Hai mươi năm sau - Chương 74

Chương 74

Con tàu Tia chớp

Artagnan đã đoán đúng: Mordaunt không có thời giờ để mất và đã không để mất thời giờ! Biết rõ quyết định và hành động nhanh chóng của kẻ thù, nên hắn cũng quyết ra tay ngay. Lần này các chàng ngự lâm quân đã tìm được địch thủ ngang tài.

Sau khi đóng cửa cẩn thận sau lưng mình, Mordaunt tra thanh gươm vào võ, trườn xuống một đường hầm và lần sang ngôi nhà bên cạnh, hắn dừng lại để lấy hơi và sờ nắn trong người.

- Tốt lắm! - Hắn nói, - Chẳng sao cả, chẳng có gì đáng kể: mấy vết xây xát, có thế thôi, hai vết ở cánh tay, một vết ở ngực. Nhưng vết thương do ta gây nên hay hơn nhiều! Cứ hỏi tên đao phủ xứ Béthune, cứ hỏi ông bác ta và vua Charles xem? Bây giờ không thể để mất một giây đồng hồ, vì chỉ chậm một giây thôi là chứng nó có thể trốn thoát; mà cần làm sao cho cả bốn tên kia chết cùng với nhau, chết cùng một đòn, tan xương, nát thịt, bay biến đi. Ta sẽ chạy cho đến lúc hai chân không còn mang nổi mình, trái tim rộng nở đầy lồng ngực, nhưng ta sẽ đến trước chúng nó. Mordaunt bắt đầu rảo bước nhanh hơn, nhưng đều dặn hơn đến trại kỵ binh đầu tiên cách đó gần một phần tư dặm và đi chừng mất bốn năm phút.

Đến trại, hắn xưng danh, rồi lấy con ngựa tốt nhất và phóng đi ngay. Mười lăm phút sau hắn đến Greenwich.

- Bến cảng kia rồi, - Hắn lẩm bẩm. - Chấm đen sẫm ngoài kia đảo Những con Chó. Hay thật! Ta vượt chừng nửa giờ… có lẽ một giờ. Ta ngốc thật! Suýt nữa thì mình chết ngạt vì sự vội vã điên cuồng ấy.

Hắn đứng lên bàn đạp để nhìn ra xa tìm giữa những đám dây dợ và cột buồm nói:

- Tia chớp, con tàu Tia chớp ở đâu?

Như để đáp lại mấy lời nói lầm bầm của hắn, một người nằm trên một cuộn dây thừng đứng dậy và tiến mấy bước về phía Mordaunt.

Mordaunt rút chiếc khăn tay ra và giơ phất phới trong gió một lát. Người kia tỏ vẻ chăm chú, nhưng vẫn đứng nguyên một chỗ, chẳng tiến mà cũng chẳng lùi một bước nào.

Mordaunt thắt nút lại ở bốn góc khăn tay, người kia đến sát gần. Đó là ám hiệu thỏa thuận. Người thủy thủ khoác một chiếc áo choàng len rộng che cả mặt, cất tiếng:

- Thưa ông, phải chăng tình cờ mà ông từ London đến đây để làm một chuyến du ngoạn trên biển.

- Rõ ràng như vậy, - Mordaunt đáp, - Tôi muốn đi ra phía đảo Những con Chó.

- Thế đấy. Chắc hẳn ông ưa thích một loại thuyền nào đó hơn phải không? Ông muốn thuyền chậm hay thuyền nhanh…

- Như tia chớp, - Mordaunt đáp.

- Hay lắm, thế thì đúng chiếc thuyền của tôi mà ông đang tìm.

- Tôi là người chủ thuyền đó.

- Tôi bắt đầu tin điều đó, - Mordaunt nói, - nhất là nếu ông không quên ám hiệu nào đó.

- Thưa ông đây! - Người chủ thuyền rút trong túi áo choàng ra một chiếc khăn tay buộc nút ở bốn góc.

- Tốt lắm, tốt lắm? - Mordaunt reo lên và xuống ngựa. - Bây giờ gấp lắm rồi, ông hãy cho dẫn con ngựa này đến quán hàng gần đây và đưa tôi ra thuyền của ông.

- Nhưng những người đồng hành của ông đâu? - Chủ thuyền hỏi. - Tôi ngỡ rằng ông có bốn người cơ mà, không kể đầy tớ.

Mordaunt đến gần người thủy thủ và nói:

- Này ông, hãy nghe đây, tôi không phải là người mà ông chờ đợi cũng như ông không phải là người mà họ muốn tìm. Ông đã thay thế đại úy Roger phải không? Ông đến đây theo lệnh của tướng Cromwell; tôi cũng do ngài phải tới.

- Quả thật vậy, - Người chủ thuyền nói, tôi nhận ra ông, - ông là đại úy Mordaunt.

Mordaunt giật mình.

- Ồ đừng sợ, - Người chủ thuyền kéo áo choàng xuống, ngả mũ ra và nói, - Tôi là một người bạn mà.

- A, đại úy Groslow! - Mordaunt reo lên.

- Chính tôi. Tướng quân nhớ rằng trước kia tôi là sĩ quan hải quân nên đã giao nhiệm vụ này. Có gì thay đổi không?

- Không có gì thay đổi cả. Trái lại mọi việc vẫn như đã định. Có lúc tôi nghĩ rằng cái chết của nhà vua…

- Cái chết của nhà vua càng thúc giục họ chạy trốn.

- Có lẽ trong mười lăm phút nữa họ sẽ tới đây.

- Thế ông đến đây làm gì?

- Để xuống thuyền với ông.

- A, a! Tướng quân hoài nghi nhiệt tình của tôi chẳng?

- Không phải thế đâu! Tôi muốn tự mình chứng kiến cuộc trả thù của tôi. Này, ông không có ai giúp mang con ngựa của tôi đi ư?

Groslow huýt sáo, một thủy thủ xuất hiện.

- Này Patric, - Groslow bảo, hãy dắt con ngựa này đến chuồng ngựa của quán hàng gần nhất. Nếu có người hỏi ngựa của ai thì nói rằng của một vị lãnh chúa Irlandais.

Người thủy thủ lẳng lặng rời bước.

- Ông không sợ họ nhận ra ông ư? - Mordaunt hỏi.

- Chẳng lo đâu! Tôi mặc như thế này, trùm cái áo choàng này trời tối như thế này. Vả lại, ông mà còn chẳng nhận ra tôi, thì họ làm sao mà nhận ra được.

- Đúng thế, - Mordaunt nói, - Với lại họ chẳng ngờ đến ông đâu.

- Mọi thứ sẵn sàng cả rồi chứ?

- Rồi.

- Thuyền chất hàng chưa?

- Rồi.

- Năm thùng đầy phải không?

- Và năm mươi thùng rỗng.

- Thế đấy.

- Chúng tôi chở rượu Portos đến Anvers.

- Tuyệt lắm. Bây giờ cho tôi xuống thuyền và ông hãy trở lại vị trí, vị họ đến ngay bây giờ đấy.

- Sẵn sàng.

- Điều quan trọng là không để cho ai trong số người của ông trông thấy tôi vào.

- Chỉ có một người ở trên thuyền và tôi tin ở hắn ta như chính mình. Vả chăng người ấy không biết ông, và cũng như đồng đội của hắn, hắn sẵn sàng phục tùng mệnh lệnh mà không hay biết gì hết.

- Tốt lắm, ta đi thôi.

Họ đi xuống phía sông Tamies. Một chiếc xuống nhỏ neo ở bến cảng bằng một xích sắt buộc vào một cái cọc. Groslow kéo cái xuồng nhỏ lại giữ cho Mordaunt xuống, rồi hắn nhảy xuống theo. Và ngay lập tức hắn cầm lấy mái chèo và chèo miết để chứng tỏ với Mordaunt điều hắn nói là thật, nghĩa là hắn không quên nghề thủy thủ của mình.

Năm phút sau, chiếc xuống thoát ra khỏi cái thế giới thuyền bè vào thời ấy luôn luôn bề bộn ở các vùng lân cận London và Mordaunt có thể trông thấy chiếc tàu buồm buông neo như một chấtm đen đang đung đưa ở cách đảo Chó chừng bốn năm tầm(1).

(1) Tầm bằng 1 phần 10 hải lý, tức 185 mét.

Đến gần tàu Tia chớp, Groslow huýt sáo ra hiệu và trông thấy một cái đầu ló ra trên thành tàu.

- Đại úy đấy à? - Người kia hỏi.

- Phải, ném thang xuống đây.

Nhanh nhẹn và nhẹ nhàng như một con én, Groslow leo lên và đứng bên gã thủy thủ. Không trả lời, Mordaunt nắm lấy sợi thừng và leo theo thành tàu một cách lanh lẹn và chắc chắn hiếm có đối với những người ở trên cạn; lòng háo hức trả thù của hắn đã thay thế cho thói quen và khiến hắn có khả năng làm được mọi việc.

Như Groslow đã dự kiến, người thủy thủ gác trên tàu Tia chớp không có vẻ gì nhận biết là chủ mình trở về cùng với người khác.

Mordaunt và Groslow đi đến phòng của thuyền trưởng. Đó là một ngăn đựng tạm bằng ván gỗ ở trên boong.

- Căn phòng danh dự đã được đại úy Roger nhượng cho hành khách.

- Bọn họ đâu? - Mordaunt hỏi.

- Ở cuối tàu. - Groslow đáp.

- Họ không có việc gì làm ở phía này ư?

- Chẳng có việc gì hết.

- Tuyệt lắm! Tôi sẽ nấp ở chỗ ông. Ông hãy trở lại Greenwich và dẫn họ đến đây. Ông có một chiếc xuồng nhỏ nào không?

- Chỉ có mỗi chiếc xuồng nhỏ đã đưa ông đấy thôi.

- Nó có vẻ nhẹ và chắc.

- Một thuyền thoi thực sự đấy.

- Hãy lấy dây chão buộc nó vào sau đuôi tàu, để mái chèo vào xuồng để nó có thể đi theo luồng tàu và khi cần thì chỉ việc cắt dây. Để sẵn rượu rhum và bánh qui trong xuồng. Nếu chẳng may biển động, người của ông sẽ chẳng bực mình thấy có sẵn các thứ để mà bồi bổ sức lực.

- Ông sẽ thấy được vừa ý. Ông có muốn thăm sợi dây mìn không?

- Không. - Mordaunt đáp. - Đợi lúc ông trở lại. Tôi muốn tự mình đặt dây mìn để chắc chắn là không cháy chậm. Chú ý che mặt để họ không nhận ra ông.

- Chuông đồng hồ Greenwich đang điểm mười giờ.

- Cứ yên trí.

Thật vậy, mười tiếng chuông ngân vang rầu rĩ quyện qua bầu trời chứa đầy những đám mây khổng lồ đang trôi đi giống như những làn sóng im lặng.

Groslow khép cửa lại và Mordaunt cài chốt bên trong. Sau khi ra lệnh cho người thủy thủ gác canh phòng thật cẩn mật, Groslow xuống thuyền. Chiếc thuyền nhanh chóng rời xa, đôi mái chèo khuấy nước bọt ngầu.

Khi Groslow cập bến Greenwich, gió thổi lạnh và con đường đập vắng tanh; nhiều thuyền bè vừa lên bờ thì nghe như có tiếng ngựa phi trên con đường lát đá.

- Ồ, ồ! - hắn nói, - Mordaunt giục ta gấp lên là đúng. Không thể chậm trễ được nữa, họ tới kia rồi.

Quả nhiên, đó là những người bạn của chúng ta hay nói đúng hơn là nhóm tiền trạm gồm D’Artagnan và Arthos. Đến trước nơi Groslow đứng, họ đứng lại như đã đoán ra rằng đó là người họ cần tìm. Arthos xuống ngựa và lặng lẽ giơ một chiếc khăn tay buộc nút ở bốn góc và phất lên trước gió, trong khi D’Artagnan bao giờ cũng thận trọng, hơi cúi mình trên yên ngựa, một tay thọc vào bao súng.

Ngồi xổm sau một chiếc nòng đại bác chôn xuống đất dùng để cột các dây thuyền, Groslow ngỡ rằng các kỵ sĩ kia là những người hẳn đang đợi, lại trông thấy ám hiệu đã định hẳn đứng dậy và bước thẳng đến chỗ họ. Hắn trùm áo choàng kín mít, nên trông không rõ mặt. Vả chăng tròi tối như mực nên việc phòng bị cũng bằng thừa.

Tuy nhiên, mặc dầu bóng tối, con mắt sắc sảo của Arthos vẫn đoán ra rằng không phải kẻ đứng trước mặt anh là Roger.

Arthos lùi lại một bước và hỏi:

- Ông cần gì?

Groslow bắt chước giọng Irlandais và nói:

- Thưa Milord, tôi muốn thưa với ngài rằng ngài định tìm ông chủ tàu Roger, nhưng uổng công thôi.

- Sao vậy? - Arthos hỏi.

- Bởi vì sáng nay ông ta ngã từ trên cột buồm quan trắc và bị gẫy đùi. Tôi là em họ của ông Roger, nên ông ta kể với tôi tất cả mọi việc và nhờ tôi thay ông ra đón ngài và các vị quý tộc có mang chiếc khăn tay buộc nút ở bốn góc giống như cái khăn tôi có ở trong túi đây. Tôi sế đưa các ngài đi bất cứ nơi nào các ngài muốn.

Nói rồi Groslow móc túi ra chiếc khăn mà hắn đã giơ cho Mordaunt xem.

- Có thế thôi à? - Arthos hỏi.

- Ấy thưa ngài, còn bảy mươi lăm livres đã hứa nếu tôi đưa các ngài yên ổn đến Boulogne-sur-Mer hoặc một nơi nào đó ở nước Pháp mà các ngài cho biết.

Arthos quay sang hỏi D’Artagnan bằng tiếng Pháp:

- Cậu thấy việc đó thế nào?

- Hắn nói gì đã chứ? - D’Artagnan đáp.

- Ở nhỉ, - Arthos nói, - Mình quên rằng cậu không biết tiếng Anh.

Và anh kể lại cho bạn những lời trao đổi vừa rồi với người chủ tàu.

- Điều ấy có vẻ thật đấy. - D’Artagnan đáp.

- Tôi cũng nghĩ thế, - Arthos nói.

- Với lại, - D’Artagnan nói, - nếu như người này lừa dối ta, ta vẫn có thể bắn vỡ sợ nó.

- Thế ai sẽ dẫn đạo chúng ta?

- Anh đấy, Arthos ạ. Anh biết đủ thứ ở trên đời và tôi chẳng hồ nghi là anh không biết lái một con tàu.

Arthos mỉm cười bông đùa và nói:

- Bạn ơi, thực tình là cậu nói khoác thật đúng lúc. Cha tôi ngày trước hướng cho tôi làm nghề hàng hải, cho nên tôi cũng biết đôi chút về việc lái tàu.

- Anh thấy chưa. - D’Artagnan reo lên.

- Vậy cậu hãy đi tìm các bạn chúng ta và trở lại đây. Mười một giờ đêm rồi, chẳng còn nhiều thì giờ nữa đâu.

D’Artagnan tiến về phía hai kỵ sĩ cầm súng ngắn đang đứng gác ở những ngôi nhà đầu tiên của thị trấn.

Ba kỵ sĩ khác cũng đứng canh có vẻ chờ đợi, họ nép vào một nhà kho sát bờ đường.

Hai kỵ sĩ đứng giữa là Porthos và Aramis. Ba kỵ sĩ ở cạnh nhà kho là Mousqueton, Blaisois và Grimaud.

Nhưng nhìn gần thì thấy sau lưng ngựa của Grimaud còn có người em của Parry. Anh ta phải dẫn trở lại London những con ngựa của mấy ông chủ và người hầu đã bán cho chủ khách sạn để trả tiền trú ngụ. Cũng nhờ vậy mà bốn người bạn còn dư ra được một số tiền, nếu không phải là to tát thì ít ra cũng đủ chi dùng trong những khi bị chậm trễ hoặc xảy ra những chuyện bất thường.

D’Artagnan rỉ tai bảo Porthos và Aramis đi theo mình và mấy người này lại ra hiệu cho bọn đầy tớ xuống ngựa và tháo các bọc quần áo ra.

Người em của Parry lưu luyến chia tay bạn bè. Họ mời anh ta sang Pháp, nhưng anh khăng khăng từ chối.

- Cũng đơn giản thôi - Mousqueton giải thích, - anh ta còn có ý định trả thù Groslow.

- Ta còn nhớ rằng chính Groslow đã đập vỡ sọ anh ta.

Toán người theo kịp Arthos. Nhưng D’Artagnan đã lấy lại tính đa nghi tự nhiên của mình. Anh thấy trên hè vắng vẻ quá, đêm tối đen quá, chủ tàu dễ dãi quá.

Anh kể lại những việc xảy ra cho Aramis nghe, anh chàng này không kém đa nghi càng góp phần làm tăng thêm những nỗi nghi ngại của bạn.

Một tiếng chậc nhỏ báo cho Arthos biết những nỗi băn khoăn của chàng Gascon.

- Chúng ta chẳng có thì giờ để hoài nghi đâu, - Arthos nói, - Chiếc thuyền đang đợi chúng ta, ta vào đi.

- Với lại ai cấm chúng ta cứ vào mà vẫn cứ hoài nghi, - Aramis nói. - Ta sẽ theo dõi chủ thuyền.

- Nếu hắn không đường đường chính chính, tôi sẽ đập vỡ sọ nó ra, có thế thôi…

- Porthos nói hay lắm, - D’Artagnan bảo. - Nào, ta vào đi. Đi, Mousqueton.

D’Artagnan ngăn các bạn lại, cho bọn gia nhân qua trước để thử tấm ván bắc từ con đập ra thuyền.

Ba tên hầu sang thuyền yên ổn.

Arthos theo sau họ, rồi đến Porthos và Aramis; D’Artagnan sang sau cùng, vừa đi vừa lắc đầu.

- Cậu làm cái quái gì thế? - Porthos nói. - xin thề là cậu làm cho Césars cũng phải sợ.

D’Artagnan đáp:

- Trên cái bến này, tôi thấy chẳng có người kiểm tra, chẳng có một tên lính gác chẳng có nhân viên thuế quan.

- Vậy mà cậu than vãn ư? Porthos nói. - Mọi việc trôi chảy như trên một đường dốc nở hoa.

- Mọi việc trôi chảy quá, Porthos ạ. Mặc kệ, rốt cuộc, nhờ ơn Chúa.

Tấm ván vừa rút lên, chủ thuyền ngồi vào đằng lái và ra hiệu cho một thủy thủ dùng một cây sào đẩy cho thuyền ra khỏi chốn mê lộ những tàu với bè.

Một thủy thủ khác đứng sẵn ở mạn trái thuyền tay cầm mái chèo.

Khi ra được chỗ thoáng, bạn hắn đến cùng chèoo và thuyền bắt đầu lướt nhanh.

- Cuối cùng chúng ta ra đi! - Porthos nói.

- Than ôi! - Bá tước de Là Fère đáp, - Chúng ta ra đi không có thêm ai!

- Phải rồi, nhưng cả bốn người chúng ta cùng đi, không một vết xước, đó là một điều an ủi.

- Chúng ta chưa đến nơi đâu, - D’Artagnan nói. - Hãy coi chừng những cuộc chạm trán.

- Ơ này, bạn thân mến ơi, - Porthos nói. - Cậu giống như những con quạ ấy, cậu toàn kêu điều gở. Ai có thể gặp gỡ chúng ta trong cái đêm tối mù mịt như thế này, cách xa hai chục bước chẳng còn nhìn thấy gì hết.

- Phải, nhưng sáng mai thì sao? - D’Artagnan nói.

- Sáng mai chúng ta sẽ ở Boulogne-sur-Mer.

- Tôi thành tâm cầu mong điều đó, - Chàng Gascon nói, - Và tôi thú nhận nỗi yếu đuổi của tôi. Arthos này, anh sắp cười đấy, nhưng chừng nào chúng ta còn ở trong tầm súng của con đập hoặc những tàu bè ven đó, tôi vẫn thấp thỏm đợi chờ một loạt đạn khủng khiếp nào đó sẽ nghiền nát tất cả chúng ta.

- Nhưng mà, - Porthos nói về biết suy nghĩ, - Đó là điều không thể có được, bởi vì người ta sẽ giết chết luôn cả chủ thuyền lẫn thủy thủ.

- Ô hay, đó là một việc quan trọng đối với ông Mordaunt đó hả?

- Cậu tưởng rằng ông ấy quá câu nệ như thế ư?

- Rốt cuộc, - Porthos nói, - tôi rất khoái thấy D’Artagnan thú nhận là cậu ta sợ.

- Không những tôi thú nhận, mà tôi còn tự phụ là khác. Tôi chẳng phải là con tê giác cứ húc bừa như cậu. Ơ này, cái gì thế kia?

- Tia chớp đó, - Chủ thuyền nói.

- Chúng ta đến rồi ư? - Arthos hỏi bằng tiếng Anh.

- Đến rồi! - Thuyền trưởng nói.

Quả thật, sau ba nhát chèo, con thuyền đã cập mạn chiếc tàu nhỏ.

Người thủy thủ đang đợi, cái thang đã buông sẵn, hắn đã nhận ra con thuyền.

Arthos leo lên trước tiến nhanh nhẹn như thủy thủ thực thụ.

Aramis từ lâu đã quen với thang dây và những phương tiện khác ít nhiều sáng tạo dùng đề vượt qua những nơi cấm đoán. D’Artagnan thì như một thợ săn hươu nai và hoẵng. Còn Porthos thì cứ lấy sức mà giẫy.

Leo thang dây đối với mấy tên đầy tớ khó khăn hơn. Không phải với Grimaud, bác như giống mèo ống máng, gầy và thon, bao giờ cũng tìm được cách leo lên mọi chỗ. Nhưng đối với Mousqueton và Blaisois, mấy người thủy thủ buộc phải đẩy họ lên đến ngang tầm tay của Porthos, rồi chàng hộ pháp cứ tóm lấy cổ áo của họ mà lôi lên boong tàu.

Thuyền trưởng dẫn hành khách vào phòng đã sửa soạn cho họ, nó gồm có mỗi một gian, cho nên họ phải ở chung. Rồi hắn đi ra, viện cớ phải sai phải làm các việc.

- Khoan đã, - D’Artagnan bảo, - Ông chủ ơi, ông có bao nhiêu người ở trên tàu?

- Tôi không hiểu, - Hắn trả lời bằng tiếng Anh.

- Arthos dịch hộ tôi với.

Arthos hỏi lại bằng tiếng Anh.

- Ba người, - Groslow đáp, - Tất nhiên không kể tôi.

D’Artagnan hiểu, vì chủ tàu vừa nói vừa giơ ba ngón tay.

- Ồ ba à? - D’Artagnan nói. - Tôi bắt đầu yên tâm hơn. Mặc lòng, trong khi các cậu sửa soạn chỗ nằm, tôi đi một vòng quanh tàu xem sao.

- Còn tôi, - Porthos nói, - tôi đi lo bữa tối.

- Cái dự tính ấy thật đẹp đẽ và hào hiệp, Porthos ạ, hãy thực hiện ngay đi. Còn Arthos, anh hãy cho tôi mượn gã Grimaud, khi đánh bạn với Parry hắn đã học sủa được chút ít tiếng Anh; hắn sẽ làm thông ngôn cho tôi.

- Đi đi, Grimaud, - Arthos bảo.

Một tay cầm khẩu súng ngắn, một tay nhấc sẵn chiếc dèn có sẵn ở trên bong, D’Artagnan bảo chủ tàu:

- Come!

Cùng với chữ Goddam(2), đó là tất cả những gì anh nhớ được trong tiếng Anh.

(2) Come: lại đây!

Goddam: tiếng rủa.

D’Artagnan đi đến cửa quầy tàu và xuống sàn giữa.

Sàn giữa chia làm ba khoang; khoang D’Artagnan đang xuống nó có thể kéo dài từ cột buồm nhỏ thứ ba đến tận đuôi tàu, phía trên nó là ván sàn phòng Arthos, Porthos và Aramis đang sửa soạn nghỉ ngơi. Khoang thứ hai ở giữa tàu dùng làm nơi nghỉ cho bọn đầy tớ. Khoang thứ ba kéo dài dưới mũi tàu, nghĩa là dưới cái buồng mà thuyền trưởng dựng tạm và Mordaunt nấp trong đó.

D’Artagnan vừa bước xuống thang vừa dang tay giơ chiếc đèn ra phía trước và nói:

- Ồ, ồ, sao mà lắm thùng gỗ thế này. Hẳn là căn hầm của Ali Baba(3).

(3) Truyện "Nghìn lẻ một đêm" hồi ấy vừa mới được dịch ra lần đầu tiên và rất thịnh hành. Trong truyện "Nghìn lẻ một đêm" Ali Baba dùng các thùng rỗng để nhốt những tên cướp.

- Ông nói cái gì thế? - Gã thuyền trưởng nói bằng tiếng Anh.

D’Artagnan hiểu qua giọng nói. Anh đặt chiếc đèn lên một thùng rượu và nói:

- Tôi muốn biết có cái gì trong những thùng này.

Chủ tàu toan trèo lên thang, nhưng lại thôi.

- Porthos! - hắn đáp.

- A, rượu vang portos hả? - D’Artagnan nói. - Dù sao cũng yên tâm, chúng ta sẽ không chết khát.

Rồi quay lại phía Groslow đang lau mồ hôi hột đổ trên trán, anh hỏi:

- Các thùng có đầy không?

Grimaud dịch lại.

- Có thùng đầy, có thùng rỗng, - Groslow trả lời bằng một giọng dù cố gắng tự nhiên vẫn lộ ra vẻ lo lắng.

D’Artagnan lấy tay gõ gõ vào các thùng thấy rằng có năm thùng đầy, còn các thùng khác đều rỗng. Rồi trước sự kinh hoàng của gã người Anh, anh soi đèn vào khe thùng và thấy rằng các khe thùng đều trống.

- Thôi, ta đi nào, - Anh nói và tiến về phía cửa thông sang khoang thứ hai.

Viên thuyền trưởng đứng ở phía sau luôn luôn hốt hoảng, nói:

- Khoan đã, tôi có chìa khóa của cửa ấy.

Và vội vàng đi trước D’Artagnan và Grimaud, hắn run run tay tra chìa khóa vào ổ. Mousqueton và Blaisois sắp sửa ăn bữa tối.

Trong khoang này rành rành chẳng có gì để tìm kiếm hoặc lấy ra cả: ánh đèn soi rõ những người bạn đồng hành xứng đáng ấy và tất cả mọi ngóc ngách.

Người ta chuyển sang thăm khoang thứ ba.

Đó là phòng các thủy thủ.

Ba bốn chiếc võng mắc ở trần; một cái bàn treo bằng hai sợi dây luồn qua mỗi đầu bàn, hai cái ghế một và gãy chân, đó là tất cả đồ đạc trong phòng.

D’Artagnan tới vén mấy tấm rèm treo ở vách và chẳng thấy gì khả nghi, anh trở lên trên boong.

- Thế còn căn buồng này? - Anh hỏi.

Grimaud dịch ra tiếng Anh và chủ tàu đáp:

- Đó là buồng của tôi. Ông có muốn vào không?

- Mở cửa ra, - D’Artagnan bảo.

Chủ tàu tuân theo, D’Artagnan giơ đèn và ló đầu qua cánh cửa hé mở và thấy rằng căn buồng đó là một túp lều thật sự. Anh nói:

- Tốt! Nếu có một đội quân ở trên tàu, thì chẳng phải nó được giấu ở đây. Thôi ta về xem Porthos đã kiếm được cái gì ăn chưa?

Rồi gật đầu cảm ơn chủ tàu, anh trở về căn phòng danh dự có các bạn anh ở đó.

Hình như Porthos chẳng kiếm được gì ăn cả, hoặc giả - Nếu có kiếm được cái gì đó thì do cái mệt thắng cái đói, anh nằm trong tấm áo choàng, và lúc D’Artagnan về thì anh đã ngủ say.

Được những cơn sóng biển đầu tiên ru êm, Arthos và Aramis cũng lim dim con mắt và mở choàng khi nghe tiếng bạn bước vào.

- Thế nào? - Aramis hỏi.

- Ổn cả, - D’Artagnan đáp, - chúng ta có thể ngủ yên.

Được đảm bảo như vậy, Aramis lại ngả đầu xuống sàn, Arthos gật đầu thân ái, và D’Artagnan, cũng như Porthos, còn cần ngủ hơn là ăn, anh nằm ngủ trong chiếc áo choàng, gươm tuốt trần, mình chắn ngang lối đi để không ai có thể đi vào mà không đụng phải anh.