Vạn dặm hoa đào trong mưa hạ - Chương 01 - 02

Chương 1: Con người đều có số kiếp cả 

Đông năm nay tuyết phủ trắng xóa lưỡng quốc, báo hiệu một mùa xuân tràn trề sức sống của năm sau. Tú Ly khoác thêm cho ta chiếc áo lông chồn, thật ra ta vốn đã chẳng biết lạnh là gì rồi cho dù có khoác thêm vài ba cái nữa cũng vô ích nhưng ta lười chẳng muốn mở miệng từ chối.

Trong sân viện, cây đào già đã nhú nụ xanh, màu xanh hiếm hoi giữa bạt ngàn đất trời trắng xóa. Năm nay chắc ta không còn cơ hội ngắm hoa đào nở nữa rồi vì người trong cung Đại Mạc gửi thư khẩn lệnh ta về kinh.

“Hoàng thượng đã mời được thần y đợi sẵn trong kinh để chữa bệnh cho công tử rồi, cớ gì người cứ lần lữa mãi không hồi thư?” Tú Ly cứ luôn miệng bảo ta vô tâm không để ý đến tấm lòng của Hoàng thượng bệ hạ. Thực ra ta biết rõ bản thân đã đi đến giới hạn nào rồi, mỗi người có số mệnh của riêng mình, hà tất gì phải trốn tránh số mệnh của ta bằng mấy thứ thuốc đắt tiền đó, chi bằng cứ lấy số tiền đó mà phân phát chi nạn dân Tuyền Châu bị hạn hán đổi lấy mấy cân gạo còn có ích hơn.

“Ngươi và Nam Điền đi chuẩn bị hành lý ba ngày nữa xuất phát, ta phải chuẩn bị quà gặp mặt Hoàng thượng.”

Tú Ly tưởng ta đổi ý nên cười hớn hở vâng dạ chạy vào trong nhà, ta ngồi ngoài hiên ngắm mấy nụ đào xanh mơn mởn bỗng thấy nhói lòng.

Ký ức tự nhiên ùa về như chỉ mới ngày hôm qua, ta vẫn còn là cô bé mười bốn tuổi, mặc áo quần nam tử chạy lông nhông ngoài phố Chu Tước chơi ném tuyết với mấy đứa trẻ đầu đường xó chợ đến tận nửa đem mới về. Bị cha phát hiện liền hứng chịu một trận đòn nhừ tử, vậy nhưng khi ta rưng rưng nước mắt lấy cành đào giấu trong lớp áo dày ra thì ông liền ngừng lại, chỉ nhìn chăm chăm vào cành đào trong tay ta rồi mới giơ cao chân đá ta ra ngoài cửa, còn ác ý đóng sầm cửa phòng một cái thật mạnh nữa. Ta biết ông đang nghĩ gì. Ông là đang nhớ mẹ ta.

Trước chiến tranh cha ta chỉ là một tên đồ tể, hồi ấy mẹ ta là con gái nhà Nho nhỏ nhưng kiến thức cùng cầm kỳ thi họa đều tài giỏi cả, thế mà không biết ông làm cách nào có thể khiến cho bà dám cả gan cãi lời phụ mẫu bỏ gia đình để theo ông. Cho nên mỗi lần ông tức giận mắng ta không biết học tập ý chí cầu tiến của ông, chỉ suốt ngày lông bông ngoài đường, ta liền lôi chuyện cũ ra thọc gậy bánh xe.

“Con học cha để khiến công tử người ta bỏ nhà theo con chạy chơi ngoài đường luôn hả?”

Sau đó ta liền vọt thật nhanh ra cổng, tránh cho ông tức giận rồi lại vơ lấy cái gì gần đấy ném ta nữa thì khốn. Nhưng ta biết ông rất tốt với mẹ ta, từ khi bà theo ông về chưa bao giờ phải chịu khổ gì cả. Thậm chí lúc bà mang thai ta, ông còn xuống tận bếp làm cơm nấu cháo mặc dù ta biết thứ ông làm ra cũng chẳng tốt lành hơn của ta là bao.

Đùng một cái chiến tranh xảy tới, Hoàng đế Đại Phù mới lên ngôi dã tâm mở rộng bờ cõi tấn công đến Đại Mạc, cha ta bị bắt đi lính đánh giặc. Lúc đánh đến Nham thành, cha ta đã lên tới chức tướng quân đứng đầu bạch quân Dã Kỳ, tin thắng lợi vừa về đến kinh là lúc ta ra đời. Nhưng đợi cha ta khải hoàn trở về không phải là người phụ nữ ông yêu bên cạnh đứa con nhỏ, mà chỉ có ruộng vườn tiêu điều, cờ trắng treo trước cửa phất phơ trong gió và người vợ mỉm cười lặng yên nằm trong áo quan lạnh ngắt. Vậy mà ông không khóc.

Thế mà khi đón lấy ta từ tay người họ hàng ông lại òa khóc ngon lành, hồi đó chưa có trí nhớ nên ta không biết bộ dáng ông khóc ra sao, càng lớn lên lại càng không có cơ hội thấy nữa. Nhưng ta khẳng định lúc đó ông xấu lắm, đến nỗi mà ta được bế cũng khóc theo, Bàng thúc – một thuộc hạ của từng cùng chiến đấu với cha ta – kể lại cảnh tượng ấy trông buồn cười vô cùng.

Ngày chôn mẹ, cha ta đã bứt một cành hoa đào nhuốm đầy tuyết trắng đặt lên mộ bà, ông nói hồi trước bà thích nhất là kéo tay ông đạp trên tuyết trong sân ngắm hoa đào nở. Nhưng từ đấy về sau ta chẳng còn thấy ông ngắm hoa đào nữa, cả trời tuyết xuân ông cũng chê phiền. Ta lúc đó còn nhỏ nên suy nghĩ đơn giản cứ tưởng ông không còn yêu mẹ ta nữa, bây giờ mới hiểu là ông sợ nhìn cảnh sẽ nhớ người rồi lại đau lòng.

Nỗi đau ấy hẳn là lớn lắm, cho nên người đàn ông chinh chiến trận mạc đến kiếm chém thương đâm cũng không kêu rên, thế mà lại chùn bước trước nó.

“Công tử, người làm rơi áo choàng rồi.” Giọng Nam Điền trầm thấp kéo ta khỏi hồi ức xưa cũ.

Lúc này ta mới phát hiện đang đứng giữa sân, ngắm mãi những hạt tuyết đọng trên nụ hoa nhỏ xíu làm che mất đi màu xanh của nó, mái tóc của ta cũng bị bông tuyết che trắng cả đầu, bộ y phục màu trắng xám càng làm cả người ta dường như chìm vào trời đất, vậy mà hắn vẫn có thể nhận ra được. Nhìn chiếc áo khoác lông bị ta vô ý làm rơi, màu đỏ rực rỡ như màu máu trên nền đất tuyết lại càng nổi bật hơn, cứ như muốn làm trung tâm của nơi đây vậy, thật chói mắt. Ta thẳng chân đạp lên nó bước vào trong.

Nam Điền thương hoa tiếc ngọc định nhặt chiếc áo lên thì bị ta cản lại.

“Nó muốn rực rỡ như thế, muốn làm trung tâm của cả vũ trụ này thì cứ để nó nằm đó mà làm, nhưng với ta nó cũng chỉ là thứ đồ nhìn không vừa mắt, chủ nhân ta đây muốn vứt bỏ nó.”

Nam Điền cười bất lực bước theo sau ta, chắn hắn nghĩ ta ác độc đến độ một cái áo khoác vô tri vô giác cũng không tha. Nhưng ai bảo nó lại mang màu đỏ chứ hoặc giả có trách thì trách Tú Ly màu gì không chọn lại chọn màu đỏ cho ta.

Ta ghét nhất là màu đỏ!

“Tiểu nhân nghe Tú Ly nói công tử muốn mua quà cho Hoàng thượng nên đã chuẩn bị xe ngựa đợi sẵn trước cổng, vậy công tử muốn đến phường nào?”

Ta thả bức thư gửi từ hoàng cung vào lò sưởi, lưỡi lửa đỏ rực liếm gọn mảnh giấy, chỉ trong chớp mắt đã biến nó thành đống tro xám xịt. Mang danh là con dân Đại Phù mà lại bị phát hiện nhận thư tay từ Hoàng đế Đại Mạc thì đúng là dùng đầu gối cũng suy ra được thân phận của ta.

“Phường Xuân Vũ.” Ta nhàn nhạt trả lời hắn.

Đã hai năm rồi mới về lại cố hương, chuyến này không thể trở về tay không được, nhất định phải chuẩn bị quà lớn cho Hoàng đế mới được.

Phường Xuân Vũ là phường ca múa lớn nhất nằm ở phía tây nội thành, chiến cả góc lớn phố Chiêu Dương. Phía trước treo đầy lồng đèn đỏ, ngói xanh tường vàng, nữ nhân mặc váy nhiều tầng tha thướt lượn qua lượn lại trước cổng chính mời khách, khoa trương đến chói mắt.

Đây cùng là nơi tứ phương hội về, thương nhân Tây Vực, Ba Tư, Đại Phù, quan lại triều đình đến tìm vui cũng không ít. Không nơi nào thích hợp để mua quà hơn.

Ta để lại Nam Điền đợi ở ngoài xe ngựa, một mình đi thẳng vào gặp tổng quản phường là Quế Mai: “Đêm nằm mộng gặp khách lữ hành...”

Bà ta đáp khẽ: “...Ngày vượt thác tiễn mùa đào anh.”

Sau đó ta được dẫn vào một căn phòng nhỏ ở trên lầu ba, bà ta biết ý khẽ khàng lui ra, nữ tử sau bức bình phong hoa mai váy áo thướt tha bước ra, chỉ là trên gương mặt nàng ta không có lấy một tia cảm xúc. Nàng ta ở phường Xuân Vũ được mệnh danh là đệ nhất ca kỹ với ngón đàn tỳ bà thần sầu, Nguyệt Thanh, nhưng đối với ta nàng ta chỉ có một cái tên: Khách lữ hành.

“Làm gì mà căng thẳng vậy, cô nương không cần tỏ vẻ mình là gián điệp của địch quốc được cài vào để lấy tin tức đâu.” Ta nhếch miệng cười.

Người khác nghe vậy nhất định sẽ tức giận nhưng khuôn mặt của nàng ta trái lại trở nên hòa hoãn hơn.

“Mấy năm nay chiến sự liên miên, Tuyên thành Đại Mạc bao phen đổi chủ đến độ dân chúng quá nửa bỏ đi tha phương, nạn đói, dịch bệnh, vỡ đê làm hao tổn lượng lớn lúa gạo cung cấp cho cả nước. Chiến trường Mạc – Phù cũng vì cớ sự này mà trở nên gay gắt hơn, thây lính chất thành núi không có đất chôn nên phải thiêu xác ngoài đồng, đến phận gián điệp như chúng tôi đây cũng chẳng yên ổn nổi một ngày. E rằng lưỡng quốc chỉ có mỗi Diệp cô nương người đây mới thanh nhàn sống phận con dân Đại Phù an yên dưới cái vỏ bọc thư sinh vô danh mà thôi.”

‘Khách lữ hành’ không phải là người đầu tiên tỏ thái độ khinh thường ta, chẳng phải Tú Ly cũng nhiều lần nói ta sống vô tâm vô tính rồi hay sao, tai ta nghe mãi cũng quen tự động gạt những điều mình không muốn nghe ra ngoài suy nghĩ.

“Ta tự biết thân mình hèn mọn, mạng này nhỏ mà tính lại sợ chết nên chẳng có cách nào khác ngoài trốn đến nơi an toàn mà hưởng thụ cuộc sống. Ta nào dám mơ tưởng ngày trở thành anh hùng đất nước, là Nguyệt Thanh cô nương đánh giá cao ta quá rồi.”

‘Khách lữ hành’ lạnh lùng hừ một tiếng rồi đứng dậy kéo hộc tủ cạnh giường lấy ra một phong thư và một túi vải nhỏ thêu đóa mẫu đơn Triệu Phấn, cánh hoa hồng nhạt càng về phía trong nhụy càng thẫm màu lại tươi sắc hơn, tầng tầng lớp lớp cảnh mỏng như giấy xếp chồng lên đan xen lẫn nhau cực kỳ sinh động, lại được thêu theo lối thêu chặn nổi tiếng nay đã thất truyền của thôn Yên Thùy.

Thôn Yên Thùy nổi tiếng với nghề thêu tay truyền thống từ buổi bình minh của Đại Mạc, đến nay đã hơn một ngàn năm trôi qua. Hồi ta còn nhỏ cũng được cha dẫn đến đây chơi, thật lâu rồi mới nhìn thấy lại kỹ nghệ này. Nhưng ngày lúc ta vừa đưa tay ra nhận lấy túi vải thì cửa phòng đột ngột bị mở toang, tiếng hét của Quế Mai vang vọng cả hành lang dài: “Vương gia xin hãy ngừng tay...”

Chương 2: Mẫu đơn Triệu  Phấn

Mùa hè năm Lập Nguyên thứ sáu, kinh thành trời nóng như đổ lửa, ngay cả nhà ta vườn cây tỏa bóng cũng không ngăn nổi cái nóng hừng hực đến khó chịu, chậu hoa thanh tú cạnh bậu cửa sổ là loài chịu nóng tốt vậy mà héo úa hơn nửa. Cha dẫn ta đến thôn Yên Thùy tránh nóng.

Nằm ở phía nam ngoại thành Đại Mạc dưới chân núi Tử Sơn, vào hạ gió thổi từ biển băng qua bình nguyên rộng lớn của Nam Chiếu mang theo hơi ẩm bị Tử Sơn chặn lại tạo thành từng đợt mưa lớn tưới mát cho Yên Thùy nên đây là nơi mà tầng lớp quý tộc khắp cả nước thường đến tránh nóng.

Tuy nhiên năm ấy tin tức Đại Phù chuẩn bị tấn công lan rộng khắp kinh thành, bọn họ chỉ lo thu dọn tài sản mà chạy giặc chứ làm gì có tâm trạng nghỉ mát như cha ta.

Sau khi giúp Xương Long đế giành lại Đại Mạc từ tay Liễu thái hậu, cha ta được phong làm thừa tướng nhưng tính cách thô lỗ của kẻ đồ tể đã từ lâu ăn sâu vào máu thịt ông, sợ bản thân làm quan thì hỏng cả bộ mặt quốc gia. Rõ ràng là ông lười biếng, suy nghĩ cổ hủ kỳ thị những lão già văn chương đầy mình trên quan trường nên mới kiếm cớ từ chối. Người ta nói cha nào con nấy quả không sai, ta lớn lên cũng nhiễm thói xấu chây lười của ông ngày ngày chỉ biết chạy chơi đầu đường xó chợ nhưng ông tuyệt đối không thể làm gì ta vì mỗi lần có ý định chửi mắng là ta lại lôi chuyện cũ ra chọc khoáy.

“Nếu ngày xưa cha cũng chăm chỉ cần cù ra làm thừa tướng giúp dân thì ít nhất bây giờ con cũng là thư đồng của thái tử rồi.”

Thế là cha ta im bặt, trợn trừng mắt tức tối nhìn ta không đáp lại được. Ta cũng chỉ học hỏi ông thôi mà.

Ngày trước hành quân qua Yên Thùy cha ta có quen một người họ Dương có kỹ nghệ thêu đứng đầu cả nước về lối thêu chặn truyền thống của thôn. Khi cùng cha đến thăm người đó ta thật sự kinh ngạc đến không nói nên lời vì “người bạn” trong lời kể của cha ta đã bạc trắng cả đầu rồi, lúc đó chỉ có một cảm nghĩ không lẽ cha ta đã già đến mức ấy rồi hay sao, không đúng ông suốt ngày ngoài chặt thịt thì là uống rượu với Bàng thúc đến đứa con là ta mà còn chẳng quan tâm chứ nói gì đến lo nghĩ sinh bạc đầu.

“Lão Dương hơn ta nhiều tuổi nhưng trí tuệ minh mẫn tinh thần sảng khoái, kết làm bằng hữu chủ yếu là dựa vào cái tinh thần đó, tính tuổi tác làm cái khỉ gì?”

Lão Dương đứng đó cười hiền, phong thái thanh tao nhã nhặn, nhấc tay nhấc chân mang đầy khí chất. Nhìn lại cha ta đang ngửa mặt cười ha hả, giọng nói thì oang oang, ta lòng đầy nghi ngờ là ông hòng quỵt nợ mới nhận làm bạn chứ trước giờ ông ghét nhất là loại người đứng cạnh làm nổi bật cái sự thô tục của ông, mặc dù nó được viết rõ ràng trên mặt rồi.

Nhà lão Dương ở có một mảnh sân nhỏ trồng đủ loại cây thoạt nhìn giống hệt sân nhà ta ở kinh nhưng ở đây trồng nhiều loại hoa hơn nên màu sắc cũng sặc sỡ hơn nhiều, không giống nhà ta chỉ trồng mỗi cây xanh dù có nở hoa thì hoặc là màu cũng xanh nốt chẳng có gì đẹp hoặc là chỉ thấy mỗi quả lủng lẳng sai trĩu. Thật ra cũng có ra hoa nhưng chỉ mỗi Bàng thúc là nhìn thấy vì thúc ấy ngày nào cũng tưới cây đều đặn, còn ta thì chỉ để ý đến mỗi khi nó ra quả thôi, ngắm hoa cũng chẳng được lợi ích thiết thực gì ăn quả vẫn là tốt nhất. Tuy nhiên không có nghĩa là ta không ngắm hoa, trong sân bên cạnh bàn trà có trồng một cây hoa đào mà mẹ ta thích nhất, cả năm ta chỉ đợi mỗi khoảnh khắc nó nở, dù tuyết có rơi dày ba thước ta cũng phải lội ra ngắt một cành đặt trước bàn thờ mẹ.

Lão Dương thấy ta nhìn chằm chằm vào chậu mẫu đơn Triệu Phấn đang khoe sắc nói: “Mẫu đơn ấy là tự tay cháu gái lão trồng, nó chăm tốt lắm nên qua mùa rồi mà hoa vẫn nở thắm như vậy.”

Lúc này một cô gái đầu vấn Thùy hoàn phân tiếu kế, mày liễu cong vút, ánh mắt sáng như sao, váy áo mộc mạc cũng không che lấp đi vẻ đẹp của nàng ta. Lão Dương kể rằng năm đó sau khi cha ta rời đi, ông nhận nuôi một bé gái bị bỏ rơi đặt tên là Dương Thu Vận, dạy nó thêu thùa, lão còn luôn miệng khen nó có tố chất tốt lĩnh hội nhanh, thấm thoắt mà đã mười mấy năm cô bé ngày đó cũng đã trở thành thiếu nữ dịu dàng xinh đẹp, hỏi ra thì mới biết bằng tuổi ta, cha ta còn tốt bụng mai mối cho ta nữa.

Mùa hè năm đó, cha ta và lão Dương ngồi uống rượu bên hiên nhà còn ta thì ngậm kẹo nhìn đắm đuối Dương Thu Vận thêu đóa mẫu đơn Triệu Phấn, cánh hoa màu hồng nhạt xếp tầng tầng lớp lớp đan kẽ lên nhau mềm mại uyển chuyển, càng vào trong nhụy càng sẫm màu tươi thắm sinh động giống như đóa hoa ngoài vườn kia, có thể chạm vào vuốt ve chứ không phải chỉ là đường chỉ vô tri trên vải thô sơ sài.

Mấy năm qua đi nhanh như chớp mắt, người đã đổi tên, đến phong thái cao cao tại thượng ngày xưa cũng biến thành rực rỡ phấn son nơi lồng chậu, chỉ có tài nghệ năm ấy vẫn không mai một như thuở ban đầu – hoa khôi phường Xuân Vũ, Nguyệt Thanh.

Quế Mai hét lên nhưng không kịp chặn Uy vương gia xông vào nhanh tay giật lấy túi hương trên tay ta nhưng trong đó chỉ có một nhành hoa chu đằng, sắc mặt hắn thoáng biến sắc rồi lại trở về giận dữ nhìn ta chất vấn.

“Chỉ là một tên thư sinh nghèo không lo học hành mà dám đi trêu ghẹo chốn phong nguyệt.”

Chưa kịp để ta nói gì Nguyệt Thanh đã lên tiếng thanh minh: “Tiểu nữ bất hiếu, xa quê đã lâu mà chưa viết thư thăm hỏi người nhà. Đào công tử là người cùng quê với tiểu nữ, nay nghe tin chàng ấy sắp hồi hương nên mới nhân tiện gửi bức thư về cho tổ phụ ở quê, túi hương chỉ là tiểu nữ ái mộ công tử nhất nhất buộc người nhận lấy, xin vương gia đừng nghi ngờ mà trách oan.”

Lý luận chặt chẽ, lời nói ủy mị thiết tha khiến Uy vương gia lòng dù nghi ngờ cũng không thể làm gì hơn.

Uy vương gia Vu Uy Phong là nhị đệ cùng mẹ của Hoàng đế Đại Phù, dù đã ba mươi mấy tuổi đầu nhưng không có lấy một chút quyền lực trong tay nên không có phú hào nhà nào chịu gả con gái cho. Hắn ta chỉ thích ra oai với dân chúng bằng đống vàng bạc đá quý dát lên người còn đầu óc thì đơn giản, đã thế còn muốn tranh giành lập công với vua.

Ba năm nay ta thay thế Độc Hạc thu thập mật báo từ nhiều nguồn nội gián ở Đại Phù gửi về các chiến thành và kinh đô, người ngoài nhìn vào chỉ thấy ta là một thư sinh nghèo mờ nhạt gặp nhiều lần chưa chắc đã nhớ nổi mặt. Vậy mà đúng lúc ta chuẩn bị về kinh thì Uy vương lại nghi ngờ, hơn nữa khi bước vào người bình thường sẽ chụp lấy phong thư trước đằng này hắn lại lấy túi hương bình thường mà kỹ nữ nào cũng có hơn nữa còn bị phong thư che khuất.

Lúc ta cáo từ Nguyệt Thanh ra về hắn còn cho người theo dõi ta, rõ ràng thân phận của ta đã bị nghi ngờ. Ta rút bức thư từ trong áo ra đọc rồi lập tức phái Nam Điền điều tra về hành động gần đây của Uy vương gia, kết quả quả nhiên là ba ngày trước hắn có đến gặp Nguyệt Thanh hơn nữa còn được tặng một túi hương giống đúc cái đã tặng cho ta.

Lúc đó ta đứng dưới hiên nhà ngước nhìn cây đào già mới hôm trước nhú nụ vậy mà giờ đã tỏa bông to bông nhỏ chi chít đầy cành, Tú Ly bước tới mang cho ta bức thư báo từ thôn Yên Thùy, không cần đọc cũng biết là tin lão Dương mất tích.

Tuyết đã ngừng rơi từ sáng sớm hôm nay, chỉ còn một ngày này nữa là mai Miên thành lại phải khói lửa liên miên tấc đất tấc cỏ bị giày xéo, binh sĩ nơi ấy vẫn tin tưởng vào mật báo của ta vậy mà chỉ vì một túi hương nhỏ vô tri đã phá hủy toàn bộ kế hoạch ta lập ra suốt nửa năm nay.

Chỉ cần nhắm mắt lại thì trong đầu lại hiện ra cảnh từng người từng người một bị hạ gục trong vòng vây binh đao của quân giặc, lồng ngực ta nhói lên từng cơn, hai tay buông thõng bất lực. Trong giây phút cơn gió nhẹ thổi qua làm cánh hoa đào rơi rụng đậu lên tà áo, ta đột nhiên bừng tỉnh quay bước vào thư phòng hạ bút viết một phong thư ra lệnh Nam Điền phi ngựa ngày đêm không nghỉ nhất định phải đưa đến Miên thành nhanh nhất có thể.

Mắt nhìn tấm lưng vững chãi của Nam Điền trên lưng ngựa băng gió chạy đi, lòng ta mới bình tĩnh lại ngước nhìn trời. Trận chiến này chỉ mới bắt đầu mà ta thì đã đứng trên chiến tuyến này chờ đợi bao nhiêu năm rồi há chẳng lẽ lại cứ thế mà từ bỏ, câu trả lời là tuyệt đối không thể. Là ta ngay từ đầu ngu muội nên bây giờ phải trả cho hết mối nợ này…

Gần một tuần sau đó Nam Điền mới trở về, trên người đầy nét mệt mỏi, lúc ấy ta đang ở trong thư phòng liền chẳng bận tâm đến mang giày cứ thế chân trần  mà chạy ngay ra cổng. Nhưng khi nhìn thấy nét mặt không có lấy một tia cảm xúc buồn vui của hắn ta lại cảm thấy sợ hãi trước đáp án mình sắp nghe.

“Sao… rồi...” Ta nghe giọng mình run rẩy âm có âm không.

“Miên thành nhờ tiểu nhân báo tin thắng lợi về cho công tử.”

Ta đã yên tâm hơn phân nửa nhưng chỉ nghĩ đến tổn thất thôi cũng thấy đau đầu: “Còn gì nữa?”

“Thư đến chậm nửa ngày, đội quân tiên phong đã ra trận, mất… hơn năm ngàn người, Tô tướng quân chỉ huy tử trận tại chỗ. Xin công tử bớt đau lòng.”

Ta chỉ thấy đầu nhức như búa bổ, gió như ngừng thổi bên tai. Miên thành khó khăn lắm mới tập hợp được hai vạn quân vậy mà chỉ vì sự bất cẩn ngu xuẩn của ta mà mất hơn phần tư, cả Tô Mộc cũng chết oan, dù thắng thì đã sao, đáng lí ra năm ngàn mạng người ấy đã không phơi thây ngoài chiến trường.

Năm ngàn, con số ấy cứ xoay vòng trong tâm trí ta, lồng ngực đau nhói cả đầu óc cũng tê dại đi, trước khi cảnh vật xung quanh tối sầm đi ta chỉ kịp nghe thấy tiếng Tú Ly hét lên tên ta.

 

[-([-([-( Thêm gacsach khi tìm truyện trên google để đọc bản ít lỗi chính tả hơn \:D/\:D/\:D/