Chương 19. Nhất Tiễn Song Điêu

Có làn khói mờ ảo lượn lờ giữa Phật điện, Thái hậu ngồi xếp bằng trên tấm bồ đoàn, ngón cái nhẹ lăn chuỗi Phật châu óng ánh. Tịnh Văn là cô cô theo hầu Thái hậu. Bà ta nhìn nén nhang trầm đã lụi tàn trên đỉnh đồng, liền tiến đến cẩn thận đỡ Thái hậu ngồi dậy.
 
Thái hậu nắm lấy tay Tịnh Văn cô cô mà bước về phía tây Phật điện, lặng lẽ ngồi xuống chiếc ghế dài ở đó. Thái hậu xoay người mà nâng niu mấy đoá huệ trắng, đôi mày khẽ chau rồi chậm rãi cất tiếng: “Cách cắm hoa này hình như không phải của ngươi.”
 
Tịnh Văn cô cô mỉm cười nhẹ giọng: “Phụng nhãn của Thái hậu quả thật tinh tường. Bình hoa này là do Nguyên Phi sai người đem đến, bên ngoài còn có mấy chậu sen, tất cả đều là sen quý “tịnh đế ngọc liên” thưa Thái hậu. Nguyên Phi hao tốn tâm tư như thế, có lẽ là hôm qua ngồi cùng Thái hậu, nghe được Thái hậu thích hoa nhài, đoán rằng có lẽ người thích mấy loài hoa sắc hương vẹn toàn.”
 
Thái hậu gật đầu: “Nguyên Phi trước giờ luôn tinh ý như thế, chỉ qua một buổi tối mà có thể suy đoán những loại hoa bổn cung yêu thích. Chuyện này có thể nói là chu đáo, cũng có thể nói là thận trọng!”
 
Tịnh Văn cô cô nghe Thái hậu nói xong câu đó, liền chậm rãi tiếp lời: “Thái hậu thấy Nguyên Phi chưa đủ thật tâm hay sao ạ?”
 
Thái hậu lắc đầu nói: “Không! Trái lại bổn cung thấy Nguyên Phi chính là đang dụng chân tình. Nhưng mà như thế lại khiến bổn cung không vui. Ngươi có biết tại sao không?”
 
Tịnh Văn cô cô cúi đầu đáp: “Nô tỳ xin lắng nghe Thái hậu dạy bảo!”
 
Thái hậu mỉm cười, khoé môi có chút cong lên: “Bổn cung tuy chỉ thích mấy loài hoa sắc hương vẹn toàn, nhưng vốn dĩ không thích một người quá hoàn hảo. Nếu kín kẽ đến độ chẳng có một điểm sơ hở nào, làm sao bổn cung có thể thăm dò tâm ý người đó?”
 
Tịnh Văn cô cô liền hiểu ý mà cúi đầu, nhân lúc có hương hoa thoảng qua bên mũi, liền hạ giọng tiếp lời: “Bình hoa này đúng thật là thơm! Nhưng bây giờ đặt nó ở trong phòng, không tránh khỏi cũng có chút nồng chát!”
 
Thái hậu mỉm cười mà gật gù: “Đúng vậy! Hoàn hảo quá thật ra cũng là một sơ hở. Có điều người xưa có câu hoa thơm lễ Phật, tâm ý này của Nguyên Phi, bổn cung sẽ tạm chấp nhận! Ngươi đem bình hoa này đặt lên điện thờ đi!”
 
Tịnh Văn cô cô nghe theo căn dặn của Thái hậu rồi chậm rãi trở về. Bà ta quay đầu nhìn cảnh sắc ngoài sân, sau đó nhẹ giọng: “Trời cũng đã sáng rồi, xem bộ lát nữa Vạn Thọ Cung sẽ náo nhiệt lắm! Để nô tỳ dìu Thái hậu về phòng thay xiêm y!”
 
Thái hậu theo Tịnh Văn cô cô trở về phòng ngủ, khi bước qua mấy chậu sen ở ngoài sân, trông thấy đoá tịnh đế ngọc liên tinh khôi ở đó, chẳng hiểu sao lại thấy không vui mà khẽ chau mày: “Hai hoa cùng nở trên một đài, loài hoa tịnh đế ngọc liên này đúng là quý giá đến vậy sao?”
 
Tịnh Văn cô cô dường như ngộ ra điều gì, liền lặng lẽ cúi đầu đáp: “Lát nữa nô tỳ sẽ sai người đem mấy chậu sen này xuống!”
 
Thái hậu không nói gì, chỉ chậm rãi bước tiếp. Tịnh Văn cô cô đỡ Thái hậu đến bức bình phong thử đồ, sau đó khẽ nói: “Nô tỳ nhìn sắc trời hôm nay tươi sáng, cho nên định chọn bộ trường bào “Phù vân Yên Tử” cho Thái hậu. Không biết ý của người thế nào?”
 
Thái hậu lặng lẽ gật đầu mà hướng mắt về bộ viên lĩnh trường bào màu trắng bạch ở kia, ngắm nhìn những áng mây trên núi Yên Tử. Thái hậu mặc xong bộ trường bào này, không những toát ra được nét uy nghiêm, mà còn phảng phất sự trang nhã.
 
Sau đó Tịnh Văn cô cô dìu Thái hậu lại gần bàn trang điểm, đưa tay chải tóc rồi ướm thử hai chiếc trâm lên đầu Thái hậu, theo đó mà có chút suy tư hồi lâu.
 
Thái hậu đưa mắt nhìn nét đắn đo của Tịnh Văn cô cô, liền tò mò hỏi: “Sao thế?”
 
Tịnh Văn cô cô liền nhẹ giọng: “Màu sắc của hai chiếc trâm này đều hài hoà với y phục của Thái hậu. Có điều chiếc trâm “ngọc dao” thì tinh xảo, diễm lệ. Còn chiếc trâm “tuyết liên” thì thoát tục, thanh cao! Trong thoáng chốc, nô tỳ vẫn đang lưỡng lự không biết phải chọn cái nào!”
 
Thái hậu cười sâu xa: “Ngọc dao là loại ngọc quý giá, còn bộ trường bào của bổn cung đang thêu cảnh linh sơn. Nếu cài nó lên, chẳng khác nào là lấy sự xa hoa mà phá vỡ nét bình dị. Đổi lại tuyết liên là loại hoa thanh cao. Chỉ tiếc một chỗ là hoa này lại mọc ở chỗ hoang vu không ai biết đến!”
 
Tịnh Văn cô cô mỉm cười, tiện tay cất đi chiếc trâm “ngọc dao” vào hộp trang sức, sau đó cài chiếc trâm “tuyết liên” vào tóc Thái hậu: “Có câu “hữu xạ tự nhiên hương”, đoá tuyết liên này xem bộ là đang đợi có người đến hái. Nếu Thái hậu cảm thấy chiếc trâm này quá mộc mạc, ở đây vẫn còn nhiều chiếc trâm có thể điểm xuyết cùng nó!”
 
Thái hậu xoay đầu ngắm nghía bản thân mình trong gương, rồi thuận miệng nói: “Ngươi chọn đi!”
 
Tịnh Văn cô cô đưa tay đến hộp trang sức mà chậm rãi nói: “Nô tỳ nhìn qua tất cả chiếc trâm trong hộp trang sức này, bỗng thấy chiếc trâm “chi lan” quá tầm thường, chiếc trâm “diệp trúc” thì lại quá đơn giản. Chỉ có hai chiếc trâm “thanh mai” và “ngọc lộ” có thể dùng được!”
 
Thái hậu khẽ gật gù, sau đó nhẹ giọng: “Mai hoa cương lãnh mà thanh tao, trong gió tuyết chỉ sợ là vẫn gai góc. Huống hồ gì bây giờ đang là mùa hạ, sắc xuân theo đó mà đã trôi qua, nếu bổn cung đeo chiếc trâm này, người khác sẽ nghĩ bổn cung đang níu kéo xuân tàn.”
 
Tịnh Văn cô cô khẽ đáp: “Xuân qua hạ tới, hạ mãn thu về. Sương ngọc đẹp nhất là vào mùa thu. Chiếc trâm “ngọc lộ” này có thể dùng được thưa Thái hậu!”
 
Thái hậu xoay người nhìn mình trong gương, dường như sực nhớ ra chuyện gì mà liền cất giọng hỏi: “Trong hộp trang sức chỉ có bấy nhiêu thôi sao?”
 
Tịnh Văn cô cô mỉm cười, sau đó lấy ra một chiếc trâm màu đỏ đưa tới: “Thật ra vẫn còn có chiếc trâm “chu tước” thưa Thái hậu. Chiếc trâm “chu tước” này được điểm xuyết bởi hồng huyết trân châu, chắc chắn sẽ tạo ra điểm nhấn trên gương mặt của người!”
 
Thái hậu mỉm cười: “Nghe nói lần trước Hải Đông An phủ sứ có dâng lên một hộp hồng huyết trân châu, Quan gia đã đem tặng tất cả cho một Ngự Nữ thì phải!”
 
Thái hậu nói xong câu đó thì xua tay: “Hôm nay chúng phi tần thỉnh an bổn cung, bổn cung không muốn cài chiếc trâm quá nổi bật này. Cứ tạm cất nó lại trong hộp trang sức, ngày sau chẳng sợ không có dịp dùng đến!”
 
Tịnh Văn cô cô cúi đầu đáp: “Nói vậy chỉ có chiếc trâm “ngọc lộ” là thuận ý Thái hậu. Nếu người đã chọn chiếc trâm này, đây đúng là may mắn của nó!”
 
Bất chợt trước cửa có bóng dáng ai đó bước vào, người đó chính là Trác Uyên, tiểu cung nữ hầu hạ Thái hậu: “Nô tỳ xin kính chào Thái hậu. Hiện tại các vị phi tần đã có mặt trước cổng Vạn Thọ Cung, chỉ chờ người gật đầu đồng ý để vào trong gặp mặt!”
 
Tịnh Văn cô cô nghiêm giọng nói: “Trong đám người kia vẫn còn một số người chưa được diện kiến Thái hậu, ngươi hãy để bọn họ vào trong chính điện chờ một chút để học tính kiên nhẫn!”
 
Trác Uyên cúi đầu “dạ” một tiếng rồi lui ra. Chúng phi tần theo đó mà bước vào chính điện của Vạn Thọ Cung, nghiêm chỉnh chờ đợi. Đàm Hoa trông thấy Thiên Tuyết đứng đối diện, nghĩ đến chuyện hôm qua mà chán ghét nói: “Hôm qua gặp Quý Phi sắc mặt nhợt nhạt ở Nghênh Xuân Cung, bổn cung còn tưởng cô sẽ nằm ở trên giường bệnh cả tháng. Không ngờ chứng bệnh này của cô phát tác bất thình lình, nhưng mà thuyên giảm lại càng nhanh hơn thế. Nhìn thấy Quý Phi khoẻ mạnh ở đây, bổn cung muốn tin cũng chẳng thể tin hôm qua cô đã yếu ớt như thế nào. Quên mất, tối hôm qua cô còn có thể đến dùng bữa cùng Thái hậu. Nghĩ lại mà bán tính bán nghi, chứng bệnh này của Quý Phi, có đúng là thật hay không?”
 
Thiên Tuyết mỉm cười: “Thục Phi có lòng lo lắng cho bổn cung rồi. Bổn cung khoẻ mạnh ở đây, tất cả cũng nhờ vào sự quan tâm của Thái hậu. Hôm qua Thái hậu hồi cung, hay tin bổn cung không khoẻ trong người thì đã sai Tịnh Văn cô cô đem đến Lâm Xuân Cung một ấm trà “sinh địa hạ thủ ô”. Bổn cung uống một chén trà liền thấy bản thân tươi tỉnh, theo đó mà khoẻ mạnh nhanh chóng nên đã đến tạ ơn Thái hậu!”
 
Đàm Hoa nghe đến đó thì cười khẩy: “Là do ấm trà này linh nghiệm, hay là do Quý Phi cô giỏi đóng kịch?”
 
“Đúng thật là quá đáng!” – một thanh âm lạnh lùng phát ra làm Đàm Hoa khẽ giật mình.
 
Chỉ thấy một thân ảnh ngoài cửa điềm đạm tiến vào. Đám phi tần ở đó liền kính cẩn quỳ xuống kính chào: “Chúng con xin kính chào Thái hậu điện hạ!”
 
Thái hậu cũng không cho bọn họ đứng lên, chỉ chậm rãi tiến về chiếc ghế phụng trên cao mà từ từ ngồi xuống: “Thục Phi nói vậy chính là đang nghi ngờ ấm trà của bổn cung không hề có công hiệu ư?”
 
Đàm Hoa nghe đến đó thì cúi đầu giải thích: “Dạ thưa Thái hậu điện hạ, con không hề có ý đó! Con chẳng qua chỉ đang đùa cợt vài câu với Quý Phi, xin điện hạ đừng hiểu lầm!”
 
Thái hậu nghiêm nghị nói: “Đùa cợt? Thục Phi khi nãy đến cả nửa chữ cũng nhắm vào chứng bệnh của Quý Phi mà nghi ngờ. Bổn cung thấy thật ra Thục Phi là đang ở trước mặt chúng phi tần làm nhục người khác. Đứng đầu Phi vị hiện tại vẫn còn Nguyên Phi, có phải Thục Phi ỷ mình đang san sẻ công việc quản lý hậu cung, cho nên từ lâu đã không xem Nguyên Phi và Quý Phi ra gì?”
 
Huyền Dao nghe đến đó thì lặng lẽ dập đầu xuống nói đỡ cho Đàm Hoa: “Kính xin Thái hậu điện hạ bớt giận, chuyện này lỗi cũng do con không có năng lực quán xuyến hậu cung. Công việc ở lục viện bận rộn, có lẽ vì thế mà khiến cho Thục Phi căng thẳng, sau đó vô ý phát ra những lời không phải với Quý Phi. Chỉ mong Thái hậu điện hạ rộng lượng bỏ qua, con biết em ấy không hề có ác ý!”
 
Thái hậu nghe đến đó thì chép miệng: “Thục Phi nắm quyền quản lý hậu cung mà hành sự dựa theo cảm tính. Bổn cung vốn dĩ không định tính toán chuyện trước đó, nhưng thấy thái độ vừa rồi của Thục Phi, bổn cung vô cùng thất vọng. Vì thế bổn cung không thể không đem chuyện chay yến hôm qua ra nhắc lại!”
 
Đàm Hoa nghe đến đó thì ngẩng đầu lên mà lặng lẽ giương mắt nhìn Thiên Tuyết. Thái hậu bắt gặp ánh mắt đó, liền thở hắt ra một hơi chán ghét nói: “Có lẽ có người nghĩ bổn cung chỉ là một bà già vô dụng, nên mới tự ý tác quai tác quái. Thật ra chuyện này không có ai nói lại cho bổn cung, mà chính là bổn cung tự mình điều tra được. Đừng quên trước khi ngồi lên vị trí Thái hậu, bổn cung từng là Nguyên Phi đứng đầu chúng thiếp. Lục viện trong hậu cung cũng đã từng qua tay bổn cung tiếp quản, thử nghĩ xem, trong số những con người hiện tại vẫn đang làm việc trong lục viện, liệu có tâm phúc của bổn cung ở đó hay không?”
 
Hạ Lệ Uyển nghe xong câu đó mà khẽ “a” một tiếng, chúng phi tần bên dưới cũng cùng một tâm trạng khiếp sợ y như nàng. Huyền Dao nghe đến đó thì khẽ quay đầu ý bảo Đàm Hoa nhận lỗi. Chỉ thấy Đàm Hoa miễn cưỡng ăn năn nói: “Bản thân con đã biết mình sai ở đâu thưa Thái hậu điện hạ. Thái hậu điện hạ đức cao vọng trọng như thế, có lẽ sẽ không tiếp tục chấp nhất chuyện này!”
 
Huyền Dao lo sợ trong lòng, câu đó của Đàm Hoa hoàn toàn không hề có thành ý. Ấy vậy mà lại thấy Thái hậu hài lòng: “Biết sai mà sửa là tốt! Có câu đánh kẻ chạy đi không ai đánh người chạy lại. Thục Phi đã ăn năn như thế, bổn cung đương nhiên là không trách cứ chuyện này thêm! Được rồi, tất cả mau đứng lên đi!”
 
Mọi người theo đó mà đứng lên ngồi lại vào ghế, giữa lúc Huyền Dao còn đang lo lắng thì đã nghe Thái hậu tiếp lời: “Hiền Phi giờ này ở đâu?”
 
Nguyên Ninh nghe đến hai từ “Hiền Phi”, thì ra trong cung vẫn còn người này. Huyền Dao nghe đến đó liền nhẹ giọng ôn thuận đáp: “Dạ thưa Thái hậu điện hạ, Hiền Phi nửa tháng trước bị bệnh, cho nên Quan gia đã để em ấy trở về vương phủ!”
 
Thái hậu có chút không bằng lòng nhưng không hề tức giận, chỉ lặng lẽ thăm dò nói: “Lý nào lại thế? Trong cung chẳng phải còn có Thái y viện hay sao?”
 
Huyền Dao cúi đầu đáp: “Hiền Phi vẫn thường gặp ác mộng, chỉ khi em ấy ở cùng mẹ mình là Thuỵ Bảo Trưởng công chúa thì bản thân mới không mơ thấy những thứ không sạch sẽ!”
 
Thái hậu gật đầu: “Tâm bệnh thì phải chữa bằng tâm dược. Có điều hậu cung từ lâu vốn có cung quy, thân là phi tử của Quan gia, một khi đã nhập cung thì không thể tự ý rời khỏi Hoàng Thành!”
 
Huyền Dao ôn thuận đáp: “Thái hậu điện hạ nói rất phải. Lần này là do Quan gia ưng thuận nên Hiền Phi mới được về nhà mẹ đẻ. Lần sau nếu Hiền Phi tái phát tâm bệnh, con nghĩ vẫn nên mời Thuỵ Bảo Trưởng công chúa nhọc công vào cung!”
 
Thái hậu nghe đến đó thì có chút bằng lòng: “Quy tắc là quy tắc, nhưng mà đâu đó cũng cần có chút tình người. Huống hồ gì tâm bệnh này của Hiền Phi, chính là do ngày trước thay Quan gia gánh đỡ một kiếp nạn. Nguyên Phi thấu tình đạt lý như thế, nếu để Nguyên Phi cai quản Thượng nghi viện, bổn cung đương nhiên là sẽ an tâm vô cùng!”
 
Đàm Hoa hiểu được ẩn ý của Thái hậu, đương nhiên là vì thế mà có chút lo lắng. Còn Nguyên Ninh khi nghe Thái hậu nhắc đến Hiền Phi, trong lòng theo đó mà có chút tò mò. Hiền Phi là vị nữ nhân như thế nào, mà đã từng thay Quan gia gánh đỡ kiếp nạn?
 
Không khí trong điện chợt có chút tĩnh lặng. Huyền Dao nghe Thái hậu định giao công việc ở Thượng nghi viện cho mình, liền suy nghĩ đôi lát rồi cúi đầu lễ phép nói: “Bản thân con bất tài, hiện giờ đang cai quản Thượng khố viện, cho nên đối với Thượng nghi viện, e là…
 
Lại thấy Thái hậu xua tay: “Bổn cung không phải là chưa từng đụng qua công việc ở lục viện. Tự phụ nói một câu, chuyện ở lục viện bây giờ vẫn nằm lòng trong bụng của bổn cung. Bổn cung làm gì không biết công việc ở Thượng khố viện vô cùng đau đầu. Đôi mắt của Nguyên Phi đã không được tốt, nếu suốt ngày phải dành nhiều thời gian tiếp xúc với mấy con số ở Thượng khố viện, e là khiến bệnh tình trầm trọng thêm. Thục Phi…”
 
Đàm Hoa nghe Thái hậu gọi đến tên mình mà ngẩng mặt nhìn lên thắc mắc. Chỉ nghe Thái hậu nghiêm giọng hỏi: “Một lạng bạc bằng bao nhiêu quan?”
 
Đàm Hoa trước giờ chỉ biết dùng tiền, còn cách tính tiền thì đã có hạ nhân lo liệu. Bây giờ bất thình lình nghe Thái hậu hỏi một câu như vậy, nàng ta phút chốc có chút bối rối. Thái hậu thấy nàng ta ấp úng như vậy thì buồn cười mà hỏi tiếp: “Vậy một quan bằng bao nhiêu tiền?”
 
Đàm Hoa vẫn không trả lời được. Thái hậu chau mày mà gặng hỏi: “Thế một tiền bằng bao nhiêu đồng?”
 
Đàm Hoa liên tục bị hỏi như vậy, liền nhanh miệng trả lời đại một câu: “Là một trăm đồng… thưa Thái hậu…”
 
Thái hậu liền cong môi cười mà xoay đầu về phía Thiên Tuyết: “Quý Phi thấy câu trả lời vừa rồi của Thục Phi là đúng hay sai?”
 
Chỉ nghe Thiên Tuyết mỉm cười thong thả nói: “Sai! Hoàn toàn là sai thưa Thái hậu điện hạ, Trần triều chúng ta dùng tiền theo lệ “tỉnh mạch”. Một lượng bạc bằng một quan, một quan bằng mười tiền, một tiền thì bằng sáu mươi chín đồng!”
 
Đàm Hoa nghe đến đó, đương nhiên là vô cùng ngượng ngập. Lại nghe Thái hậu gật gù đáp: “Giá một thước lụa vân gấp đôi một cân gạo lức. Giá ba cân gạo lức bằng một bức bình phong. Nếu bổn cung đem bán một thước lụa vân, một cân gạo lức và một bức bình phong chỉ với giá một tiền, thử hỏi một thước lụa vân lúc này có giá bao nhiêu đồng?”  
 
Thiên Tuyết khẽ bấm đốt tay, trong đầu suy nghĩ đôi lát rồi mỉm cười: “Dạ thưa là hai mươi ba đồng ạ!”
 
Thái hậu nhoẻn miệng cười: “Trả lời nhanh như vậy sao? Quý Phi có chắc chưa đấy?”
 
Thiên Tuyết lấy từ trong túi thơm bên hông vài đoá hoa khô, sau đó chọn hai đoá đỗ quyên đặt lên khăn tay: “Giá một thước lụa vân bằng hai cân gạo lức.”
 
Bấy giờ trên tay của Quý Phi, chiếc khăn tay tượng trưng cho lụa vân, còn hai đoá đỗ quyên tượng trưng cho hai cân gạo lức. Sau đó Quý Phi đưa tay lấy chiếc quạt lụa mà Cẩm Tú đang cầm, rồi phủ chiếc khăn tay và hai đoá đỗ quyên lên quạt nói tiếp: “Ba cân gạo lức bằng một bức bình phong.”
 
Quý Phi ví chiếc quạt lụa như bức bình phong, sau đó thong thả bỏ thêm ba đoá hoa lài lên trên khăn tay. Chiếc khăn tay đặt trên quạt lụa bấy giờ tổng cộng có năm đoá hoa khô. Quý Phi mỉm cười mà lấy thêm một đoá quế hoa đặt lên đó nữa: “Ở đây đã có bình phong và lụa vân, chỉ còn thiếu một cân gạo lức. Vậy thì một thước lụa vân, một cân gạo lức và một bức bình phong, tổng cộng giá trị của chúng gấp sáu lần một cân gạo lức.”
 
Chúng phi tần nghe đến đó thì nhìn về phía quạt lụa trong tay Quý Phi, ở đó đúng là có sáu đoá hoa khô. Lại nghe Quý Phi thong thả nói: “Ba món này có giá một tiền, tức là sáu mươi chín đồng. Lấy sáu mươi chín chia sáu, suy được một cân gạo lức có giá mười một đồng rưỡi. Một thước lụa vân gấp đôi số tiền này, vậy thì chính là hai mươi ba đồng thưa Thái hậu điện hạ!”
 
Thái hậu đương nhiên hài lòng mà gật gù nói: “Quý Phi trước giờ chính là luôn thông tuệ như thế, nếu vậy công việc ở Thượng khố viện cứ để cho Quý Phi đảm trách thay cho Nguyên Phi. Từ trước đến giờ, chi tiêu của Thượng trân viện và Thượng phục viện vốn liên thông mật thiết với Thượng khố viện, nếu vậy Quý Phi cũng nên tiếp quản hai viện này. Còn Nguyên Phi, ngoài việc tiếp quản Thượng nghi viện như bổn cung đã nói khi nãy, Nguyên Phi cũng nên tiếp quản Thượng yến viện để chăm lo công việc lễ tiết trong cung, tránh những việc lộn xộn không đáng có như buổi chay yến vừa rồi tại Sùng Uyên Điện. Lục viện bây giờ chỉ còn mỗi Thượng thiện viện, bổn cung nghe nói trong buổi chay yến đó, Thục Phi đã sắp xếp các món ăn rất cầu kỳ, thiết nghĩ ngoài Thục Phi ra thì chẳng có ai xứng để chăm lo chuyện ăn uống của hậu cung. Nói vậy công việc ở lục viện đã được bổn cung phân định, chẳng hay có phi tần nào còn ý kiến khác hay không?”
 
Thái hậu nói ra câu đó dõng dạc từng chữ, khí thế của bà uy nghiêm như phụng hoàng đập cánh. Chúng phi tần bên dưới đương nhiên là chỉ biết nghe theo. Tình cảnh bấy giờ trong đại điện, so với bức tranh “bách điểu triều phụng” đang treo đằng sau Thái hậu chẳng khác là bao. Chỉ có Đàm Hoa dẫu không phục mà chẳng thể phát ra một câu oán trách nào!
 
***
 
*Đôi lời của tác: Cảm ơn bạn đã đọc chương này. Đây chỉ mới là bản thảo, nếu có một số lỗi trong chương, mong bạn thông cảm bỏ qua và tiếp tục ủng hộ truyện! Tác mong mình sẽ có thể hoàn thành bộ truyện này :D tiểu thọ tử