Hai mươi năm sau - Chương 03 - Phần 1

Chương 3

Hai kẻ thù cũ

D’Artagnan đến ngục Bastille thì chuông đồng hồ vang lên tám rưỡi. Anh cho báo với viên quản ngục, khi ông này biết anh do quan tể tướng phái đến cùng với một tờ lệnh bèn ra đón anh tại bậc thềm.

Viên quản ngục Bastille ở lúc bấy giờ là Du Tremblay, em của thầy tu nổi tiếng Josep, người sủng thần khủng khiếp của De Richelieu mà thiên hạ gọi là Các hạ xám(1).

(1) Josep (1577 - 1638) - thầy tu, cố vấn tin cậy của tể tướng De Richelieu nổi tiếng gian ác, nhân dân gọi bẳng cái tên khiếp sợ "Các hạ xám".

Khi thống chế De Batxompie bị giam ở ngục Bastille và đã ở đó mười hai năm ròng, các bạn tù của ông trong những giấc mơ được tự do đã nói với nhau: Tôi, tôi sẽ ra tù thời kỳ này, và tôi, tôi sẽ thời kỳ nọ, thì Batxompie đáp: Còn tôi thưa quý vị, tôi sẽ ra khi nào ông Duy Tremblay ra. Điều đó có nghĩa là khi tể tướng De Richelieu chết, ông Du Tremblay không thể không bị mất ghế ở ngục Bastille và tất nhiên Batxompie sẽ chiếm lại ghế của mình ở triều đình.

Điều tiên đoán ấy quả nhiên suýt nữa thì trở thành hiện thực, nhưng khác với điều Batxompie suy nghĩ, vì khi tể tướng Richelieu chết trái với mọi sự chờ đợi, mọi việc vẫn tiếp tục tiến hành như trước kia: Du Tremblay chẳng ra, và Batxompie suýt nữa thì cũng không ra khỏi nhà tù.

Như vậy là Du Tremblay vẫn là quản ngục Bastille khi D’Artagnan đến đấy thi hành lệnh của tể tướng, ông ta tiếp anh một cách rất lịch sự, và nhân sắp ngồi vào bàn ăn, ông ta mời D’Artagnan cùng dủng bữa tối với ông.

- Tôi sẽ rất vui lòng, - D’Artagnan nói, - nhưng nếu tôi không lầm, ngoài phong bì của bức thư có ghi chữ: "Thượng khẩn".

- Đúng thật! - Du Tremblay, nói. - Ơ này thiếu tá, đưa tên tù số 256 xuống đây.

Khi bước vào ngục Bastille, người ta chấm dứt là một con người và trở thành một con số.

D’Artagnan rùng mình khi nghe khóa loảng xoảng, nên anh ngồi yên trên mình ngựa mà chẳng xuống, nhìn những song sắt, những cửa sổ gia cố, những bức tường đồ sộ mà anh chi mới trông thấy ở bên kia đường hào, và chúng đã khiến anh sợ hết vía cách đây chừng hai mươi năm.

Một tiếng chuông vang lên.

- Tôi phải chia tay với ông thôi, - De Tremblay nói, - người ta gọi tôi đến ký lệnh thả tù nhân ra. Hẹn gặp lại nhé, ông D’Artagnan!

- Quỷ diệt ta đi nếu ta đáp lại lời chào của anh! - D’Artagnan lẩm bẩm và kèm theo lời rủa của mình bằng nụ cười duyên dáng nhất - Chi cần đứng thêm năm phút ở cái sân này là ta phát ốm. Này, này, ta thấy thà chết mục trên đống rạ, mà chuyện đó có thể xảy ra với ta lắm, còn thích hơn là làm quản ngục Bastille và vơ vét mười nghìn livres tiền niên thu.

Anh vừa kết thúc bản độc thoại ấy thì người tù xuắt hiện. Vừa trông thấy kẻ ấy, D’Artagnan tỏ ra kinh ngạc, nhưng vội kiềm chế ngay. Người tù bước lên xe chẳng tỏ ra đã nhận biết D’Artagnan.

- Này các ông, - D’Artagnan nói với bốn người lính ngự lâm, - người ta đã dặn tôi là phải canh giữ tù nhân một cách nghiêm cẩn nhất, do không có khóa ở các cửa xe, tôi sẽ lên ngồi cạnh hắn ta. Ông Lilơbon làm ơn dắt con ngựa của tôi theo.

- Xin sẵn sàng, thưa trung úy, - người lính đáp.

D’Artagnan xuống ngựa, đưa dây cương cho người lính ngự lâm, trèo lên xe và với giọng không hề để lộ một chút xúc động nào, anh bảo:

- Đến Hoàng cung nhanh lên.

Xe vừa chạy, D’Artagnan lợi dụng bóng tối dưới vòm cây mà xe đi qua, bá lấy người tù và bảo:

- Rochefort! Anh đấy à! Đúng là anh chứ! Tôi không lầm.

- D’Artagnan! - Đến lượt Rochefort ngạc nhiên reo lên.

- Ôi! Anh bạn khốn khổ của tôi! - D’Artagnan nói tiếp. - Không gặp lại anh từ bốn năm năm nay, tôi cứ tưởng anh chết rồi cơ đấy.

- Thực tình, - Rochefort nói, - tôi cũng nghĩ chẳng có gì khác nhau lắm, giữa một người chết và một người bị chôn vùi, hoặc cũng gần như thế.

- Thế vì tội gì mà anh vào ngục Bastille?

- Anh có muốn tôi nói sự thật không?

- Có

- Này nhé! Tôi chẳng biết vì sao cả.

- Không tin tôi ư, Rochefort?

- Không phải thế, xin lấy danh dự quý tộc mà thề! Bởi lẽ không thể nào ngồi tù vì cái lý do mà họ gán cho tôi.

- Lý do gì?

- Kẻ trộm đêm.

- Anh, kẻ trộm đêm! Rochefort, auh đùa đấy à?

- Tôi hiểu. Chuyện này cần được giải thích phải không?

- Đúng vậy.

- Này nhé! Chuyện xảy ra như thế này. Một buổi tối, sau một bữa chè chén ở nhà Rêna tại cung Tuileries, cùng với quận công D’Harcourt, Fontrailles - de Rieux và những người khác nữa, quận công D’Harcourt đề xuất đi chơi trò kẻo áo choàng ở trên Cầu Môi. Anh biểt đấy, đó là một trò chơi rất thịnh hành do quận công D’Orléans đặt ra.

- Anh điên hay sao, Rochefort! Ở cái tuổi anh!

- Không, lúc ấy tôi say, tuy nhiên thấy cái trò ấy dở, tôi bàn với hiệp sĩ De Rieux chỉ nên là khán giả chứ không là diễn viên và để xem được cảnh từ những lô hạng nhất, ta trèo lên con ngựa bằng đồng đen. Nói là làm luôn. Nhờ những đinh thúc ngựa dùng làm bậc leo, một lát sau chúng tôi ngồi vắt vẻo trên mông ngựa; chúng tôi khoan khoải lắm và xem say sưa. Đã có bốn năm áo choàng bị lột đi bằng sự khéo léo vô song và chẳng một người nào bị lột áo dám nói một lời thì không biết một tên ngu xuẩn nào đó không kiên tâm chịu đựng bằng những người khác, bỗng kêu lên: "Ối, cảnh giới" và thu hút ngay một đội cảnh sát tuần tra. Quận công D’Harcourt, Fontrailles và mấy người khác bỏ chạy, De Rieux cũng muốn làm theo. Tôi giữ ông ta lại và bảo rằng người ta chẳng tìm mình ở đây đâu. Ông ta không nghe, đặt chân lên định thúc ngựa, để xuống, cái đinh gãy, ông ta ngã gãy một chân và đáng lẽ im đi thì ông lại kêu toáng lên như một tên sắp bị treo cổ. Tôi định nhảy xuống theo, nhưng muộn quá rồi: tôi nhảy vào tay bọn cảnh sát, họ dẫn tôi đến đồn Châtelet. Tôi yên trí ngủ một mạch, chắc chắn ngày mai sẽ ra khỏi đó. Ngày hôm sau, qua đi hôm sau nữa qua, rồi tám ngày qua đi, tôi viết thư gửi giáo chủ. Ngay ngày hôm ấy, người ta đến tìm tôi và dẫn về ngục Bastille. Tôi ở đây năm năm rồi. Anh có tin rằng đó là vì tôi đã phạm tội mạn thượng leo lên ngồi mông ngựa sau vua Henri IV không?

- Không, anh nói đúng. Rochefort thân mến ạ, không thể nào vì thế, nhưng có lẽ anh sắp hiểu vì sao.

- À phải, bởi vì chính tôi đã quên không hỏi anh điều này: anh dẫn tôi đi đâu?

- Đến quan tể tướng.

- Ông ta muốn gì tôi?

- Tôi không biết nữa, vì tôi cũng chẳng hiểu rõ là tôi phải đi tìm anh.

- Vô lý, anh là một sủng thần mà?

- Một sủng thần, tôi ấy à? - D’Artagnan kêu lên.

- Ôi! Ông bá tước tội nghiệp của tôi! Tôi còn quá là thiếu sinh Gascogne khi tôi gặp anh ở Meung, anh thấy đấy, thấm thoắt đã hai mươi năm rồi, than ôi!

Và một tiếng thở dài rất to chấm dứt lời anh.

- Nhưng nếu đến với một mệnh lệnh! - Vì tình cờ tôi đang ở tiền sảnh, và ông tể tướng tìm gọi tôi như có thể tìm gọi một người nào khác, nhưng tôi vẫn chỉ là trung úy ngự lâm quân, và nếu tôi tính đúng thì đã ngót nghét hai mươi mốt năm rồi tôi là trung úy.

- Rốt cuộc không có tai họa xảy đến với anh, thế đã là nhiều rồi.

- Thế anh muốn tai họa gì xảy đến với tôi kia chứ? Như một câu thơ La-tinh nào đó mà tôi quên, hay nói đúng hơn chưa bao giờ tôi thuộc cả: "Sét không đánh vào những thung lũng!", tôi là một thung lũng, hơn nữa một thung lũng thấp nhất, anh Rochefort thân mến ạ.

- Vậy lão Mazarin vẫn là Mazarin à?

- Cỏn hơn bao giờ hết, bạn thân mến ạ; người ta nói ông ta lấy hoàng hậu rồi.

- Lấy rồi?

- Nếu ông ta không phải là chồng, thì chắc chắn là nhân tình bà ấy…

- Cưỡng lại một Buckingham(2) và chịu khuất phục một Mazarin?

(2) Buckingham (1592-1628) - quận công, tể tướng nước Anh giúp phái Tân giáo ở Pháp. Bị một sĩ quan Thanh giáo ám sát. Trong "Ba người lĩnh ngự lâm", ông ta yêu hoàng hậu Pháp Anne D’Autriche và chuyện tình ấy là nguyên do của bao câu chuyện phiêu lưu.

- Đàn bà thế đấy! - D’Artagnan nói triết lý.

- Đàn bà, không phải, nhưng các bà hoàng hậu.

- Trời ơi, về phương diện ấy, các hoàng hậu hai lần là đàn bà.

- Thế còn ông De Beaufort, ông ta vẫn ở trong tù à?

- Vẫn, thế thì sao?

- À vì ông ta muốn điều tốt lành cho tôi, ông ta có thể gỡ ra cho tôi.

- Có lẽ anh còn gần được tự do hơn ông ấy; như vậy chính anh sẽ gỡ cho ông ta.

- Thế thì, chiến tranh…

- Sẽ có.

- Với Tây Ban Nha?

- Không, với Paris.

- Anh định nói gì?

- Anh có nghe những tiếng súng kia không?

- Có. Thì sao?

- Các thị dân đang đánh cầu dạo.

- Anh có tin rằng có thể làm nên trò trống gì với cái đám thị dân ấy không?

- Có chứ, họ có nhiều hứa hẹn đấy, và nếu như họ có một thủ lĩnh có thể tập hợp tất cả các nhóm lại làm một.

- Không được tự do cực thật.

- Ồ, lạy Chúa! Anh đừng thất vọng. Nếu Mazarin cho tìm anh, ắt là cần đến anh; và nếu ông ta cần anh thì này, tôi xin chúc mừng anh. Hàng bao nhiêu năm nay, chẳng ai còn cần đến tôi nữa; cho nên anh thấy tôi đã đến đâu rồi đó.

- Anh hãy khiếu nại đi, tôi khuyên anh đấy!

- Nghe này, Rochefort. Một thỏa ước.

- Thỏa ước gì?

- Anh biết rằng chúng ta là bạn tốt.

- Mẹ kiếp! Tôi vẫn còn mang những dấu tích của tình bạn chúng ta: ba nhát kiếm!…

- Này! Nếu anh lại trở thành người được ưu ái thì xin đừng quên tôi nhé!

Lời thề của Rochefort, nhưng cũng phải được đáp lại.

- Thỏa thuận rồi nhé! Tai tôi đây.

- Như vậy ngay từ cơ hội đầu tiên mà anh thấy nói về tôi.

- Tôi sẽ nói về anh, còn anh?

- Tôi cũng vậy. Nhân tiện, về các bạn của anh, cũng phải nói về họ chứ?

- Bạn nào nhỉ?

- Arthos, Porthos và Aramis, anh đã quên họ rồi sao?

- Gần như thế.

- Bây giờ họ ra sao?

- Tôi không hay biết gì cả.

- Thật à?

- Ôi lạy Chúa, đúng thế. Chúng tôi từ giã nhau như anh biết đấy: họ vẫn sống; đó là tất cả điều tôi có thể nói, thỉnh thoảng tôi có nghe những tin tức, gián tiếp về họ. Nhưng họ ở chỗ nào trên thế giới này, quỷ bắt tôi đi nếu tôi biết được điều gì. Không, nói danh dự đấy! Tôi chỉ còn có anh là bạn mà thôi, Rochefort ạ.

- Còn cái vị trứ danh… anh gọi hắn là gì nhỉ, cái cậu người hầu mà tôi đã đưa làm ông đội ở trung đoàn Piêmông ấy mà.

- Planchet à?

- Phải, đúng rồi. Cái ngài Planchet trứ danh bây giờ ra sao?

- Ấy cậu ta đã lấy một ả có cửa hàng mứt kẹo ở phố Lombard cậu ta bao giờ cũng thích của ngọt mà; thành thử cậu ta trở thành thị dân Paris, rất có thể lúc này cậu ấy đang làm loạn. Rồi anh xem cái thằng vô lại ấy sẽ làm pháp quan trước khi tôi lên đại úy.

- Thôi D’Artagnan thân mến ơi, can đảm lên một chút nào! Anh đang ở chỗ thấp nhất của bánh xe và khi bánh xe quay thì nâng anh lên cao. Ngay tối nay, số phận của anh có thể sẽ thay đổi.

- Amen! - D’Artagnan vừa nói vừa dừng xe lại.

- Anh làm gì thế? - Rochefort hỏi.

- Phải làm sao để khi đến nơi người ta không trông thấy tôi ra khỏi xe anh; coi như chúng ta không quen biết nhau.

- Anh làm thế là phải. Xin từ biệt.

- Hẹn gặp lại, anh nhớ lời hứa nhé!

D’Artagnan nhảy lên ngựa và lại dẫn đầu đoàn hộ tống.

Năm phút, sau về đến sân Hoàng cung.

D’Artagnan dẫn người tù lên lối cầu thang lớn đi qua tiền sảnh và hành lang. Đến cửa phòng Mazarin; anh sắp sửa vào báo thì Rochefort đặt tay lên vai anh:

- D’Artagnan này, - Rochefort mỉm cười nói, - anh có muốn nghe tôi thú nhận điều tôi đã suy nghĩ suốt dọc đường, khi thấy những đám thị dân lúc chúng ta đi qua và họ nhìn các anh - anh và bốn người cùa anh - với những con mắt rực lửa không?

- Nói đi, - D’Artagnan đáp.

- Ấy là tôi chỉ cần kêu cứu là đủ khiến người ta xé xác các anh ra từng mảnh, anh và toán áp giải của anh, và thế là tôi được tự do.

- Thế sao anh không làm? - D’Artagnan hỏi.

- Vớ vẩn! - Rochefort nói. - Tình bạn đã thề thốt! A, ví phỏng, một người khác, chứ không phải anh dẫn tôi đi, tôi không nói…

D’Artagnan cúi đầu.

"Liệu Rochefort có sẽ được may mắn hơn mình không!" Anh tự nhủ.

Và anh cho người vào trình báo với tể tướng.

- Cho ông De Rochefort vào! - Tiếng nói sốt ruột của Mazarin vang lên ngay sau khi nghe nói đến tên hai người - À mời ông D’Artagnan hãy đợi: tôi chưa xong việc với ông ấy.

Những lời đó khiến D’Artagnan mừng rơn. Như anh đã nói, từ lâu rồi chẳng ai cần đến anh và sự khẩn khoản ấy của Mazarin đối với anh có vẻ là một điềm tốt.

Còn với Rochefort, điều đó chẳng có tác động gì khác đối với ông, ngoài việc khiến ông càng hết sức đề phòng. Ông bước vào căn phòng và thấy Mazarin đang ngồi ở bàn, mặc bộ y phục thông thường, nghĩa là theo kiểu môngxinho; nó gần như quần áo các tu viện trưởng thời bấy giờ, chỉ khác là ông ta đi bít-tất dài và khoác áo choàng tím.

Cánh cửa khép lại, Rochefort liếc nhìn Mazarin và bắt gặp cái nhìn của tể tướng.

Quan tể tướng vẫn như xưa, chải chuốt, banh bao, râu tóc uốn cẩn thận, bôi nước hoa thơm nức, và nhờ đỏm dáng nên trông ông trẻ hơn tuổi nhiều. Còn về Rochefort, lại là chuyện khác, năm năm tù đày đã làm già sọm đi người bạn cao đạo của ngài Richelieu: mái tóc đen của ông đã bạc trắng, nước da rám màu đồng nhường chỗ cho một màu tái xanh xao như do bị kiệt sức. Vừa nhìn thấy ông, Mazarin lắc đầu rất nhẹ khó mà nhận thấy vẻ như muốn nói: "Kìa, một con người dường như chằng còn làm nên trò trống gì hết…"

Sau một lát im lặng khá lâu trong thực tại, nhưng dài đến một thế kỉ đối với Rochefort, Mazarin rút từ một tập giấy tờ ra một phong thư mở, chỉ cho nhà quý tộc và nói:

- Tôi tìm thấy ở đây một bức thư ông yêu cầu được tự do, ông Rochefort ạ. Thế ra ông bị ngồi tù à?