Anh Ninh - Phần I - Chương 4

 

Đằng sau cánh cửa chính cao lớn hiếm khi mở trừ những dịp đặc biệt là hai hàng cây xanh được trồng ngay hàng thẳng lối trên sân gạch, giờ đương là cuối mùa thu, lá trên cây đã ngả vàng từ lâu chỉ đợi một đợt gió lướt qua là đua nhau rời cành. Ánh nắng giữa trưa thôi gay gắt như trước, dìu dịu chiếu nghiêng lên thân người đang bình tĩnh băng ngang qua sân gạch, dường như muốn tiến về gian phải của Đại lý tự. Vài quan nha đi ngược hướng đều dừng lại cúi đầu chào y một tiếng rồi tiếp tục tất bật với đống giấy tờ trên tay. Đột nhiên từ trong đám đó, một thư lại cấp thấp nhất lên tiếng:

“Lê y quan vừa mới xong công vụ, bảo tôi báo lại với Thiếu khanh là ngài ấy đang chờ ở trong phòng của Thiếu khanh để bàn về vụ án.”

Quang Nguyên bấy giờ mới lên tiếng: “Ta sẽ qua đó ngay, ngươi đi làm việc tiếp đi.”

Thư lại kia cúi đầu chào rồi rời đi.

Quang Nguyên đổi hướng, đi dọc theo hành lang mé phải của phòng xử án ở gian chính, băng qua thềm hẹp rồi mới tiến về phòng công vụ dành riêng cho Thiếu khanh của Đại lý tự xây tại gian sau.

Quan lại theo kỳ thì phải nhận sát hạch, tùy vào kết quả mà được thuyên chuyển chức vụ, bởi vậy phòng ốc cũng được bố trí tinh giản chỉ dùng để làm việc là chính. Phòng của Quang Nguyên cũng không ngoại lệ, bộ thư án đặt trước một tấm bình phong đơn thêu lụa cảnh núi sông, kệ gỗ cạnh tường đựng sách và vài văn kiện về luật pháp, đối diện là hai chiếc ghế tựa và bàn nhỏ tiếp khách.

Lúc Quang Nguyên xuất hiện trước cửa phòng, Huy Triết vẫn đang ngồi lật giở đọc lại những ghi chép của phó quan trong quá trình nghiệm thi. Hai người thấy nhau nhưng không ai nói bất cứ lời gì, Quang Nguyên đặt hai bức họa của anh em nhà họ Đoàn xuống bàn, chậm rãi đun nước châm trà, trong lúc đợi nước sôi, y ngồi sau thư án lật giở bản ghi chép nghiệm thi Huy Triết vừa mới đưa qua. Trầm ngâm một hồi lâu mới lên tiếng:

“Triết nói tôi nghe xem thử.”

“Giống như tôi phán đoán từ đầu, Đoàn Văn Anh và Đoàn Vân Anh đều bị siết cổ đến chết rồi hung thủ mới lần lượt cắt tai và khâu miệng. Không hề có dấu hiệu bị tra tấn hay xâm hại, chỉ đơn thuần là muốn giết chết. Thủ pháp rất nhanh gọn, không giống là gây án lần đầu.” Huy Triết nói tiếp, “Vết cắt từ tai của Đoàn Văn Anh cho thấy hung thủ đã sử dụng một con dao rất sắc tuyệt đối có thể dùng để giết người, thế nhưng hắn lại dùng dây thừng để sát hại cả hai nạn nhân. Cách gây án này thật sự là rất kỳ lạ, hẳn phải có nguyên do đặc biệt gì đó khiến hắn làm như vậy.”

Ấm nước trên bếp đã bắt đầu sôi, khói trắng lượn lờ trong không trung, Quang Nguyên đứng dậy châm hai chén trà, đưa một chén cho Huy Triết ra hiệu cứ tiếp tục nói.

“Tôi đã từng nghĩ có khả năng là có đến hai hung thủ, một tên dùng dao, một tên dùng dây thừng. Tuy nhiên khi kiểm tra, thấy vai áo của Đoàn Văn Anh bị dính vôi trắng rất giống như màu trên bức tường trong con hẻm nhỏ, đôi giày y mang cũng có vết bùn đất, mà gần đống đồ cũ ngổn ngang Thiếu khanh nhìn thấy ở hiện trường cũng có một vũng bùn do nước mưa đọng lại tạo thành. Chắc chắn trước khi chết, Đoàn Văn Anh đã vùng vẫy kháng cự rất mạnh, mà nếu có tận hai hung thủ thì hẳn là hiện trường đã không náo loạn đến vậy.”

Quang Nguyên ghi nhớ những gì Huy Triết nói, đồng thời cũng đưa ra ý kiến của mình: “Con hẻm kia mặc dù có rất ít người qua lại nhưng gần đó có phố lớn lại đương bàn ngày ban mặt, nếu có người vì vội mà dùng đường tắt thì chắc chắn hắn sẽ bị phát giác. Tôi cảm thấy tên này có vẻ là một kẻ rất bạo gan.”

Huy Triết gật đầu đồng ý: “Đối với những kẻ như thế này vẫn nên cẩn thận thì hơn, không chừng vì bị dồn vào đường cùng mà hắn có thể gây ra chuyện kinh thiên động địa cũng nên.”

Trong khoảng không gian yên ắng , những tia nắng cuối ngày yếu ớt vàng vọt chiếu thẳng vào chiếc thảm lót sàn với những chi tiết hoa văn đỏ sẫm, màu đỏ như máu đọng lâu ngày bị người người lãng quên nay hiện rõ rệt dưới ánh hoàng hôn.

“Hành vi cắt tai và khâu miệng của người chết thật sự rất đặc biệt nhắc tôi nhớ lại một vài điều mình từng đọc qua, thế nên vừa nãy tôi có ghé ngang qua phòng lưu trữ nhưng họ nó Thiếu khanh đã mang hai bộ văn kiện ở Sơn Nam và Kinh Bắc đi rồi.”

Vừa mỉm cười vì suy đoán trùng hợp của hai người, Quang Nguyên vừa rút hai tập giấy trong chồng văn kiện đặt trên bàn ra, lật giở nhìn lướt qua rồi lên tiếng: “Đúng là các nạn nhân ở cả hai vụ này đều bị cắt tai và khâu miệng, nhưng điều làm tôi ngạc nhiên hơn cả là chữ viết bằng máu trên tường: ‘Nam’, Bắc’, và lần này là ‘Pha’. Thoạt nhìn nét chữ có độ nhấn bút khá giống nhau, rất có thể là đến từ cùng một người. Nếu những chữ này là do hung thủ viết vậy thì hắn viết để làm gì, hẳn phải có ý nghĩa gì đó đằng sau chúng.”

Huy Triết đón lấy tập giấy từ tay Quang Nguyên, nhìn một lượt rồi lên tiếng: “Nếu là phương hướng vậy thì chữ ‘Pha’ này không đúng cho lắm…”

“Cho nên chắc chắn không phải là phương hướng. Tôi cho rằng mấu chốt của vụ này chắc chắn nằm ở đằng sau những con chữ này, một khi chúng ta hiểu ý nghĩa của chúng thì chắc chắn sẽ tìm được hung thủ ngăn chặn hắn tiếp tục ra tay với những người dân vô tội.”

Trong khi cả hai đang trầm trong những suy nghĩ miên man về vụ án khó hiểu thì Lý Thu trở về, nhìn biểu cảm trên gương mặt thì có thể chuyến này của hắn đã thu hoạch được ít nhiều gì đó từ tên Vương Minh Đạo.

Quả nhiên chân phải vừa bước qua bậc cửa đã thấy tiếng hắn vang lên: “Quan lớn, Lý Thu đã về.”

Hắn nhìn thấy trong phòng còn có Huy Triết thì chắp tay cúi chào theo lễ, không chần chừ gì nữa mà bẩm báo với Quang Nguyên. Vì chỉ có nửa canh giờ cho nên hắn thay một bộ đồ giả thành người làm trong nhà họ Đoàn theo lệnh đến báo tin vài ngày nữa thi thể được Đại lý tự trả về sẽ tiến hành tang chế, lúc đó thì mời Vương Minh Đạo đến dự. Vương Minh Đạo vốn rất quý Đoàn Văn Anh, lại gặp thêm mấy lời đau buồn mà Lý Thu thêm thắt vào thì liền kể lể không ngớt. Y nói rằng lúc sinh thời Đoàn Văn Anh rất thích nghe hát, chỉ cần là ai có chung sở thích đều được y khoản đãi không hề tiếc tay. Dạo trước ở phương hát có một ca nương mới vào, mặc dù còn rất trẻ nhưng kỹ thuật lại vô cùng tốt, giọng hát dặt dìu làm nao cả lòng người cho nên chỉ mới vừa ra mắt đã rất được lòng Đoàn Văn Anh. Cô ca nương này gọi là Nhạc Ngọc.

“Cả tháng trời nay, hoặc là đi cùng bạn bè hoặc là đi một mình, lần nào Đoàn Văn Anh cũng yêu cầu Nhạc Ngọc. Nghe nói sau khi hát xong còn để cô ta ở lại trò chuyện đôi ba câu.” Lý Thu hăm hở kể lại, chỉ sợ quan lớn nghe thấy thiếu sót nên hắn cũng mang nguyên giọng kể nhiệt tình của họ Vương kia truyền lại, “Quan lớn thấy chúng ta có nên hỏi chuyện cô Nhạc Ngọc kia không. Biết đâu chừng cô ta đã nghe được những lời thủ thỉ nào đó của cậu cả Đoàn cũng nên.”

Quang Nguyên gật đầu: “Người thì đương nhiên phải hỏi nhưng ta nên bắt đầu từ bằng hữu thân thiết hơn là một ca nương y mới quen sơ.”

“Cậu Đoàn này vốn tính tình nhã nhặn hiền hòa, chẳng bao giờ thấy gây gổ xích mích với ai. Bằng hữu hầu hết là thương nhân lái buôn, bọn này nói điều gì chưa chắc đã tin được.”

“Dù chỉ là một manh mối nhỏ cũng không nên bỏ qua. Ngày mai ngươi cầm danh sách lấy được từ chỗ ca phường đi hỏi chuyện một lượt xem thử thái độ của từng người bọn họ một lượt. Khéo léo một chút.”

Quang Nguyên dặn dò công việc cho Lý Thu, đợi hắn lui ra rồi đoạn quay sang nói với Huy Triết: “Chiều nay tôi còn phải sang Hàn lâm viện một chuyến, chuyện vụ án nếu suy nghĩ được gì thêm ngày mai chúng ta lại bàn tiếp. Nhưng e là phải đi một chuyến dài, thông tin trên giấy chẳng bằng ta chính mắt thấy tai nghe.”

“Hẳn là phải vậy. Tôi đi thu xếp trước, lúc nào định được ngày thì Thiếu khanh hẵng cho người sang báo.”

Huy Triết chắp tay cúi chào rồi rời đi, đứng dưới bậc thềm nhìn sắc trời ảm đạm của chiều tà dần phủ lên mảnh đất kinh kỳ dưới chân mình, y bất giác nhận ra một năm dài đằng đẵng vậy mà cũng đã sắp đến hồi tàn, nhẹ thốt lên: “Chuyện cũ đuổi đi, bình an đón về…”[1]

Tầm giờ Dậu hai khắc, lúc Anh Ninh đang viết thư ở trong phòng thì có tiếng gõ cửa vang lên, người bên ngoài cất tiếng hỏi: “Anh vào có được không?”

Vừa nghe được giọng nói thân thuộc bên ngoài, Anh Ninh cũng không đặt bút xuống, vừa viết tiếp vừa nói: “Anh Kiệt vào đi.”

“Đang làm gì đấy, sắp đến giờ dùng bữa rồi sao còn chưa ra?”

“Mấy ngày trước mới nhận được thư từ nhà, bận bịu mãi đến giờ mới có dịp trả lời, em còn đang viết đây. Cha mẹ mà biết Tết năm nay anh cả năm nay có thể trở về nhất định sẽ rất vui.”

Vũ Đức Khiêm mỉm cười, dịu dàng xoa đầu em gái: “Đúng vậy, năm nay không cần phải ở lại giám trực Hàn lâm viện, có thể ăn Tết cùng cả nhà.”

Vũ Đức Khiêm, húy là Kiệt, đỗ Trạng nguyên vào năm Nhâm Thìn triều Hồng Đức thứ ba[2]. Năm đó bài văn sách về thuật trị nước an dân của Đức Khiêm đã được Thánh thượng ngự bút khen ngợi, chép thành tư liệu khuông thước cho các nho sinh khóa sau học tập theo. Lời lẽ khí khái, tâm tư trong sáng, đức độ vô ngần, ấy vậy mà không cậy tài làm cao, Vũ Đức Khiêm khi đó quả thực là giống như danh tự của mình “đức độ khiêm cung”. Vốn khởi đầu là một nho sinh trẻ đầy ước vọng xây dựng một Đại Việt triều thịnh dân an nhưng rồi hai năm trôi qua, người ta chỉ còn thấy một Thị thư[3] càng ngày càng thu liễm, lý do đằng sau là gì có lẽ nhiều người hiểu nhưng lại không có một ai chịu nói ra.

Anh Ninh gác bút xuống, nhìn lại một lượt nội dung rất hài lòng, đợi cho mực khô thì gấp gọn bỏ vào phong thư. Đoạn ngẩng đầu nhìn Đức Khiêm cười tươi:

“Chúng ta đi dùng cơm thôi anh!”

Phủ đệ của các quan đều được xây dựng trong phường Yên Thọ và Giai Tuân, quy mô lớn nhỏ dựa trên trật phẩm hàm của mỗi người mà khác nhau. Phủ của Đức Khiêm nằm trên phố Minh của phường Yên Thọ, xung quanh đều là nơi ở của các quan lục phẩm khác trong triều vậy nên về đêm nơi đây rất yên tĩnh, không có được sự náo nhiệt và tiếng nói cười râm ran như ở khu phố dân gian.

Hai anh em Anh Ninh băng qua hành lang gỗ, im lặng thưởng thức không khí thanh mát của một buổi tối cuối thu.

Phòng ăn được đặt ở gần gian trái, bên trong thắp đèn ấm áp, trên bàn bày bốn món, cơm trắng bốc khói nghi ngút.

Anh Ninh xới một bát cơm cho anh trai, hào hứng nói: “Lúc chiều chị Uyên có tặng một ít rươi rất tươi nên em dặn nhà bếp lấy để rán chả mà anh thích nhất đấy.”

Đức Khiêm ăn thử một miếng chả rươi với nước tương, mỉm cười trêu chọc em gái: “Em gái đảm đang như vậy là có thể xuất giá làm vợ người ta được rồi.”

Anh Ninh cũng không chịu thua: “Anh còn chưa đưa được chị dâu về quán xuyến thay em gái quán xuyến việc nhà, em gái làm sao mà đi được đây?”

“Anh thì không vội làm gì, nhưng mà em thì khác đấy, đã nhận lời nhà người ta rồi, chỉ chờ ngày tốt thôi đúng không?”

Nụ cười trên môi Anh Ninh vụt tắt, nghĩ đến mối hôn sự cha mẹ nhận lời lại buồn bã không thôi.

“Cũng đâu phải là do em quyết định…”

Sự im lặng bao trùm lấy không khí trên bàn ăn, hồi lâu sau Đức Khiêm mới lên tiếng: “Thế Thanh là một người tốt, cha mẹ và anh có thể thấy được cậu ta rất quý mến em. Sau này về chung một nhà, hai người tương kính như tân, tháng ngày sau này cũng sẽ có người đáng tin cậy bên cạnh che chở cho em.”

“Nếu cứ hễ là người tốt thì đều có thể kết hôn vậy thì có tùy tiện quá không anh? Sao em không thể tìm được một người mà mình cảm mến và người đó cũng cảm mến em?”

Đức Khiêm hơi nghiêm giọng, đặt đôi đũa trên tay xuống: “Hôn nhân vốn dĩ là chuyện cha mẹ sắp đặt, là phép tắc sách vở ghi chép từ bao đời này. Con gái nhà người khác chỉ ở trong khuê phòng ngày ngày học thêu thùa, còn em may mắn được đọc sách thánh hiền vốn phải hiểu lí lẽ hơn người khác mới phải. Đã lớn rồi thì đừng suốt ngày nhởn nhơ ngoài đường nhúng tay vào những việc không may mắn nữa. Chẳng lẽ em lại để cha mẹ cứ lo lắng cho mình mãi thế sao?”

Anh Ninh không hiểu anh trai mình đang nói gì, tròn mắt nhìn: “Việc không may mắn?”

“Chiều nay có phải em đã gặp Thiếu khanh của Đại lý tự không?”

Anh Ninh bất ngờ thốt lên: “Anh làm sao mà biết được vậy?”

Dù cảm nhận được cuộc gặp gỡ lúc chiều có lẽ đã khiến Đức Khiêm không được hài lòng nhưng Anh Ninh lại không hiểu nổi nguyên do tại sao. Thấy anh trai không chịu trả lời mình, chỉ ngồi yên nghiêm nghị, Anh Ninh mới đặt bát cơm xuống phân minh.

“Lúc chiều em cùng chị Cát Uyên đi dạo phố, vô tình thấy ngài ấy đang hỏi chuyện lão Chương trong tiệm thuốc…”

Gió đông ngoài cánh cửa khép hờ thổi khung cảnh trở về lại trên phố Hiển cách đây khoảng ba canh giờ. Vẫn dòng người qua lại như mắc cửi xóa tan tiết trời rét lạnh của những ngày đang đi dần về cuối thu. Có cảm giác như khung trời đã bớt vời vợi khi mà những cụm mây gộp lại nặng nề bay về phía Nam.

----------------------------------------------------------

[1] Nguyên văn là “Treo đào tống cựu, đón bình an” được dịch từ “Tống bả tân đào hoán cựu phù”, trích trong bài Nguyên Nhật (Tết Nguyên Đán) của Vương An Thạch.
[2] Tức năm 1472.
[3] Hàn Lâm viện Thị thư: là một chức quan có từ thời Đường, từ sau năm 1470 dưới thời Hồng Đức thì có hàm chánh lục phẩm, là chức quan Sai khiển của các học sĩ trực thuộc Hàm Lân viện.

Mua sách giấy (nếu có) để ủng hộ tác giả và đọc bản có chất lượng tốt hơn <3

Tìm Mua Sách Này

Hãy để lại chút cảm nghĩ khi đọc xong truyện để tác giả và nhóm dịch có động lực hơn bạn nhé <3

Tuyển Dịch giả/ Editor