nói rằng khi Trần Thành rời khỏi cổng thành, quan Tả vệ đích thân dẫn theo đội tùy tùng chặn người lại, buộc ông phải cởi bỏ mũ quan, dùng thân phận dân thường đi đến nhậm chức. Lại không thiếu được sỉ nhục một phen, bọn sĩ phu có kẻ chướng mắt liền hợp nhau viết mấy bài cáo phản đối, thế nhưng vị tướng quân quyền nghiêng triều dã ấy chẳng buồn để vào tai.

    Khiến người ta chỉ còn biết chép miệng: Lên voi xuống chó mấy khi.
    -------------------------------------------------------------------------

    (*) Trì: có nghĩa là đảm đương, duy trì. Kiên quyết, cường ngạnh.

    (*) Bình chương sự: Khi lên ngôi, Lê Long Đĩnh đã dần dần thay đổi hệ thống quan chức giống như triều Tống, thoát khỏi lề thói dùng binh làm chủ như thời Đinh. Bình chương sự là chức quan tương tự như tể tướng đầu triều sau này, đứng đầu văn quan.

    (*) Quảng Nam Tây Lộ: Tên gọi ngày xưa của vùng đất Quảng Tây, giáp biên giới Việt Nam.
     
    Hà Thái thích bài này.
  7. _TA_

    _TA_ Gà cận Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    751
    Được thích:
    1.103
    Đã thích:
    2.286
    GSP:
    10p
    Ôi chú bánh mỳ già nua :D:D:D.
    Phần #1 cháu đọc mục giới thiệu sự ra đời rất cuốn hút nhưng khi vào truyện thì không hay cho lắm chú ạ. Cảm giác truyện toàn thoại. Mặc dù cũng có nhiều chỗ không phải thế. Kỳ lạ!
    Cháu chờ truyện của chú nhé. He he.
     
    Banhmitrung thích bài này.
  8. Banhmitrung

    Banhmitrung Gà tích cực Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    174
    Được thích:
    586
    Đã thích:
    151
    GSP:
    0p
    Chào em TA, long time no see, ha ha. Truyện dựa lịch sử nên khúc đầu nó cũng hơi buồn buồn, khúc sau có oánh đấm yêu đương nhiều hơn tý chắc đỡ hơn.
     
  9. _TA_

    _TA_ Gà cận Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    751
    Được thích:
    1.103
    Đã thích:
    2.286
    GSP:
    10p
    Thống nhất chú cháu từ đợt trước rùi mà. Không muốn bị già nên chú kêu em à. Hô hô. Mà có khi ông chú này chả biết mình là ai í =)).
    Nói chung là chờ đợi hồi sau của ông chú già lắm.
     
    Banhmitrung thích bài này.
  10. Banhmitrung

    Banhmitrung Gà tích cực Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    174
    Được thích:
    586
    Đã thích:
    151
    GSP:
    0p
    10 tuổi chứ mấy :v
     
    _TA_ thích bài này.
  11. Banhmitrung

    Banhmitrung Gà tích cực Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    174
    Được thích:
    586
    Đã thích:
    151
    GSP:
    0p
    03: Tạ Yên Vân

    Một vùng đồi núi trập trùng hoang vắng ở Quảng Tây.

    Đoạn đường hầm xuyên qua lòng núi này đã bị các đoàn buôn bỏ hoang đã khá lâu, vốn thiếu vắng hơi người lại đang ở vào độ cuối thu, nên khí núi toả ra lạnh đến thấu xương. Ở chính giữa đường hầm, nơi tồn tại một hang động tự nhiên khổng lồ, có ba người đang lặng lẽ đứng đối mặt nhau. Dưới ánh sáng chập chờn của ngọn đuốc gỗ thông cắm trên vách hầm, bóng dáng bọn họ hắt trên mặt đất lay động không ngừng, tựa như đang cùng múa lên một vũ điệu câm lặng.

    Ngay chính giữa bọn họ là một người mặc trang phục võ sĩ nằm bất động, trên ngực lộ ra một chuôi dao lóe sáng, có lẽ là đã chết rồi.

    Toàn trường im lặng như tờ, đến nỗi có thể dễ dàng nghe được tiếng lửa đuốc đang reo lên tí tách. Tạ Yên Vân toàn thân bọc kín trong bộ quần áo lữ hành, trường kiếm cài chéo sau lưng, lạnh lùng đối mắt với hai người đối diện.

    Gã thanh niên nhỏ thó đứng bên trái có gương mặt xảo trá, bàn tay gầy gầy với những ngón tay thật dài đang mân mê ngọn phi đao, chính là kẻ ra tay giết chết tay võ sĩ chỉ bằng một nhát dao đâm bất ngờ vào giữa ngực. Lưỡi dao đó hiển nhiên có tẩm một loại độc mạnh mẽ đến nỗi gã võ sĩ cường tráng lúc ấy chỉ kịp hộc lên một tiếng, ánh mắt tinh anh nhanh chóng đục ngầu, chỉ dấn lên một bước đã ngã ngửa ra mà chết.

    Cô gái áo xanh đứng bên phải trông lại có vẻ hiền lành, khóe miệng lúc nào cũng vương nét cười tươi tắn. Khuôn mặt cô nàng thanh tú, mi tơ đen nhánh, thanh thoát tựa nét hoạ danh gia, miệng anh đào hơi hé ra, khoe hàm răng nho nhỏ trắng đều như hạt ngô. Mái tóc xõa dài phủ xuống bờ vai có chút buông thả tán loạn, một khoảng ngực trắng ngần hơi lộ ra ngoài vạt áo ngoài mỏng như cánh chuồn, điểm thêm trên nét quyến rũ dịu dàng một chút hương vị phóng túng gợi cảm.

    Ánh đuốc khi mờ khi tỏ, lúc chao lúc thẳng, khoảng ngực trắng ấy lúc ẩn lúc hiện, như sương như mật.

    Ánh mắt Tạ Yên Vân chầm chậm trượt qua khoảng da thịt đầy hấp dẫn ấy, tập trung vào hai bàn tay cô gái. Đôi bàn tay cô mảnh mai mà hữu lực, các ngón tay trắng trẻo chụm vào nhau thành một quyết thế kỳ lạ, trông qua giống như một búp sen làm bằng ngọc chạm.

    Ma võng Tu la chưởng tổng cộng có hai mươi tám thức, bảy phần tà khí, ba phần mông lung. Khóe mi y hơi giật. Cô gái áo xanh yểu điệu ấy, không ngờ lại là người của Tu La Chi Yêu.

    Lại nghe soạt khẽ một tiếng, bảy lưỡi phi đao đã lấp ló ẩn hiện trong tay gã thanh niên, mũi nhọn phản chiếu ánh sáng lấp loá. Thất Tinh Lưu Quang của Đao Luân môn, xưa nay vẫn cứ là một môn tuyệt học uy trấn vũ lâm vậy.

    Không khí lạnh buốt trong lòng núi đột nhiên phủ thêm một tầng sát ý, đặc quánh như hồ.

    Tạ Yên Vân đã tuốt kiếm. Kiếm của y dài bốn thước hai tấc, từ mũi xuống chuôi là một màu đen trầm tĩnh và ảm đạm. Hai người kia trông thấy nó, sắc mặt liền thêm mấy phần nặng nề. Thanh kiếm thoạt trông có vẻ ngoài đơn giản cục mịch ấy, không ngờ lại tỏa ra khí thế áp bức kinh người.

    Cô gái áo xanh không chần chừ nữa, bước xéo lên mấy bước tung chưởng đánh tới. Hai bàn tay cô quấn trong tay áo dài, lúc ẩn lúc hiện, liên tục đổi các quyết thế khác nhau, biến ảo vô cùng vô tận. Ma Võng dệt thành một vùng không gian tán đầy bóng chưởng, chiêu thế kỳ ảo khó tả, tưởng trái hóa ra lại phải, tưởng trên lại biến thành dưới, cứ liên miên không ngừng không nhỉ, không thể phân định được phương vị rõ ràng đang đánh vào đâu. Tà áo cô nàng tung bay phất phơ, gương mặt lại càng tươi cười rạng rỡ, khiến cho người ta có cảm giác như đang thưởng thức một điệu vũ chốn cung đình.

    Xuất thân từ Tu La Chi Yêu, mê hoặc vốn đã trở thành bản tính, ngay cả đến vũ công cũng thuần là một nét quyến rũ chết người.

    Tạ Yên Vân lùi lại hai bước, tránh ra khỏi vùng ảo ảnh mê hoặc ấy, chuyển người, đâm ra một kiếm.

    Kiếm ấy thô phác mộc mạc, thong dong mà tràn đầy uy thế, kình lực mang theo cường liệt tới mức có thể khiến cho hơi thở người ta ngưng đọng. Một kiếm tựa như thuyền lớn đè sóng con, như ánh nắng xẻ tan mây mù, chẳng hề để ý đến những hoa mỹ mộng mơ kia, giữa vùng ảo ảnh trùng trùng điệp điệp của Ma Võng không ngờ lại đâm xuyên qua vai cô gái áo xanh.

    Chỉ nghe cô nàng hừ lên một tiếng rồi nương theo kiếm kình lui lại, cánh tay trái giờ đã rũ xuống vô lực, máu tươi thấm ướt cả tay áo mỏng.

    Một ngọn phi đao rít lên trong không khí, đánh tắt ngọn đuốc trên vách hầm. Gã thanh niên nhỏ thó đã ra tay. Ánh lửa ấy tắt phụt, vẫn kịp soi trong đáy mắt của ba người sáu đường cong mỹ lệ như mống bạc cuối trời, hướng đến cổ họng Tạ Yên Vân. Bóng áo xanh hoa lên, lại tung người nhảy tới.

    Nếu như lúc nãy là một vùng mộng ảo thì bây giờ là quỷ ảnh gầm thét, từ trong bóng tối vươn ra ma trảo của nó, chiêu chiêu đoạt mạng. Tu La chưởng, ngoài chữ ma còn có hai chữ tu la.

    Sáu ngọn phi đao ẩn vào bóng tối, như cá quẫy mình, lại như rắn độc phun nọc, âm thầm mà tàn khốc, chẳng ai có thể lường được phương vị nó nhắm đến. Lưu quang, hai chữ này của Đao Luân môn, ý chỉ rằng những gì nạn nhân có thể thấy được, chỉ là ánh sáng cuối cùng của tử vong.

    “Hắc thiết định phong vân” - Có tiếng ngâm khe khẽ, chất giọng trầm đục buồn bã, lại ngân nga rất dài ở cuối câu. Thức đầu tiên trong Phong Vân Tứ Thức, trong màn tối tăm thăm thẳm, đến bây giờ mới đánh ra hoàn toàn.
    ooo​

    Lúc Tạ Yên Vân thắp sáng lại ngọn đuốc, ba người kia đều đã chết cả.

    Nói rằng cả ba người, bởi vì ngay vào lúc tối hậu của cuộc chiến, gã võ sĩ bỗng nhiên đứng bật dậy đâm Tạ Yên Vân một đao.

    Đấy, chính là ngọn ẩn đao thứ tám của Đao Luân môn.

    Thế nhưng bây giờ thì gã vĩnh viễn không thể đứng dậy nữa. Thanh kiếm đen tuyền kia đã trổ giữa ngực gã một cái động máu, đánh nát toàn bộ tâm tạng bên trong.

    Đao Luân môn, Tu La Chi Yêu, Thất Tinh Lưu Quang, Ma Võng, tất thảy đều đã thất bại rồi. Một đao ấy, vượt trên tất cả, ngạo nghễ dẫm hết tất thảy dưới chân nó. Hắc Thiết Phong Vân, nhất bộ sát nhân.

    Tạ Yên Vân xốc lại y phục cho ngay ngắn, phủi phủi mấy chỗ tay áo bị phi đao làm rách, cài lại thanh kiếm vào sau lưng, thong thả đi tới lối ra khỏi đường hầm. Hai ngày sau, gã có một cái hẹn.
    ooo​

    Phủ tri châu Quảng Tây, đài Táng Nguyệt.

    - Thần Huyền, triều đình đã có chỉ dụ đưa qua rồi, chúng ta không thể đưa quân đội tiến về phía biên giới. Bọn họ đã bị trận chiến Thiền Uyên dọa sợ, sống chết gì cũng không muốn lại gây chiến với nước lân bang.

    Người đàn ông tuổi trạc tứ tuần, gương mặt quắc thước đĩnh đạt, khoác trên người một tấm áo choàng lụa trắng, đang thong dong ngồi ngắm trăng thưởng trà trên tòa đài cao nhất phủ tri châu ấy, chính là Lưu Lâm Tĩnh. Tri phủ đương nhiệm vùng Quảng Nam Tây Lộ, nắm trong tay toàn quyền quyết định việc bang giao với những vùng đất xung quanh.

    Y nhón tay, đặt chén trà đã cạn lên bàn, buông ra một câu không đầu không cuối như vậy.

    Gã thư sinh đang đứng phía sau lưng khẽ chồm tới, châm đầy lại chén trà, vẫn không thốt một lời. Lưu Lâm Tĩnh cũng không để ý, chỉ cảm khái nói tiếp:

    - Lưu mỹ nhân đang vướng vào cuộc tranh chấp hậu cung, lúc này chẳng thể phân thần giúp đỡ chúng ta. Thần Huyền à, bây giờ chỉ còn dựa vào kế hoạch của ngươi. Vị quân vương phương nam kia tuy chẳng thể sống quá con trăng này, thế nhưng thủ hạ của y quả thật không kém. Giao tranh mấy phen với chúng ta, vậy mà không chịu chút thiệt thòi nào.

    Gã thư sinh lúc này mới khẽ cúi người:

    - Đại nhân an tâm, người của chúng ta ở phương nam đã nhận được mệnh lệnh rồi.

    Thư sinh trông vẻ ngoài hiền lành ấy có một biệt hiệu khét tiếng, biệt hiệu mà bất kỳ đội sơn tặc nào của đất Quảng Tây cũng phải kiêng dè: Lãnh Ma Trác Thần Huyền.

    Tổng quản phủ tri châu, xuất đạo năm mười sáu, hai mươi bảy năm qua chưa có địch thủ nào sống sót dưới bàn tay sắt đá của y. Mười bốn bang sơn tặc, chín bang giang hồ vốn hoành hành Quảng Tây gần mười năm chưa hề sợ ai, kể cả quan quân triều đình, ấy vậy mà trong có ba năm lớp chết lớp bị tống giam. Số còn lại vì quá mức sợ hãi đã trốn hết vào vùng núi cao rừng thẳm, không khác gì bọn dã nhân là mấy. Tất thảy đều là kiệt tác của Trác Thần Huyền. Đứng trước thủ đoạn gió thét mưa gào của y, bọn người lang sói ấy lại tựa như con nai con hoảng sợ.

    Lưu Lâm Tĩnh nghe Thần Huyền nói vậy thì gật nhẹ đầu:

    - Tinh tượng rất hung. Đế tinh đã bắt đầu sa xuống rồi. Nếu khi hoàng đế phương nam băng hà, bọn họ vì tranh chấp mà trừ khử phe cựu đảng thì rất tốt. Thế nhưng ta lại thấy mạch tượng phương nam vẫn sáng rực, dù có phần hỗn loạn mà vẫn không mất đi khí thế, quả thật khó dự đoán trước. Bọn sát thủ mà ngươi hẹn gặp đều là những nhân vật nổi tiếng trong lục lâm hắc đạo, phải không?

    Trác Thần Huyền lắc đầu:

    - Đại nhân, có lẽ trong bọn họ chỉ có một người có thể đến hồ Tiểu Dao. Nhưng chỉ cần một mình gã thôi, sẽ không có ai đến được lộ Bắc Giang.

    Lưu Lâm Tĩnh, vốn không mấy quen thuộc với chuyện lục lâm hắc đạo, kinh ngạc:

    - Lợi hại thế sao?

    - Hắc thiết định phong vân. Danh tiếng người này trải rộng khắp ba châu bảy tỉnh phía tây. Kiếm thuật của y nghe nói xuất thần nhập hóa, đã đạt tới cảnh giới phản phác quy chân rồi. Chỉ e rằng về phương diện vũ thuật thì ngay cả tiểu nhân cũng không phải đối thủ của y.

    Ngừng lại một chút, gã nói tiếp:

    - Cho nên, tiểu nhân thật sự mong chờ cuộc gặp mặt ngày mai.

    Lâm Tĩnh nhíu mày, tuy y băn khoăn vì sao các sát thủ lại phải tàn sát lẫn nhau thay vì phối hợp để thực hiện nhiệm vụ, thế nhưng y tự biết mình không nắm rõ các quy tắc giang hồ bằng Thần Huyền, thế nên vẫn rất tin tưởng gã tổng quản đã theo y hơn mười năm ấy.
    ooo
    Phía sau con đường hầm xuyên núi dài dằng dặc ấy không ngờ lại có một hồ nước đẹp đến nao lòng. Ánh chiều muộn mằn chiếu lên trên mặt hồ mênh mông một vầng đỏ ối, nhuộm hồng cả tầng tầng núi xanh phản chiếu trên mặt nước phẳng lặng. Cảnh vật bốn phía mười phần vắng vẻ sầu muộn, thi thoảng mới nghe thấy có tiếng chim chiều về tổ vang vọng thảng thốt giữa tầng không.

    Chiều thu trời không có gió, phiến lá rơi không chao nghiêng, nhẹ nhàng tạo thành những gợn sóng lăn tăn, lan ra xa mãi.

    Trác Thần Huyền chắp tay sau lưng, ngơ ngơ ngẩn ngẩn ngắm cảnh hoàng hôn đang buông dần. Y đã hiểu vì sao người ta gọi nơi đây là hồ Tiểu Dao. Và có lẽ y vẫn cứ lặng lẽ đứng đó thêm một khoảng thời gian rất dài, nếu như không có một người từ đường hầm phía sau núi bước ra. Kẻ vừa đến dáng người cao gầy, bước chân chắc nịch, trường kiếm cài chéo sau lưng, gương mặt nhuốm đầy nét phong sương.

    Trác Thần Huyền vốn có sở thích đánh giá người khác qua ánh mắt. Y luôn tự tin rằng chỉ cần mình nhìn vào mắt kẻ đối diện, sẽ có bảy phần nắm bắt được tính cách của con người ấy. Thế nên khi nhìn vào ánh mắt có phần hờ hững gã sát thủ, y chỉ cảm thấy một nét ảm đạm tựa giếng sâu không đáy, tựa như vực sâu vạn trượng.

    Tựa như, một nỗi cô đơn vòi vọi.

    Tuy đứng giữa khung cảnh chiều tà dễ làm người ta cảm thán, thế nhưng Thần Huyền vẫn có thể cảm nhận được cuộc sống của vạn vật đang xoay chuyển trong cái nhịp điệu hối hả không ngừng không nghỉ của nó. Cuộc đời của y cũng vậy, chưa bao giờ có một giây phút nào dừng lại, luôn luôn chuyển động, luôn luôn xoay vần. Cho nên trong đời mình, y chưa bao giờ cảm thấy cô độc.

    Thế mà lúc nhìn vào ánh mắt ấy, Trác Thần Huyền đột nhiên mà thấu được, thế nào là sự lạc lõng đến độ thản nhiên của một con người. Dường như, gã đã quyết định đặt mình ra ngoài vòng quay của cuộc sống mất rồi. Mặc cho xung quanh gã đang bừng bừng sức sống đến thế nào, đang tràn ngập sinh khí đến thế nào, gã vẫn lấy cái sự dửng dưng không quan tâm ra mà đối trả lại.

    Khi một người có ham muốn, ánh mắt của họ sẽ thể hiện những thứ mà họ đang khao khát. Có thể là tiền tài, là thân phận, là tự tôn, là dục vọng. Thế nhưng Trác Thần Huyền không làm sao tìm ra bất kỳ dấu vết nào của những điều ấy trong đôi mắt gã sát thủ. Chỉ có sắt thép lạnh ngắt, kiên định, không thể bẻ gãy. Luôn luôn là một con đường thẳng tắp để đạt cho kỳ được mục tiêu của họ, không gì có thể ngăn trở, trừ cái chết.

    Tạ Yên Vân, hắc thiết định phong vân.
    ooo​

    Loại người như Tạ Yên Vân, có nói gì thêm cũng là thừa thãi. Khi Yạ Yên Vân giết hết tất cả những sát thủ cùng đến nhận nhiệm vụ với mình, ý định của gã đã rất rõ ràng, phần thưởng này chỉ thuộc về một mình gã.

    Lúc này phần thưởng đó đang nằm gọn trong một túi gấm, đặt trên mặt đất. Từ lúc Tạ Yên Vân rời khỏi đường hầm, ánh mắt gã chưa hề rời khỏi túi gấm ấy, thậm chí chẳng cần nhìn Trác Thần Huyền lấy một cái.

    Trác Thần Huyền cũng không làm chuyện vô ích, tay áo liền phất ra. Mặt hồ phẳng lặng trước mặt y bỗng nhiên xao động như có hàng trăm con cá đang cùng lúc quẫy mình. Thoáng chốc kiếm ý sát phạt đến vô tận tràn ngập trong không gian, lấy mặt hồ là trung tâm, tán xạ ra tám phía. Nội kình mạnh mẽ của y hình thành nên một bàn tay vô hình, bốc một bụm nước trong hồ lên. Y lại phất tay áo, tức thì hàng trăm giọt nước đầy trời bắn vùn vụt về phía Tạ Yên Vân.

    Chỉ trong một chiêu, ba môn tuyệt kỹ Cầm Long công, Tụ Lý công, Khoái Kiếm Phi Vũ đã được vị thư sinh trông đầy vẻ yếu nhược ấy thi triển đến mức ảo diệu tận cùng.

    Trong tay y không có kiếm, y cũng không cần kiếm, trời đất cõi này, tất thảy đều là kiếm của y. Khí thế y dào dạt, rộng lớn như biển, nặng nề như núi. Không ra tay thì thôi, ra tay thì như sấm gầm mưa giật, vẻ thư sinh trầm tĩnh hoàn toàn chẳng còn chút gì.

    Tạ Yên Vân lùi phắt lại, bằng một cử động không thể nhìn kịp đã rút kiếm từ sau lưng ra. Thanh kiếm màu đen ấy trong một tíc tắc đã điểm ra không biết bao nhiêu chiêu kiếm. Không chỉ tấn công bằng mũi kiếm, y sử dụng toàn bộ thân kiếm để đón đỡ làn nước bắn tới. Những giọt nước chạm vào thanh kiếm vỡ ra tung toé, kêu lên tinh tinh không dứt.

    Lúc y thu chiêu lại thì cả thanh kiếm đã ướt đẫm, nhưng mấy trăm giọt nước ấy, không có một giọt nào lọt qua được màn kiếm quang. Kiếm ý tràn ngập ban nãy cũng đã bị xẻ ra tan nát thành ngàn vạn mảnh, rồi dần dần tan đi mất.

    Mặt hồ lại trở thành một phiến phẳng lặng trong xanh.

    Trác Thần Huyền a lên khe khẽ, thoáng có chút ngạc nhiên. Trong một tháng trời, y lần lượt đón tiếp bảy gã sát thủ đến nhận nhiệm vụ, kẻ sau có danh tiếng hơn kẻ trước, nhưng chưa một ai có thể vượt qua chiêu thức này của y.

    Mặt hồ vô danh ấy, đỏ rồi lại xanh, cũng đã bảy lần.

    Trác Thần Huyền hài lòng, vung tay ném cho Yên Vân một miếng sắt:

    - Ta là tổng quản kiếm các của Tri châu đại nhân. Thẻ bài này có thể thông qua tất cả mọi cửa quan ở phía Nam mà không gặp trở ngại gì. Tri châu đại nhân rất coi trọng lần hành động này, hy vọng ngươi cố hết sức.

    Tạ Yên Vân chẳng buồn trả lời, chỉ nhét thẻ bài vào ngực, tiến tới kiểm tra cái túi gấm một thoáng rồi thắt chặt vào dây lưng. Lúc quay người đi, gã mới nhìn Thần Huyền, ậm ừ nói:

    - Nội kình của ngươi rất mạnh, nhưng tạp sự quá nhiều, đừng thử với cao thủ. Chết chắc.

    Gã cũng không định kết giao với viên tổng quản này. Loại người như Trác Thần Huyền tuy xuất sư từ vũ lâm nhưng khi đã dấn thân vào chính trường, thì con đường vũ đạo đỉnh cao đã không có chổ cho y. Đặt vào so sánh với loại cao thủ hàng đầu cỡ như Yên Vân, chống không quá trăm chiêu. Trác Thần Huyền nghe thế thì cười ha ha:

    - Ta cũng không có dấn thân vào vũ lâm giang hồ. Chẳng qua muốn đảm bảo vũ công của người nhận nhiệm vụ không đến mức hữu danh vô thực mà thôi. Tạ Yên Vân, chiêu kiếm ban nãy của ngươi tên gọi là gì?

    Tạ Yên Vân chân không dừng bước, thoắt cái đã khuất dạng chẳng thấy đâu nữa, chỉ còn tiếng nói văng vẳng vọng lại:

    - Ban Trúc Lệ Ngân.

    Ánh mắt Trác Thần Huyền thoáng biến đổi mấy lần, cuối cùng y thở ra một hơi dài, hát lên khe khẽ:

    Ban trúc chi
    Lệ ngân điểm điểm
    Dao sắt oán
    Thâm dạ nguyệt minh thì (*)


    Nỗi cô độc xen lẫn với hoài mong trong nội tâm gã sát thủ ấy, rốt lại là đã bao lâu rồi, mà có thể lay động lòng người đến vậy. Mà lại có thể, từ một chiêu kiếm, hiển hiện ra thật là rõ ràng.
    ooo​

    Mấy ngày sau, trong một đoàn buôn từ Quảng Tây sang Đại Cồ Việt, có một bóng dáng quen thuộc. Thanh kiếm đen của y đã giấu kín trong hành lý, cái vẻ lạnh nhạt hờ hững cũng không còn thấy đâu. Thế nhưng cái khí thế cự người từ muôn dặm vẫn tỏa ra cường liệt đến độ chẳng một ai trong đoàn buôn muốn đến gần gã sát thủ đang ẩn danh ấy.

    Nhiệm vụ của y lần này là ám sát một vị văn quan bị giáng chức, đang được áp giải từ đế đô Hoa Lư đến lộ Bắc Giang. Nghe nói vị quan ấy từng một thời là cánh tay phải của hoàng đế triều nam, nhận chức đến Bình chương sự. Hiện giờ đã thất thế, bị đày đi trấn thủ lộ Bắc Giang, vùng biên cương nghèo khó giữa đất Đại Cồ Việt và đất Nùng.

    Tuy Tạ Yên Vân không hiểu vì sao cần đến một sát thủ khét tiếng như y đi ám sát một phạm quan, thế nhưng y chưa từng hỏi. Đã chấp nhận nhiệm vụ, có nghĩa là vị quan họ Trần ấy sẽ chết bên ngoài biên giới.

    Hoặc là y chết.
    -------------------------------------------------------------------------

    (*) Cành trúc vân
    Ngấn lệ rưng rưng
    Đàn ai oán
    Lúc trăng sáng đêm thâu

    (Tiêu tương thần kỳ hai - Lưu Vũ Tích)
     
    Chỉnh sửa cuối: 6/2/16
  12. _TA_

    _TA_ Gà cận Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    751
    Được thích:
    1.103
    Đã thích:
    2.286
    GSP:
    10p
    Ôi cái phần này đọc hai lần mới thấu. Mà giữa các phần chú đả động đến nhau nhiều chút đi ạ. Cứ tách bạch quá làm cháu tưởng nó chả liên quan gì đến nhau.
    À vì cháu không có am hiểu sử nên cháu muốn hỏi là các nhân vật trong phần này là ảo hết hả chú hay có thật vậy ạ?
    Cơ bản là cháu cũng tò mò search loạn google lên rùi mà không thấy gì mới đau #:-s.
     
  13. Banhmitrung

    Banhmitrung Gà tích cực Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    174
    Được thích:
    586
    Đã thích:
    151
    GSP:
    0p
    Có mỗi hai ông vua là người thật thôi :tho1:
     
  14. Banhmitrung

    Banhmitrung Gà tích cực Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    174
    Được thích:
    586
    Đã thích:
    151
    GSP:
    0p
    04. Hổ tướng quân

    Trên bầu trời xám lạnh, từng vầng mây đen kịt cứ liên tục cuộn xoáy thành những hình thù quái dị. Thỉnh thoảng lại có một tia sét phá không đánh xuống, điểm thêm vào giữa bức tranh âm u đó những luồng điện quang chói mắt, kèm theo là những tiếng sấm ì ầm vang vọng cả bốn phương.

    Cỏ cây khắp nơi đã bạc màu đi nhiều. Trong lúc những sóng cỏ bên dưới dập dờn đuổi bắt nhau về mọi hướng trong luồng gió hung hăng, thì những ngọn cổ thụ phô ra những cơ bắp gân guốc của mình, ưỡn ngực đón cơn thịnh nộ đang kéo đến ở phía chân trời với dáng vẻ can trường. Trận mưa đầu đông vùng Đông Bắc lúc nào cũng bắt đầu với vẻ hung hãn như vậy, tựa hồ như muốn đem con người ta ra mà doạ nạt hầm hừ một phen.

    Gió như đao, cắt da cắt thịt, mùi không khí ẩm lạnh phả đến khiến cho mặt người bệch bạc cả đi. Thi thoảng giữa tiếng gió gào rít là tiếng mấy con ngựa hí lên, nghe vừa thê lương vừa đáng sợ.

    Ấy vậy mà giờ phút này, những người đang tụ tập trên bãi đất trống trước hẻm núi Phục Ba dường như chẳng chút để ý đến sự giận dữ ấy của đất trời. Mấy trăm con người phân ra thành hai khối riêng rẽ đứng đối mặt với nhau, sát khí tựa như ngưng thực cứ cuồn cuộn bốc lên, mờ mịt cả toàn trường.

    Một bên kết thành hàng ngũ chỉnh tề, trường mâu sắc lạnh chĩa ra đằng trước. Trên những gương mặt sạm đen vì dãi dầu sương gió ẩn dưới mũ trụ đồng, đôi mắt họ sáng rực, lạnh lùng. Thứ ánh sáng kiên định, sắt đá mà chỉ có quân đội được huấn luyện chính quy mới có. Những ánh mắt ấy, làm người ta gai rợn sống lưng. Những bàn tay trắng bệch, nổi gân xanh, đang nắm chặt cán trường mâu, làm người ta e dè.

    Một trăm lính áp tải triều đình quay lưng vào sườn núi, dàn thành trận thế hình bán nguyệt vây lấy ba cỗ xe ngựa, binh khí giương lên sẵn sàng, lặng im phăng phắc đối mặt với địch thủ.

    Mà đối thủ của họ thì quá đông đi.

    Phải có đến bốn trăm người nông dân, trên người khoác áo tơi, trong tay là vô số nông cụ thô sơ đang vây chặt xung quanh. Gương mặt ai cũng đầy vẻ hung hăng, ánh mắt vằn đỏ chiếu vào đám lính triều đình.

    Ở chính giữa chiến trường là xác chết la liệt, máu tươi chảy ra đã nhuộm đỏ cả mặt đất nơi ấy, còn có một vài kẻ bị thương chưa chết hẳn vẫn còn đang nằm rên rỉ đau đớn.

    Chẳng một ai dám bước ra giúp đỡ cho các thương binh ấy cả.

    Ngay từ lúc mở màn, cuộc đụng độ của hai bên đã diễn ra vô cùng chớp nhoáng và tàn khốc. Lính triều đình với binh khí và trận pháp vững chắc của mình đã mấy lần đánh bật những đợt xung kích của đối phương. Thế mà những gã nông dân ngày thường hiền lành chất phác ấy, không ngờ lúc này ai ai cũng mang cái bộ dáng bất chấp tất cả, đánh liều cả cái mạng mình, từng đợt từng đợt lao vào. Cuối cùng họ cũng ép được trận thế của quân đội co lại chừng ba thước. Khu vực vốn chỉ bằng một bước nhảy mạnh ấy, hôm nay, đã phải đổi gần cả trăm mạng người.

    Những giây phút lắng đọng giữa cuộc chiến lại càng hun đúc cho sát khí đôi bên càng lúc càng nồng đậm. Sát khí ấy đồn nén đến mức đặc quánh như keo, tưởng chừng có thể tuỳ ý lấy một con dao mà xẻ ra thành từng mảng được. Chỉ cần một dấu hiệu nhỏ xảy ra, cuộc chiến sẽ lập tức bị châm ngòi trở lại.

    Mưa đã bắt đầu rơi. Ban đầu chỉ là những hạt mưa lất phất, rồi bắt đầu lớn dần, cho đến khi gầm gào như thác đổ.

    Từng hạt mưa lạnh buốt to như hạt đỗ rơi lộp độp trên chiến giáp màu nâu sẫm, rơi trên mấy tấm áo tơi đã bạc phếch, rơi trên những lưỡi liềm nay đã không còn vương mùi thơm hoa lúa, rơi trên những ngọn mâu đã thẫm lại vì máu khô.

    Nước mắt trời lạnh đến chừng ấy, mà vẫn không dập được lửa giận trong lòng người.

    Vậy thì, kết thúc đi thôi.
    ooo​

    “Vậy thì, kết thúc đi thôi” - Vị tướng quân khoác chiến giáp đen thẫm, lạnh lùng nói.

    Ngồi vững vàng trên lưng con ngựa khoang cao lớn, đầu đội mũ trụ bằng đồng đen, người khoác áo giáp nhẹ, chân đi vân hài, tay cầm nghiêng ngọn giáo, bóng dáng cao lớn của y cứ sừng sững nơi đó như một ngọn núi không thể vượt qua.

    Gương mặt với những đường nét khắc khổ nghiêm nghị, đẹp như một bức tượng điêu khắc thô hào. Mày kiếm xếch ngược, ánh mắt ngời sáng quét một vòng khắp cả chiến trường, vị đại tướng ấy mang theo một khí thế bá đạo kiêu hùng đến mức không một ai dám nhìn thẳng vào ông ta.

    Hổ tướng quân.
    ooo​

    Nếu nhìn lại cuộc đời và con đường thăng tiến nhanh chóng của Tuyên, bất kỳ ai cũng đều phải giật mình.

    Người ngoài có thể thắc mắc rằng, bằng vào phương cách thần diệu nào, chỉ trong có ba năm vỏn vẹn một gã hiệu uý kỵ binh lại có thể xưng vào hàng ngũ Thiên tướng quân kia chứ. Người từng trải trên quan trường thì rất rõ ràng rằng, con đường hạnh vận quá hanh thông với một võ tướng, nếu không phải xây lên bằng những thủ đoạn hay ngọc ngà châu báu, thì chỉ có thể tạo thành bằng chiến công.

    Nhất tướng công thành vạn cốt khô.

    Để đổi lấy một chiến công hiển hách, vạn bộ xương khô tựu trung lại có nghĩa lý gì. Trong cái vòng quay bất biến vô tình của lịch sử, vốn cũng chỉ có những chiến công là nên nhắc đến. Thây phơi đầy nội, máu chảy thành sông, gia đình tan nát ly tán, những khung cảnh ảm đạm điêu tàn như thế liệu có thể xóa đi ánh hào quang chói lọi của chiến công chăng?

    Liệu rằng, có ai cho phép xóa đi hay chăng?

    Mùa thu năm Ứng Thiên thứ nhất ở cửa Thần Phù có biến giặc Cử Long, Đức vua thân chinh cầm binh ra trận. Thế giặc mạnh mẽ, quân triều đình không đủ sức dẹp yên. Kịch chiến ròng rã ba ngày, tổn thất đã vô cùng thê thảm, cuối cùng Hoàng thượng đã định hạ cồng thu quân.

    Bấy giờ có viên hiệu uý tên Tuyên xin vua được ra trận, chỉ bằng quân bản bộ của mình đã đánh tan đạo quân đầu não của giặc, lại bắt sống tướng giặc Cử Long ngay tại trận.

    Đấy là mấy dòng ngắn ngủi mà các vị sử quan ghi chép lại trong sử sách về cuộc binh biến ở cửa Thần Phù. Những dòng chữ đẹp đẽ viết bằng mực tàu đen nhánh, nằm trang trọng trên những trang sách thếp vàng được lưu giữ cẩn thận trong bảo khố của triều đình, lúc nào cũng hiển hiện lên cái vẻ điềm tĩnh trầm mặc ngàn năm vạn năm của lịch sử.

    Thế nhưng đối với những ai từng có mặt tại trận chiến đó, ba ngày dữ dội ấy sẽ mãi mãi không thể phai mờ trong ký ức của họ. Ba vạn con người lao vào chém giết không ngừng nghỉ trong một trận chiến đẫm máu và hồ đồ, một trận chiến mà mục đích chẳng bao giờ là rõ ràng và lý tưởng tựa như nắm cát vất đi. Ba vạn con dân đất Đại Cồ Việt tàn sát lẫn nhau vì sự tranh đoạt nằm sâu đằng sau những cánh cửa chạm trổ rồng phượng xa hoa chốn cung đình.

    Cái viên hiệu uý nhỏ mọn ấy không ngờ bấy giờ lại cả gan tế ngựa chặn trước long xa, kiên trì xin được đánh một trận cuối cùng. Nếu không phải vì Hoàng thượng có chút hứng khởi bởi khí thế ngạo nghễ coi khinh cả đất trời của y, quân cấm vệ đã sớm chém y ra thành ba khúc. Cờ việt được ban ra, thế mà y lại khom mình từ chối, bảo rằng chỉ cần quân bản bộ.

    Và rồi tay roi tay giáo, y xông thẳng vào trận địa đối phương, theo sát đằng sau là ba ngàn gia binh hộ vệ. Giết chết hơn vạn quân địch, diệt sạch Thất Thiên tướng nổi danh vùng Tam Điệp, một đường đánh thẳng vào trung tâm đầu não đối phương, bắt sống Cử Long, thử hỏi còn có chiến công nào hiển hách hơn.

    Ba ngàn gia binh mất mười năm bồi dưỡng, vỏn vẹn chỉ còn lại có hai trăm người.

    Lúc y tế ngựa quay về, toàn thân chiến giáp đã sớm rách nát tả tơi, nhuộm một màu đỏ thẫm, khắp cả người là những vết thương đang há miệng toang hoác ghê sợ, vậy mà nét mặt của y vẫn xán lạn như ánh nắng một buổi chiều xuân.

    Đức vua trông thấy nụ cười ấy, mặt rồng bất chợt cau lại thật nhẹ.

    Nhờ vào chiến công ở cửa Thần Phù, y được phong vượt liền ba cấp. Để rồi khi đoàn quân trở về kinh thành, phủ Binh Bộ lại phát hiện ra y chính là cháu họ xa của Bình chương sự Trần Thành.

    Tài năng và quyền thế ấy trở thành bệ phóng thăng quan cho vị tướng quân trẻ tuổi nhất triều đình. Trong ba năm chiến loạn ròng rã, y phụng chỉ đánh dẹp khắp nơi, lần cuối cùng tự mình cầm một lộ binh mã chinh chiến ở châu Thiên Liêu, trong ba ngày báo tin chiến thắng sáu lần liên tục, lại vượt thêm hai cấp nữa trở thành Thiên tướng quân.

    Nếu không vì tuổi đời chỉ mới ba mươi, có khi y đã sớm trở thành Đại tướng quân tay cầm vạn binh mất rồi.
    ooo​

    Mà người ta gọi y là Hổ tướng quân cũng chỉ vì cái tính tình quái dị của y.

    Chiến giáp của y khắc hình hổ trắng, chiến kỳ của y thêu hình Vân Trung Hổ. Đạo Phiên vương quân của y được Hoàng thượng ban cho cái tên Bạch Hổ, là một trong hai đạo quân duy nhất có phiên hiệu riêng. Cũng như loài vật được xưng tụng là bá vương chốn sơn lâm ấy, binh đoàn Bạch Hổ quả thật là bá vương trên chiến trường.

    Chủ tướng của họ lại càng là một con hổ dữ kiệt ngạo bất quần.

    Y đối xử với quân lính dưới quyền như con, thế nhưng với những kẻ vi phạm quân kỷ lại không hề nhân từ. Y rất ít khi bắt giữ tù binh, trừ khi là tướng soái cao cấp. Y huấn luyện binh sĩ vô cùng nghiêm khắc. Đã có lần y dẫn quân đánh chiếm một trại nhỏ người Mường phản loạn ở châu Thiên Liễu, chiến sự vốn chỉ cần hai ngày lại kéo dài đến cả nửa tuần trăng. Mãi về sau Binh bộ mới biết y lợi dụng trận thực chiến này để luyện quân. Đám tân binh vừa gia nhập bị chia thành bốn đội, thay phiên nhau ra trận. Khi trận chiến thảm liệt ấy kết thúc, hai ngàn tân quân chỉ còn lại có một ngàn hai trăm người bò ra khỏi đống xác chết.

    Quân sĩ của Bạch Hổ quân cũng nổi danh là đội quân có võ kỹ cơ bản xuất sắc nhất trong tất cả các quân đoàn. Vốn là đệ tử Ngũ Hình môn từ tuổi thiếu niên, Gia Tuyên đem bộ vũ công Ngũ Hình quyết nghiên cứu cải tiến lại những chỗ thiếu sót, chọn lấy Hổ quyết làm công pháp chính truyền lưu trong nội bộ binh đoàn. Lúc hai mươi bảy tuổi cái tên Trần Gia Tuyên đã nổi tiếng khắp kinh thành, không chỉ vì tài cầm binh đánh trận mà còn bởi vũ công cao siêu xuất thần nhập hóa. Những lúc việc binh rỗi rãi, y thường đi thăm hỏi các đại môn đại phái, ấn chứng vũ công khắp nơi.

    Khác với vũ sĩ giang hồ thường trọng đao trọng kiếm, Gia Tuyên lại thiện sử dụng trường binh như giáo và roi.

    Ngọn giáo của y tên là Hổ Nha, lưỡi thép được bảy người thợ giỏi nhất kinh thành hợp lực rèn nên, bên trên có chạm khắc bảy đường rạch như vết móng vuốt, cán giáo được làm bằng tre mộng ngâm bốn mươi chín ngày dưới suối Cửu Tuyền trong kinh thành, dẻo dai vô bì. Ngọn roi da đầu được bọc thép, dài tới bảy thước tên là Hổ Vĩ, thường hay quấn xung quanh eo như thắt lưng. Lúc ấy phóng mắt nhìn khắp một lượt hàng ngũ các tướng lĩnh trong triều, cũng chẳng có ai là đối thủ của y. Ngay cả là bọn cao thủ hộ vệ Hoa Lư như Tùy Long quân cũng phải chịu thấp hơn một bậc.

    Khi y ngồi yên, người ta chỉ có cái cảm giác lười biếng chán chường. Khi y nhấc ngọn Hổ Nha lên, người ta liền thấy khí thế hung hãn tỏa ra vô biên vô tận. Khi y động thủ, liền là biển động núi nghiêng, như sấm như chớp.

    Hoàng thượng trong một lần nghị sự cùng các tướng lĩnh cao cấp, đã nói về vị thiên tướng ấy.

    ‘Giảo hoạt mà kiên trì, bản tính lại tàn nhẫn. Kẻ ấy thật là con hổ dữ vậy.’

    Kể từ dạo đó người ta quên dần tên thật của y, chỉ gọi là Hổ tướng quân.
    ooo​

    Hoàng thượng băng hà, Trần Thành vào ngục, Hổ tướng quân cũng bị quản chế tại binh trại. Mặc dù chưa ai dám trực tiếp trở mặt với y, thế nhưng hai đạo Tùy Long quân, ba đạo Tứ Sương quân đã được Đào Cam Mộc điều động, vây kín lấy doanh trại Bạch Hổ quân.

    Mãi cho đến khi Lý Công Uẩn thân chinh tiến nhập doanh trại, cùng với Hổ tướng quân thảo luận suốt một đêm, mọi chuyện mới được giải quyết. Ngày hôm sau, người ta thấy cửa binh doanh mở rộng, Hổ tướng quân sóng vai cùng Điện tiền tả vệ Lý Công Uẩn trao trả lại hổ phù điều binh cho Binh bộ. Đào Cam Mộc mừng như bắt được vàng, vội truyền lệnh cho năm đạo quân đang vây chặt binh doanh hồi trại, lại đích thân tới ủy lạo một phen.

    Dân chúng kinh thành thở phào an tâm.

    Ấy vậy mà chưa được mấy hôm, bọn họ đã dâng trào phẫn nộ.

    Hổ tướng quân đích thân hộ tống bác họ của mình, hoặc chẳng bằng nói rằng áp giải, cựu Bình chương sự Trần Thành về lộ Bắc Giang. Chuyến đi này chỉ sau ba ngày đã biến thành một chuyến tù vận đích thực, bởi một đạo chỉ lệnh của tân Chấp chính quân Lý Công Uẩn.

    Người ta đồ rằng vì quyền thế, vì tiền đồ, con hổ dữ ấy đã phải cúi đầu khuất phục, chấp nhận ra tay với chính thân thuộc duy nhất của mình.

    Người ta nhận ra rằng, hổ, xét cho cùng cũng chỉ là cầm thú.
    ooo​

    Mười bảy ngày sau, đoàn xe tù bị mấy trăm nông dân chặn lại ở cửa núi Phục Ba, cửa ngõ trước khi tiến vào lộ Bắc Giang. Hai phần ba trong số họ, là dân cư vùng Mộc Sơn, nơi xuất thân của Đức ông Bảy.

    Đức ông Bảy, đó là tên mà dân chúng thân thiết gọi Trần Thành, vị quan trấn thủ Mộc Sơn ngày xưa. Phải biết rằng, có được tôn trọng đến mức nào, dân chúng mới tôn xưng là Đức ông. Hai từ trang trọng ấy bao hàm tất cả lễ kính, thân thương và yêu quý của những người nông dân vốn ít học, dành cho vị quan phụ mẫu của họ.

    Từ ngày Đức ông nhậm chức, không những đã ra tay trừ tiệt đi nạn nhũng nhiễu dân chúng của đám quan viên dưới quyền, mà mấy lần còn phát lệnh điều quân đội vùng Đông Bắc về để tiêu trừ đám giặc cướp, vốn hay hoành hành trong các hẻm núi vắng vẻ đầy dẫy ở vùng đất sát biên cương này. Lại cho tuyển mộ bọn thợ giỏi sửa sang cầu đường, mở thêm nhiều bãi chợ để thông thương giữa Đại Tống và Đại Cồ Việt, khuyến khích thương nhân hai nước qua lại buôn bán. Đối với nông dân trong vùng đức ông cũng hết sức quan hoài chăm lo, đã mấy lần gửi tấu chương về triều xin giảm tô thuế đất đai trong những vụ mất mùa.

    Đức ông thi hành hình luật và xử lý tội phạm vô cùng nghiêm khắc phân minh, nhưng trong bảy năm tuyệt chưa hề có một lời oán than nào từ dân chúng hay có một vụ án oan sai nào diễn ra trong vùng. Dân chúng vùng Mộc Sơn trong những năm tháng đó không ai là không kính trọng yêu mến vị quan trấn thủ của mình.

    Những lúc việc quan nhàn nhã rảnh rang, đức ông cũng thường hay ra nghỉ ngơi ở gian nhà mát trên ngọn đồi vô danh, nằm cách làng An Xá trong vùng quản hạt hơn nửa ngày đường, trên con đường vạn lý sang biên giới Trung Quốc.

    Khi đức ông nhận được lệnh vua hồi triều làm quan trong kinh, hương lão các xã trấn quanh vùng đã xin phép được đặt tên cho ngọn đồi bằng chính tên của ông. Kể từ độ ấy, ngọn đồi gần như đã biến thành một nơi cấm kỵ bí ẩn, không một ai dám tỏ ra bất kính xâm phạm.

    Khi hay tin Đức ông Bảy bị hạ ngục, sau đó cách chức và dẫn độ về lộ Bắc Giang, đám dân chúng trong vùng Mộc Sơn đã vô cùng phẫn nộ. Dân phong vùng biên cương vốn cương liệt không thuần, chỉ lệnh triều đình với họ mà nói, chẳng có bao nhiêu giá trị. Sau khi chứng kiến tận mắt vị quan mà mình yêu kính ngồi trong cỗ xe tù, mấy trăm người tụ tập nơi đó đã nổi giận.

    Xung đột liền bùng nổ như lửa cháy, chỉ thoáng cái đã biến thành trận chiến một sống một còn.
     
  15. _TA_

    _TA_ Gà cận Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    751
    Được thích:
    1.103
    Đã thích:
    2.286
    GSP:
    10p
    Ôi giời. Thảo nào. ;;). Cơ mà chú ơi. Chú viết nó Việt Nam đi chú. Toàn chưởng Trung Quốc. Chắc cháu quê quá hay sao đọc hoài cứ bị nghĩ nó là sử nước bạn. #:-s.
     
    Banhmitrung thích bài này.
  16. Banhmitrung

    Banhmitrung Gà tích cực Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    174
    Được thích:
    586
    Đã thích:
    151
    GSP:
    0p
    Viết như thế nào mới được coi là Việt Nam nhỉ?
     
  17. _TA_

    _TA_ Gà cận Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    751
    Được thích:
    1.103
    Đã thích:
    2.286
    GSP:
    10p
    Cháu không biết. Thôi để cháu nói cảm nhận nè. Hai phần đầu về cơ bản cháu thấy rất Việt Nam vì thứ nhất là chưa có nhiều thứ hư cấu quá. Thứ hai là các nhân vâth còn gần gũi.
    Còn đến phần ba. Cháu thừa nhận chú viết về kiếm hiệp khá là hay đó ạ. Đọc đến đâu liên tưởng đến đấy. Sắc và nét. Nhưng có lẽ sắc nét quá nên cái cần tập trung bị đẩy đi đâu đẩu đầu đâu ấy chú. Mấy vụ bí kíp võ công nên hay không nên viết vô truyện Việt cháu không dám phán chỉ là cá nhán đọc thấy hay đấy... nhưng lệch tông. Cháu lắm mồm chú đừng giận. Mà có giận mắng luôn chứ để bụng cháu là cháu bị kỳ thị chú đấy :D:D:D.
     
  18. Banhmitrung

    Banhmitrung Gà tích cực Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    174
    Được thích:
    586
    Đã thích:
    151
    GSP:
    0p
    Cảm ơn cháu :D

    Phần ba là phần câu truyện diễn ra ở TQ, cụ thể là Quảng Tây, nên nó phải mang màu sắc của võ lâm Trung Nguyên là đúng rồi.

    Phần bốn chỉ đề cập tới Ngũ Hình môn, một võ phái có thật ở VN, theo lịch sử thì nó du nhập vào nước ta khoảng năm 1200. Tuy nhiên chú không... thích thế và tự sáng tạo ra 1 Ngũ Hình môn thuần Việt hơn, bắt nguồn sớm hơn.

    Về sau còn rất nhiều thứ thuần chất VN, chẳng hạn như xăm mình, tục lệ người dân tộc và cũng có rất nhiều thứ của Trung Quốc, chẳng hạn như thuật sĩ Trung Hoa, vũ lâm Trung Nguyên, có cả những thứ kết hợp giữa 2 bên chẳng hạn như người Miêu Cương (người Mèo), một dân tộc sống ở vùng giáp ranh TQ-VN, người Nùng, dân tộc chiếm đất Cao Bằng - Lạng Sơn - Quảng Tây và tự thành lập quốc gia.

    Biên Cương là truyện đặt bối cảnh ở vùng tranh chấp 3 bên TQ- VN - Nùng nên nó phải dính dáng mỗi bên một ít. Về mặt văn học, nó là một truyện dã sử - vũ hiệp chứ không phải thuần lịch sử. Vũ hiệp là đặc sản văn hóa Trung Hoa, ít đc viết bới tác giả người Việt hay bối cảnh Việt nên có thể cháu chưa quen.

    Mà cháu đừng tưởng VN ta không có môn phái hay bí tịch, Yên Tử cư sĩ đã viết rất nhiều về các võ phái VN, đặc biệt về thời Trần và thời Tây Sơn, đã nghe tới Đông A kiếm phái hay Hồng Lĩnh phái chưa :D. Hoặc cháu có thể tìm đọc những truyện về cổ thuật của dân tộc vùng cao nguyên, cũng thần bí không kém gì Trung Quốc đâu.
     
    _TA_ thích bài này.
  19. Banhmitrung

    Banhmitrung Gà tích cực Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    174
    Được thích:
    586
    Đã thích:
    151
    GSP:
    0p
    Chương 04: Hổ tướng quân (b)

    “Tất cả xông lên” - Người thủ lĩnh còn rất trẻ vung cao thanh trường kiếm, hét lớn. Đó là một trong những vũ khí ít ỏi mà họ có thể tích cóp được, bên cạnh những nông cụ thường ngày.

    Đám nông dân gầm lên đáp lời, lại một lần nữa chen vai thích cánh đánh ập vào hàng ngũ phòng ngự của lính triều đình. Hàng đầu tiên đã nhanh chóng tiếp cận vào đám trường mâu đang giương ra tua tủa, bỏ qua mọi quy tắc tấn công, đơn giản chỉ là lấy thịt đè người.

    Đội quân lính được huấn luyện nghiêm minh, đối diện với khí thế liều chết khi ấy cũng quyết không lùi một bước, lấy cứng chọi cứng. Mỗi một lần trường mâu đâm ra rút vào, lại có một hàng người ngã dúi dụi xuống đất. Máu tươi nhanh chóng bị cơn mưa tầm tã rửa trôi, thấm xuống đất bùn thành một bãi lầy sền sệt. Nhất thời chiến trường biến thành một cảnh mờ mịt hỗn loạn, hai bên quấn riết lấy nhau mà đánh, tranh giành từng chút từng chút lợi thế.

    Ở mé bên trái, ba người thủ lĩnh trong tay cầm kiếm đã vây lấy Hổ tướng quân. Ba lưỡi kiếm sắc cùng đan thành một lưới kiếm lạnh lẽo dày đặc. Anh em họ Phạm và Tề thiên đại bàng Châu Trì vốn là những kẻ có danh có tiếng trên giang hồ từ lâu, vũ công cũng xem là hạng cao cường. Lấy một đấu một với Hổ tướng quân thì có thể họ sẽ thất bại nhanh chóng, nhưng hợp sức vây công thì có hy vọng cầm chân được y một thời gian.

    Chỉ cần cầm chân và phân tâm được Hổ tướng quân, là họ có hy vọng đột phá được hàng rào phòng ngự của quân triều đình, giải cứu cho đức ông. Dù sao thì số người của họ vượt gấp mấy lần số quân lính triều đình. Niềm hy vọng đó, dù rất đỗi nhỏ nhoi, khiến kiếm thế của họ thêm mấy phần lăng lệ.

    Hổ tướng quân nhìn thấy khí thế quyết tử của ba người, vỗ lên yên ngựa, quát:

    - Giỏi cho nghịch tặc điêu dân.

    Lời ấy vừa dứt, ngọn giáo trong tay y đã quét ra, ỷ vào kình lực hùng hậu mà trực tiếp đánh qua lưới kiếm. Choang choang mấy tiếng, mấy người bọn Châu Trì đều cảm thấy cổ tay hơi tê dại, suýt chút nữa đã lơi tay rơi kiếm. Sức mạnh của vị thiên tướng ấy quả thật quá kinh khủng. Y lại dựa vào đặc tính mềm mại của cán giáo tre, có thể uốn cong lại như linh xà phá không, liên tục điểm tới bằng những phương vị kỳ lạ, ép đám thủ lĩnh vào thế phòng ngự, không làm sao tiến lại gần được nữa.

    Y lấy một chọi ba mà khí thế vẫn tỏ ra ung dung nhàn nhã. Con ngựa khoang vốn theo chủ chinh chiến đã lâu nên tràn đầy thông minh linh tính, khéo léo quay mình dựa vào một bên sườn núi, giúp cho y chỉ cần chuyên tâm đối phó một mặt đằng trước. Ngọn giáo xuất chiêu liền lạc kín kẽ, lúc như dương liễu trong gió, lúc lại tựa biển động sóng trào.

    Bấy giờ bên phía chiến trường chính, quân đội với ưu thế kỷ luật và hàng ngũ vững chắc vẫn không bị phá vỡ, trường mâu trong tay nhịp nhàng đâm ra thu vào, mỗi lần đâm ra là móc lấy một người kéo về, sau đó dùng trường đao chém ngã tại chỗ. Đám nông dân chỉ có hào khí chống đỡ tới lúc này, chật vật cố giữ vững đội ngũ, nhưng có thể thấy nếu kéo dài thêm nữa tất sẽ đại bại.

    Trong cả ba thủ lĩnh của lần hành động này, Châu Trì là người lão thành trì trọng nhất, vũ công cũng cao cường nhất. Từ lúc vạch ra kế hoạch cho đến khi bày binh bố trận đều do một tay lão xếp đặt. Liếc mắt thấy phe mình sắp vỡ trận, Châu Trì thu kiếm lại, huýt lên một tiếng sáo ra hiệu với anh em họ Phạm.

    Hai anh em họ Phạm nghe tiếng huýt sáo ấy liền triển khai một kiếm trận nho nhỏ, khoá chặt ngọn giáo của Hổ tướng quân lại. Kiếm trận của họ tuy đơn giản mộc mạc, nhưng hàm ý trong đó lại bắt nguồn từ âm nhu dương cương.

    Âm dương vốn là lẽ cốt lõi của trời đất, vạn vật đều phải có âm có dương, kiếm ý trong kiếm trận này cũng mênh mang rộng lớn như trời đất vậy. Vốn là do một vị đại tôn sư nghiên cứu mà thành, tuy anh em họ Phạm vũ công không thể gọi là cao thủ hạng nhất nhưng kiếm trận này lại quá đỗi tinh diệu, hai người bọn họ chỉ có thể thi triển ra một phần vậy mà cũng đã dồn ép được ngọn giáo của Hổ tướng quân.

    Châu Trì nhân cơ hội tung người nhảy lên cao mấy trượng, thân hình tráng kiện vươn ra như cánh chim ưng, trường kiếm rạch thành một đường lấp loá chém xả xuống. Ngoại hiệu của người này trong giang hồ là Tề Thiên Đại Bàng, khinh công dĩ nhiên rất cao, dáng vẻ khi nhảy lên cũng rất hào hùng đẹp mắt.Hổ tướng quân thấy lão từ trên bổ nhào xuống, liền đấm ra một quyền tay trái. Quyền kình từ tay y tụ thành một khối, xé toạc màn mưa tầm tã đập thẳng lên nghênh đón chiêu kiếm của Châu Trì, khí thế nghiêng trời lật đất.

    Châu Trì nhẹ nhàng nghiêng bản kiếm đi, áp vào quyền kình của Bạch Hổ. Chỉ thấy thân hình ông khẽ uốn một vòng, đã nương lực nhảy vọt về phía sau, đồng thời móc từ trong người một viên đạn ánh sáng ném mạnh lên cao.

    Viên đạn ấy xé gió lao đi, đến khoảng lưng chừng trời thì nổ tung ra. Một quầng sáng rực rỡ loé lên giữa đất trời đang cơn mù mịt, tựa như con phụng hoàng ánh sáng rạch mây bay vọt lên, mỹ lệ hào nhoáng vô cùng.

    Gần như đồng thời xuất hiện với vầng sáng ấy là bóng kiếm lấp lánh tuôn trào, một đội kiếm sĩ mấy chục người từ phía sau một ngọn đồi thấp rùng rùng kéo ra, chiến ý tỏa lên ngất trời.

    Giữa lúc này thinh không lại giáng xuống một tia sét soi sáng cả chiến trường, kéo theo một tiếng sấm vang động như tiếng trống trời. Đội kiếm sĩ trong tiếng sấm ầm ầm ấy đổ xuống như thác, lao nhanh về phía hai phe đang giằng co, trường kiếm tuốt trần phản chiếu ánh sáng lấp loá, chỉ mấy chục người mà khí thế sánh ngang với thiên quân vạn mã.

    Hổ tướng quân trông thấy phe mình bị đánh lén thì cau đôi mày kiếm, giận dữ quát lên:

    - Nghịch tặc điêu ngoa.

    Hai anh em họ Phạm đang vây công y nghe vậy liền ha hả cười lớn, hợp sức đánh dấn vào, kiên quyết không cho y quay về chiến trường chi viện. Mà Châu Trì khi ấy đã đáp xuống đất rồi, cũng nhanh chóng chạy tới giáp công ở phía sau.

    Bấy giờ quân triều đình đã giết chết vô số nông dân. Thế nhưng bọn kiếm sĩ thân thể cao lớn tráng kiện, hành động lại nhanh nhẹn vững chắc, ắt hẳn là loại vũ sĩ giang hồ thông thuộc chuyện đánh nhau. Nếu như ngày thường quân lính còn có thể dựa vào số lượng và đội ngũ để áp đảo bọn họ, nhưng qua mấy đợt tấn công liều chết, trăm lính áp tải chỉ còn lại không quá sáu mươi người.

    Đám nông dân gần như tan rã, có vài nhóm người do quá khiếp đảm trước cảnh tàn sát ghê rợn đã quay lưng bỏ chạy, lúc này thấy bên mình có lực lượng tiếp viện lại nhất tề ập vào, khiến lính triều đình càng thêm khó khăn.

    Nếu chỉ bàn về vũ công thuần tuý, lính chiến đấu dù cho có được huấn luyện kỹ lưỡng đến thế nào cũng không phải là đối thủ của vũ sĩ giang hồ. Và vũ kỹ của họ cũng thường hướng đến việc công thủ chiến đấu ở sa trường, trong tình cảnh đánh giáp lá cà số lượng nhỏ như thế này thật sự là vô cùng bất lợi. Chỉ qua một lúc, đã có rất nhiều quân lính bị đánh chết, đội hình phòng thủ bắt đầu thủng lỗ chổ khắp nơi.

    Giữa lúc nguy ngập ấy, một hồi tù và trầm trầm vang vọng trên sườn núi Phục Ba, át hết những âm thanh trận chém giết bên dưới. Giữa tiếng mưa rơi như thác đổ, tiếng tù và ấy nghe tựa tiếng gầm gừ giận dữ, lại phảng phất chút ý vị sát phạt hung tàn của quái thú thời viễn cổ.

    Đám Châu Trì nghe hồi tù và trận mạc đó vang lên, bỗng nhiên cảm thấy một chuỗi ớn lạnh dấy lên trong lòng.
    ooo​

    Hổ tướng quân lạnh lẽo nở một nụ cười, ngọn giáo trong tay y lúc này mới hiển thị cái thực lực chân chính của nó.

    Từng đoá từng đoá hoa nước nở bung trong màn mưa, cuốn theo sau là lưỡi giáo sáng lấp lánh, âm dương kiếm trận sát khí đầy trời bất chợt bị đám hoa nước ấy hút vào, biến mất không hình không tích. Anh em họ Phạm hoảng sợ, nhưng đã trót ở thế đã rồi chỉ còn cách dồn ép nội lực liên miên bất tuyệt vào kiếm. Càng dồn ép càng cảm thấy nội lực mình như sông chảy vào biển lớn, không biết bao nhiêu mới là đủ. Trong một thoáng gương mặt họ tái xám lại, biểu hiện của việc hao tổn nội khí quá nhanh.

    Tề thiên đại bàng Châu Trì thân kinh bách chiến, làm sao mà không biết tình cảnh khốn khổ của chiến hữu. Thế nhưng lão đối phó với Hổ quyền hùng hậu của Hổ tướng quân đã chật vật tới mức thở hồng hộc, chẳng lấy đâu ra sức mà tiếp cứu nữa.

    Gương mặt vị tướng quân càng lúc càng lạnh lẽo như phủ một tầng sương. Y đã thật sự nổi giận, sát khí toả ra dày đặc, ngọn giáo mớ lớn đóng lớn, bủa vây lấy đối thủ không chừa bất kỳ đường lui nào. Một khi con hổ dữ ấy nổi giận, y sẽ không để ai được sống.

    Ở chiến trường bên kia.

    Hồi tù và vừa dứt, trên cao điểm bên sườn núi Phục Ba có hơn mười tay cung thủ hiện ra, người cầm đầu là một lão giám quân mặc áo nâu, dáng vẻ quắc thước nghiêm nghị. Lão phất lá cờ vàng trên tay, một làn tên liền rải xuống đám kiếm sĩ đang áp sát vào đội hình phòng ngự của quân đội. Tuy bọn kiếm sĩ đều cảnh giác huơ kiếm chống đỡ, nhưng trong lúc trời đất u ám khó trông thấy rõ này, mấy chục người liên tiếp bị trúng tên ngã lăn ra.

    Người đứng đầu đám kiếm sĩ phản ứng cực nhanh, y huýt sáo ba tiếng, tức thì có một đội chừng ba mươi người tách ra, truy sát bọn cung thủ trên sườn đồi.

    Khoảng cách từ ngọn đồi nơi bọn họ mai phục đến chân núi không ngắn, lúc họ vượt qua được khoảng cách đó thì đám cung thủ đã kịp bắn hơn mười loạt tên, loại ra khỏi vòng chiến gần hai mươi người. Dù là như thế thì mười kiếm sĩ khi áp sát lại vẫn đủ sức giết sạch số cung thủ gấp bốn lần mình.

    Thế nhưng chân chính đáng sợ, lại không phải là bọn cung thủ.

    Tiếng ngựa hí dài vọng tới cùng với tiếng vó ngựa gõ ầm ầm như trống trận vang lên. Một toán kỵ binh hơn hai mươi người từ hẻm núi xông ra, đi đầu là một viên tướng trẻ khoác chiến giáp đỏ rực.

    Cơn mưa đang tuôn trào như thác bất chợt ngừng lại, cũng đột ngột như lúc nó kéo tới vậy. Bầu trời đang ảm đạm mờ mịt bỗng trong thoáng chốc sáng bừng lên, ráng hồng kéo dài thành một dòng sông lửa, mênh mang không biết kết thúc ở nơi nào.

    Viên tướng ấy tóc dài xoã bay tán loạn, ngọn trường thương trong tay hoa lên thành một vầng sáng bạc. Con chiến mã sắc lông màu hung hí dài đầy dã tính, cuồng loạn phi như bay.

    Điểm đỏ rực ấy như một ngọn lửa chói lọi đầy hung hãn, như bắt đầu từ trời đất hồng hoang thuở xa xưa kéo đến nơi này, thiêu đốt tất cả những gì trên đường nó đi qua. Đám kỵ binh theo sát sau lưng y như hùm như gấu, kết thành một đội hình nhọn hoắc xộc thẳng vào đám kiếm sĩ đang xông tới.

    Mũi nhọn ấy dễ dàng cắt đôi đội hình của bọn kiếm sĩ, dày xéo dưới chân ngựa không biết bao nhiêu là mạng người, cũng đồng thời cắt vào trái tim của bọn Châu Trì một nhát đao.

    Từ khi bọn họ nhận được tin tức Hổ tướng quân cho tung nhiều nhóm quân binh giả làm áp tải tù xa toả ra thành mấy đường, còn chính mình xuất lãnh hơn một trăm người đi theo con đường núi Phục Ba vốn khó đi nhất, thì bọn họ đã tốn không biết bao nhiêu công sức tập trung một nhóm nghĩa sĩ liều chết mai phục ở đây, lại đến từng thôn từng xóm vận động những người nông dân chân chất đi giải cứu cho vị quan mà họ kính trọng.

    Thế nhưng giờ đây họ chợt nhận ra cái kế hoạch tưởng như hoàn hảo, trong mắt những viên đại tướng dày dạn như Hổ tướng quân thì không đáng lấy một đồng chinh. Y đã tương kế tựu kế sắp đặt một cái bẫy để một lần hốt trọn bọn họ.

    Cái bọn vũ sĩ chỉ biết tranh chấp trên giang hồ là họ đó, thật là quá đỗi non nớt ngây thơ.
    ooo​


    Đã thất bại rồi.

    Cái ngọn lửa hừng hực trong tim của đám nghĩa sĩ, cái dũng khí hào hùng của họ đã bị đánh cho tan tác, như cát khô gặp gió mạnh, từng mảng từng mảng bay đi tung toé.

    Vậy thì thà làm ngọc vỡ.

    Người thủ lĩnh cầm đầu đám kiếm sĩ, chính là người đứng thứ hai trong ba anh em họ Phạm, bạt kiếm ra đón đầu viên tướng trẻ mặc chiến giáp đỏ.

    Anh em họ Phạm hai mắt đỏ ngầu, liều mạng xông vào Hổ tướng quân. Châu Trì cõi lòng nguội lạnh, trường kiếm hoa thành một quầng sáng, tung người nhảy lên cao.

    Đám kỵ binh tung hoành ngang dọc trên chiến trường, trường thương mỗi lần vung ra là đem đối thủ ghim xuống đất. Bọn lính triều đình từ thế phòng ngự đã toả ra, quyết liệt truy sát những người nông dân lúc này đang hoang mang bỏ chạy.

    Đám cung thủ trên sườn núi bắn ra từng phát từng phát tên xé gió, chính xác cắm ngập vào lồng ngực đầy máu nóng.

    Chiến trường đã biến thành một nơi đồ sát.

    Cầu vồng bảy màu hiện ra rực rỡ giữa trời.
    ooo​

    “Bác Châu, anh hai” - Người nhỏ nhất trong ba anh em họ Phạm, Phạm Hồng, phẫn uất hét lớn - “Chạy đi”

    Hổ tướng quân cười lớn, mắng:

    - Chạy ư. Hôm nay bọn điêu dân các ngươi gom lại nơi đây, chết chung một lần vậy.

    Ánh mắt Phạm Hồng loé lên một tia sáng chết chóc, y lặp lại, nghe như một tiếng than van rền rỉ:

    - Chạy đi, chạy đi, rồi sau này trả thù cho em.

    Dứt lời y đã xông tới phía sau Phạm Diểu, nắm lấy cổ áo người anh cả kéo giật về phía sau. Châu Trì thấy tình cảnh ấy thì ngớ người, tay kiếm bất chợt lơi đi một thoáng. Hổ tướng quân chớp lấy cơ hội, tay trái liền vung ra, ngọn roi da vốn quấn quanh thắt lưng y lúc ấy như linh xà ngóc đầu dậy. Ngọn roi ấy trước tiên quấn gãy thanh trường kiếm của Châu Trì, sau đó mũi thép giáng một đòn cực mạnh vào lồng ngực lão, đánh gãy luôn mấy rẻ xương sườn, hất lão văng ra mấy chục trượng.

    Ngọn giáo của y lại xọc thẳng tới, đâm xuyên qua ngực Phạm Hồng thành một cái lỗ to như miệng bát, lúc kéo giật lại, cơ hồ đã lôi cả quả tim y ra ngoài. Thế mà lúc nhìn vào mắt Phạm Hồng, Hổ tướng quân từng trải gan dạ là thế mà cũng phải giật mình.

    Đôi mắt của chàng thanh niên ấy đã hoàn toàn biến thành một màu đỏ như máu.

    Cơ bắp sau lưng của Phạm Hồng nổi gồ lên, thân hình của y không ngừng cao lớn thêm, oành một tiếng đã xé nát lưng áo, vụn vải bay tơi tả trong không trung như một đàn bươm bướm màu xám. Phạm Diểu lúc này đứng phía sau có thể trông thấy hình xăm chim Lạc sau lưng em mình đã hoá thành màu vàng chói mắt, nét xăm sinh động rỡ ràng như muốn phá không bay lên, đồng thời toàn thân y nổi lên những hoa văn kỳ bí thì hoảng hốt la lên:

    - Chú ba, không được.

    Lúc ấy một tiếng kêu vừa thảm thiết vừa phẫn uất vang lên, Phạm Diểu vừa nhìn sang bên ấy đã chết lặng. Người em thứ hai của y, Phạm Hải bị viên tiểu tướng áo đỏ chặt đứt thủ cấp trong lúc hai mắt vẫn mở trừng trừng. Cái đầu của y lăn lông lốc trên chiến trường được vài thước thì bị một con ngựa xéo qua, tan nát thành một đống bầy nhầy. Thân người cao lớn của y từ từ đổ nghiêng xuống, trên tay vẫn nắm chặt trường kiếm không rời, máu tươi từ cổ họng phun ra có vòi.

    “Ngũ Hình môn” – Hổ tướng quân tập trung sự chú ý vào Phạm Hồng, lẩm bẩm - “Chi Hoàng Lạc, không ngờ lại là người của chi Hoàng Lạc”.

    Phạm Diểu gầm lên một tiếng bi thương, liều mạng nhảy tới thì một bàn tay đã nắm chặt vai y kéo lại. Y điên loạn vùng vẫy, chỉ chịu dịu lại khi thấy trước mặt là đôi mắt già nua đang đẫm lệ căm hờn cùng vẻ mặt méo mó vì đau đớn của Châu Trì.

    “Đi” - Châu Trì gầm gừ, giọng đã khàn đặc vì đau đớn - “Đi, chúng ta sẽ trả thù cho bọn họ.”

    Lúc này toàn thân Phạm Hồng đã nhuộm đẫm máu tươi, máu huyết từ kỳ kinh bát mạch của y tứa ra đỏ thẫm khắp người, máu từ thất khiếu cũng chảy thành dòng khiến bộ dáng y trông thật kinh sợ. Hình xăm chim Lạc phía sau lưng y, màu vàng rực cơ hồ đã bị máu nhuộm sang màu đỏ chói mắt. Thân hình y tựa như bị một sức mạnh vô hình nhấc bổng lên không trung, cứ lơ lửng ở đó một cách kỳ quái.

    Đôi mắt đã hoàn toàn mất đi hai màu trắng đen, chỉ còn là hai hòn máu ghê rợn.

    “Vẫn-Lạc-Lưu-Quang” - Y chầm chậm thốt lên mấy tiếng như vậy.

    Từng tiếng từng tiếng một, cứ nặng nề rơi xuống.

    Một sức mạnh vô hình tràn đến như sóng, cuộn xoáy từng tầng từng tầng ở vùng trời bên trên chiến trường. Hổ tướng quân khi cảm nhận thấy sự kinh khủng của lực lượng ấy cũng phải tái mặt lại.

    Sức mạnh của đất, sức mạnh của trời, oán khí của người, dường như lúc này đang tụ hội lại một nơi, gầm gào trong câm lặng. Toàn bộ người ngựa đang chém giết nhau trên chiến trường đều sững ra, nhìn chăm chăm vào thân thể như đang bốc cháy giữa không trung ấy.

    “Nhắm mắt lại” - Bạch Hổ tướng quân gầm lên vang động, phá tan phút tĩnh lặng bất ngờ ấy.

    Một quầng sáng kỳ ảo từ từ nở rộ, một đoá hoa sáng trắng càng lúc càng phình to ra, càng lúc càng rực rỡ như ánh mặt trời. Tất cả rơi vào thinh lặng, mọi thứ tiếng ồn ào như bị hút sạch vào đoá hoa sáng loá đó.

    Đất trời, lặng thinh.

    Chiến trường, lặng thinh.

    Lòng người, lặng thinh.

    Chỉ còn cái đoá hoa sáng rực một góc trời ấy, lặng lẽ chiếu sáng cả một vùng. Ở giữa tâm hoa, một ngọn lửa đỏ bùng cháy, thiêu tất cả mọi thứ ra tro.

    Con chim Lạc kiêu hãnh như gió trời đã trở về với thiên không, để lại trong lòng người một khoảnh khắc thảng thốt. Cho dù là địch nhân, dù là hai phương đang đối đầu, khoảnh khắc ấy cũng đều thầm khâm phục khí phách của gã chiến sĩ can trường.
    ooo​

    Quân triều đình không bắt tù binh. Gần trăm người còn sống đều bị lôi ra chém chết tại chỗ. Giây phút Phạm Hồng dùng thân mình đánh ra một chiêu thức tự tận cuối cùng ấy đã sát hại thêm mấy chục gã binh sĩ cùng cả trăm nông dân. Ngay cả mấy vị tướng quân vũ công cao cường như Hổ tướng quân và viên tiểu tướng áo đỏ cũng vô cùng chật vật.

    Châu Trì và Phạm Diểu bỏ trốn, dẫn dắt theo chỉ mấy chục người. Số kiếm sĩ còn sống sót không quá mười người. Lực lượng của họ đã tổn hại nghiêm trọng.

    Bãi đất ở trước hẻm núi Phục Ba, màu đất đã biến thành màu đỏ thẫm. Tất cả những người tử trận của hai bên đều dồn lại chôn chung trong một cái hố thật lớn. Những dòng nước nhỏ len lỏi trên mặt đất lồi lõm, đem theo máu thịt của những đứa con trở về với đất mẹ, trông tựa như những dòng nước mắt màu huyết.

    Tiếng tù và đưa hồn thổi tím cả một buổi chiều tà.
    ooo​

    Lão giám quân đã dẫn đám cung thủ từ cao điểm đi xuống hội hợp với quân triều đình. Hổ tướng quân cũng cài giáo lên lưng ngựa, tiến tới hỏi một người trung niên cao gầy đang đứng giữa đám cung thủ:

    - Bác bảy, người không sao chứ?

    Người đàn ông ấy phất tay áo, bất giác biểu lộ khí chất uy nghi, đáp khẽ:

    - Ta không sao. Chúng ta tiếp tục lên đường thôi.

    Thế nhưng Hổ tướng quân bỗng nhiên khựng lại, roi Hổ Vĩ quấn ở lưng gào thét xé gió bay ra, chấn lui một gã mặc quần áo lính triều đình đang lao tới.

    Thân pháp gã lính biến ảo như hồn ma bóng quế, dưới bóng roi mười phần hung hãn đó không ngờ lại có thể khéo léo luồn ra, trên tay đã thấy lấp lánh một lưỡi liễu đao. Y lao thẳng về phía người đàn ông với một tốc độ kinh người.

    Biến cố xảy ra nhanh như chớp giật, hầu như không ai kịp phản ứng.

    Uỳnh một tiếng, Hổ tướng quân đã đánh bay mấy người lính đứng bên cạnh, dùng thân xác họ cản đường gã thích khách. Thứ “vật cản” này quá đỗi ghê gớm khiến gã ta buộc lòng phải nhô lên hụp xuống tránh né mấy lần, trong lúc đó thì ngọn Hỗ Vĩ đã cuộn vòng trở lại, quấn lấy người đàn ông kéo giật về phía Hổ tướng quân.

    Viên tướng trẻ áo đỏ là người thứ hai kịp thời ra tay, trường thương trong tay nhanh nhẹn đâm xuyên tới, thoáng chốc vẽ ra mấy đoá thương hoa, chặn gã thích khách lại. Đối đầu với ngọn thương tất sát ấy, gã thích khách lại có thể thản nhiên vung tay trái thọc vào giữa màn thương hoa, chỉ khẽ vuốt một cái đã có thể ấn chúi lưỡi thương xuống. Ngón tay cái của gã lại búng ra một búng, trong nhày mắt phóng thích một sức mạnh khủng khiếp đến mức đánh bật cả thanh trường thương.

    Lưỡi đao nhỏ trong tay phải đồng thời rít dài, lao về phía lưng người đàn ông như một đốm sao băng, tốc độ nhanh đến chóng mặt.

    Hổ tướng quân cũng không kịp rút giáo, chỉ nghe y gầm lên một tiếng, đấm ra một quyền. Quyền kình chặn đứng mũi phi đao lại, nội lực đôi bên cùng một lúc xung đột từ hai phía, phành một tiếng đã đánh lưỡi liễu đao thành bột sắt. Kình khí tán ra bốn phía khiến những kẻ nội lực yếu liền cảm thấy lồng ngực như bị táng một chùy, thậm chí có mấy kẻ thổ máu tại chỗ.

    Một hồi chiến đấu ngắn ngủi này, so ra còn nguy hiểm kịch tích hơn trận chiến với đám anh em họ Phạm. Hai bên trong nháy mắt đã thi triển hết sở học phi phàm cùng nội lực kinh người của mình, chiêu thức tung ra như sét đánh chớp giật, người thường chẳng thể sánh bằng.

    Đám kỵ binh lúc này mới nhao nhao ùa tới, cùng lúc rút lang đao ra vây chặt lấy thích khách. Hổ tướng quân loạng choạng lùi lại mấy bước, đưa tay đón lấy người đàn ông. Viên tướng trẻ cũng đã nhảy tới chặn ở phía trước hai người, trường thương biến ảo như con rồng bạc lượn trong mây, tấn công liên tục bảy chiêu.

    Chỉ nghe thấy gã thích khách cười lên một tiếng cụt ngủn, ném ra một viên Yên châu. Thoáng chốc một làn khói màu đỏ quạch bao phủ cả một vùng, trong ánh sáng nhập nhoạng buổi hoàng hôn lại càng lợi hại. Đám kỵ binh la lối om sòm nhưng cũng không dám loạn động, quây lại một vòng tròn bảo vệ chặt chẽ xung quanh Hổ tướng quân và người đàn ông kia.

    Nhưng đến khi khói mù tan bớt, gã thích khách ấy đã tựa như đã tan vào không khí rồi. Gương mặt vốn trầm tĩnh của Trần Thành và Hổ tướng quân thoáng hằn lên một nét âu lo.

    Người muốn họ chết, không phải chỉ có bọn nghĩa sĩ Mộc Sơn.​
     
  20. _TA_

    _TA_ Gà cận Nhóm Tác giả

    Bài viết:
    751
    Được thích:
    1.103
    Đã thích:
    2.286
    GSP:
    10p
    Chú tuyệt ghê nha. Cái gì cũng biết. Mấy thứ chú nói đích thực cháu chả biết gì lun. Ho hi.
    Cháu sẽ theo dõi truyện của chú để hiểu hơn. Hi hi.
    Năm mới chúc chú viết được nhiều tác phẩm hay nha. Hi hi.
     
    Banhmitrung thích bài này.

Chia sẻ trang này