Hai mươi năm sau - Chương 97 (Hết)

Chương 97

Do đâu mà chứng minh rằng đối với các ông vua trở lại kinh đô vương quốc đôi khi lại còn khó khăn hơn là ra khỏi kinh đô

(tiếp theo)

Giống như mọi chuyển động của đám tiện dân, sự va chạm của đám đông này thật ghê gớm. Ngự lâm quân ít người, không thẳng hàng ở giữa đám đông ấy, không thể cho ngựa đi lại, bắt đầu bị tổn thương.

D’Artagnan muốn hạ những tấm rèm ở xe, nhưng ông vua trẻ đã giơ tay ra và bảo:

- Không, ông D’Artagnan, tôi muốn xem.

- Nếu Hoàng thượng muốn xem - D’Artagnan nói, - thì xin Người cứ nhìn.

Và với nỗi tức giận khiến anh trở thành rất khủng khiếp, D’Artagnan quay lại và nhảy vọt đến người thủ lĩnh của đám dân nổi loạn, ông ta một tay cầm súng ngắn, một tay cầm thanh gươm rộng bản đang đánh nhau với hai lính ngự lâm đề mở một đường đến tận cửa xe.

- Tránh ra, mẹ kiếp! - D’Artagnan hét lên, - tránh ra!

Nghe tiếng kêu người thủ lĩnh kia ngẩng đầu lên, nhưng muộn quá rồi; D’Artagnan đã đâm trúng và lưỡi gươm của anh xuyên qua ngực ông ta.

- A! Thôi chết rồi! - D’Artagnan cố ghìm tay kiếm nhưng quá muộn - Bá tước đến đây để làm quái gì thế này!

- Để hoàn tất số phận của tôi, - Rochefort nói và khụyu chân xuống. - Tôi đã hồi phục sau ba nhát kiếm của ông, nhưng sẽ không hồi phục được sau nhát kiếm thứ tư này.

- Bá tước ơi, - D’Artagnan xúc động nói. - Tôi đã đâm mà không biết là ông. Nếu như ông chết mà chết với nỗi thù hằn tôi thì tôi ân hận vô cùng.

Rochefort giơ tay cho D’Artagnan. Anh cầm lấy.

Bá tước muốn nói, nhưng một bụm máu trào lên làm nghẹn lời ông. Sau một cơn co giật cuối cùng ông cứng người lại và tắt thở.

- Lùi lại, đồ súc sinh? Thủ lĩnh của chúng bay chết rồi, chúng bay chẳng còn gì để làm ở đây nữa.

Thật vậy, bá tước Rochefort là linh hồn của cuộc tiến công vào phía bên này sườn xe vua, tất cả đám dân chúng đã đi theo ông và phục tùng ông, bây giờ trông thấy ông ngã bèn bỏ chạy. Cùng với hai chục lính ngự lâm, D’Artagnan truy kích đến phố Con gà trống, thì cái bộ phận này của cuộc nổi loạn tan như mây khói, tản mát trên quảng trường Saint-Germain và chạy ra phía bờ sông.

D’Artagnan trở lại để hỗ trợ cho Porthos nếu bạn thấy cần, nhưng về phía mình Porthos đã làm xong công việc của anh với cùng một ý thức như D’Artagnan.

Phía trái của cỗ xe được dọn quang không kém phía phải và người ta đang vén tấm rèm cửa mà Mazarin kém hiếu chiến hơn vua đã thận trọng hạ xuống.

Porthos có vé rầu rĩ lắm.

- Làm sao mặt cậu ìu xìu thế kia, Porthos? - D’Artagnan hỏi.

- Thật lạ lùng đối với một kẻ chiến thắng.

- Thì cậu cũng thế thôi, - Porthos đáp. - Trông cậu có vẻ xúc động lắm!

- Mẹ kiếp! Tôi vừa giết một người bạn cũ.

- Thật à. Ai thế?

- Cái ông bá tước Rochefort tội nghiệp ấy?

- Thế thì cũng giống tôi, tôi vừa giết một người mà khuôn mặt không phải xa lạ với tôi. Tiếc thay tôi đã đập vào đầu và trong giây lát mặt hắn đầm đìa máu…

- Thế khi ngã xuống hắn không nói gì à?

- Có chứ hắn đã kêu… ối?

D’Artagnan không nhịn được cười, nói:

- Tôi hiểu rằng, nếu hắn không nói điều gì khác thì điều ấy ắt không làm sáng tỏ điều gì hơn cho cậu.

- Thế nào ông? - Hoàng hậu hỏi.

- Thưa Lệnh bà - D’Artagnan đáp, - Đường đã hoàn toàn khai thông và hoàng thượng có thể tiếp tục đi.

Quả thật, cả đoàn hộ giá đến Nhà thờ Đức Bà mà không gặp trở ngại gì. Dưới cổng nhà thờ, tất cả giới giáo sĩ đứng đầu là ông chủ giáo đứng đợi nhà vua, hoàng hậu và tể tướng, và sắp hát Tạ ân mừng sự trở về may mắn của họ.

Trong khi hành lễ vào lúc sắp kết thúc, một thằng nhóc, mặt mũi nhớn nhác chạy vào Nhà thờ. Nhờ mặc bộ quân phục thùng thình, hắn rẽ đám đông đầy ngộn sân đến kho đồ thánh. Hắn thay quần áo mặc bộ lễ sinh và đến gần Bazin: Bác mặc chiếc áo dài màu xanh dương nhạt, tay cầm chiếc que bịt bạc, đứng trịnh trọng trước mặt tên lính Thụy Sĩ ở lối vào chỗ hát kinh.

Bazin cảm thấy có người kéo tay áo mình. Cặp mắt bác đang khoái lạc ngước lên trời bèn hạ xuống và nhận ra Friquet

- Ơ kìa, thằng nhãi? - Bác phụ thủ nói. - Có gì mà mày quấy rầy tao lúc tao đang làm phận sự.

- Ông Bazin ơi - Friquet đáp. - Ông biết ông Maillard, người dâng nước thánh ở nhà thờ Saint Eustache …

- Có, thế sao?

- Trong cuộc xô xát, ông ta đã xơi một nhát chuôi gươm vào đầu. Chính ông hộ pháp quần áo thêu ren mà ông trông thấy kia, đã nện đấy.

- Thật à! – Bazin nói. – Thế thì lão ta phải đau lắm đấy.

- Đau đến nỗi gần chết, và lão ta muốn rằng trước khi chết được xưng tội với ngài chủ giáo. Theo người ta nói thì ngài có quyền xá miễn cả những đại tội.

- Và lão hình dung rằng ngài chủ giáo sẽ bận lòng vì lão ư?

- Vâng, tất nhiên rồi, vì hình như ngài chủ giáo đã hứa hẹn với lão ta.

- Ai bảo mày thế?

- Chính lão Maillard.

- Mày gặp lão ấy?

- Tất nhiên, khi lão ngã thì tôi ở đấy mà.

- Mày làm gì ở đấy?

- Này nhé, tôi hô "Đả đảo Mazarin! Giết chết lão giáo chủ? Treo cổ tên người Ý!" Chẳng phải ông đã bảo tôi hô như thế ư?

- Có câm đi không, thằng nhãi! - Bazin vừa nói vừa lo ngại nhìn quanh mình.

- Thành thử cái lão Maillard tội nghiệp ấy bảo tôi: "Friquet, mày hãy đi tìm ông chủ giáo, và nếu mày dẫn ông ấy đến đây, tao sẽ cho mày là người thừa kế của tao". Cha Bazin ơi, hãy nói đi, kẻ thừa kế của ông Maillard, người dâng nước thánh ở nhà thờ Saint- Eustache, hèm! Tôi đành chịu khoanh tay! Mặc kệ, tốt muốn giúp cho lão ta việc ấy, ông bảo sao?

- Tao sẽ bảo với ông chủ giáo, - Bazin nói.

Thật vậy, bác bước thong thả và cung kính đến chỗ chủ giáo, khẽ nói vào tai ông mấy lời; ông đáp lại bằng một cái gật đầu. Rồi bước trở lại giống như lúc bước đi bác bảo Friquet.

- Mày về bảo với kẻ sắp chết rằng cứ kiên tâm, trong một, giờ nữa, Đức ông sẽ tới.

Vui mừng vì sứ mệnh của mình thành công, Friquet chẳng cởi bỏ y phục lễ sinh – vả chăng với bộ y phục này nó có vẻ dễ dàng hơn - nó ra khỏi đại thánh đường và mở hết tốc lực nó chạy vào con đường đi tới Tháp Saint-Jacques- la-Boucherie.

Quả nhiên ngày lễ hát Tạ ân vừa xong, như đã hứa, ông chủ giáo chẳng cởi bỏ y phục giáo chức, cũng đi tới ngọn tháp cổ mà ông rất quen thuộc, ông đến kịp thời. Mặc dầu mỗi lúc một yếu sức đi, kẻ bị thương vẫn chưa chết…

Cửa căn phòng gã ăn mày hấp hối được mở ra.

Một lát sau. Friquet đi ra, tay cầm một túi da lớn mà hắn mở ra xem ngay khi ra khỏi phòng, và hắn hết sức ngạc nhiên thấy đựng đầy vàng.

Gã ăn mày đã giữ lời hứa và cho hắn thừa kế.

- A! Mẹ Nanette ơi. - Friquet nghẹn ngào kêu - A! Mẹ Nanette ơi!

Nó không thể nói gì hơn. Nhưng không đủ sức nói năng, nó lại có sức hành động. Nó ra phố chạy một cách tuyệt vọng. Và giống như người lính Hy Lạp chạy từ làng Marathon khi đến quảng trường Aten thì ngã gục xuống, cành nguyệt quế cầm trong tay, Friquet chạy đến cửa, nhà ông tham nghị Broussel cũng ngã gục xuống làm vung vãi khắp sàn nhưng đồng louis vàng óng từ trong túi rơi ra.

- Bà mẹ Nanette nhặt những đồng louis trước, rồi sau mới đở Friquet vào.

Trong thời gian ấy, đoàn hộ, giá đi vào hoàng cung. Ông vua trẻ nói:

- Mẹ ơi, ông D’Artagnan thật là một người anh dũng.

- Đúng đấy con ạ. Ông ta đã từng làm nhiều việc lớn giúp cha con. Hãy giữ gìn ông ấy trong tương lai.

Khi bước xuống xe, ông vua nhỏ nói với D’Artagnan:

- Ông đại úy, Hoàng hậu muốn tôi mời ông và Nam tước Du Vallon bạn ông đến ăn bữa trưa nay.

Đó là một vinh dự lớn cho D’Artagnan và Porthos, cho nên Porthos mừng quýnh lên. Tuy nhiên trong suốt bữa ăn vị quý tộc danh giá ấy tỏ ra rất bận tâm.

Lúc xuống thang ở Hoàng cung, D’Artagnan hỏi nhỏ:

- Nam tước ơi, có chuyện gì thế, cậu có vé băn khoăn suốt cả bữa ănm

- Tôi cố nhớ xem, - Porthos đáp, - Kẻ ăn mày mà tôi chắc đã giết ấy, không biết tôi đã gặp ở đâu rồi thì phải.

- Thế cậu không nhớ ra nổi à?

- Không.

- Vậy thì cậu cứ nhớ xem, bạn ạ. Khi nào nhớ ra thì cậu sẽ nói cho tôi biết nhé.

- Mẹ kiếp! Bực thật! - Porthos nói.

Đoạn kết.

Khi trở về nhà, đôi bạn thấy một bức thư của Arthos hẹn gặp nhau ở khách sạn Grand-Roi-Charlemagne. vào sáng hôm sau. Hôm sau vào giờ đã định, họ đến chỗ Arthos và thấy anh cùng Aramis vận quần áo du hành.

- Này, Porthos nói, - chúng ta đi tất cả à? Tôi cũng vậy, tôi đã sửa soạn từ sáng nay rồi.

- Phải rồi, ôi lạy Chúa? - Aramis nói, - chẳng có việc gì phải làm ở Paris cả, khi mà phong trào La Fronde không còn nữa. Bà de Longueville có mời tôi qua chơi Normandie mấy ngày và nhờ tôi sửa soạn chỗ ở cho bà ở Rouen trong khi người ta làm lễ rửa tội cho con trai bà. Tôi đi làm xong mấy việc ấy; rồi sau đó nếu không có gì mới, tôi sẽ trở lại tu viện của tôi ở Noisy le Sec.

- Còn tôi, - Arthos nói, - tôi trở về Bragelonne. D’Artagnan vẫn biết đấy, tôi chỉ còn là một gã nhà quê thật thà chất phác mà thôi. Raoul chẳng có tài sản nào khác ngoài tài sản của tôi, tội nghiệp thằng bé. Và tôi phải trông nom tài sản ấy, bởi vì tôi chỉ như là một kẻ cho mượn tên họ.

- Còn Raoul thì anh định cho nó làm gì? - D’Artagnan hỏi.

- Tôi để nó cho cậu đấy, bạn ạ. Sắp sửa có chiến tranh ở Flandre, cậu sẽ mang nó đi theo. Tôi e rằng những ngày nghỉ ở Blois sẽ nguy hiểm cho cái đầu xanh non trẻ của nó. Cậu hãy đem nó đi và dạy dỗ cho nó thành dũng cảm và trung thực như cậu ấy.

- Còn tôi, - D’Artagnan nói, - Tôi không có anh nữa, Arthos ơi, nhưng ít ra tôi sẽ có cái đầu tóc hoe thân yêu ấy. Và Arthos ạ; dù nó chỉ là một đứa bé, nhưng linh hồn anh hoàn toàn sống lại ở nó, và tôi luôn luôn tưởng tượng rằng anh vẫn luôn ở bên tôi, dẫn dắt tôi, nâng đỡ tôi.

Bốn người bạn ôm nhau, nước mắt rưng rưng.

Rồi họ chia tay không biết bao giờ mới lại gặp nhau.

D’Artagnan trở lại phố Tiquetonne cùng với Porthos, Porthos vẫn băn khoăn cố nhớ xem kẻ bị anh giết là ai. [Chúc bạn đọc sách vui vẻ tại www.gacsach.com - gác nhỏ cho người yêu sách.]

Khi về đến khách sạn "La Chevrette" thì thấy xe ngựa của vị nam tước đã sẵn sàng và Mousqueton ngồi trên yên.

- Này, D’Artagnan ơi, - Porthos bảo, - cậu hãy giải ngũ và về ở với tôi ở Pierrefonds, Bracieux hoặc Vallon: chúng ta sẽ cùng nhau sống đến già và nói chuyện về các bạn đồng đội của chúng ta.

- Không đâu! - D’Artagnan đáp. - Gớm thật! Người ta sắp mở chiến dịch và tôi muốn tham dự, biết đâu chẳng kiếm chác được cái gì.

- Thế cậu mong trở thành gì đấy?

- Thống chế Pháp quốc, mẹ kiếp!

- Ái chà! - Porthos vừa nói vừa nhìn D’Artagnan và những chuyện huênh hoang của chàng Gascon anh chẳng bao giờ bắt chước được hoàn toàn.

- Cậu cứ ở với tôi Porthos ạ, tôi sẽ cho cậu làm quận công.

- Không được. - Porthos nói - Mousqueton không muốn đi đánh nhau nữa, với lại người ta đã sửa soạn cho tôi một lễ vinh qui long trọng, nó sẽ khiến cho bọn hàng xóm của tôi phải tức hộc máu ra.

Biết rõ sự tự phụ của nam tước mới, D’Artagnan nói:

- Về điều này thì tôi chẳng có ý kiến gì nữa. Tạm biệt anh bạn.

- Tạm biệt đại úy thân mến, - Porthos nói, - cậu nhớ rằng khi nào cậu muốn đến thăm tôi, bao giờ cậu cũng sẽ là khách quý ở lãnh ấp nam tước của tôi.

- Được - D’Artagnan đáp - đi trận về, tôi sẽ đến cậu.

- Ngựa xe của ngài Nam tước đang đợi ạ, - Mousqueton thưa.

Đôi bạn siết chặt tay nhau và từ giã nhau, D’Artagnan đứng trước cửa mặt rầu rầu nhìn theo.

Porthos ra đi. Nhưng đi được hai chục bước, Porthos dừng phắt lại, vỗ lên trán và quay trở lại.

- Tôi nhớ ra rồi, - anh nói.

- Cái gì cơ? - D’Artagnan hỏi.

- Gã ăn mày, mà tôi giết là ai nào? Đó là cái thằng súc sinh Bonacieux(1).

(1) Trong "Ba chàng ngự lâm" Bonacieux là một gã lái buôn vì tham tiền nhận làm do thám cho tể tướng Richelieu, đã tham gia bắt cóc và hãm hại vợ mình. Vợ Bonacieux là người hầu phòng của hoàng hậu Anne D’Autriche, bảo vệ hoàng hậu và yêu D’Artagnan sau bị Milady đầu độc.

Và vui mừng vì đầu óc mình đã thanh thản, Porthos đuổi theo Mousqueton và cùng khuất ở góc phố. D’Artagnan đứng yên lặng và trầm ngâm một lát. Rồi quay vào anh trông thấy mỹ nhân Madeleine đang đứng trước ngưỡng cửa, lo lắng về vinh quang mới của D’Artagnan.

- Nàng Madeleine ơi, - chàng Gascon nói, - hãy dành cho tôi gian phòng ở lầu một; bây giờ tôi là đại úy ngự lâm quân rồi tôi cũng phải tỏ thế nào cho xứng đáng chứ. Nhưng vẫn cứ giữ cho tôi phòng ở lầu năm nhé, ai mà biết được điều gì có thể xảy ra.

HẾT

Thực hiện bởi

nhóm Biên tập viên Gác Sách:

sienna – Du Ca – H.y

(Tìm - Chỉnh sửa - Đăng)