Biểu Tượng Một Dòng Họ - Chương 01

I

Mấy ngày nay ở nông thôn Mây bỗng xuất hiện một chàng trai Tây. Mắt xanh lơ, mũi cao, da trắng hồng, cao to thì ai cũng bảo là người Tây. Riêng mái tóc thì không phải, vì nó đen, y như tóc của mọi người trong làng. Có lẽ là Tây lai? Bọn trẻ kháo nhau:

- Có ông Liên Xô về làng mình, chúng mày ạ.

- Ông Liên Xô biết nói tiếng ta, lơ lớ lơ lớ nghe buồn cười lắm!

- Ông Liên Xô chào tao: “Chao em bé. Em hi hoóc phái khôông? (Chào em bé. Em đi học phải không?)

Cả lũ cười ngặt. “Ông Liên Xô” đến xóm nào là chúng tôi theo bám nhìn “ngó” bằng con mắt tò mò, sợ sệt. Đứa nào bạo lắm mới dám mon men lại gần, rụt rè sờ trộm vào cái xe của ”ông” rồi rụt luôn tay lại.

Hồi ấy có rất đông người Liên Xô, đúng hơn là người Nga, là chuyên gia sang giúp Việt Nam trong nhiều lĩnh vực. Nên bất cứ người mắt xanh, mũi lõ, tóc xoăn đều được dân ta gọi bằng cái tên chung “ông Liên Xô”, “bà Liên Xô” dù họ là người châu Âu không phải Nga.

Trước đó, thảng hoặc có cũng có chuyên gia Liên Xô đi qua hoặc dừng lại thôn Mây chừng dăm bảy tiếng là nhiều, trao đổi hoặc quan sát gì đó, rồi đi luôn. Lần này, “ông Liên Xô” về ở hẳn nhà trưởng thôn, hằng ngày gặp gỡ người già, hỏi rất nhiều về dân làng Mây ngày xưa. Các buổi chiều, “ông” làm thân với thanh niên và thiếu nhi, dạy họ chơi bóng đá ởsân đình. Việc làm ấy của “ông” gây không ít ngạc nhiên cho dân chúng. Một không khí bàn tán, thắc mắc xôn xao cả làng.

Nhưng người lạ ấy không phải là người Liên Xô. Anh là một nhà văn Pháp, được Bộ Văn hóa Việt Nam giới thiệu đến các vùng đất nước để thâm nhập thu thập tài liệu sáng tác.

Nhưng tại sao điểm thâm nhập đầu tiên của anh lại là thôn Mây?

Albert Hải là bút danh của anh. Đề tài chính làm anh say mê là những chuyện về con người châu Á, đặc biệt là Đông Nam Á.

Niềm say mê ấy có phải bắt nguồn từ một nửa dòng máu Việt Nam đang chảy trong cơ thể anh? Khi mới 17 tuổi, sau vài tháng tham quan và thâm nhập Lào, anh cho ra mắt cuốn tiểu thuyết đầu tay nhan đề “Xao xuyến một cánh rừng pơmu” dày 500 trang với số bản in 600.000, bốn tháng sau in thêm 200.000 bản nữa. Có thể xem đây là con số kỉ lục ở Pháp. Danh tiếng nổi như cồn. Các nhà phê bình văn học còn đang liên tiếp bình luận về “cây bút trẻ kiệt xuất” ấy thì tác phẩm thứ hai lấy bối cảnh Cam-pu-chia mang tựa đề “Nước thần chảy xiết”, cũng được đọc giả hân hoan đón nhận.

Ở tuổi Albert Hải, danh vọng ở tầm ấy, có thể xem là mãn nguyện. Còn với nhiều văn sĩ khác, tuy đã có một bề dày thâm niên, vẫn thấy mình đứng ở rất xa so với anh. Nhưng trong anh, từ lâu cứ đau đáu một câu hỏi, mà nhiều đêm khiến anh phải mất ngủ: “Ta xuất thân từ một dòng máu cụ thể nào, có một người cha với hình hài và tính cách ra sao?” Nhiều phóng viên của các hãng truyền thông trong và ngoài nước muốn anh chia sẻ với độc giả về đời tư của mình. Song anh chỉ đưa ra những thông tin chung chung: “Gia đình tôi quả thật không có gì đặc biệt!”

Mẹ nuôi của Albert Hải lấy chồng người Pháp. Hai người đã chung sống 5 năm mà vẫn chưa có con, bèn bàn nhau kiếm một đứa con nuôi. Tới trại Dục Anh Đường, ông bà đi quan sát các phòng, thấy có một đứa trẻ Tây lai 5 tuổi thì ưng ngay và làm thủ tục xin nó về. Năm 1946, ông hồi hương cùng vợ và thằng con nuôi. Cái tên Albert Hải là do ông đặt cho nó, với ẩn ý lấy Hải Phòng làm kỉ niệm một thời sinh sống. Và sau này, vào nghề viết lách, con ông cũng lấy luôn tên đó làm bút danh, có một phần lý do trong tâm hồn anh luôn hiển diện một miền đất nước Việt Nam, cội nguồn của mình. Ở nơi sâu thẳm của ký ức, luôn luôn lấp lánh hình ảnh một người phụ nữ quê mùa ngày ngày bón cơm, tắm giặt cho anh. Vì sợ anh bị ngã đau nên bà cứ cõng anh suốt. Anh có gì ngon cũng phần bà một nửa. Vào một buổi chiều rét buốt, bà cõng anh đến một nơi có nhiều trẻ con cũng ở lứa tuổi anh, rồi trao anh cho một chị mặt quần áo dài đen. Bà ra về, vừa đi vừa khóc như bị ai cướp mất con, trong khi anh lấy hết sức giằng khỏi tay chị kia, khóc đòi về với bà. Một hình ảnh nữa rùng rợn không thể lý giải: Một người đàn ông trùm tấm lụa đỏ ngồi trước baan thờ, một ông mặc áo thụng đen cầm hương múa may xung quanh. Lát sau người đàn ông đột ngột giật phắt tấm lụa ra và hú vang, vớ lấy con gà trong lồng đặt ngay cạnh, ghé mồm cắn đứt cổ con gà, nhai ngấu nghiến, máu me đầm đìa...

Anh cũng không nhớ nổi người đàn bà ấy có quan hệ thế nào với anh mà thương anh nhường ấy? Và vì sao lại có cảnh tượng ghê rợn kia? Điều này cũng là câu hỏi lớn ngày càng khuất động trí tò mò của anh.

Khi anh hỏi, mẹ nuôi cũng chỉ cung cấp được một thông tin vừa mơ hồ vừa khó hiểu bà nhận được từ ban quản lý trại: Một gia đình giàu có, quyền uy, vì sợ liên lụy đã đem anh gửi vào trại. Như thế, đã có một điều bí ẩn trong thời thơ ấu của ta? Câu hỏi luôn giục giã anh, không cho phép dùng dằng hơn để tìm câu giải đáp. Hơn nữa, anh linh cảm dòng máu Việt đang chảy trong anh rất có thể là cao quý, là siêu việt. Sự linh cảm quả có cơ sở, nếu không, gien anh đang thừa hưởng từ đâu truyền lại để có thể thành đạt lớn lao đến thế? Và đây cũng là động lực thúc đẩy anh sớm phải khai quang cội nguồn của riêng mình, để có thề thầm kiêu hãnh trả lời các câu hỏi mà bấy lâu nay vẫn phải hậm hực bỏ qua: “Cha tôi là... mẹ tôi là... ông nội tôi...”

Và anh quyết định về Việt Nam, có thể đó là quê ngoại, hoặc quê nội, để tự giải tỏa nổi niềm u uất bấy nay. Được sự khuyến khích và trợ giúp của Hội văn sĩ Pháp và tòa đại sứ Pháp tại Việt Nam, Albert Hải đã đến được Việt Nam và giờ đây đang ở thôn Mây. Trước đó anh tới Thái Nghi, nơi trại Dục Anh Đường tọa lạc năm 1946. Phải mất mấy ngày dò hỏi những cư dân lâu năm nơi đó, anh mới xác định được “thằng Tây lai” duy nhất của trại là cháu nội ông Bá ở thôn Mây. Như thế, “thằng Tây lai” ấy chính là anh hồi bé rồi. Còn lí do ông gửi nó vào đây thì không một ai biết. Chắc hẳn dân làng Mây và họ hàng của anh có thể giải đáp được.

Đang bữa trưa tại nhà ông trưởng thôn. Nhắp xong ngụm rượu, ông bảo Albert Hải:

- Tây khoái ăn giền luộc chấm mắm cáy xổi thì có lẽ chỉ Tây Hải. Phải có gốc gác Việt Nam mới cảm nhận được cái vị thơm ngon đặc trưng đó, chứ Tây chính cống thì không đời nào.

- Khi nào về Pháp cháu xin bác một chai mắm về làm quà cho mẹ cháu. Mẹ nuôi cháu cũng là người Hải Phòng mà.

- Được rồi, yên tâm đi. Cứ lo cho tốt việc thâm nhập thực tế để sáng tác thật hay vào.

- Việc ấy phải làm lâu dài, có thể qua nhiều năm tháng. Cháu về Việt Nam, lại cắm chốt ngay ở làng ta là còn vì một việc khác nữa do bạn cháu nhờ. Anh ấy cũng lai như cháu, trước chiến tranh Việt Nam, anh ấy ở làng này, là cháu nội ông Bá...

Bằng thủ thuật khai thác tài liệu mà nhà văn nào cũng thành thạo, Albert Hải đẩy sự việc sang phía khách quan:

- ... Có phải như vậy không hả bác?

- Hồi ấy, tôi còn nhỏ, không hiểu kỹ lắm. Ông tôi đây chắc nắm chắc được.

Cụ thân sinh của trưởng thôn sau một thoáng lục tìm ký ức:

- Có đấy. Nhưng muốn biết tường tận, cháu  phải đến gặp ông Mấm. Hồi ấy vợ ông ấy là bà Tàm, làm vú em chuyên chăm nuôi thằng bé Tây lai ấy. Mẹ nó là bà đầm chính hiệu.

Ông Mấm bị đau yếu luôn, nên ở nhà lo cơm nước cho con gái làm hợp tác. Vừa nghe Hải nói đến “thằng Tây lai cháu ông Bá”, mặt ông liền rạng rỡ hẳn lên, hỏi dồn một loạt câu, vẻ như đã hết sạch bệnh tật:

- Thế hả, thế nó cũng ở Tây à? Làm sao nó lại sang Tây được nhỉ? Ối giời ôi, thế là nhà tôi đại phúc rồi. Tìm được thằng Hoan rồi, bà Tàm ơi. Hoàn này, thắp cho bu con mấy nén hương mời bà ấy về, con. Vong linh bà về nhà ngay đi, để nghe bạn nó kể tin con bà này! Thế nó lấy vợ chưa:

Albert Hải dằn cơn xúc động:

- Dạ, anh ấy chưa lấy ạ. Thế hồi bé anh ấy gọi là Hoan? Anh ấy nhớ không nổi tên mình.

Bố nó là Hân. Hân hoan là vui như tết, phải không? Bà Tàm hồi ấy còn son rỗi. Ông Bá giao cho bà ấy nuôi nó. Bà ấy thương quí nó không khác gì con đẻ. Suốt ngàu cõng nó, sợ nó ngã đau mà. Tối đến ru ời ợi thằng con 5 tuổi. Chả có mẹ nào như thế. Sau này con Hoàn cũng chẳng được bà ấy ru đến tuổi ấy! Ông Bá bắt phải dẫn nó đem ra trại Dục Anh, bà ấy bảo: “Ông sợ vì nó mà người ta bắt giam ông thì để con nuôi nó. Con không sợ.” Nhưng mà ông Bá bảo: “Họ không tin, mà sẽ cho là tao nhờ mày nuôi nó hộ tao.”

- “Họ” là ai? Sao “họ” lại bắt ông cháu, à quên ông của anh Hoan? Sao phải cho anh ấy đi?

- Này nhé, nếu tôi thân với anh thì phải bênh anh. Họ sợ ông Bá bênh Tây để đánh lại ta. Nhưng thương tâm nhất là sau hôm giao nó cho trại, ngày nào bà ấy cũng đến đứng ngoài cổng trại nhìn vào, mong được gặp may nhìn thấy con.

- Sao không xin phép vào thăm?

- Không được, họ muốn cắt đứt hẳn để mình không gây rắc rối cho họ. Chẳng hạn họ sợ mình đổi ý, đánh cắp nó về. Một hôm sau khi ở trại về bà ấy tìm ông Bá:

- Con xin ông nghĩ lại. Thằng bé ngoan ngoãn, đẹp như hòn ngọc, đang được ăn sung mặc sướng, tự dưng vứt nó đi, vào chỗ toàn những đứa trẻ bẩn thỉu, láo hỗn như gấu. Con không đành lòng, con chết vì thương nó mất thôi. Ông sợ người ta hành ông thì giao nó cho con. Ở đây không được, con làm chòi ở đầu đình, đem nó ra đấy, con chăm nó.

- Không đơn giản như chị nghĩ đâu. Nếu họ hỏi chị đào đâu ra cái ăn thứ mặc thì chị bảo sao? Họ không tin đâu. Thôi, cứ để nó ở trại, sau này hết loạn ly mình xin nó về.

Nhưng khi ông Bá hồi cư thì cái trại di chuyển đâu mất không ai hay. Loạn lạc, bom đạn mà! Thế là bà ấy mất nó hẳn. Bây giờ lại được anh mang tin về. Tiếc là vú Tàm đã mất.

- Không thể tin đã có một khoảng thời đáng sợ như vậy! Nhưng sao chú biết rõ đến thế?

- À, hồi ấy tôi cũng là gia nhân nhà ông Bá như bà Tàm. Bà ấy thế nào ai cũng thấy hết. Bà ấy âu sầu, rầu rĩ mãi, đến khi lấy tôi mới nguôi ngoai được một phần. Chứ quên nó thì bà ấy chẳng bao giờ. Đến khi sinh con gái, tôi muốn đặt tên là cái Mầm cho vần với tên tôi, bà ấy không nghe, đặt Hoàn để gần với Hoan – Ông vào buồng bê ra một bọc quần áo được chằng buộc cẩn thận – Đây là quần áo của thằng Hoan. Thỉnh thoảng nhớ nó, bà ấy lại mở ra bày hết lên giường, rồi ngồi ngắm hết cái nọ đến cái kia.

Albert Hải cởi dây, rồi bày hết ra giường.

- Đấy, ngày xưa bà ấy cũng bày ra như thế đấy.

Vì quá xúc động, anh chỉ dám nhìn những kỉ vật một lát,rồi phải quay đi. Giờ đây chúng không còn là vật vô tri nữa, mà như đang có tiếng vọng từ một miền quá khứ xa xăm, lúc rành rọt, lúc thầm thì. Anh sờ vào kỷ vật, rụt rè như sợ nó tan biến, lại vừa thấy nó như những vật thiêng không nên động vào.

Mặt Hoan bỗng trắng bệch, đôi mắt thành vô thần, rồi đổ sập xuống đống quần áo. Anh toan thú thật, song nghĩ thế nào rồi lại thôi. Thật hạnh phúc cho anh đã được bàn tay chăm bẳm của vú Tàm, để giờ đây được nghẹn ngào, rưng rưng tưởng niệm. Mấy thứ cũ kỹ này ở nhà anh bên Pháp không đáng làm giẻ lau, nhưng ở đây, thời điểm này, lại là vật vô giá. Anh áp mặt lên đống quần áo cũ như chạm vào một thời thấm đẫm yêu thương và mênh mông tấm lòng vị tha của người đàn bà trước đó còn là xa lạ.

Ông Mấm gọi con:

- Hoàn ơi, anh người Tây làm sao ấy – Rồi ghé sát tai anh – Anh có bị sao không? Ngồi dậy uống nước nào.

Hoàn chạy tới:

- Có lẽ anh ấy bị cảm. Bố con mình dìu anh ấy ra giường ngoài nằm nghỉ.

Hoan uể oải ngồi dậy, vẻ mặt vẫn chưa hết đờ đẫn, buồn đau:

- Chú cứ mặc cháu, cháu không sao đâu...

Anh nghĩ đã đến lúc phải thú thật, không nỡ giấu chú và em Hoàn thêm nữa. Nguồn gốc của bản thân mình đã được sáng tỏ đến từng chi tiết nhỏ rồi.

- ... Cháu chính là... là... – Anh ôm chặt lấy chú – là Hoan đây!

Chú gỡ tay Hoan ra và nhìn vào mắt anh, ngờ vực và sửng sốt:

- Anh vừa nói gì? Anh là...

- Cháu là Hoan, con cha Hân, cháu ông Bá, con nuôi của vú Tàm.

- Hả? Anh nói thật hay đùa đấy?

- Cháu nói thật. Khi nãy cháu giấu vì sợ...

- Anh nói lại đi. Anh là...

- Hoan ạ!

- Ối giời ơi! Hoan! Con đã trở về, có thật không hả con? Như chú đang nằm mơ chứ không phải tỉnh nữa!

Hoàn nhạy cảm hơn bố, ngay câu thú nhận của anh Tây, cô xác định đây đích thực là Hoan. Cô cứ tròn mắt, ngây người ra như trời trồng, rồi nước mắt trào lăn trên má, rất hồn nhiên, dòng lệ tuôn ra từ mừng vui, tủi, buồn, thương và có phần kinh ngạc.

Ngay chiều hôm ấy, ông Mấm dẫn Hoan đến trình diện các bậc cao niên trong họ Đào, cũng như họ hàng bên ngoại. Cô Bưởi là con chú bác ruột với cha Hoan, gặp ở sân đình đon đả:

- Bố nhà anh! Cứ tưởng “ông Liên Xô” nào! Hóa ra thằng cháu họ Đào! Hồi xưa cô hay cho mày ăn bánh đúc, còn nhớ không? Hôm nào nhớ đến ăn bánh đúc với cô nhá. Thời nay không còn ai làm bánh đúc bán nữa, nhưng cô sẽ tự nấu cho cháu ăn. Đến nhá!

- Vâng, hôm khác cháu sẽ đến thăm cô. Cháu không còn nhớ hương vị nó như thế nào nữa.

Bà Bê, em ruột ông Bá, phát thật lực vào mông Hoan:

- Tiên nhân bố nhà mày! Bà cứ tưởng họ Đào mất đứt một hòn máu. Ông cháu linh thiêng, hồn bay sang Tây xui khiến, vẽ đường dẫn lối nên cháu mới tìm được đường về quê cha đất tổ.

Qua những lần thăm viếng họ hàng xa gần, dần dần Hoan ý thức được từ xa xưa cả họ trăm người như một ra sức giữ gìn, tôn tạo dòng họ của mình không ngừng lớn mạnh và duy trì được niềm kiêu hãnh qua nhiều đời. Những sự kiện và nhân vật phảng phất màu sắc huyền bí. Dân vùng này đến nay vẫn còn bán tín bán nghi về việc thân thể ông anh có khả năng phát hào quang; bà Quỳnh chị ruột ông Bá có thần năng nên chuyện trò được với người âm. Những sự lạ ấy không một người Pháp nào chưa tới làng này có thể tự hình dung ra được, nếu được đưa lên trang sách ắt sẽ đặc biệt cuốn hút họ. [G.A.C.S.A.C.H.C.O.M]

Mục đích ban đầu của anh, bên cạnh việc xác định cội nguồn, còn thu thập tài liệu cho một thiên tiểu thuyết về cuộc chiến tranh vệ quốc. Cho đến giờ, mục đích đó bị lu mờ hẳn, nhường chỗ cho một quyết tâm mới: Một cuốn tiểu thuyết đậm chất sử thi về dòng họ nội của anh. Anh tự thấy nó như một“Gia phả văn chương” anh phải đảm trách. Và anh định dành toàn bộ nhuận bút thu được cho việc khôi phục lại vị thế của họ Đào đã bị sa sút gần chục năm qua, mà khâu then chốt là dựng lại y nguyên cái gia tài đồ sộ đã bị chiếm hữu bất hợp pháp, rồi sau đó bị phá tán không còn một viên gạch, một thanh gỗ, vốn là trung tâm cho mọi thành viên hướng về, điểm hội tụ của niềm kiêu hãnh, là biểu tượng của toàn gia tộc nội ngoại.