The Witch - Phụ lục 02

Phụ lục II: Pollux

 

Là một người anh cả, tôi luôn ý thức được mình là ai. 
Là một người anh cả, tôi biết xoay sở tình hình để giúp gia đình nhỏ bé của chúng tôi trụ lại trong cuộc sống khó khăn này. 
Castor là một thằng bé ngây thơ tột cùng, tôi thật có thể hiểu cái tính cách ham chơi quên mình của nó. Nó đâu có biết về sự tồn tại của cuộc sống khắc nghiệt ngoài kia, à không, nó cũng không cần phải hiểu, vì nó là con út, nó có quyền được chăm sóc và chiều chuộng hơn tôi. Ba người chúng tôi sống cùng một cộng đồng những người di tản để tránh đi những cuộc chiến tranh ác liệt hay các vấn đề chính trị ngoài kia của nước Pháp cuối thế kỉ mười chín này. Để có được một chỗ ở đây, khỏi phải nói, chúng tôi đã phải khổ sở như thế nào. Hầu hết tất cả người ở đó đều coi hai anh em tôi là những con quái vật, và đặc biệt có một gã, luôn say mèm, vô cùng xấu tính và bị mọi người ghét, gã đã gọi mẹ tôi là "người sinh ra những con quỷ". Khỏi phải nói, một đứa trẻ bảy tuổi nhưng tâm hồn mười chín tuổi như tôi cũng dám đá vào hạ bộ của gã, bởi tôi biết lũ đàn ông chúng tôi yếu nhất ở điểm gì. Nhân thời cơ đó, mọi người cũng đuổi luôn gã say rượu đó đi và chấp nhận chúng tôi, khi ấy với độ tuổi nhỏ như vậy, hai anh em tôi trông rất bình thường như bao đứa trẻ khác, chúng tôi chưa thấy được bộ dạng thứ hai của mình. ​


Bố tôi, một Dharma thật sự, luôn bỏ đi biền biệt, có chăng vài tháng tôi lại lén thấy ông về nhà một lần, và tôi biết làm sao mà ông chẳng thể sống cùng chúng tôi như thế. Mẹ tôi luôn nói dối Castor rằng bố tôi phải phục vụ quân đội Pháp, điều mà nó vô cùng thích thú, bởi nó nghĩ "trở thành một phần của chiến tranh là tuyệt vời nhất", điều đó khiến nó không thắc mắc vì sao bố không về thăm chúng tôi. Đôi lúc, trong những giấc mơ, tôi gặp bố, không biết em trai tôi có thế không, nhưng tôi cảm thấy ông là một người tốt. Ông xin lỗi vì chưa thể gặp chúng tôi, từ khi sinh ra tới giờ, tôi chưa gặp trực tiếp ông lần nào. Nhưng bố tôi nói ông chưa bao giờ hối hận vì đã sinh ra những đứa con lai như hai anh em tôi, điều khiến tôi vô cùng cảm thông cho ông. Mẹ tôi, một người phụ nữ trẻ, nhưng những khó khăn trong cuộc sống đã hiện lên đầy trên gương mặt bà, qua những nếp nhăn mặc dù mẹ tôi chưa quá tứ tuần. Bà đã trải qua một cuộc hôn nhân trước đó, đương nhiên là bình thường, có một con gái nhưng thành thực mà nói, theo lý thuyết đứa con gái đó chưa bao giờ tồn tại, vì bà sinh non. Vì thế bà luôn yêu thương hai anh em tôi hết mực, và đặt cả hi vọng vào tôi. Nhưng tất cả mọi thứ tốt đẹp nhất của cuộc sống này, tôi cho là thế, đổ sụp trước mắt chúng tôi, vĩnh viễn không còn có thể lấy lại được nữa khi mẹ tôi qua đời năm tôi tám tuổi. Căn bệnh viêm não đã cướp đi sinh mạng của bà, một cách quá nhanh chóng và đột ngột đến nỗi tôi cũng không hết bàng hoàng được. Tôi đã không tin vào sự thật đó suốt nhiều tuần và tôi tin mẹ sẽ trở về. Nhưng không, mẹ sẽ vĩnh viễn chẳng bao giờ có thể nói chuyện, dạy tôi nấu nướng, hay thay quần cho Castor mỗi khi nó mải nghịch mà đi tè cả ra quần nữa. Năm ấy, cuộc sống của chúng tôi bị đảo lộn. Bố xuất hiện, nhưng tôi ngỡ ngàng khi ông không hề rơi nước mắt khi nhìn thấy ngôi mộ của mẹ tôi ở bìa rừng. Ông xuất hiện không phải để tiếc thương mẹ tôi, mà ông đưa chúng tôi đi. Tôi không biết làm thế nào ông có thể để chúng tôi ở lại một nơi xa lạ như vậy, chỉ biết qua một giấc ngủ và hai anh em tôi bỗng nhiên bắt đầu một cuộc sống mới, ở một nơi ở mới. Castor vẫn vậy, vẫn ngây thơ như thế và nó vẫn nghĩ mẹ cũng giống như bố, "phục vụ quân đội". Nó không hề đả động gì tới việc đây là đâu, tại sao nó ở đây, nó chỉ biết cuộc sống ở đây đầy đủ chẳng kém gì khi còn mẹ, thậm chí còn hơn thế.

Rất đông người ở đây đã chăm sóc cho hai đứa trẻ này, nhưng tôi không nói cho họ biết làm thế nào để phân biệt hai anh em tôi dựa trên ngoại hình và họ cũng không hề biết. Chỉ khi thực sự làm quen được với cuộc sống mới, tôi mới nói cho một người biết. Đó là một người đàn ông sống gần nhà chúng tôi, tên là John. Tôi và em trai giống gần như hệt nhau về ngoại hình, từ số lượng tàn nhang trên mặt cho tới màu mắt, màu tóc, mũi, hàm răng và khuôn mặt. Tôi nói với bác ấy, điểm khác nhau duy nhất về vẻ bề ngoài giữa hai chúng tôi đó là vết sẹo ở trên đỉnh đầu của tôi trong một lần nghịch ngợm dao đã bị nó chém một nhát trên đó. Dù bây giờ tóc đã mọc kín nhưng vạch ra thì vẫn thấy. Chúng tôi đã sống ở đó nhiều năm yên bình, không có bất cứ biến cố nào có thể xảy ra với chúng tôi. Mãi cho tới khi đến tuổi dậy thì, tôi đã được nhìn thấy hình dạng quỷ của mình và lúc đầu còn phát khiếp vì nó. Bác John nói đó vừa là điều tốt vừa là điều xấu, tốt là bởi tới dậy thì, cụ thể là mười tám tuổi, chúng tôi sẽ mãi ở vẻ ngoài đó, tốc độ lão hóa còn hơn cả rùa bò, thậm chí tới tận hai thế kỉ sau tôi vẫn như vậy, còn xấu là vì hai anh em chúng tôi sẽ phải học cách kiểm soát bản năng của mình và cụ thể là hình dạng thứ hai ấy. Khi đó hai anh em tôi đều đã trưởng thành, Castor cũng đã biết sự thật về người mẹ phục vụ chiến tranh của mình, và nó cũng thông cảm cho tôi vì phải giấu giếm với nó. Chúng tôi càng lớn càng khác xa nhau về tính cách, khiến tôi phải giật mình khi nhận ra điều đó. Tôi đam mê nghệ thuật nấu nướng, nhưng thời gian khi ấy không cho phép bởi hơn một thế kỉ tôi phải làm những công việc tẻ nhạt ở nơi mà đáng ra chúng tôi phải thuộc về: địa ngục. Cùng với bố, với một lịch trình dày đặc hầu hết các ngày trong tuần, trong khi tôi cũng chẳng biết nên miêu tả công việc ấy như thế nào nữa. Thực ra nó cũng không phải là một công việc, mà tới đó và xem có những gì tôi có thể làm, một ngày mười bốn tiếng. Nói thực nó cũng chẳng dài đằng đẵng như lúc đầu tôi nghĩ, bởi thời gian ở chốn đó nhanh hơn rất nhiều so với ở đây. Vì thế tôi không thấy mệt mỏi khi phải theo chân bố. Suốt quãng thời gian đó, ông hoàn toàn lạnh nhạt với tôi, đôi khi rảnh rỗi mới nói vài câu tẻ nhạt và hỏi tôi về Castor. Dường như nỗi đau vì mất vợ của ông đã làm lu mờ cả tình cảm ông dành cho chúng tôi, vốn đã mỏng manh và cần được trân trọng. Tôi biết vậy cũng chỉ im lặng, không đòi hỏi gì thêm và chỉ làm tròn nghĩa vụ của mình mà thôi. ​

Cuộc sống của chúng tôi yên bình từ khi đó, không nhạt nhẽo, không buồn chán nhưng cũng chẳng hạnh phúc được như xưa.
Cho đến khi cô ấy xuất hiện. 

Tôi đã mong mỏi được thay đổi cuộc sống của mình, nhưng sao có thể khi chúng tôi, cùng với những người khác, vốn đã an toàn khi ở đây. Chẳng bao giờ có sự thay đổi nào hết, chẳng ai như tôi, sao tôi không bình thản và tận hưởng như Castor đi? 
Đó là một ngày tháng mười se se lạnh, có cả nắng vàng chiếu lên những dải đất vô hình. Lúc này tôi đã ngưng việc ở địa ngục, và đến lượt em trai tôi thế chỗ.
Một người phụ nữ sắp sinh mà tôi không quen khệ nệ ôm bụng bầu của mình tới trạm xá. Tôi ngạc nhiên khi không thấy bà biểu lộ bất cứ cảm xúc nào của một người sắp làm mẹ, hạnh phúc, cảm giác đau đớn khi sinh con nhưng đón nhận lại là một đứa bé kháu khỉnh hay vẻ mặt hồi hộp. Bà rất bình thản, điều đó khiến tôi phải dõi theo. Một người phụ nữ sắp sinh mà không có bóng dáng người chồng bên cạnh như mẹ đã từng kể cho tôi. Bà sinh một bé gái xinh xắn, với cái đầu nhẵn nhụi không một sợi tóc. Chỉ tới khi mấy người ở đó nói bà là phù thủy, tôi đã hiểu vì sao bà lại bình tĩnh được đến như thế. Đứa bé cùng người mẹ tận hưởng kì hậu sinh chỉ vài ngày trước khi mọi người nhận ra người mẹ đã ôm con chạy trốn, vì một lý do nào đó. Tôi lo sợ đến tính mạng đứa trẻ, nhưng chỉ một thời gian và không biểu lộ điều đó cho ai biết. Tôi cũng dửng dưng không quan tâm làm gì nữa, đó đâu phải là việc của tôi. Xung quanh cũng không ai còn có thể tìm ra họ, chẳng biết họ chạy trốn đi đâu nữa, tôi cũng không biết tên đứa bé kì lạ đó, hay mẹ của nó. 

Mười lăm năm sau đứa bé ấy quay trở lại đây, nhưng không phải theo cách bình thường. Khi đó tôi mới nhận ra em đã có một cuộc sống bình thường cùng với bố mẹ nuôi sau khi bị mẹ ruột bỏ rơi ở đâu đó ngoài kia. Em có một mái tóc kì lạ, không giống ngày xưa, đầu em không có lấy một sợi tóc. Tôi nhận ra đó là em ngay lập tức, bởi khuôn mặt cùng đôi mắt xanh biếc của em khi còn nhỏ giống hệt bây giờ. Trước đó, tôi vô tình biết được em trai tôi, dùng năng lực cái bóng của mình để theo dõi cô bé đó, rồi tỏ ra thích thú với em ấy. Tôi có đi theo em một lần, và khi ấy em trai tôi đã thú nhận rằng nó thích em ấy. Tôi tỏ ra không hài lòng chút nào và tôi đã nói với bố phải giám sát nó chặt hơn cùng với tôi, để tránh nó sử dụng năng lực vào việc linh tinh như vậy. Nhưng tôi không nói cho ông biết cậu con trai út của ông thích một phù thủy, bởi tôi biết ông sẽ nổi trận lôi đình nếu biết điều đó. 
Và cứ thế em ấy xuất hiện trong cuộc đời tôi, thay đổi một cách chóng mặt, và tôi vướng vào những rắc rối của cuộc đời em từ khi đó. Tôi không biết mình thích em từ bao giờ, tôi cũng không biết lý do gì tôi lại thích em ấy nữa, tất cả đều là tình cảm cá nhân, không bận bất cứ tư thù nào. Tâm trí tôi đã tạo mới một cảm xúc, hoặc cũng có khi là đánh thức nó dậy, một cảm xúc được yêu, được gần gũi bên em ấy, mỗi khi tôi đặt lên môi em một nụ hôn thật dài hoặc chỉ đơn giản là được ôm em, cảm giác bản thân mình thật lớn lao và ngay cả cái bóng của tôi cũng có quyền được yêu. Có thể do tôi vô tình thích những khi em nhăn mặt mỗi khi nghĩ ngợi điều gì đó, hay khi em thú nhận rằng mình ghét việc bản thân nói dối. Hay những khi em khen lấy khen để những món ăn nghệ thuật của tôi, hoặc chun mũi lại khi ăn phải đồ khiến em dị ứng. Nhiều khi em hỏi vì sao tôi không như những người anh trai khác, lo sốt vó khi em trai mình ở trong tình trạng như vậy, tôi cũng không biết phải trả lời ra sao. Vì tôi đã giấu em ấy, tôi không biểu lộ hay nói toẹt điều đó ra, dù trong suy nghĩ tôi vẫn luôn nghĩ về Castor và làm sao để nó trở về cùng với bố. Tôi biết chỉ có cách đồng hành cùng trong hành trình vô tận của em mới có thể giúp tôi giải thoát được cho em trai mình. Tôi có quyền cấm cản nó được thích em ấy, nhưng cuối cùng tôi mới là người làm ngược lại, chỉ bởi vì tôi không phải là người ở trong vòng nguy hiểm như Castor. Tôi luôn suy nghĩ tới cảm giác của nó khi biết điều này, và tôi chỉ mong được thấy nó trong bộ dạng ấy, điều đó mới giúp tôi an tâm hơn rất nhiều. 
Tôi biết thời gian luôn chờ đợi chúng tôi, nhưng chẳng ai biết điều gì có thể xảy ra phía trước.​