The Witch - Chương 23 - Phần 1

Chương XXIII: Witchcraft

"The unexpected is usually what brings the unbelievable."


Tiên linh là một trong những giống-loài-giống-người, có hình dạng giống con người nhưng không phải là từ con người mà biến thành, hay còn được biết đến với cái tên cổ xưa nhất là Aelius. Tiên linh là hiện thân của những điều tốt đẹp nhất mà Thượng đế ban tặng cho tất cả, có thể nói không một tiên linh nào sinh ra mà không mang trong mình những đặc điểm, phẩm chất, xúc cảm quý giá nhất của tạo hóa. Người đời gọi đó là ánh hào quang của giống loài tiên. Tổ tiên khi xưa của loài tiên linh có những khả năng phi thường mà chỉ họ mới sở hữu. Họ có thể tạo nên phép thuật từ âm nhạc và nghệ thuật, biến nó trở thành công cụ giúp cuộc sống của họ từ đó trở nên dễ dàng hơn. Tuy nhiên, trải qua hàng ngàn năm dần dần du nhập với cuộc sống của những giống loài khác, những khả năng này ở tiên linh dần bị mai một. Ngày nay tiên linh vẫn sử dụng nghệ thuật như một thứ phép màu trời ban nhưng về độ thành thạo đã kém xa tổ tiên rất nhiều. Cho đến giờ chỉ còn nữ hoàng của họ cùng một vài tổng quản ở các khu vực còn sở hữu khả năng thiên bẩm ấy. Tiên linh bẩm sinh đã có cơ thể gần như giống hệt con người, trải qua nhiều thế kỉ tiến hóa, hiện giờ người ta có thể nhận ra tiên linh một cách dễ dàng nhờ đôi tai bất thường và những ngón tay phát sáng. Khi lần đầu xuất hiện, tiên linh sống tập trung tại một vùng đất hoang sơ được chính họ khai phá nay là San Francisco. Dần dần, họ hòa nhập với cuộc sống con người, tách ra và thành lập cuộc sống của riêng mình. Nữ hoàng của họ đã đưa ra điều luật quản lý và bảo vệ tiên linh bằng cách đưa các tổng quản lên nhận nhiệm vụ này theo từng thành phố. Chỉ còn lại một bộ phận nhỏ tiên linh nguyện trung thành phục vụ cho nữ hoàng ở Khoảng Xanh. Tiên linh cũng như các giống loài giống người khác, họ tôn thờ tuyệt đối Đấng Tạo Hóa và thề nguyện không bao giờ làm những điều sai trái. Chỉ trừ một tiên linh duy nhất. 

Price không phải là một cái họ quá phổ biến ở Mỹ. Tôi nhận thấy chỉ những người có tổ tiên dòng họ lâu đời xuất phát từ Missouri hay Louisiana mới có thể sở hữu cái họ khá kì quặc đó. Số nam thanh niên độ tuổi từ mười tám đến hai mươi, siêu giàu, có thể sống ở L.A và mang tên Apollo có lẽ chỉ đếm trên đầu ngón tay. Tôi chợt nghĩ đến việc mình đang mang họ của bố, Faeres, chắc hẳn khó mà có người trùng họ với tôi được, bởi đó là cái họ mới toanh mà bố tôi tự nghĩ ra, trong đó có chữ “fae” hình như có nghĩa là nhiệm màu gì đó. Trở lại với cái tên Apollo, với hầu hết những đứa khác cho rằng mình đang sống ở thế kỉ 21 và thần thoại Hy Lạp là một thứ gì đó quá xa vời thì đó hẳn là một cái tên ngốc nghếch, cũ mèm, chỉ vì những ông bố bà mẹ mong muốn đứa con của mình sẽ tỏa sáng như cái tên và có hàng trăm cái tên khác cùng ý nghĩa để thay thế. Tôi đã dò hỏi những người xung quanh xem liệu cái tên này có gợi đến bất cứ người nào không, nhưng câu trả lời luôn là hoàn toàn không đến chính Antares còn cảm thấy khó hiểu.

Tôi ngồi thu lu ở một góc và nhìn chằm chằm vào cái bình. Ban đầu, tôi không có ý định giữ nó ở bên mình và tôi cũng không hiểu ai là người đặt ra cái luật lệ khiến tôi phải trông chừng nó như người giữ trẻ ở mọi lúc mọi nơi. Có quá nhiều mối nguy hiểm xung quanh và những người như tôi có nhiệm vụ không được để nó ở trong tình trạng có thể bị đánh cắp cho những mục đích xấu. Giờ thì tôi vẫn không hiểu vì sao chiếc bình Veila được trả tới hai triệu đô, hoặc cũng có thể do tôi chưa đủ trình độ để nhìn ra những chi tiết tinh vi đắt giá được khắc họa trên thân bình. Những hình ảnh và họa tiết không có nhiều ý nghĩa như tôi nghĩ, hoặc nó nằm ở một phạm vi to lớn hơn sức tưởng tượng nhiều. Tôi lại chợt nghĩ đến người đã bỏ ra hai triệu đô cho chiếc bình này nhưng sau cùng lại không hề sở hữu nó. Tôi lục lại những bức tranh, những tờ giấy ghi chú mà tôi đã từng vẽ, viết về các giấc mơ hay ảo giác thực tại đã từng gặp phải. Không có một dấu hiệu nào cho thấy tôi có liên quan tới Apollo Price, vì tạm thời tôi cũng chưa có bất cứ thông tin nào về anh ta cả. Tôi có để tâm tới “vị thần ánh sáng”, đó có thể là vị thần ánh sáng trong bất cứ tôn giáo hay truyền thuyết nào, nhưng cũng không thể ngăn tôi nghĩ rằng vị thần được tôi vẽ lại là Apollo, thần ánh sáng và mặt trời. Đây không hẳn là một sự trùng hợp ngẫu nhiên.


Tôi vẫn nghi ngờ rằng phải có một cách nào đó thì chiếc bình Veila này mới có thể chứng tỏ được nó là một báu vật quý giá đến như vậy. Tôi búng tay vào chiếc bình và không có gì xảy ra cả. Chỉ cho tới khi tôi nghĩ đến việc chiếc bình này từng qua tay cả một thế hệ phù thủy tối thượng trước đó, thì chiếc bình đột nhiên rung lắc dữ dội, khung ảnh trên mặt bàn rơi xuống. Tôi dùng hai tay giữ chặt lấy chiếc bình để ngăn nó phá hoại thêm bất cứ cái gì nữa. Một nguồn nhiệt từ đâu sinh ra lan truyền tới khiến nó nóng bừng lên như vừa đưa ra khỏi lò nung. Tôi rụt tay lại và xuýt xoa khi hai tay đỏ bừng lên mà vẫn không thể ngăn chiếc bình đang rung lên nãy giờ như một cơn thịnh nộ không thể cản phá. Tôi thổi vào tay để làm dịu đi cơn rát nhẹ trên da. Chiếc bình đột nhiên sục sôi, phả khói, từ trong miệng bình giống hệt một ngọn núi lửa thu nhỏ, một cột khói tỏa ra thiêu đốt không khí xung quanh khiến tôi phải lùi ra xa. Làn khỏi bí ẩn này lởn vởn xung quanh tôi, bay lượn đủ hướng rồi dừng lại ở cửa phòng. Kể từ lúc đó, nó trở nên sáng rực như có đèn thắp lên bên trong, di chuyển ra khỏi phòng và trở thành một vật dẫn đường khiến tôi vô cùng tò mò. Chưa rõ rốt cục nó muốn đưa tôi đi đến tận đâu hay điều bí ẩn chợt nảy lên trong đầu tôi là có một thế lực phù thủy nào đó đang muốn giao tiếp với tôi thông qua cột khói vẩn vơ này. Sau một hồi đi rồi lại dừng khá là mất thời gian, nó dẫn tôi đến trước cửa… thư viện. Tôi mở cánh cửa khép hờ ra, bên trong tối om. Tôi dò dẫm tìm công tắc đèn bật trên tường, và ánh sáng đủ cung cấp cho tôi hai điều: một là, không hề có một ai ở đây cả, kể cả thầy Han, hai là, cột khói kia như đang tìm một vị trí cụ thể nào đó. Tôi chậm rãi đi theo nó len lỏi qua từng giá sách cao ngất ngưởng rồi dừng lại ở kệ 5S trên cao. Tôi nuốt nước bọt vì hồi hộp đến run rẩy. Đó chưa bao giờ là kệ sách sưu tập mà tôi dám nghĩ tới chứ đừng nói là dám bén mảng đến. Bởi vì 5S là nơi lưu trữ của hàng chục đầu sách phép thuật cấp cao và tri thức cấm chỉ dành cho những phù thủy thực sự có kinh nghiệm. Chúng đặc biệt càng trở nên nguy hiểm nếu như vì tò mò mà khám phá. Cột khói khi nãy đã biến thành một đốm lửa nhỏ liên tục di chuyển xung quanh một cuốn sách bìa cứng trên giá cao được giữ bên trong khung sắt hoen gỉ. Tôi đang thực sự phân vân và tự hỏi liệu mình có phải đang là một đứa trẻ vì tò mò chưa hiểu chuyện mà muốn tìm cho ra đốm lửa kia muốn cho tôi thấy điều gì đó hay không. Tôi cắn nham nhở bộ móng tay từ nãy giờ, nhìn ngó xung quanh một cách thận trọng rồi quyết định trèo lên cao bằng chiếc thang rồi mở khung sắt ra, nhấc cuốn sách lớn khỏi giá. Tôi cảm nhận được sức nặng rõ rệt, giấu nó sau lung rồi nhanh chóng lui về phòng, khóa trái cửa lại. Ngay khi cuốn sách đã nằm ở trong tay tôi rồi, đốm lửa kia cũng biến mất không dấu vết luôn, khiến tôi hơi bối rối vì không biết phải tìm hiểu những gì trong cuốn sách kia. 


Trời đã khuya khoắt, tôi tắt đèn trên tường đi nhưng lại bật đèn pin lên. Tôi bỏ qua mọi suy nghĩ về những rủi ro có thể xảy đến, lâu lâu lại liếc nhìn về phía chiếc bình và tự nhủ rằng chắc chắn điều này sẽ chỉ có mình tôi biết. 

Tôi thận trọng lật từng trang giấy ngả vàng, có chỗ đã dính nước quá lâu dẫn đến việc giấy bị cứng và phai đi kha khá. Phần lớn nội dung được viết bằng song ngữ tiếng La tinh và tiếng Anh, nhưng cách thể hiện thì quá đỗi khó hiểu và có phần không phù hợp với thực tế. Câu chữ lệch lạc và cũ kĩ khiến tôi phải vò đầu bứt tóc mới ngầm hiểu được ý muốn truyền đạt. Tôi mở lại từ trang đầu tiên cho tới trang cuối cùng, nếu tôi không bỏ sót thì gần như chẳng có trang nào nói về phép thuật cả. Bắt đầu bằng truyền thuyết về những thiên thần sa ngã và hội Phù thủy. Hội Phù thủy này bao gồm những thiên thần sa ngã vì tuyệt vọng mà tìm đến ma thuật đen tối, với mong muốn trả thù cho quãng thời gian bị tước bỏ đôi cánh và đày đọa dưới trần gian. Khởi nguyên là hội Ba con mắt ở Anh Quốc thành lập vào thế kỉ mười bảy nhưng nhanh chóng bị Giáo hội và người dân đe dọa, họ nhanh chóng di chuyển tới nơi khác và đổi tên thành hội Phù thủy như bây giờ. Trong suốt ba thế kỉ từ thế kỉ mười bảy tới thế kỉ mười chín, các thành viên của hội Phù thủy liên tiếp bị săn lùng, tấn công và sát hại bởi Hội đồng tối cao. Đến giờ, câu chuyện chỉ còn xoay quanh bốn con quỷ của thế giới phù thủy, những thiên thần sa ngã đã chọn ma thuật để giải thoát chính mình khỏi ách giam cầm của địa ngục trước đó: Azarel, Leviathan, Ariel và Illira. Chỉ có một truyền thuyết duy nhất về bốn người của hội Phù thủy này, chúng đã từng là tổng lãnh thiên thần cho đến khi tội ác đẩy chúng khỏi Thần giới, trở thành những thiên thần sa ngã và cuối cùng là những phù thủy hoạt động dưới trướng của chúa quỷ Satan nhằm trả thù và lật đổ Thần giới. Bên cạnh đó, chúng còn trở thành những thợ săn khét tiếng trong việc săn lùng linh hồn của những đứa con lai. 


Tôi toát mồ hôi hột khi đọc từng câu chữ. Đó là lí do vì sao nếu anh Pollux hay em trai anh ấy, Castor rời khỏi Khoảng Xanh thì có thể nguy hiểm sẽ ập tới bất cứ lúc nào. Cảm giác như có một ai đó đang đứng sau lưng thúc giục tôi tìm hiểu sâu hơn nữa. Tôi đã đúng, về chuyện vì sao cuốn sách này nằm trong danh mục đặc biệt hạn chế. Không phải bởi vì chứa đựng phép thuật gì cao siêu gì hết mà cuốn sách này viết về một trong những hội Phù thủy lâu đời và bí ẩn nhất trên thế giới. Hơn nữa lại còn nhấn mạnh sự nguy hiểm khôn lường của hội này. Tôi thắc mắc rằng liệu có một mối liên hệ xa xôi nào với những giấc mơ về cái chết của anh Pollux bên cạnh những thiên thần sa ngã có trong tay ma thuật này hay không, vì tôi đã từng mơ về chính những người đó, từng nghe tới một trong bốn cái tên ấy. Có phải không hề ngẫu nhiên mà đốm lửa kia chỉ dẫn cho tôi về hội Phù thủy không? Rốt cuộc ai là người muốn cho tôi biết về hội thông qua chiếc bình kia? Tại sao lại có người cho rằng những kẻ đó có liên quan tới tôi? Hàng trăm hàng vạn câu hỏi đang đặt ra, xoay vòng vòng trong đầu và tôi không còn một cách nào khác để tự tìm ra câu trả lời là đích thân tới Dallas, hang ổ gốc rễ của hội Phù thủy. Bởi vì tôi đã chạm tới một điều không hay ho của thế giới phù thủy, nên tôi phải luôn tự đảm bảo rằng sẽ không có một ai biết về chuyện này, bao gồm chiếc bình, đốm lửa, cuốn sách và cả việc tôi sẽ tới Dallas một mình vào ngày mai. Rồi một ngày nào đó tôi sẽ biết được toàn bộ bí mật giấu kín bên trong chiếc bình Veila, vì nó chất chứa nhiều điều tôi chưa biết hơn cả tưởng tượng.


Đêm qua tôi đã không hề ngủ một tẹo nào. Tôi thức trắng đêm cho đến sáng để suy nghĩ lại rất nhiều lần về ý định của mình. Tôi thắc mắc liệu đó có phải sẽ là một sai lầm hay không khi ghé thăm một nơi nguy hiểm nhất nhì trên trái đất này đối với phù thủy, để tìm ra chân tướng sự thật liên hệ nào kết nối giữa những phù thủy đó với những giấc mơ tiên liệu đáng sợ của tôi. Mặc dù chỉ nghe tới cụm từ thiên thần sa ngã thôi là tôi đủ rợn tóc gáy, nhưng không còn cách nào tốt hơn khi ai nấy xung quanh đều có dấu hiệu không muốn cho tôi biết sự thật. Thầy Likkrit đã hỏi tôi định đi đâu vào buổi sáng sớm như vậy, khi tôi vừa mở cánh cổng dịch chuyển. Lúc ấy đích đến chưa được định hình rõ nên tôi phải nói dối rằng mình chuẩn bị đi thăm một người bạn cũ ở Arlington. Thực tế là tôi chẳng có một người bạn nào thân thiết từ lâu cả chứ đừng nói gì đến bạn thân ở Arlington, nhưng vì ở gần Dallas nên đó chỉ đơn giản là một địa điểm bất chợt nảy sinh trong đầu tôi. Thầy Likkrit không nói gì, chỉ gật đầu rồi đi mất. Vậy mà tôi lại có cảm giác không tốt rằng thầy đã biết tất cả. Tôi bỏ qua dự cảm đó, thẳng tiến tới Dallas. Trên trang sách mà tôi đã cả gan dám xé ra khỏi cuốn sách vì nghĩ rằng sẽ không có ai biết hết, có ghi cả địa chỉ cụ thể của nơi này, cụ thể là một ngôi nhà bỏ hoang nằm trên đường El Torro của khu Redbird. Một điều kì lạ là, cứ mỗi lần tôi chuẩn bị lên đường tìm hiểu một vấn đề hệ trọng nào đó có liên quan thì thời tiết luôn không hề êm dịu một tẹo nào. Bầu trời luôn xám xịt, đôi lúc sẽ có cơn mưa đáng ghét trút xuống và gió thổi đều đều. Tôi cho rằng phần lớn trong số những ngày như vậy đều có chuyện không tốt xảy ra, cứ như một điềm báo xui xẻo nào đó. 


Theo như vài người dân sinh sống ở Redbird mà tôi đã hỏi, nơi ở chính của Hội Phù thủy kia thực chất là một ngôi nhà đã bị bỏ hoang từ hàng thập kỉ và địa phương cũng không có ý định tháo dỡ hay quy hoạch nó. Họ cũng đồng thời kể lại những trải nghiệm khá rùng rợn, những mẩu chuyện thêu dệt nên về ngôi nhà này. Ai nấy đều cho rằng ở đó có ma, thậm chí có người còn tin rằng tại đó vẫn còn tồn tại linh hồn của một phù thủy chết oan từ nhiều thế kỉ trước đang ám lên căn nhà này. Đương nhiên tôi không đời nào tin chuyện đó, việc những người dân xung quanh nghe được những tiếng cười quái dị và âm thanh lạ thường không phải trò đùa của một con ma quỷ nào hết, nhưng lạ là chẳng ai có thể nghĩ tới hay dám liều mạn xông vào tận bên trong để vén bức màn. Có một người phụ nữ, tên là Arlene, ở phía đối diện, ra sức khuyên tôi không nên bén mảng tới mảnh sân phía trước nhà. Tôi mặc kệ những gì họ nói, bởi xét cho cùng tôi chỉ muốn biết con người nghĩ gì về địa bàn của hội Phù thủy mà bấy lâu nay họ vẫn cho rằng đó là căn nhà ma ám này. 


Cây cỏ dại trên mảnh sân trước nhà mọc um tùm, xanh mướt. Hàng rào gỗ được bao bọc bởi dây thường xuân đã bị bẻ gãy vài chỗ, cũ kĩ và ngả màu vàng đục. Có những cành cây dại đã vươn lên tận cửa, chắn hết lối đi và quấn chặt vào lan can gỗ, như thể muốn bóp nghẹt bất kì dạng sống nào còn tồn tại xung quanh. Ngôi nhà được dựng lên từ gỗ cây, với ống khói và mái nhà vươn cao, càng củng cố niềm tin trong tôi rằng nó được dựng lên từ thuở khai phá miền đất này. Tôi rẽ cỏ dại sang hai phía và đặt chân lên bậc thềm. Không thể mở được cửa vì đã bị khóa chặt từ phía trong. Tôi đạp mạnh vào cửa và thầm nguyền rủa hội Phù thủy thì có lí do gì để khóa cửa kĩ như vậy cơ chứ. Thật may là chưa có dấu hiệu nào cho thấy sắp có người lao ra đấm vào mặt tôi vì tội phá hoại. Tôi đi vòng ra phía góc trái. Cửa sổ bám một lớp bụi dày, tôi lấy tay phủi lớp bụi đi thì lại bắt gặp rèm cửa thả xuống nên không thể nhìn được gì bên trong. Tôi di di mũi giày trên đám cỏ dày thì đụng phải một mặt phẳng ma sát. Tôi cúi người xuống, vạch cỏ dại ra thì thấy một ô cửa gỗ dẫn xuống phòng hầm bí mật bên dưới. Tôi nhấc tấm gỗ lên, phía dưới tối đen như mực nhưng tôi vẫn không ngần ngại chui xuống nhờ chiếc thang nhỏ ngay ở đó. Chân tôi chạm đất, một lớp bụi văng ra không khí thành từng hạt nhỏ li ti lấp lánh lên dưới chùm ánh sáng nhỏ nhoi lọt được xuống khiến tôi khịt mũi. Trên bức tường giăng đầy mạng nhện và những biểu tượng quái quỷ được vẽ bằng máu, tôi bật công tắc đèn duy nhất còn tồn tại trên tường. Nó cáu bẩn đến nỗi tôi tự hỏi rằng lần cuối chỗ khỉ ho cò gáy này được dọn dẹp là khi nào. Những bóng đèn dây tóc treo trên trần tỏa sáng một cách yếu ớt, mập mờ, chong đèn đung đưa mỗi khi có chiếc xe tải lớn nào đó chạy qua đường, dù sao thì hệ thống điện vẫn còn hoạt động, chứng tỏ có người xuống đây một cách đều đặn. Căn hầm này không rộng lắm, tôi nghĩ thế, vì chỉ có một lối đi bé xíu ép giữa hai bức tường gạch dẫn tới một không gian trống trải hơn dưới kia, xung quanh là đồ đạc ngổn ngang đầy bụi. Có thể phía sau vẫn còn tồn tại căn phòng khác, ai mà biết được. Giống như những hầm trú ẩn thời nội chiến và thế chiến, ẩm thấp, ngột ngạt, tối tăm và lạnh lẽo đến rợn người là những gì tôi cảm nhận được. Bồn rửa, tường, ghế, vết bẩn đóng thành mảng. Những dấu hằn bàn tay trên tường màu đỏ và xanh. Ánh sáng nhạt nhòa của một buổi sáng âm u rọi xuống mặt sàn một góc nhỏ, nhưng ít nhất vẫn còn thấy bớt lạnh lẽo hơn dưới này. Tại phía tận cùng của căn hầm, tồn tại một cánh cửa gỗ màu xanh hiện rõ mồn một những vết cào như bộ móng vuốt của thú hoang trên đó. Tôi đặt tay lên nắm cửa hoen gỉ, khẽ đẩy cửa vào trong. Lại tuyệt nhiên không có đủ ánh sáng trong căn phòng ngập mùi gì đó như mùi bánh mì cháy khét. Với diện tích nhỏ xíu như vậy, tôi cho rằng nó chẳng lớn hơn bất cứ nhà ngục nào ở nhà tù đảo Rikers cả. Ở phía bên phải, có một ô cửa song sắt nhỏ như lòng bàn tay chỉ vừa đủ cho ánh sáng lọt qua, có thể nhìn thấy mặt đường từ phía này, thế nên vị trí cao nhất của căn hầm lại là điểm thấp nhất của ngôi nhà tọa lạc phía trên. Tôi khó mà có thể nhìn thấy điều gì bất ngờ cho lắm khi điều kiện ánh sáng là không đủ thế này, vì vậy tôi cho rằng đây chỉ đơn giản là một căn phòng thông thường được dựng nên khi cần một nơi trú ẩn, cho đến khi một giọng nói vang lên giữa không gian tĩnh mịch khiến tôi nhảy dựng lên. 

- Cô là ai? 


Tôi đứng sững người trong vài phút, gần như bất động, không dám quay đầu lại phía sau, cũng không dám nhìn thẳng vào cơ thể đang run bần bật của mình. Tôi lấy hết can đảm còn sót lại sau khi dám đột nhập vào đây một mình để ngoái lại nhìn. Từ trong bóng tối, khi mắt tôi đã thích nghi được môi trường thiếu sáng này, sâu trong chiếc cũi sắt thấp bé tưởng chừng như chỉ đủ để nhốt con thú, có một dáng người nhỏ bé đến khó tin mà có thể xuất hiện ở đây được đang hiện diện. Tôi tự nhủ đây không phải là thành viên của hội Phù thủy, nhưng người này chắc hẳn có liên quan. Tôi không thể tin vào mắt mình. Hội Phù thủy có thể đã giam gữ người này trong một thời gian dài và sự mất tích của chính người đó cũng chẳng hề được để tâm tới. Khuôn mặt anh ta trắng bệch, bị hắt bóng bởi ánh sáng mờ nhạt. Trông anh ta thiếu sức sống và gần như cái chết đã cận kề bên, bằng chứng là gân xanh nổi dày đặc thành chùm trên cơ thể phía sau bộ quần áo trắng nhuốm đầy vết bẩn. 

- Cô là ai? - Anh ta hỏi lại một lần nữa đầy dứt khoát, đánh thức tôi khỏi cơn mơ. 

- Chỉ là một phù thủy đi ngang qua đây và thấy có gì đó kì lạ thôi.

Ánh sáng đã tạo thành ranh giới với bóng tối bao phủ trên chiếc cũi sắt. 

- Phù thủy tối cao? 

Tôi gật đầu, ngồi bệt xuống để nhìn thấy rõ hơn người đang bị cầm tù như vật nuôi bên trong thứ không gian chật chội đến khó chịu đó. Anh ta chìa những ngón tay của mình ra khỏi song sắt, hướng tới chùm tia sáng hắt qua ô cửa nhỏ xíu trên tường. Đó là những ngón tay phát sáng của tiên linh. Anh ta kéo mình lại gần phía tôi hơn để cho thấy cả đôi tai khác thường của mình. 

- Anh là tiên linh à? Tại sao anh lại ở đây? - Tôi lùi ra xa đầy cẩn trọng. 

- Không phải tôi mới là người nên hỏi câu đó à? Cô làm gì ở đây? 


Dọc cánh tay và trên cổ anh ta đầy những vết bầm tím và thương tích. Tôi không thể khẳng định anh ta bị ai đó đánh đập. Những ngón tay của anh ta dài và khẳng khiu như xác sống. Quầng thâm kéo dài dưới bọng mắt và tôi thậm chí còn chẳng hề thấy anh ta thở. Ai đó đã cướp đi hoàn toàn sự sống của người này. 

- Có một thứ kì lạ đã chỉ dẫn cho tôi về nơi này, về hội Phù thủy. - Tôi rút mảnh giấy gấp làm tư từ trong túi áo ra đưa cho anh ta. - Vậy còn anh là ai? 

- Nod. - Anh ta trả lời cộc lốc, xem qua mảnh giấy rồi ném trả lại tôi, rồi lại ngồi thu mình về phía tối. - Nếu cô định thỏa thuận gì với bọn chúng thì nên biến khỏi đây trước khi chị em cô ta quay lại. 

Thực ra tôi khá bất ngờ trước sự xuất hiện của Nod, người mà tôi có ý định bỏ qua để tiến đến mục đích chính của mình. Nhưng sự kì lạ của anh ta đang níu giữ tôi ở lại dưới nơi ẩm thấp này. Có thể anh ta đã bị cầm tù ở đây quá lâu, đến mức không còn ý muốn thoát khỏi đây nữa, bỏ mặc cuộc đời của mình. Trước khi tới đây, tôi đã chắc chắn phải tuân theo một quy tắc rằng tôi sẽ chỉ tìm kiếm sự thật ở người mà mình muốn và không dính dáng tới bất cứ sự việc nào ngoài tầm mắt của hội Phù thủy. 

- Trên kia hẳn là nơi trú ngụ của hội Phù thủy. 

- Phải. Cô muốn gì ở bọn chúng? - Nod dựa mình vào song sắt, thẫn thờ nhìn ra ô cửa nhỏ xíu trên bức tường đối diện. 

- Những người đó, xuất hiện một cách chớp nhoáng và kì lạ trong một giấc mơ của tôi. Và tôi muốn biết vì sao.


Nod nhếch miệng nhìn tôi và cười. Cứ như thể đã từng có ai đó nói với anh ta như vậy và anh ta coi đó là một trò đùa ngu xuẩn. Tôi không rõ anh ta bị bắt lại ở đây vì lý do gì, hay anh ta liệu có hiểu biết nhiều về hội Phù thủy như tôi dự đoán hay không. 

- Nếu tồn tại một cơn ác mộng như vậy, hẳn cô đã nghe lời tiên tri của Mirage à? Lời tiên tri về CHÍNH CÔ ấy. - Anh ta cọ những ngón tay phát sáng của mình xuống mặt sàn ám bẩn.